PDA

View Full Version : Bài 28. Thân xác không phục tùng tinh thần: sự hiệp nhất con người-nhân vị bị đe doạ


admin
19-07-2009, 10:33 AM
Phần II - Bài 28. Thân xác không phục tùng tinh thần: sự hiệp nhất con người-nhân vị bị đe doạ.

1. Chúng ta đang đọc lại những chương đầu tiên của sách Sáng Thế, để hiểu bằng cách nào - với tội nguyên tổ - "con người nhục dục" đã chiếm chỗ của "con người trong trắng" nguyên thuỷ. Lời sách Sáng Thế 3,10: "Con sợ hãi vì con trần truồng, nên con lẩn trốn", đã ghi lại kinh nghiệm xấu hổ đầu tiên của con người đối với Đấng Tạo Dựng nên họ: một sự xấu hổ có thể được gọi là "có chiều kích vũ trụ".

Tuy nhiên, cái "xấu hổ mang chiều kích vũ trụ" này - có thể đã để lại dấu vết nơi toàn thể thân phận con người sau tội nguyên tổ - trong bản văn Kinh Thánh đã dọn chỗ cho một dạng xấu hổ khác. Đó là sự xấu hổ được phát sinh ra từ trong chính nội tâm con người, nghĩa là được gây nên bởi sự xáo trộn bên trong nội tâm, là nơi mà qua đó con người, trong mầu nhiệm sáng thế, được "giống hình ảnh Thiên Chúa", vừa trong cái "ngã" cá vị vừa trong tương quan liên vị, thông qua sự hiệp thông ngôi vị nguyên thuỷ, được cấu thành cùng với người nam và người nữ. Cái sự "xấu hổ" đó, có nguyên nhân từ trong chính bản tính nhân loại, vừa nội tại vừa tương đối: được biểu lộ trong chiều kích nội tâm con người và đồng thời lại quy chiếu về một "chiều kích khác". Đó là sự xấu hổ của người nữ "khi đối diện" với người nam, và cũng là của người nam "trước cái nhìn" của người nữ: Sự xấu hổ giữa hai người, thúc dục họ phải phủ kín phần trần trụi của mình, phải che giấu đi thân thể mình, phải cất khỏi cái nhìn của người nam những gì cấu tạo nên dấu chỉ hữu hình của người nữ, phải cất khỏi cái nhìn của người nữ những gì cấu tạo nên dấu chỉ hữu hình của người nam. Theo chỉ dẫn này, sự xấu hổ của cả hai được xuất hiện sau tội nguyên tổ, khi mà họ nhận ra mình "trần truồng", như Sách Sáng Thế 3,7 chứng nhận. Bản văn nguồn giavê dường như rõ ràng chỉ cho thấy cái tính chất "tính dục" của sự xấu hổ này: "Họ kết lá vả làm khố che thân". Tuy nhiên chúng ta tự hỏi liệu cái phương diện "tính dục" này chỉ mang tính chất "tương quan" thôi sao; nói cách khác: liệu người ta chỉ bàn về sự xấu hổ của phái tính khi đối chiếu với người khác phái thôi sao.

2. Mặc dù dưới sự soi sáng của câu minh định duy nhất của St 3,7 lời giải đáp cho nghi vấn trên dường như đặc biệt duy trì tính chất tương quan của sự xấu hổ nguyên thuỷ, tuy vậy việc suy tư trực tiếp về toàn văn mạch vẫn cho phép khám phá được bức bình phong nội tại. Sự xấu hổ đó, không chút nghi ngờ được biểu lộ trong trật tự "về tính dục", mạc khải cho thấy một sự hết sức khó khăn để nhận thức được yếu tính của con người nơi chính thân xác[1]: sự khó khăn mà trong tình trạng trong trắng nguyên thuỷ, con người đã chưa từng trải nghiệm. Thật vậy, có như thế người ta mới hiểu được câu nói: "Tôi sợ, vì tôi trần truồng", những lời này đưa ra ánh sáng những hệ quả của trái cây biết lành biết dữ trong nội tâm con người. Qua những lời này một vết nứt kiến tạo nào đó đã lộ ra, gần như đó là sự đổ bể của sự thống nhất nguyên thuỷ về thần trí với xác thịt con người. Những lời này lần đầu tiên lưu ý đến thân xác của con người đã không còn bám sát vào sức mạnh của thần trí đã nâng con người lên tầm mức hình ảnh của Thiên Chúa. Sự xấu hổ nguyên thuỷ của con người mang lấy nơi chính nó dấu vết của một sự ô nhục đặc trưng qua trung gian của thân xác. Ẩn bên trong sự xấu hổ đó là mầm giống của cái nghịch lý đeo bám con người "lịch sử" trên suốt con đường dương thế, như Thánh Phaolô đã viết: "Thật vậy theo con người nội tâm, tôi vui thích vì luật của Thiên Chúa, nhưng trong các chi thể của tôi, tôi lại thấy một luật khác, luật này chiến đấu chống lại luật của lý trí" (Rm 7,22-23).

