admin
07-09-2009, 03:53 PM
TƯƠNG TÁC LỜI CHÚA-LỜI NGƯỜI
Hoành Sơn S.J.
Vấn đề
Được chuẩn bị từ trong Do Thái giáo, ngay từ đầu, Kytô giáo đã nhận Kinh thánh của họ làm của mình. Công việc quan trong của Giáo hội thời tông đồ là hình thành bộ kinh thư riêng, bộ Tân Ước, cùng lúc mở rộng vành đai Thánh kinh để gồm luôn TƯ vào trong. Vâng, hồi đầu, Giáo hội còn lệ thuộc rất nhiều vào DTG và rất trọng bộ kinh CƯ khi mà TƯ đã được dọn đường và tiên báo bởi CƯ, được "chứng thực" bởi CƯ.
Quy điển (canon)[1]Thánh kinh được nới rộng sang TƯ, thì cách nhìn kinh thánh của DTG cũng được mang vào đối với TƯ luôn. Vì người Do Thái gợi CƯ là Lời Chúa, nên chúng ta cũng gọi TƯ là Lời Chúa như thế.
Sở dĩ DT gọi kinh thư là Lời Chúa, vì Kinh thánh hồi đầu chủ yếu là ghi nhớ Giao ước và Luật (Thora), cùng với lịch sử Dân Chúa cũng là quan hệ TC-DC trong lịch sử. Thế mà Giao ước (cùng với lời hứa và điều kiện) và Luật đều do đích thân Giavê xướng xuất (Xh.19.3tt.; 20.1tt.). Cuối cùng, bản hiến pháp này lại được khắc ghi lên hai bảng đá do chính tay Giavê (XH.31.18), để rồi khi Maisen vì giận dân mà đập vỡ mất, thì TC lại dùng hai phiến đá khác mà đọc cho Maisen ghi lên (XH.34.1, 27-28). Kịp đến thời các ngôn sứ, những người này cũng chỉ nghe rồi nhắc lại lời TC nói : Chúa nói, Đây là Lời Chúa, Đây Lời sấm của Chúa…!
Vì kinh thánh là Lời của Thiên Chúa, mà Thiên Chúa thì biết hết sự thật, lại chỉ nói thật và nói lẽ phải, nên việc của ngôn sứ và Dân Chúa chỉ là nhắm mắt nghe theo, là tin và thi hành, thế thôi.
Nhưng rồi cũng tới lúc dân trí được nâng cao, người ta sẽ muốn một hiểu biết có phê phán (critic) về tất cả, về Kinh thánh cũng vậy. Không phải người ta không tin vào Thiên Chúa nữa, nhưng người ta cảm thấy khó chấp nhận rằng mọi cái nói trong Kinh thánh đều là Lời Chúa hết mọi mặt. Bằng chứng là có những điều đúng là lời con người, với tất cả khiếm khuyết và giới hạn của nó.
Cái mà Kinh thánh, đặc biệt CƯ, đụng đầu với trước tiên là khoa học, khi tới thời đại khoa học. Quả thế, liền sau N. Copernic, G. Galiei phát hiện và cố chứng minh rằng trái đất xoay quanh mặt trời, chứ không phải mặt trời xoay quanh trái đất như Thánh kinh nói (Tv.104.5; Gs.1.4-5v.v.)[2]. Cũng ngược lại với CƯ vốn dạy: TC dựng nên sinh vật từng loài một, nhất là con người (Stt. 1.24tt), Lamarck và Darwinquả quyết: các giống loại ấy đã do tiến hóa mà hình thành dần trong một thời gian rất lâu.[3]
Ngày nay, ai chả hiểu rằng trong Kinh thánh, TC không hề có ý mở một khóa dạy khoa học, và tác giả ngôn sứ chỉ muốn khẳng định trong niềm tin, rằng vũ trụ do TC mà có. Thế nhưng vào thời ấy, người ta hiểu TK theo nghĩa đen, và chỉ coi ngôn sứ như một công cụ, nên những khẳng quyết nói trên của khoa học đã gây sóng gió lớn, cả trong Công giáo lẫn Tin lành.
