PDA

View Full Version : Bản tường trình của thầy Antonio Torres (phần I & II)


admin
06-08-2009, 02:17 PM
Bản tường trình của thầy Antonio Torres (phần I)

Sau khi thầy giảng Anrê Phú Yên chịu tử đạo ngày 26 tháng 7 năm 1644, xác thánh của Thầy được đưa về Macau vào đúng ngày lễ Đức mẹ Hồn Xác lên trời, và được cả thành Macau đón rước trọng thể. Thầy Antonio de Torres đã viết một bài tường thuật về biến cố này thật chi tiết và đầy cảm xúc. Bài tường thuật được viết ngày 5 tháng 10 năm 1644.



Bản tường trình của thầy Antonio Torres (phần I)



Trình Thuật nghi lễ tại thành phố Macau


tiếp đón thi thể vị tử đạo bất khuất thầy giảng Anrê Đàng Trong (Cochinchina), bị giết chết vì đức tin vào Chúa Kitô tại Kẻ Chàm (Cachao), bởi triều đình Xứ Đàng Trong vào năm 1644


(Bản báo cáo của thầy dòng Tên Antonio de Torres gởi cho cha Alexandre de Rhodes ngày 5 tháng 10 năm 1644 nhằm thông tin cho các Kitô hữu Đàng Trong (Nguyên văn bằng tiếng Bồ).

Bản văn sao chép được thực hiện vào năm 1755 bởi João Alvares, được lưu tại Lisbonne, thư viện Da Ajuda, sưu tập Jesuítas na Asia, tập 49/v/13, số hiệu 223v -229(63). Bản tạm thời chờ đối chiếu với bản gốc.
Theo thứ tự thời gian biên soạn, độc giả đã đọc Bản Tường trình của Cha Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) đề ngày 01 tháng 8 năm 1644. Chúng ta cũng biết Nhật ký của Học viện thánh Phaolô Macau. Hôm nay chúng ta tiếp tục theo dõi Bản Tường trình thật hấp dẫn của thầy Antonio de Torres. Theo linh mục Roland Jacques OMI, thầy Antonio de Torres sinh ra ở Torres Vedras, địa phận Lisbonne, vào năm 1592; trở thành tu sĩ dòng Tên năm 1620. Thầy được gởi đến Đàng Trong vào năm 1627, và bị bị lưu đày hai năm ở Champa. Tại sao? Chúng ta cần được thông tin thêm. Qua những sự kiện trên, chúng ta có thể kết luận là thầy biết quá rõ xứ Đàng Trong, đặc biệt tỉnh Ranran, vùng Phú An phủ và Dinh Trấn Biên. Thầy cũng biết vùng Cachao (Kẻ Chàm) tức Dinh Trấn Thanh Chiêm và tỉnh Quảng Nam. Dù thầy rất mong ước được trở lại Đàng Trong để làm việc nhưng hình như giấc mộng đó không thành. Từ năm 1669 đến 1675 thầy làm việc tại Siam (Thái Lan ngày nay) và qua đời tại Macau ngày 12 tháng 12 năm 1680.
Bản trình thuật sau đây ký tên vào ngày 5 tháng 10 năm 1644, được coi như bài phóng sự tuyệt vời của một ký giả chuyên nghiệp, một chứng nhân tại chỗ ghi nhận những gì mắt thấy tai nghe, giúp chúng ta hình dung rõ nét cuộc cung nghinh xác thánh vị Tử đạo tiên khởi Việt Nam. Qua đó chúng ta cũng thấy được thầy Anrê được dân thành Macau ái mộ như thế nào. Ngày nay, nếu thực hiện một cuốn phim dựa theo bản tường trình nầy, nhà sản xuất chắc chắn phải bỏ ra một khoảng tiền không nhỏ, chỉ nguyên dùng để sắm sửa trang thiết bị chẳng hạn 12 du thuyền, chưa kể đến các diễn viên quần chúng.
Bây giờ xin nhường lời lại cho thầy Antonio de Torres.
http://www.giaophandanang.org/files/Image/Ban%20tuong%20trinh%20cua%20thay%20Antonio%20%20de%20Torres.jpg
Trang đầu của bản tường trình. Tài liệu của Linh mục Roland Jacques, OMI.