3. Vì thế cho nên sự xấu hổ đó là nội tại. Nó gồm chứa một sự hiểu biết sắc bén đến nỗi có thể tạo nên một bất an tận căn trong toàn thể hiện sinh con người, không chỉ trước bình diện sự chết, mà còn trước bình diện mà chính giá trị và phẩm chất của nhân vị theo ý nghĩa luân lý tuỳ thuộc vào. Theo nghĩa này thì sự xấu hổ nguyên thuỷ của thân xác («tôi trần truồng») đã là sự sợ hãi («tôi sợ»), và báo trước sự bất an của lương tâm gắn liền với dục vọng. Thân xác mà khộng phục tùng tinh thần như trong tình trạng trong trắng nguyên thuỷ, thì tự nó mang một ngọn lửa thường hằng của sự đối kháng với tinh thần, và cách nào đó đe doạ sự hợp nhất con người-nhân vị, nghĩa là sự hợp nhất bản tính luân lý, được cắm rễ cách vững chắc trong chính sự cấu thành nhân vị. Dục vọng của thân xác là một mối đe doạ đặc biệt đến cấu trúc tự hữu và tự chủ, mà qua đó nhân vị con người được hình thành. Và cũng qua đó tạo nên một thách đố đặc biệt. Trong mỗi trường hợp, con người dục vọng không làm chủ thân xác mình theo cùng một cách thức, với sự đơn sơ và "tự nhiên" bằng nhau, như con người đã làm trong tình trạng trong trắng nguyên thuỷ. Cấu trúc tự hữu, thiết yếu cho nhân vị, đi vào trong con người, cách nào đó, làm rung chuyển cả cái nền móng; người nam lần nữa tự đồng hoá mình với người nữ đến độ sẵn sàng liên tục chiếm hữu người nữ.

4. Sự xấu hổ nội tại được gắn kết với sự mất cân bằng bên trong đó. Và nó mang một tính chất «tính dục», bởi vì chính nơi bầu khí tính dục con người mà dường như bày tỏ ra rõ ràng cách đặc biệt sự mất cân bằng, phát xuất từ dục vọng và cách riêng từ «dục vọng của thân xác». Từ điểm nhìn này, động lực đầu tiên đó, được nói tới trong Sách St 3,7 («họ nhận thấy mình trần truồng và kết lá vả che thân») rất thuyết phục; như thể "con người dục vọng" (người nam và người nữ "nơi hành vi biết lành biết dữ") đã chứng tỏ cách ngắn gọn, ngay cả qua chính thân xác và giới tính của mình, rằng con người không còn ở bên trên thế giới sinh vật hoặc "loài vật". Đây chứng tỏ như là một vết nứt gãy đặc trưng của tính toàn vẹn nhân vị của chính thân xác, cách đặc biệt là nơi tính dục được định nghĩa và là nơi trực tiếp gắn kết với lời mời gọi đến sự hợp nhất, đến độ người nam và người nữ "trở nên một xương thịt" (St 2,24). Vì thế, sự xấu hổ nội tại và đồng thời mang tính xác thịt đó luôn là tương đối, ít là cách gián tiếp. Đó là sự xấu hổ về tính dục của riêng mình "đối với" hữu thể con người khác. Theo cách đó sự xấu hổ được bày tỏ trong tường thuật St chương 3, mà nhờ đó, cách nào đó, chúng ta chứng kiến được sự sinh ra của dục vọng con người. Vì vậy cũng thật đủ rõ lý do cần nại đến những lời Chúa Kitô nói về con người (người nam), "nhìn người nữ để chiếm đoạt họ" (Mt 5,27-28), vào giây phút đầu tiên ấy, sự xấu hổ được giải thích nhờ dục vọng, và dục vọng nhờ sự xấu hổ. Như thế chúng ta hiểu rõ hơn bởi vì - và theo nghĩa ấy - Chúa Kitô nói về sự ham muốn như là "tội ngoại tình" phạm trong lòng, bởi vì xảy ra trong "lòng" con người.

