admin
07-09-2006, 08:03 AM
Các Giám Mục Việt Nam trước lịch sử
Một số suy nghĩ về sự đóng góp của hàng Giáo phẩm Việt Nam trong việc chuẩn bị Thượng Hội Đồng Giám Mục cho Á Châu
…Vạn hữu Chân Nguyên…
Đại Đạo quán cổ kim
(Nguồn Gốc Thật của muôn vật (là)
Con Đường lớn xuyên suốt từ quá khứ đến hiện tại
Chúng tôi hân hạnh được đọc các bản trả lời của Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGMVN) gửi các vị hữu trách của Hội nghị đặc biệt của Thượng Hội đồng Giám mục cho Á châu: trước hết từ bản dịch Pháp ngữ đăng trên bản tin Eglises d’Asie (chỉ có bản trở lời các câu hỏi), sau đó là toàn các bản văn bằng Việt ngữ (gồm có thêm bản góp ý của HĐGMVN). Đây là một bản văn can đảm, không tìm cách tránh né, trình bày thực trạng của Cộng đồng Kitô giáo Việt Nam trong hoàn cảnh hiện nay. Bản văn là nhiều người ngạc nhiên, nếu họ đã quen với lối gọt dũa khéo léo và tự phụ thường đọc thấy nơi văn chương của các vị hữu trách “nhà đạo”. Các Giám mục Việt Nam muốn trình bày một vài điểm với những vị đã chuẩn bị Thượng Hội đồng cho Á châu, và nêu lên một vài sự thật nhắc nhở Kitô hữu Việt Nam và vùng Đông Á: lối nói thẳng thắn, không quanh co, nên có thể bị hiểu lầm, hoặc ngay cả làm một số người khó chịu. Thực ra thì bản văn rất tích cực và đầy hy vọng: nó tránh việc than vãn hoặc răn đe, để cố đưa ra những hướng đi mới cho hôm nay và tương lai.
Ngoài những nhận xét trên, chúng tôi không đi vào phê phán về nội dung mục vụ của bản văn, về giá trị của các lời phân tích tình hình hiện tại và ngay cả về sự khẩn thiết nơi những lời nhắc nhở hoặc tầm quan trọng của các đề nghị cho tương lai được diễn tả nơi bản văn. Những việc đó thuộc về trách nhiệm của tín hữu và chủ chăn của Giáo hội Việt Nam. Trong bối cảnh của Thượng Hội đồng, quan điểm và lập trường của họ sẽ được thảo luận và tiếp cận với những quan điểm và lập trường của các Giáo hội khác của lục địa Á châu bao la, và của Giáo hội hoàn vũ. Chúng tôi hết lòng mong ước rằng tiếng nói dấy lên từ vùng đất Việt Nam làm thế nào đừng để bị dập tắt đi.
Ỏ đây, chúng tôi sẽ có nêu lên một nội dung đặc loại, đó là vấn đề lịch sử. Trong vấn đề liên hệ, một nhận xét của các giám mục nêu lên cho bản văn Lineamenta của Thượng Hội đồng Giám mục nầy làm chúng tôi lưu ý: “Tài liệu làm việc (…) không nên trở thành một bài nghiên cứu lịch sử vì thế phần lịch sử chỉ nên nhắc thoáng qua”.
Các Giám mục Việt Nam có thật sự
không thích nói đến lịch sử không?
Câu trích trên đây và những nhận xét đi tiếp theo câu trích nó, có thể cho người ta có cảm tưởng như HĐGMVN không thích lịch sử, hoặc muốn quay lưng với lịch sử để chú tâm vào những phận vụ cấp bách hơn của ngày hôm nay hoặc hướng về tương lai. Phần chúng tôi, chúng tôi không nghĩ vậy. Chúng tôi cho rằng ở đây các Giám mục muốn phê bình lối nhắc lại lịch sử và sử dụng lịch sử một cách vụng về và không thỏa đáng, ở nơi bản văn đầu tiên do Roma phổ biến để chuẩn bị Thượng Hội đồng Giám mục.
Nhưng là những lời phê bình nào?
Theo chúng tôi, lời phê bình đầu tiên liên quan đến việc lẫn lộn lịch sử Giáo hội tại Á châu với lịch sử các nhà truyền giáo ngoại quốc (xem Lineamenta, số 11-14). Hệ quả là người ta rơi vào một cái nhìn hoàn toàn Âu châu đến độ đưa ra những xác quyết kỳ lạ. Chỉ cần nêu lên câu sau nầy thì thấy rõ: “Vào thế kỷ XIX, lần đầu tiên trong lịch sử các cuộc truyền giáo, các phụ nữ phiêu lưu đần các vùng xa xôi ở Á châu để làm chứng về Chúa Kitô và Giáo hội Ngài…” (Lineamenta số 12). Hẳn nhiên đối với vô số các phụ nữ can đảm trong lịch sử Giáo hội Việt Nam, kể từ bà Maria Mađalêna Phú Yên 1 và các nữ tu Mến Thánh Giá đầu tiên 2, đây hẳn không phải là những vùng đất xa xôi; nhưng các bà ấy đã không phiêu lưu đến độ chấp nhận nguy hiểm đến cả tính mạng mình để làm chứng cho Đức Kitô và khai sinh, nuôi dưỡng Giáo hội của Ngài hay sao? Và thánh Agnes Lê Thị Thành không phải là chứng nhân đó sao?