Thật ra, chú giải TK còn thô sơ thời ấy không chỉ gặp khó khăn với khoa học, mà cả với triết học nữa kể từ thế kỷ Ánh sáng hay thế kỷ XVII với sự nổi lên của những tên tuổi mới là R. Descartes, E. Kant, F. Hegel. Theo các triết gia này thì chân lý phải tìm bằng lý trí (duy lý) và nơi ý tưởng (duy tâm, idea-lism), do đó, trong tri thức phải gạt bỏ thành kiến và quyền bính ra ngoài.
Giữa làn sóng duy lý, duy tâm[4] đang nổi lên như sóng cồn ấy, nhiều nhà tư tưởng KTG, dù vẫn trung thành với đức tin, cũng không nhắm mắt tin theo hết những gì TK nói nữa, mà bằng ánh sáng lý trí và qua khảo sát khách quan, gắng tìm xem mỗi bản văn TK đã hình thành trong lịch sử như thế nào và dựa trên những nền tảng nhân văn nào. Nhờ thế, bắt đầu hình thành thứ Chú giải mới, có tính khoa học, khách quan, được gọi là Exégèse, rồi Herméneutique khi mà phải hiểu bản văn như thành phần của một truyền thông, nghĩa là đối thoại: đối thoại giữa người nói và kẻ nghe được coi là những chủ thể cùng với chân trời (thế giới, bối cảnh văn hóa và lịch sử…) của họ.[5]
*
Năm 1666, L. Meyer kiến thiết thứ tri luận TK của mình trên những nguyên tắc Descartes đề xuất. Trước hết phải nghi ngờ đã, bằng một nghi ngờ có tính phương pháp (doute méthodique). Kế đến, qua khảo sát khách quan về lời và câu văn bản, xem đâu là ý nghĩa sáng sủa rõ ràng từ đó xuất hiện, và đây cũng là ý tưởng phù hợp nhất với tư tưởng tác giả bản văn. Những tri giác (perception) hay trực nhận ấy, do tính "sáng sủa rõ ràng" của chúng sẽ gây một ý thức thâm sâu (conscience intime) về điều nói trên. TC vốn là nguyên nhân của sự trực nhận sáng sủa rõ ràng, nên đồng thời cũng là nguyên nhân của ý thức thâm sâu kia, nhờ thế chúng ta biết điều thấy rõ kia là điều xác thực.
Theo B. Spinoza, tìm hiểu TK cũng phải theo cùng một đường lối như khi tìm hiểu tự nhiên. Nghĩa là khảo sát có hệ thống và phương pháp lịch sử sự hình thành bản văn, do đó cần học ngôn ngữ, nghiên cứu con người, cuộc đời tác giả, nghiên cứu cả thói quen và ý hướng của ông, cùng với môi trường ông sống. Còn về nội dung, thì phải nhìn mọi tác phẩm của ngôn sứ như một toàn khối xét về mặt tư tưởng. Sau những khảo sát như thế, bằng một tâm trí trong sáng và tự do, không thành kiến, người ta mới nhìn ra được những ý nghĩa sáng và rõ của văn bản.
Riêng R. Simon giới hạn sự tìm hiểu vào CƯ thôi. Theo ông, để hiểu CƯ nói gì, phải khảo sát tình trạng của mỗi bản văn qua từng thời đại và từng vùng trời. Vì nguyên bản (bản gốc thời đầu) không còn nữa, mà hiện bản thì biến đổi nhiều quá sau bao giai đoạn truyền khẩu, sưu tập, sao chép, v.v., nên để hiểu đúng, cũng phải nắm được những đổi thay nói trên.
Có điều TK thì không thể sai (inerrantia), nên Thần khí không thể không dõi theo bản văn từng bước, ở mọi đổi thay dù ở lời hay ý nghĩa lời. Bởi thế ngày nay, ngoài bản văn trong hiện trạng của nó, chúng ta còn phải dựa vào những người đã hiểu, phê phán và viết về TK qua các thời đại, nhờ đó nắm bắt được cốt lõi ý nghĩa.