5. Lòng người giấu kín bên trong cùng lúc vừa sự thèm muốn vừa sự xấu hổ. Sự ra đời của xấu hổ hướng chúng ta về khoảnh khắc, lúc con người nội tâm, "tâm lòng", khép lại đối với những gì "đến từ Cha", nhưng lại mở ra cho những gì "đền từ thế gian". Việc sự xấu hổ được sinh ra trong lòng con người cũng giống như bước khởi đầu của dục vọng: của ba dục vọng theo thần học thánh Gioan (x. 1G 2,16), và đặc biệt của dục vọng thân của xác.
Con người xấu hổ về thân xác là vì dục vọng. Hơn nữa, xấu hổ không chỉ về thân xác mà còn về dục vọng. Con người xấu hổ về thân xác lý do vì tình trạng của tinh thần, mà thần học và tâm lý học đưa ra đinh danh đồng nghĩa: thèm muốn hoặc dục vọng, mặc dù với ý nghĩa không hoàn toàn như nhau. Ý nghĩa kinh thánh và thần học của thèm muốn và của dục vọng khác với ý nghĩa đang được dùng trong tâm lý học. Theo ý nghĩa tâm lý học, thèm muốn phát sinh từ sự thiếu thốn hoặc do nhu cầu, mà giá trị thèm muốn đó cần phải được thỏa mãn. Dục vọng theo kinh thánh, như chúng ta suy diễn từ 1Gv 2,16, chỉ tình trạng tinh thần con người xa rời sự đơn sơ nguyên thủy sự tròn đầy của các giá trị, mà con người và thế gian dựa vào "theo những chiều kích của Thiên Chúa". Chính nơi sự đơn sơ và tròn đầy của giá trị thân xác con người trong kinh nghiệm về tính nam - tính nữ, mà sách St 2,23-25 nói tới, đã tức khắc tiếp nối "trong những chiều kích thế gian" có một sự biến dạng tận căn. Và rồi, cùng với dục vọng của thân xác, sự xấu hổ được sinh ra.

6. Sự xấu hổ có hai ý nghĩa: vừa chỉ mối đe dọa của giá trị, vừa cùng lúc âm thầm gìn giữ giá trị ấy (x. Karol Wojtyla, «Amore e responsabilità», Torino 1978, pp. 161-178).
Lòng người, từ lúc dục vọng của thân xác sinh ra, cũng chôn chặt trong đó sự xấu hổ, điều này chỉ cho biết người ta có thể và phải nêu đích danh nó, khi bàn về việc bảo đảm các giá trị, đã bị dục vọng tước mất chiều kích tròn đầy và nguy thủy. Nếu giữ được điều này trong trí, chúng ta có thể hiểu được tốt hơn tại sao Chúa Kitô, khi nói về dục vọng, đã nêu danh "lòng" con người.