Phần I

Chiếc tàu mang tên Sancto Antonio, và Sam João Bautista (Thánh Antôn và Thánh Gioan Tẩy Giả), thuyền trưởng là João de Rezende, đã đến Macau hai ngày trước ngày lễ Mông Triệu của Đức Mẹ Đồng Trinh. Tàu đã đi một hành trình thuận lợi, dù rằng, nếu theo cách tự nhiên người ta ký thác vào sự lèo lái của hoa tiêu, thì đó sẽ là một hành trình rất tai hại. Thật vậy, khi hoa tiêu cố hết sức mình để đưa tàu đi theo ngã đường này, thì ông đột nhiên thấy mình đang đi trên một con đường khác, hoa tiêu và những người trên thuyền hết sức ngạc nhiên; bởi họ không hiểu chuyện mầu nhiệm; phải biết rằng rất có thể họ sẽ bị rơi vào tay hai tàu cướp biển Hoà Lan. Hai tàu này trước đó một chút, đã tóm được hai tàu hàng từ Solor1 trở về; và một ngày sau khi tàu này thoát nạn, bọn cướp biển cũng đã bắt gọn một tàu hàng khác từ Palimbao2 đi về. Như thế, sự kiện tàu của chúng ta cập bến an toàn giữa thời quân cướp biển lộng hành, vị thuyền trưởng, với tư cách một người có phán đoán ngay thẳng, đã quy công trạng ấy cho thi thể thánh thiêng của vị tử đạo tiên khởi xứ Đàng Trong mà ông đang chở trên tàu mình: nhờ có sự đồng hành của ngài, theo lời của chính vị thuyền trưởng, ông đã có cuộc hành trình đến thành phố này an toàn, thoát khỏi mọi hiểm nguy khó khăn.
http://www.giaophandanang.org/files/Image/08.%20Nha%20tho%20thanh%20Phaolo%20o%20Macau%202.jpg
Nhà thở Thánh Phaolô tại Macau


Khi cha Viện trưởng trường Học viện Macau và Phó Bề Trên Tỉnh Dòng Nhật Bản, cha Gaspar de Amaral, tiếp nhận thông tin về món quà quý giá mà cha Alexandre de Rhodes đã gởi cho ngài từ Đàng Trong vào năm thứ tư trong chức vụ, thì cảm xúc dâng tràn, theo như hoa tiêu và những người khác trên tàu làm chứng; hơn nữa có một thời chính ngài cũng đã được gởi đi rao giảng Phúc Âm cho người Kitô hữu ở đó, và nhiều năm rao giảng đầy hoa trái ở Đàng Ngoài, là một phần đất nối liền với Đàng Trong và tạo thành một nước, có cùng một y phục và một tập quán. Vậy cha Hiệu trưởng quyết định biểu lộ những dấu chỉ vui mừng, cho rung chuông, không chỉ trong Học viện, mà còn xin Đức Tổng Quyền của Toà Giám Mục ra lệnh cho nhà thờ Chính Toà địa phận và các giáo xứ trong thành phố phải đổ chuông, để mọi người cùng biểu lộ niềm vinh dự dành cho vị tử đạo huy hoàng; là người Đàng Trong, thầy thật ra cũng là một con chiên trong đàn chiên của ngài, bởi vì người Kitô hữu ở đó là thành phần thuộc về quyền tài phán của Malaca, mà ngài là Tổng Quyền.3
Vì mục đích ấy, ngài đã sai hai tu sĩ Dòng Tên đến với Cha tổng quyền, đó là cha Francisco Rangel và thầy João Nogueira, cùng với bản tường trình về việc tử đạo vẻ vang của thầy Anrê diễm phúc, do cha Alexandre Rhodes viết, cha là người chứng kiến tận mắt và là người đã giúp đỡ thầy Anrê trong giai đoạn cuối cùng, khi khuyến khích và an ủi thầy, để với lòng can đảm và kiên vững thầy có thể chịu cái chết vẻ vang vì Chúa Kitô. Nhưng cha Manoel Fernandes – là tên của cha Tổng Quyền – lại không muốn chấp nhận lời cầu xin của cha Viện trưởng, hoặc bởi ngài ít thiện cảm với Dòng Tên chúng ta, và do đó cũng ít thiện cảm với những việc liên quan đến Dòng Tên, hoặc theo như lời ngài nói, do ở Goa4 người ta không có thói tục làm kiểu cử chỉ biểu dương ấy. Vậy các cha nhận câu trả lời này và quay trở về Học viện; nhưng câu trả lời này không hề làm giảm quyết tâm của cha Viện trưởng: ngược lại, ngài quyết tâm với lòng nhiệt tình hơn phải làm cho cả thành phố này, bắt đầu từ trường học của ngài, biết đến tin vui mừng về kho tàng hiển vinh mà Kitô hữu Annam nhiệt thành đã gởi đến cho ngài dưới dạng một thi thể thánh thiện của thầy Anrê vinh quang. Vị tử đạo này sẽ đến trình diện với Chúa Giêsu nhân lành trên trời cùng với năm vết thương, qua đó quân vô đạo thù nghịch đức tin chí thánh đã cướp mạng sống của thầy, bởi vì thầy đã tuyên xưng Đạo cách rõ ràng và lớn tiếng trước mặt bạo chúa; và vì vậy, thầy là đấng trợ giúp mới của chúng ta ở bên Chúa, để Chúa cứu chúng ta thoát khỏi những khốn khổ mọi mặt đang vây quanh.