Lời trách cứ thứ hai không nói lên, nhưng cũng cảm được, đó là thành quả nỗ lực truyền giáo như chỉ giới hạn vào bình diện số lượng (chẳng hạn xem các dữ kiện từng xứ một, Lineamenta số 13). Đây cũng thế, những lối nói tổng quát vội vàng 3 đã vấp phải những điều ngược với sự thật: “Thời kỳ truyền bá Kitô giáo đầu tiên (cụ thể từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII) dường như đã kết thúc với một sự thất bại hầu như hoàn toàn, trừ Phi Luật Tân” (Lineamenta số 12). Chắc Đức Mẹ không đồng ý với “nhận định” đó đâu, vì Mẹ đã từng khích lệ các Kitô hữu Việt Nam tại La-vang vào năm 1798…
Lời phê bình thứ ba là Lineamenta đã nêu lên rằng những khó khăn làm trở ngại cho việc phát triển các Giáo hội Á châu đều là những yếu tố do ngoại cuộc. Đấy là những yếu tố được nói đại loại là: do chính sách của Bồ Đào Nha về Giáo hội, do việc Rôma lên án các “nghi lễ Trung Hoa” (ngày nay được đánh giá là tiên phong trong vấn đề hội nhập văn hóa), do việc dẹp bỏ Dòng Tên, do những cuộc tranh chấp giữa các cơ sở truyền giáo, do chủ trương quốc gia chủ nghĩa của các nước Âu châu… (Lineamenta số 11). Các Giám mục Việt Nam không thích đi vào cuộc tranh luận nầy 4, nhưng hẳn nhiên các ngài cũng không thể đồng ý rằng tất cả mọi điều xấu xa đều do từ Lisbonne hoặc Rôma mà đến.
Còn về các “biến cố có ý nghĩa” (Lineamenta số 13), HĐGMVN không thích việc đưa ra danh sách các biến cố địa phương, trong đó, Việt Nam chỉ nhắc đến một lần với biến cố di cư 1954… Chúng ta sẽ trở lại phần rút tỉa các “bài học lịch sử” mà Linamenta nêu lên qua hai nội dung khác nữa trong phần sau.
Một số suy nghĩ về sự đóng góp của hàng Giáo phẩm Việt Nam trong việc chuẩn bị Thượng Hội Đồng Giám Mục cho Á Châu
…Vạn hữu Chân Nguyên…
Đại Đạo quán cổ kim
(Nguồn Gốc Thật của muôn vật (là)
Con Đường lớn xuyên suốt từ quá khứ đến hiện tại
Chúng tôi hân hạnh được đọc các bản trả lời của Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGMVN) gửi các vị hữu trách của Hội nghị đặc biệt của Thượng Hội đồng Giám mục cho Á châu: trước hết từ bản dịch Pháp ngữ đăng trên bản tin Eglises d’Asie (chỉ có bản trở lời các câu hỏi), sau đó là toàn các bản văn bằng Việt ngữ (gồm có thêm bản góp ý của HĐGMVN). Đây là một bản văn can đảm, không tìm cách tránh né, trình bày thực trạng của Cộng đồng Kitô giáo Việt Nam trong hoàn cảnh hiện nay. Bản văn là nhiều người ngạc nhiên, nếu họ đã quen với lối gọt dũa khéo léo và tự phụ thường đọc thấy nơi văn chương của các vị hữu trách “nhà đạo”. Các Giám mục Việt Nam muốn trình bày một vài điểm với những vị đã chuẩn bị Thượng Hội đồng cho Á châu, và nêu lên một vài sự thật nhắc nhở Kitô hữu Việt Nam và vùng Đông Á: lối nói thẳng thắn, không quanh co, nên có thể bị hiểu lầm, hoặc ngay cả làm một số người khó chịu. Thực ra thì bản văn rất tích cực và đầy hy vọng: nó tránh việc than vãn hoặc răn đe, để cố đưa ra những hướng đi mới cho hôm nay và tương lai.
Ngoài những nhận xét trên, chúng tôi không đi vào phê phán về nội dung mục vụ của bản văn, về giá trị của các lời phân tích tình hình hiện tại và ngay cả về sự khẩn thiết nơi những lời nhắc nhở hoặc tầm quan trọng của các đề nghị cho tương lai được diễn tả nơi bản văn. Những việc đó thuộc về trách nhiệm của tín hữu và chủ chăn của Giáo hội Việt Nam. Trong bối cảnh của Thượng Hội đồng, quan điểm và lập trường của họ sẽ được thảo luận và tiếp cận với những quan điểm và lập trường của các Giáo hội khác của lục địa Á châu bao la, và của Giáo hội hoàn vũ. Chúng tôi hết lòng mong ước rằng tiếng nói dấy lên từ vùng đất Việt Nam làm thế nào đừng để bị dập tắt đi.