Nhóm Tâm Biển chuyển ngữ

bản tiếng Anh (http://www.ewtn.com/library/PAPALDOC/JP2TB27.HTM)

admin
07-02-2010, 02:55 PM
XXVIII

THÂN XÁC KHÔNG PHỤC TÙNG TINH THẦN
ĐE DỌA SỰ THỐNG NHẤT CỦA CON NGƯỜI – NHÂN VỊ

http://www.ubmvgiadinh.org/uploads/pictures/News/thanhocthanxac28.jpg1. Chúng ta vẫn đang đọc lại các chương đầu của Sách Sáng thế, để tìm hiểu làm thế nào bởi tội nguyên tổ «con người của dục vọng» lại thay thế «con người của sự trong trắng» nguyên thủy. Những lời St 3,10: «con sợ hãi, vì con trần truồng, và con lẩn trốn» mà chúng ta đã xét đến hai tuần trước đây, minh chứng kinh nghiệm xấu hổ đầu tiên của con người đối với Đấng Tạo Hóa của họ. Đó là một sự xấu hổ cũng có thể gọi là sự xấu hổ «hoàn vũ».

Thế nhưng, sự «xấu hổ hoàn vũ» này – nếu có thể nhận ra được những nét trong toàn thể hoàn cảnh của con người sau phạm tội – trong bản văn Kinh thánh dẫn đến một hình thức xấu hổ khác. Đó là sự xấu hổ sinh ra chính ở nơi nhân tính mà nguyên nhân là do tình trạng vô trật tự tự nơi thẳm sâu của nhân tính ấy. Một nhân tính vốn làm cho con người trong mầu nhiệm tạo dựng như là «hình ảnh của Thiên Chúa», một hình ảnh hệ tại nơi «bản ngã» - vốn là một ngôi vị - của mình cũng như nơi tương quan liên vị nhờ sự hiệp thông các ngôi vị thuở ban đầu được cùng dựng xây bởi người nam và người nữ. Sự xấu hổ ấy phát sinh từ chính nhân tính, vừa nội tại vừa tương đối. Bởi lẽ nó hiển lộ tự bên trong tâm hồn con người, đồng thời lại liên hệ đến «tha nhân». Đó là sự xấu hổ của người phụ nữ «trước» người đàn ông, và cũng là sự xấu hổ của người đàn ông «trước» người phụ nữ. Nỗi xấu hổ trước mặt nhau đó buộc người này phải che phủ cái trần truồng của mình, giấu kín thân thể mình trước người kia; không cho người đàn ông nhìn thấy cái bộ phận là dấu hữu hình của phái nữ, và không cho người phụ nữ nhìn thấy cái là dấu hữu hình của phái nam. Sau khi phạm tội nguyên thủy sự xấu hổ của cả hai người xoay chiều về hướng đó, khi họ nhận ra mình «trần truồng» như St 3,7 xác nhận. Bản văn Giavít xem ra cho thấy cách minh nhiên tính chất «dục tính» của sự xấu hổ ấy: «họ kết lá vả làm khố che thân». Tuy nhiên, chúng ta có thể tự hỏi phải chăng khía cạnh «dục tính» chỉ có đặc tính «tương đối». Nói cách khác, phải chăng sự xấu hổ về tính dục của mình chỉ liên hệ đến con người thuộc giới tính kia.

2. Dưới ánh sáng của câu duy nhất có tính quyết định St 3,7, câu trả lời cho câu hỏi này xem ra ủng hộ trước hết đặc tính tương đối của sự xấu hổ nguyên thủy. Thế nhưng, suy tư về toàn thể bối cảnh trực tiếp giúp ta khám phá ra cái hậu cảnh ẩn sâu hơn của nó. Sự xấu hổ ấy hẳn là hiển lộ ra qua khía cạnh «tính dục» cũng cho thấy nỗi khó khăn đặc biệt trong nhận thức nhân tính cốt yếu của thân xác mình[1] (http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=1457#_ftn1). Con người chưa biết đến kinh nghiệm nhọc nhằn này trong tình trạng trong trắng nguyên thủy. Như thế, những lời: «con sợ hãi, vì con trần truồng» có thể được hiểu như muốn nói lên rõ ràng những hậu quả, là hoa trái trong tâm hồn con người, của cây biết thiện biết ác. Qua những lời đó, người ta thấy có một gãy vỡ căn bản nào đó bên trong nhân vị, gần như sự thống nhất nguyên thủy giữa thân xác và tinh thần con người bị tan vỡ. Lần đầu tiên con người nhận thấy thân xác mình không còn múc lấy được sức mạnh tâm linh vốn có thể nâng thân xác lên cấp độ hình ảnh của Thiên Chúa. Sự xấu hổ nguyên thủy của con người mang những dấu hiệu đặc biệt của một xác thân bị hạ cấp. Ẩn chứa trong đó một mầm mâu thuẫn sẽ bám theo con người «lịch sử» trong suốt cuộc hành trình trần gian, như thánh Phaolô đã viết: «Theo con người nội tâm, tôi vui thích vì luật của Thiên Chúa ; nhưng trong các chi thể của tôi, tôi lại thấy một luật khác: luật này gây chiến với luật của lí trí» (Rm 7,22-23).