Vậy ngài đã ra lệnh cho thầy phó quản lý Học viện ngay lập tức rung chuông, không cần chần chừ và rung liên hồi tất cả những quả chuông trong tháp chuông của chúng ta. Vậy ngay tức khắc thầy bắt tay vào thực hiện mệnh lệnh của cha Viện trưởng; để những hồi chuông được rung lên với đầy nhiệt huyết, thầy đã nhóm họp một số thanh niên Đàng Trong và Đàng Ngoài, họ đến Học viện từ mấy năm nay dưới cái tên những người Dojukus5 (tiếng Nhật: đồng túc), để những học sinh này, với phẩm chất thanh niên và là người đồng bào của vị anh hùng tử đạo vẻ vang của chúng ta, họ sẽ đi đánh chuông. Những chàng thanh niên này đã nắm chắc lời khuyên: họ nhảy ngay lên tháp và bắt đầu đánh thật nhanh, thật giục giã, với hết lòng nhiệt tâm tất cả những quả chuông của tháp chuông. Và này ngay tức khắc dân chúng tụ tập lại nơi nhà gác cổng để hỏi thầy gác cổng có việc gì, thầy đã được dạy bảo trước điều thầy phải thưa: “Thưa cha, có tin gì mới vậy?” – Thầy vui vẻ trả lời: “Thưa quý ông, có một vị tử đạo vẻ vang người xứ Đàng Trong vừa hiến dâng mạng sống ở đấy, và thi thể của ngài được mang sang đây bằng một chiếc tàu từ Đàng Trong trở về.” Khi nghe những lời đó, họ nói: “Tạ ơn Thiên Chúa!” Và họ quay trở về loan báo tin vui cho những người mà họ gặp trên đường và cả những ai đang ở trong nhà.
Thi thể diễm phúc này ở trong một chiếc tàu; cha Viện trưởng đã gởi hai trong số các tu sĩ của ngài đến để xem xét, đó là thầy Manoel de Figueiredo và thầy Belchior Ribeiro, trong khi đó tại Học viện người ta chuẩn bị những gì cần thiết cho nghi thức tiếp rước. Cha ra lệnh cho hai thầy đi xem kích thước của chiếc quan tài đang quàn thi thể thánh thiện của thầy, và lưu ý xem cách thức người ta sẽ di chuyển quan tài. Hai thầy đã mau chóng thi hành mệnh lệnh, và theo ý của thầy Manoel de Figueiredo, chúng con phải gấp rút làm một quan tài mới để dời thánh tích sang, bởi vì cái cũ được đưa từ Đàng Trong đến hơi nặng quá; nhưng ý kiến đó đã bị bác bỏ ngay, bởi vì thầy Figueiredo xuống lại tàu lần thứ hai cùng với thầy phó quản lý Francisco Dias, và thầy này có ý kiến là không cần phải làm một quan tài mới, nhưng hoàn toàn có thể di chuyển quan tài đang quàn thi thể của thầy.
Một khi đã nhận giải pháp sau, người ta bắt đầu chuẩn bị cho nghi lễ tiếp đón: các cha quyết định buổi tiếp đón sẽ diễn ra vào buổi chiều ngày lễ Đức Mẹ, ngày 15 tháng 8, là ngày Đức Mẹ hiển vinh được mông triệu thăng thiên để hưởng kiến nhan thánh Con chí thánh rất yêu dấu của ngài, đó cũng là ngày thánh tích6 của thầy sẽ được trưng bày cho dân chúng nhìn thấy, trong ngôi nhà thờ xinh đẹp của Học viện chúng ta; và ngày hôm đó, ngôi nhà thờ giống như thiên đàng được trang trí và tô điểm thật lộng lẫy, bởi vì ngày hôm nay nó được dành riêng cho thầy; và qua bức ảnh Đức Mẹ rất trong sạch đang chờ đón người tôi tớ đã trung thành hiến dâng cho ngài, để Đức Mẹ cũng hộ tống thầy trong nghi lễ tiếp đón.
Để chuẩn bị cho nghi lễ, chúng con đi hỏi mượn nhiều tấm vải thêu; người ta chen lấn nhau đem đến; nhiều người còn gởi đến những những tấm vải chưa bao giờ được sử dụng. Chúng con cũng xin mượn những tấm vải hoa nổi bằng xoa và lụa trơn, mọi người đều sẵn lòng và vui vẻ đem cho những thứ ấy; và lúc đó một người đàn ông thế giá đã trao tặng một số lớn vải vóc và tuyên bố: “Thưa đây là vải vóc, còn chính con, con sẽ không bỏ lỡ việc tiếp rước vị tử đạo thánh thiện đâu.”