Như thế, vừa nới rộng thần hứng đến mọi đổi thay ở bản văn, Simon vừa đề xuất một trợ giúp của Thần khí cho việc duy trì ý nghĩa TK qua các thời đại. Và đây là Truyền thống đức tin, cũng là Truyến thống hiểu Lời Chúa. Theo Simon, Truyền thống không khép lại với thời đại giáo phụ, vì giáo phụ không thể vét cạn ý nghĩa TK.[6]
*
Quả thật, đi vào bản văn và lịch sử hình thành TK, nhất là nơi CƯ, không thể hiểu như dân DT xưa, rằng TK chỉ giản đơn là Lời Chúa, hay Lời Chúa tinh thuần. Ngay Luật Maisen, yếu tố lập thành (élément constitutif) Đạo cũ, cũng không giản đơn là Luật Chúa hay ý Chúa. Theo Chúa Giêsu, khoản cho phép chồng rẫy vợ trong Nl. 24.1-3 chỉ là của riêng Maisen, vì lòng chai đá Israel mà ông đặt ra do nhượng bộ (Mc.10.3).
Phải sau thờiSalomon, Israel mới có chữ viết. Kể từ đó, các bản văn truyền khẩu mới dần dần được sưu tập, chắp nối để viết nên từng bộ sách. Với bao biến động lịch sử trong một khoảng thời gian dài dặc tới mấy chục thế kỷ như thế, có biết bao cái bị thất lạc, bị "tam sao thất bản", nên phải nhìn nhận với Simon về phép lạ vĩ đại, là sự kéo dài của ơn thần hứng nó đã dõi theo và phủ trọn những những biến đổi của nguyên tác, khiến cho những gì là cốt lõi của Lời Chúa vẫn được bảo vệ an toàn giữa cộng đồng đức tin và vì cộng đồng ấy.
Lời Chúa trong TƯ không phải trải qua quá nhiều biến động đến thế. Tuy nhiên, cũng phải chờ mấy chục năm sau, các Phúc âm mới được viết ra. Với Phúc âm, nguyên tác chính là lời do TC thành người nói, được các tông đồ nhắc lại sau này trong các bài thuyết giáo, được các tín đồ ghi lại thành những bản văn rời, để rồi một số người sưu tập, sắp xếp theo những chủ đề thần học riêng mà viết nên từng Phúc âm (trong Phúc âm nhất lãm). Vì thế, ơn thần hứng không thể không phủ trọn các công đoạn nói trên, để dù với những đổi thay và nối kết ấy, cốt lõi của nguyên tác vẫn được bảo vệ nguyên toàn.
TƯ không chỉ nhắc lại Lời Chúa và ghi lại các mầu nhiệm Nhập thể, Thánh giá và Phục sinh của Ngài. Từ những Lời, những mầu nhiệm ấy và dưới ánh sáng thần hứng, Phaolô, Phêrô, Gioan…còn suy tư thêm để dạy và hướng dẫn Dân Chúa bằng những lá thư quý giá. Dù đây là lời của họ, nhưng vì họ suy tư từ Lời Chúa và với sự truyền hứng đặc biệt của Thần khí Chúa, để cả thư của họ cũng thành quy phạm tuyệt đối (norma non normata) cho đức tin, nên đây cũng chính là Thiên Chúa nói qua lời họ.
Như thế, trong TK không thể thiếu sự đóng góp của con người, dù sự đóng góp ấy được Thần hứng khởi phát và đảm bảo. Và như thế, những người chủ trương TC là tác giả duy nhất của TK phải vò đầu bứt trán, tìm xem đâu là cách thức Thần Khí làm để hướng dẫn tâm trí ngôn sứ, khiến cho lời viết ra chỉ là Lời Chúa, còn họ là organon hay công cụ của TC, giống như cây viết của bút sỹ hay cây đờn của nhạc sỹ vậy.