3. Như thế đó hàm ẩn một nội dung bên trong sự xấu hổ ấy. Nó chất chứa một kinh nghiệm đau đớn gây ra một sự bất an nơi sâu thẳm trong toàn bộ cuộc sống nhân sinh, không chỉ vì đối diện với viễn tượng của sự chết, mà còn đối diện với viễn tượng nhờ đó mà nhân vị có giá trị và phẩm giá theo nghĩa đạo đức. Theo nghĩa đó, sự xấu hổ nguyên thủy của thân xác («tôi trần truồng») đã là một nỗi sợ hãi («tôi sợ hãi»), và báo trước một nỗi lo lắng của tâm thức gắn liền với dục vọng. Thân xác, như thế không còn phục tùng tinh thần như trong tình trạng trong trắng nguyên thủy, trở thành một hang ổ thường xuyên phản kháng tinh thần, và cách nào đó đe dọa sự thống nhất của con người – nhân vị, tức là sự thống nhất của bản tính luân lí, vốn bén rễ chắc chắn trong chính cấu trúc nhân vị. Dục vọng, và nhất là dục vọng của tính xác thịt, là một mối đe dọa đặc biệt cho cấu trúc tự sở hữu và tự chủ, là điều mà nhờ đó nhân vị được hình thành. Và nó cũng là một thách thức đặc thù đối với nhân vị. Dù sao đi nữa, con người của dục vọng không làm chủ được thân xác mình theo cùng một cách, cũng đơn sơ và «tự nhiên», như con người vốn đã làm trong tình trạng trong trắng nguyên thủy. Cấu trúc của sự tự chủ, vốn là điểm cốt yếu đối với một nhân vị, bị lung lay cách nào đó tận nền tảng bên trong con người. Con người lại đi tự đồng hóa mình với dục vọng đang khi luôn phải sẵn sàng để chiến thắng nó[2] (http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=1457#_ftn2).

4. Sự xấu hổ bên trong gắn liền với sự mất thăng bằng nội tâm đó. Và sự xấu hổ ấy mang đặc tính «tính dục» vì chính lãnh vực tính dục con người như cho thấy rất rõ ràng sự mất thăng bằng đó, một sự thiếu thăng bằng xuất phát từ dục vọng và nhất là từ «dục vọng của tính xác thịt». Từ quan điểm đó, cái xung năng đầu tiên mà St 3,7 nói tới đó («họ thấy mình trần truồng: họ mới kết lá vả làm khố che thân») rất có ý nghĩa. Như thể «con người của dục vọng» (người đàn ông và người phụ nữ «trong hành động nhận biết điều thiện và điều ác») cảm thấy rằng cũng bởi thân xác và giới tính ấy mình đã không còn đứng ở trên thế giới các sinh vật (hay «animalia») nữa. Như thể con người ấy cảm thấy sự toàn vẹn của thân xác nhân vị mình bị gãy vỡ nặng nề, đặc biệt nơi những gì xác định tính dục của nó và những gì liên hệ trực tiếp tới lời mời gọi hợp nhất (người nam và người nữ «sẽ nên một xương một thịt» (St 2,24)). Bởi thế, sự xấu hổ, có tính chất vừa nội tâm vừa liên hệ đến tính dục, luôn tương đối, ít là cách gián tiếp. Đó là sự xấu hổ về tính dục của mình «đối với» con người kia. Sự xấu hổ được biểu lộ trong trình thuật St 3 như thế đó. Bởi thế, chúng ta chứng thực cách nào đó sự khởi sinh của dục vọng con người. Thế nên, từ những lời của Đức Kitô nói về người (đàn ông) kẻ «nhìn một người phụ nữ mà thèm muốn» (Mt 5,27-28) chúng ta đi ngược lên khởi điểm lúc mà sự xấu hổ được lí giải bởi dục vọng, và dục vọng được giải thích bởi sự xấu hổ, là có lí do khá rõ ràng. Như thế chúng ta hiểu rõ hơn tại sao - và theo nghĩa nào – mà Đức Kitô nói về sự thèm muốn như một tội «ngoại tình» phạm trong lòng, bởi nó liên hệ tới «cõi lòng» con người.