Ngay sau khi đã qui tụ tất cả những thứ cần thiết cho việc trang trí đòn cáng lễ tang, chúng con gia cố chiếc đòn cáng dùng cho các tu sĩ của Trường, vốn để mang thi thể các ngài đến huyệt mộ khi thánh ý Thiên Chúa mời gọi họ đến với Ngài. Một khi công việc gia cố đã xong, bề trên đã giao chiếc đòn cáng lại cho một số người thiện chí, để họ chịu trách nhiệm trang trí và tô điểm vô số những vật trang điểm đã được quy tụ. Trước hết họ làm một tán bằng tre giống như một cái vòm để che cỗ quan tài, và họ trải trên đòn cáng một tấm khăn quý giá có thêu thùa. Trên đó chúng con sẽ đặt cỗ quan tài quàn thi thể thánh của vị tử đạo thánh thiện. Từ một tấm vải hoa nổi, chúng con tạo ra những chiếc gối tựa nhỏ để trên vai cho các tu sĩ khiêng, để giảm bớt gánh nặng của cỗ quan tài; chúng con đã dán vào các thanh ngang của đòn cáng những băng dải lụa đỏ thẫm xinh xinh; thế là chúng con đã hoàn thành việc trang trí, chiếc đòn cáng trở thành một vật thật lộng lẫy uy nghi.
Ngay khi những cử hành ngày lễ Đức Bà kết thúc, chúng con mở nhà táng ở chỗ giao nhau của cánh ngang nhà thờ, chỗ đó được trải thảm7 đẹp và trên đó chúng con trang hoàng rất nhiều hoa đồng nội và những cành húng dổi, và nhất là chúng con đã đặt hoa lên ngôi mộ được trang hoàng tô điểm như con vừa nói; và tại chỗ ấy vẻ huy hoàng chung quanh của nhà thờ càng làm cho nó chói ngời hơn, còn ngôi mộ, con không biết ngôi mộ đã đem lại cho ngôi nhà thờ một vẻ chói lọi mới nào mà làm cho nó có vẻ lộng lẫy và duyên dáng vô cùng.
Thế là, một phần lớn và số đông dân chúng thành phố đã biết được kho tàng quý giá mà những Kitô hữu Đàng Trong vẻ vang đã gởi đến cho thành này dưới hình thức một thi thể của vị tử đạo thánh thiện thầy Anrê. Nhưng để người ta biết được ngày cập bến của ngài, chúng con đã xin cha giảng lễ trong buổi lễ cử hành cùng ngày, đó là Lễ Đức Mẹ Chúa Trời, mừng cuộc Mông Triệu Thăng Thiên vẻ vang của Ngài, một bản tin để đọc từ trên toà cao. Trong đó chúng con thông báo rằng vào chính chiều nay chúng con sẽ đưa thi thể của vị tử đạo Anrê Đàng Trong cập bến; chúng con cũng đã nêu đích danh những đường phố mà thầy sẽ đi ngang qua, chúng con đề nghị trao cho quý ông cư ngụ tại các đường phố đó một vinh dự xứng đáng là đích thân hộ tống vị tử đạo thánh thiện, người đã hiến mạng sống vì Đạo chí thánh của chúng ta; và như thế người ngoại giáo phải nhìn thấy những vinh dự chúng ta dành cho các Kitô hữu hiến dâng mạng sống để chứng minh mình là Kitô hữu.
Cha Paulo Teixeira, ca trưởng của ca đoàn Học viện, đã tập dượt lại với các nhạc sĩ một bài thánh ca về đức tin, bài Laudate Dominum (Hãy ngợi khen Chúa) và những bài ca hoan hỉ khác mà chúng con sẽ đứng trên các du thuyền hát ngoài biển trong khi người ta đưa vị tử đạo từ tàu lên bến. Giáo viên nhà trường ra lệnh cho các học sinh của mình cầm theo trên tay, em thì lá cọ, em thì nến trắng để đón rước người đã sống xứng đáng với cành cọ tử đạo, và là người luôn giữ cho ngọn đuốc đức tin chí thánh của chúng ta cháy sáng trong tim và trên môi miệng.