Quả thực, làm sao giải thích được đây khi mà mỗi ngôn sứ chẳng những có ngữ vựng và cách hành văn riêng, mà còn sắp đặt tư liệu theo một cái nhìn thần học đặc thù, nhất là khi suy tư của Phaolô và Gioan sâu xa khác hẳn với của Phêrô và Giacobê?
Vậy đâu là giải đáp khả thi ?
Chính vì đặt TC trên cùng mặt phẳng với con người, trên đó hành động của hai bên không thể không loại trừ nhau (ở đâu có công việc con người, ở đấy không có công việc TC), nên dù bảo thủ hay cấp tiến, người ta không thể xác định chỗ nào là phần của Thiên Chúa, chỗ nào là phần của ngôn sứ trong TK. Và đây cũng là khó khăn muôn kiếp của triết học khi phải dung hòa giữa tự do con người và tính toàn năng của TC, hay của thần học giữa tác động của ân sủng và công lao của chúng ta.
Thật ra, không thể cân trên cùng một bàn cân cái siêu tính (le transcendantal) của TC (và ân sủng) và cái mong manh (contingent, tương đối) của thụ tạo (và hành động con người). Vâng, dù thụ tạo là chúng ta có hành động tự mình được, thì cũng là do TC đã biệt định cho chúng ta làm như thế. Vâng, TC chỉ vượt trên ta từ nơi chúng ta, chứ không phải từ ngoài. Và chúng ta chỉ có thể làm như Bossuet nói, nghĩa là nắm chắc lấy hai đầu của sợi xích : tuyệt đối tính của TC và tự do của chúng ta. Chứ cố tìm xem hai đầu ấy nối với nhau thế nào, thì chỉ là mò kim đáy biển, hay vét cạn biển sâu bằng một cái chén con con, hình ảnh mà Augustin đưa ra.
Hiểu như vậy rồi, chúng ta có thể nói như K. Rahner rằng : TK trong toàn bộ và từng phần của nó là Lời Chúa, nhưng TK cũng là lời con người luôn. Đúng như Dei Verbum đã thoáng thấy khi so sánh tương quan nói trên với tương quan thiên tính-nhân tính nơi con người Đức Giêsu Kytô:
- "…lời của TC diễn xuất thành lời con người, đã trở nên giống như ngôn ngữ loài người, cũng như xưa Ngôi Lời của Cha vĩnh cửu khi mang lấy xác thịt loài người với những yếu đuối của xác thịt ấy, đã trở nên giống như mọi người (chúng ta)." (DV.13)
K. Rahner trình bày học thuyết của ông năm 1958 về lịch sử cứu độ và mạc khải, học thuyết ấy được nhắc lại sau này trong Traité fondamental de la foi năm 1983. Theo học thuyết nói trên, lịch sử cứu độ và mạc khải có chiều rộng của chính lịch sử thế giới. Riêng về mạc khải, thì sáng kiến mạc khải của TC nằm ở cực siêu tính (pôle transcendantal) của hoạt động ngôn sứ, ở chỗ thâm sâu nhất của tâm hồn ông, nơi Ngài tự thông ban chính mình cho ông và thông truyền kế hoạch cứu độ cho ông trước mọi niệm lý hóa (thématisation=conceptualisation). Vâng, ở điểm nguyên khởi (originaire) vô thức hay siêu ý thức ấy, TC tự thông ban chính mình (auto-communication), tự mạc khải mình va kế hoạch cứu độ của mình cho kẻ tin, kẻ đang sống niềm tin và được tuyển chọn để khách quan hóa kinh nghiệm trên ra ngoài thành quy phạm tuyệt đối cho đức tin của cộng đồng và các thế hệ tiếp theo. Để ngôn sứ có thể nói ra thành lời người như thế, TC ban cho họ một đặc sủng, khiến dù nói trong các phạm trù tự nhiên và khuôn văn hóa của lý trí, họ vẫn nói đúng ý Chúa, không thể sai lầm (inerrantia), nhờ đó TK mới thành quy phạm tuyệt đối (norma non normata) cho đức tin và đời sống đức tin. Vâng, TK đúng là Lời Chúa, và Lời ấy biểu hiện đúng thành lời người nơi ngôn sứ.[7]
Và đây cũng là điều khẳng định của Vatican II, rằng tuy TC là tác giả của cả TƯ lẫn CƯ, nhưng ngôn sứ cũng là "tác giả thật sự" của những tác phẩm này (DV. 11).