Ỏ đây, chúng tôi sẽ có nêu lên một nội dung đặc loại, đó là vấn đề lịch sử. Trong vấn đề liên hệ, một nhận xét của các giám mục nêu lên cho bản văn Lineamenta của Thượng Hội đồng Giám mục nầy làm chúng tôi lưu ý: “Tài liệu làm việc (…) không nên trở thành một bài nghiên cứu lịch sử vì thế phần lịch sử chỉ nên nhắc thoáng qua”.
Các Giám mục Việt Nam có thật sự
không thích nói đến lịch sử không?
Câu trích trên đây và những nhận xét đi tiếp theo câu trích nó, có thể cho người ta có cảm tưởng như HĐGMVN không thích lịch sử, hoặc muốn quay lưng với lịch sử để chú tâm vào những phận vụ cấp bách hơn của ngày hôm nay hoặc hướng về tương lai. Phần chúng tôi, chúng tôi không nghĩ vậy. Chúng tôi cho rằng ở đây các Giám mục muốn phê bình lối nhắc lại lịch sử và sử dụng lịch sử một cách vụng về và không thỏa đáng, ở nơi bản văn đầu tiên do Roma phổ biến để chuẩn bị Thượng Hội đồng Giám mục.
Nhưng là những lời phê bình nào?
Theo chúng tôi, lời phê bình đầu tiên liên quan đến việc lẫn lộn lịch sử Giáo hội tại Á châu với lịch sử các nhà truyền giáo ngoại quốc (xem Lineamenta, số 11-14). Hệ quả là người ta rơi vào một cái nhìn hoàn toàn Âu châu đến độ đưa ra những xác quyết kỳ lạ. Chỉ cần nêu lên câu sau nầy thì thấy rõ: “Vào thế kỷ XIX, lần đầu tiên trong lịch sử các cuộc truyền giáo, các phụ nữ phiêu lưu đần các vùng xa xôi ở Á châu để làm chứng về Chúa Kitô và Giáo hội Ngài…” (Lineamenta số 12). Hẳn nhiên đối với vô số các phụ nữ can đảm trong lịch sử Giáo hội Việt Nam, kể từ bà Maria Mađalêna Phú Yên 1 và các nữ tu Mến Thánh Giá đầu tiên 2, đây hẳn không phải là những vùng đất xa xôi; nhưng các bà ấy đã không phiêu lưu đến độ chấp nhận nguy hiểm đến cả tính mạng mình để làm chứng cho Đức Kitô và khai sinh, nuôi dưỡng Giáo hội của Ngài hay sao? Và thánh Agnes Lê Thị Thành không phải là chứng nhân đó sao?
Lời trách cứ thứ hai không nói lên, nhưng cũng cảm được, đó là thành quả nỗ lực truyền giáo như chỉ giới hạn vào bình diện số lượng (chẳng hạn xem các dữ kiện từng xứ một, Lineamenta số 13). Đây cũng thế, những lối nói tổng quát vội vàng 3 đã vấp phải những điều ngược với sự thật: “Thời kỳ truyền bá Kitô giáo đầu tiên (cụ thể từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII) dường như đã kết thúc với một sự thất bại hầu như hoàn toàn, trừ Phi Luật Tân” (Lineamenta số 12). Chắc Đức Mẹ không đồng ý với “nhận định” đó đâu, vì Mẹ đã từng khích lệ các Kitô hữu Việt Nam tại La-vang vào năm 1798…
Lời phê bình thứ ba là Lineamenta đã nêu lên rằng những khó khăn làm trở ngại cho việc phát triển các Giáo hội Á châu đều là những yếu tố do ngoại cuộc. Đấy là những yếu tố được nói đại loại là: do chính sách của Bồ Đào Nha về Giáo hội, do việc Rôma lên án các “nghi lễ Trung Hoa” (ngày nay được đánh giá là tiên phong trong vấn đề hội nhập văn hóa), do việc dẹp bỏ Dòng Tên, do những cuộc tranh chấp giữa các cơ sở truyền giáo, do chủ trương quốc gia chủ nghĩa của các nước Âu châu… (Lineamenta số 11). Các Giám mục Việt Nam không thích đi vào cuộc tranh luận nầy 4, nhưng hẳn nhiên các ngài cũng không thể đồng ý rằng tất cả mọi điều xấu xa đều do từ Lisbonne hoặc Rôma mà đến.
Còn về các “biến cố có ý nghĩa” (Lineamenta số 13), HĐGMVN không thích việc đưa ra danh sách các biến cố địa phương, trong đó, Việt Nam chỉ nhắc đến một lần với biến cố di cư 1954… Chúng ta sẽ trở lại phần rút tỉa các “bài học lịch sử” mà Linamenta nêu lên qua hai nội dung khác nữa trong phần sau.