Ghi Chú
1 Một hòn đảo trong nhóm đảo Moluques, ở Inđônêsia hiện nay.
2 Từ Phillipines.
3 Từ năm 1641, Malaca bị người Hoà Lan chiếm đóng, việc phụng tự Công giáo bị cấm chỉ; chức giám mục bị bỏ trống, Tổng quyền của toà giám mục Macao kiêm chịu trách nhiệm coi sóc phần còn lại của địa phận Malaca.
4 Cha Tổng Quyền Fernandes thuộc hàng giáo sĩ địa phận Goa.
5 “Dogico” hay “dojuku”, một từ Nhật Bản, là một thuật ngữ của Các Thừa Sai Viễn Đông vào thời đó. Chỉ gốc gác của các học sinh hoàn toàn hiến thân cho truyền giáo, được mời gọi để trở thành những người cộng tác của các thừa sai, và đồng thời để chuẩn bị cho chức linh mục.
6 Có thể hiểu là “tượng, ảnh”. Nghĩa bóng này ít dùng trong tiêng Bồ chuẩn.
7 Ngữ cảnh của đoạn văn mời gọi chúng ta hiểu rằng tấm thảm có rải hoa bao phủ nền nhà thờ chứ không phải chỉ có nhà táng, nhưng trật tự của câu bằng tiếng Bồ dường như đòi phải hiểu theo giả thuyết thứ hai.