Những loại hình và cấp độ của thần hứng
TK là tác phẩm của cả TC và con người một lượt. Ngôn sứ là kẻ sống nghiệm đức tin sâu xa giữa cộng đồng đức tin. Để viết ra được từ kinh nghiệm sâu thẳm của tâm hồn và viết đúng, không sai, ông cần có một đặc sủng, và đây là ơn thần hứng. Thần hứng thổi lên từ vô thức bên trong, sẽ tiếp tục thổi ở giai đoạn niệm lý hóa (conceptualisation), rồi giai đoạn nói hay viết thành văn.
Theo tôi, đó là nguyên tắc chung, còn ở biểu hiện cụ thể trong từng trường hợp, thì thần hứng có thể nông sâu khác nhau. Để làm sáng tỏ vấn đề, tôi xin phép được suy diễn từ những mạc khải tư, nơi các thánh.
Mạc khải tư mà Bernadette nhận dược từ Đức Mẹ là điều thật mới mẻ đối với cô, nhưng cũng là điều đến từ ngoài hơn là từ trong cô. Ai cũng biết cô là người sùng đạo, nên sống nghiệm huyền bí đức tin (mystique expérientielle de foi) thật sâu. Ở bề sâu ấy, các chân lý vẫn nối kết với nhau nơi đơn nhất tính nội tại của nội dung đức tin, như Rahner nói.[8]Thế nhưng nghe Đức Mẹ, cô lại như nghe từ tai bên ngoài.[9] Và danh hiệu "Đức Vô nhiễm thai" thì cô chưa từng biết, nên cũng không hiểu là gì cả. Vậy mạc khải này không phát xuất từ kinh nghiệm sống đức tin bên trong dù tiềm tàng nơi đức tin ấy.[10]Nhận mạc khải từ ngoài và qua thính giác (hay tưởng tượng thính thị) có lẽ cũng là trường hợp của Maisen và hầu hết các ngôn sứ CƯ, kể cả của Đức Maria khi thiên sứ Gabrien truyền tin.
Đúng là từ trong di ra và từ sống nghiệm đức tin, có những mạc khải tư diễn ra trong huyền nghiệm của nhiều vị thánh, như I Nhã quận Loyola trên bờ sông Cardoner khi bỗng chốc hiểu được rất nhiều điều "thuộc bản chất khác nhau", mà dù cả một đời (62 năm) học hỏi cũng không sao bằng được.[11]Nên đây không phải là kiến thức lý tính có thể mang ra dạy hay viết thành nhiều cuốn sách, mà là theo tôi nghĩ, thứ hiểu siêu thường, tiền niệm lý (préconceptuel), một thứ "giác ngộ" nào đó nó dọi vào tâm trí để tất cả hừng sáng lên, và những hiểu biết dù cũ cũng biến thành những gì mới mẻ hoàn toàn. Và có lẽ cũng tương tự như vậy thứ hừng sáng mà các tông đồ tiếp nhận ngày lễ Ngũ tuần với biểu tượng Lưỡi lửa. Hay mạc khải mà Phaolô nhận trực tiếp từ Đức Kytô dù chưa tiếp xúc với nhóm Mười hai (Gal.1.12,17).