5. Con người cùng lúc có trong lòng mình sự thèm muốn và sự xấu hổ. Sự xấu hổ nảy sinh trong lòng đã hướng con người đến chỗ con người nội tâm, tức «cõi lòng» mở cửa cho những «sự thế gian» đến mà khép lại với những gì «đến từ Chúa Cha». Sự xấu hổ nảy sinh trong lòng con người cùng song hành với sự phát khởi dục vọng – một dục vọng có ba mặt theo thần học Gioan (x.1Ga 2,16), và nói riêng là dục vọng của tính xác thịt. Con người xấu hổ về xác thân mình là bởi dục vọng. Đúng hơn, không xấu hổ nhiều về thân xác mình cho bằng về chính dục vọng: xấu hổ về thân xác bởi chính dục vọng. Con người xấu hổ về thân xác là bởi tình trạng tinh thần của mình, tình trạng mà thần học và tâm lí học gọi cùng một tên, đó là dục vọng hay thèm muốn, dẫu với ý nghĩa không hoàn toàn như nhau. Ý nghĩa thánh kinh và thần học của dục vọng hay thèm muốn khác với ý nghĩa được dùng trong tâm lí học. Đối với tâm lí học, thèm muốn phát xuất từ một nhu cầu, một thiếu thốn được coi như là giá trị cần phải được thỏa mãn. Còn dục vọng theo Kinh thánh, như trích từ đoạn 1Ga 2,16, muốn nói đến tình trạng tinh thần con người đã xa rời sự đơn sơ nguyên thủy và các giá trị viên mãn, mà con người và thế giới này có trong «tầm vóc của Thiên Chúa». Chính nét đơn sơ ấy cũng như giá trị viên mãn của thân xác con người trong kinh nghiệm đầu tiên về giới tính nam nữ mà St 2,23-25 nói tới, sau đó phải chịu một biến chuyển hoàn toàn theo «đường lối của thế gian». Thế là, cùng với dục vọng tính xác thịt sinh ra sự xấu hổ.

6. Xấu hổ có hai ý nghĩa: nó ám chỉ sự đe dọa giá trị và đồng thời bảo vệ giá trị đó trong nội tâm [3]. Cõi lòng con người kể từ khi nảy sinh trong đó dục vọng xác thịt cũng mang cả nỗi xấu hổ. Sự kiện ấy cho thấy rằng người ta có thể và phải liên hệ tới nội tâm khi muốn bảo đảm các giá trị ấy, những giá trị mà dục vọng đã cướp đi mất chiều kích nguyên thủy và viên mãn của chúng. Ý thức điều ấy, ta có thể hiểu rõ hơn tại sao Đức Kitô nói tới «tâm hồn» con người khi đề cập đến dục vọng.

----------------------------------------
[1] (http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=1457#_ftnref1) «Nhân tính cốt yếu của thân xác mình» phải được hiểu như là điều mà nhờ đó thân xác con người là người và như thế có nghĩa là thân xác biểu lộ nhân vị, thân xác mang tính ngôi vị.
[2] (http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=1457#_ftnref2) Sự tự chủ, vốn là khả năng đưa thân xác hội nhập vào ngôi vị, trở nên một nhiệm vụ thường xuyên. Nó không còn chỉ đơn giản là một dữ kiện.
[3] X. Carol WojtyŁa, Amore e responsabilità, Torino 1978, ch. «Metafisica del pudore», 161-178.


Louis Nguyễn Anh Tuấn chuyển dịch