admin
06-08-2009, 02:21 PM

admin
06-08-2009, 02:22 PM
Các ca viên vừa đi vừa hát, các tay sáo thì say sưa thổi, và các quả chuông hoà với tất cả bằng những chuỗi hoà âm vui mừng nhất của chúng. Đoàn rước vẻ vang diễu hành dọc theo bãi cát, kéo dài từ nhà ông Vicente Rodrigues cho đến nhà vị tử đạo Rodrigo Sanches; từ đây, đoàn rước đi theo đường ngang phía sau nhà ông và đổ lên phố Miguel Machado; khắp các phố đều được trang trí bằng những cành lá và trải thảm. Khi đoàn rước bước khỏi bến tàu đi vào phố, thì đằng sau vang lên một loạt súng nổ từ các khẩu Mutke ở trên cột tàu mà thầy Belchior Ribeiro đã đặt sẵn tại đó bắn lên.
Cha xứ đặt thi thể diễm phúc5 tại chỗ này, cũng với những trang trí lộng lẫy như vậy; trong nhà thờ, cha không cho phép người ta lấy bất cứ đồ trang trí nào của ngài, cũng như không kéo bức màn lộng lẫy che các bàn thờ cho đến trưa ngày hôm sau. Trong suốt thời gian này, thầy Anrê diễm phúc của chúng ta đang đồng hành với Chúa, cũng như ngài sẽ vui hưởng đời đời (nhan thánh Chúa) trong vinh quang của Ngài, để thưởng công cho cái chết vẻ vang mà người ta đã bắt thầy chịu vì tình yêu Ngài.
Từ chỗ này là nơi giao nhau của hai cánh gà nhà thờ, di hài thánh được đưa đi đặt lên đài gần Thánh Thể, và thầy ở lại đây. Việc chọn địa điểm này theo con không phải chỉ do tình cờ; con tin rằng với thầy Anrê dũng cảm, Thiên Chúa đã đối xử như một người cha có nhiều đứa con, nhưng ngài yêu thích nhất là có đứa con nhỏ nhất ở bên cạnh. Học viện này cũng có nhiều di hài thánh tử đạo,6 và có một nhà nguyện được dâng hiến riêng cho các ngài, trong đó có nhiều quách chứa thánh tích các vị tử đạo vinh hiển và tiêu biểu của Nhật Bản; nhưng đối với thầy Anrê nhiệt thành của chúng ta, Vị Tử Đạo Tiên Khởi xứ Đàng Trong vào năm qua 1644, Chúa không muốn để thầy ở xa nhà tạm rất thánh của ngài; Ngài đã muốn thầy ở gần Ngài trong một nhà nguyện đặc biệt. Nhưng nhà nguyện đặc biệt mà con nói là gì? Ngài muốn rằng đó là nhà nguyện của riêng ngài, bởi vì chính trong nhà nguyện này vào thứ Sáu Tuần Thánh Chúa ngự ở đây, khi người ta đặt Ngài ở đây trong ngày thánh đó để cử hành các nghi thức phụng vụ của Hội Thánh. Và chính tại nơi này, thầy Anrê diễm phúc sẽ ngụ ở đây; thầy có thể tỏ cho Chúa thấy năm vết thương mà thầy đã chịu vì tình yêu Ngài và vì Đạo chí thánh của Ngài, thầy sẽ chuyển cầu cho dân Kitô giáo và cho quê hương Đàng Trong của Ngài. Chắc chắn thầy sẽ lãnh nhận được từ Thiên Chúa nhiều ơn lành cho những người đồng hương của mình, cũng như cho Ông Chủ và Cha của thầy, Cha Alexandre de Rhodes, người đã khích lệ thầy, đã giúp thầy chịu cái chết vinh quang vì Đức Kitô Chúa chúng ta; cũng như cho nhân dân thành phố Macao cao thượng, những người đã tôn vinh các thánh tích với lòng sùng mộ qua nghi lễ tiếp đón này.
Chính trong ngày lễ tiếp đón vẻ vang này, ba sự kiện đã xảy ra, mà theo ý con là rất lạ lùng; và một sự kiện khác vào ngày hôm sau. Đây là sự kiện đầu tiên khi viên đội trưởng pháo binh đã bắn những loạt súng Mutke mà con đã kể ở trên, một trong số các khẩu súng đó phát nổ vì nạp quá nhiều đạn pháo và vỡ tung thành từng mảnh bay lên mà không làm tổn thương ai hết; lúc đó trên tàu có rất đông người, và trên biển nhiều du thuyền đầy người đang vây quanh chiếc tàu; nhưng chỉ có đội trưởng pháo binh là bật ngửa vì cú sốc ngược của súng Mutke. Cái hất ngược này là một hình phạt dành cho ông vì đã không cẩn thận trong công việc của mình, vì không chú tâm vào cách nạp đạn pháo. Tuy nhiên, ngay tức khắc, ông đã đứng dậy và tiếp tục thực hiện nhiệm vụ của mình.
Sự kiện thứ hai, đó là khi nhìn thấy mặt trời chói chang buổi chiều hôm đó được mây che làm dịu bớt đi những tia nắng gay gắt khi hàng ngàn người tụ tập về bãi biển, như thể sợ rằng sức nóng của nó hành khổ những người sùng mộ và yêu mến đến tôn vinh vị tử đạo vinh hiển.
Sự kiện thứ ba; trong khi đoàn rước tiến bước theo cách con đã mô tả, và khi đi đến cổng vào Học viện, ở đó người ta dồn lại nhiều hơn nữa như thể thành một đống người, người ta lại bắn một loạt súng Mutke nữa, chúng vốn đã được đặt sẵn ở đó; thế nhưng một trong số các khẩu súng vì nạp đạn quá nhiều cũng đã phát nổ, và đã làm nhiều mảnh vỡ phóng ra mạnh khủng khiếp; nhưng không hề chạm đến một người nào cả, dù các mảnh vỡ đã rơi xuống giữa đám đông người ta. Do đó người ta nói rằng ngay cả khi không có bất cứ một chứng cứ nào khác ngoài chứng cứ này, thì cũng đủ để coi thầy Anrê diễm phúc là một vị tử đạo vinh hiển.
Sự kiện lạ lùng cuối cùng đã xảy ra vào ngày hôm sau. Chúng con di chuyển vị tử đạo từ nhà thờ đến đài, đi ngang qua cầu thang kho đồ thánh. Khi đến bậc thang áp chót, một người khiêng thầy đã bị trượt chân – vì chiếc cầu thang này rất trơn – và ngã xuống, làm cho tất cả đều bị ngã theo; cỗ quan tài không còn điểm tựa. Vào lúc đó mọi người đều nghẹt thở và đứng tim, không chỉ những người khiêng mà cả cha phó quản lý là người đi cùng và chỉ huy cũng vậy. Thật vậy, mọi người thấy rõ ràng mình sẽ là nạn nhân của vụ tai nạn này. Nhưng ngay lập tức mọi người đều vui mừng và hạnh phúc, vì khi rơi xuống, cỗ quan không làm ai bị thương và cũng không trút xuống cầu thang như mọi người đương nhiên lo sợ; ngược lại cỗ quan đã được giữ lại trên ô cửa giả, và hơn một phần chơi vơi trên không. Dường như thể vị thánh tử đạo đã đứng đó và đã giữ lấy cỗ quan bằng một sức mạnh siêu nhiên, để không làm tổn thương những ngừơi phục vụ ngài; như vậy không một ai phải chịu một đau khổ hay một khó khăn nào vì ngài, ngược lại tất cả mọi người có thể ngạc nhiên về những niềm vinh hạnh mà chúng con đã thấy dành cho vị tử đạo vinh hiển của Đàng Trong, nguyên quán Ranran (Phú An Phủ). Và theo ý con, không phải không có lý do khi Chúa Giêsu nhân lành đã chọn một người thợ mới cho vườn nho của ngài trên chính mảnh đất đó, là mảnh đất nằm trên biên giới vương quốc Annam: sau nữa con người này đã làm rạng danh Ngài trong vùng quê Kẻ Chàm (Quảng Nam). Khi vì tình yêu Chúa, ngài đã hiến dâng mạng sống diễm phúc, đồng thời để lại một gương mẫu cho tất cả các Kitô hữu đồng hương trong vùng và trong đất nước của ngài, từ Ranran cho đến thủ đô. Ngài đã khích lệ họ giữ vững Đạo Thánh Chúa Trời, và tuyên xưng Đạo ấy khi cần thiết, không sợ không run trước những kẻ bách hại và quân thù nghịch Đạo, cho đến đổ máu ra để tuyên xưng đức tin: đó chính là điều thầy Anrê diễm phúc đã làm, máu thầy đã chan tưới cánh đồng xứ Đàng Trong, để đem lại một mùa gặt bội thu cho những vựa lúa của Chúa.
Ôi hỡi, núi đồi kiêu hãnh Ranran, hãy gìn giữ và chôn giấu trong núi cao và rừng rậm của mình, cây gỗ trầm hương quý giá và thơm tho, quá được người ta ưa chuộng và quý mến! Bởi các đồng bằng của ngươi, uy dũng hơn, và màu mỡ hơn cả những đồng bằng được dòng sông Nil tưới tắm, năm 1644 này, ngươi đã giao lại cho chúng ta một cây gỗ khác, thơm tho vô song và quý giá hơn hết dưới con mắt của Thiên Chúa: đó là máu châu báu và quý giá thầy Anrê đã đổ ra trên đồng ruộng Kẻ Chàm), vì đã công khai tuyên xưng phẩm giá Kitô hữu của mình.
Và với chính thầy con xin thầy phù hộ cho con; và thưa cha, con xin kính dâng cha bản tường trình ngắn gọn và khiêm tốn của con. Con đã làm hết sức để kể lại những vinh dự dành cho thầy Anrê rất diễm phúc, vị tử đạo tiên khởi nước Annam. Nếu người ta có gởi cho cha, theo con nghĩ vậy, những trình thuật khác có lẽ không dồi dào chi tiết hơn nhưng có một số chi tiết mà con không thể biết, thì bản trình thuật này ít ra cũng dùng để minh chứng cho cha niềm khao khát phục vụ cha và phục vụ hội truyền giáo vẻ vang này của con, hội thật diễm phúc có một vị tử đạo quá vĩ đại và quá quan trọng. Ngài không phải là một người xa lạ, nhưng là một người con của chính xứ sở này; với một lòng can đảm không hề khuất phục, một tấm lòng thẳng thắn và một khuôn mặt không hề dấu diếm, thầy đã chiến thắng lòng vô tín trong cánh đồng rộng lớn và phì nhiêu xứ Đàng Trong. Và trong cuộc chiến này, ngay cả khi thầy Anrê anh dũng đã để thân xác nằm xuống giữa cánh đồng, thì thầy đã để lại thân xác ở đó với tư cách người chiến thắng bạo chúa, như một chiến sĩ dũng cảm của Chúa Kitô.
Thân xác thầy được đánh dấu bằng số vết thương7 mà trên đỉnh Calvê, vị tướng lãnh Giêsu của thầy đã muốn nhận lấy vì thầy trong thân thể chí thánh khi Ngài ở trên Thánh Giá. Và linh hồn diễm phúc của thầy lên trời trong vinh quang, ở đó thầy sẽ luôn được ở trước mặt Thiên Chúa để cầu xin ngài những ơn lành cho gia quyến, cho người đồng bào trong vùng và trong đất nước thầy.
Và thưa cha đáng kính, nếu cha thấy thuận tiện, thì xin cha cho dịch bản trình thuật khiêm tốn này ra chữ Nôm (em Nom) , để an ủi cha mẹ, bạn hữu của thầy Anrê diễm phúc và tất cả các Kitô hữu.
Macau ngày 5 tháng 10 năm 1644.
Người em bất xứng (indigno Irmao) của cha trong Chúa Kitô
Antonio de Torres

Chú thích
1 Theo nguyên văn là “chủ soái”; ngữ cảnh này muốn chúng ta hiểu rằng đó là một sĩ quan hạ cấp, hay hạ sĩ quan kỵ binh hoặc pháo binh.
2 Đó là Rodrigo Sanches de Paredes, là một thành viên tiêu biểu nhất của “Đại sứ tử đạo” năm 1640. Thành phố Macao bị ảnh hưởng nặng nề do việc bế quan toả cảng của người Nhật Bản đối với thương mại Bồ và thường xuyên bị hạm đội Hoà Lan quấy nhiễu. Việc gởi Đoàn Đại sứ này đến Nhật Bản là một giải pháp tuyệt vọng nhằm thuyết phục người Nhật Bản nối lại các trao đổi thương mại. Sáu mươi mốt người Bồ đã bị thảm sát ngày 4 tháng 8 năm 1640, nhưng người ta đã chừa lại vài kẻ sống sốt để mang tin về Macao.
3 Nghĩa chính xác không chắc chắn. Tiếng Bồ “Moco” chỉ, hoặc là các thanh niên nói chung, hoặc nhân viên phục vụ nam giới, hoặc trong ngữ cảnh hàng hải là các thuỷ thủ trẻ chưa có kinh nghiệm. Ngữ cảnh cho thấy rõ ràng đây là những thanh niên khoẻ mạnh gốc gác bình dân.
4 Nghĩa tương đương: tiếng Bồ “fula” chỉ những loại cầy cỏ khác nhau của đông phương mọc thành từng cụm giống như cụm bạch chỉ.
5 Bước chuyển tiếp bằng tiếng Bồ không được tốt. Dường như bản văn có một đoạn thiếu sót; chắc chắn là cần phải mô tả việc đến nơi và đặt trong nhà thờ, cũng như nghi lễ tôn giáo (xem chú thích của cha Gaspar de Amaral ở trên đây)
6 Đó là các vị tử đạo Nhật Bản trong cuộc bách hại năm 1597 và những cuộc bách hại sau đó, những hài cốt đã được giao lại cho Học viện Macau (ngày tháng cần phải xác minh). Án phong chân phước đã được thẩm cứu ở Macau trong những năm 1630. Vào năm 1640, thượng viện Macau đã cho hoạ một tranh vải lớn để tôn vinh các vị tử đạo này. Những vị tử đạo gần đó nhất là bốn tu sĩ dòng Tên, chết vào ngày 22 tháng ba năm 1643.
7 Có nghĩa là hai vết thương ở lưng và hai vết thương ở ngực, do hai cú đâm bằng giáo, và vết thương ở cổ.