Thứ mạc khải này, như thế, đúng là từ kinh nghiệm vô thức đi ra, và nếu đây là ngôn sứ, thì ông sẽ có đặc sủng để khách quan hóa thành tư tưởng để làm quy phạm cho đức tin Dân Chúa. Có điều, nếu đây là những suy tư sâu xa, những trực giác dị thường, như mệnh đề Thiên Chúa là Tình yêu của Gioan, Giáo hội là Thân mình Đức Kytô của Phao lô, thì có thần hứng không đủ, mà phải có trí thông minh tuyệt vời hay văn hóa cao của đương sự nữa. Quả thế, nếu nói về kinh nghiệm vô thức và ơn thần hứng, thì hẳn Phêrô và Giacôbê đâu có thua Phaolô và Gioan. Rõ ràng là lời người có thể làm hiển sáng hơn hay giới hạn nhiều hơn Lời Chúa, mạc khải của Chúa vậy.
Nếu ngôn sứ nói mà không viết, và lời ông được truyền khẩu để sau sưu tập, sắp xếp và viết thành tác phẩm, thì thần hứng gốc sẽ vươn dài cánh tay để phủ luôn những công đoạn nói trên. Ai cũng thấy là thần hứng ở giai đoạn xuất phát thì từ trong đi ra, nhưng ở các giai đoạn truyền khẩu, sưu tập và viết ra, sao chép ra, thì thần hứng chỉ cần như một hỗ trợ, từ ngoài hơn là bên trong, để tránh sai lạc ở những gì là căn yếu. Nói chi đến việc bảo trì bản văn trong truyền thống cộng đồng đức tin, để rồi sau này huấn quyền, dựa vào truyền thống ấy, đưa nó vào quy điển (canon) chính thức, việc bảo trì và quy điển hóa ấy càng có tính ngoại tại hơn nữa. Và cũng bớt sâu như thế khi Giáo hội chọn bản dịch LXX thay vì bản Hy bá lai hay bản dịch Hy ngữ khác.
Thần hứng có lẽ cũng không cần "bên trong" nhiều khi truyện ngụ ngôn Ông Gióp của dân ngoại được hai ngôn sứ Israel thâu nạp và kể lại theo niềm tin Giavê. Hay khi thánh vịnh 19,29,104, trước được dùng trong phụng tự dân ngoại, sau được mang vào cầu nguyện Do Thái giáo với ít nhiều sửa đổi.[12] Nhất là khi Diễm tình ca với nguồn gốc rất đời của nó (có lẽ mãi sau thế kỷ V công nguyên mới xuất hiện trong phụng vụ Paskha Do Thái), cũng gia nhập danh sách quy điển mà không sửa đổi gì.
Còn mạc khải sâu nhất, MẠC KHẢI viết hoa, lại thành một với con người và cuộc sống Đức Kytô : Ai thấy Thầy là thấy Đấng sai Thầy (Gio.12.45). Vâng, không phải một cái gì đó của TC được tiết lộ cho chúng ta hay, mà là chính bản thân TC, bản thân Lời hay Ngôi Con TC. Cũng không phải Lời tự nói bằng lời người cho ta nghe, mà Lời đã thành người để nói về Cha và sự cứu độ của Cha bằng chính con người và cuộc sống của mình.
Hoành Sơn S.J.
Vấn đề
Được chuẩn bị từ trong Do Thái giáo, ngay từ đầu, Kytô giáo đã nhận Kinh thánh của họ làm của mình. Công việc quan trong của Giáo hội thời tông đồ là hình thành bộ kinh thư riêng, bộ Tân Ước, cùng lúc mở rộng vành đai Thánh kinh để gồm luôn TƯ vào trong. Vâng, hồi đầu, Giáo hội còn lệ thuộc rất nhiều vào DTG và rất trọng bộ kinh CƯ khi mà TƯ đã được dọn đường và tiên báo bởi CƯ, được "chứng thực" bởi CƯ.
Quy điển (canon)[1]Thánh kinh được nới rộng sang TƯ, thì cách nhìn kinh thánh của DTG cũng được mang vào đối với TƯ luôn. Vì người Do Thái gợi CƯ là Lời Chúa, nên chúng ta cũng gọi TƯ là Lời Chúa như thế.
Sở dĩ DT gọi kinh thư là Lời Chúa, vì Kinh thánh hồi đầu chủ yếu là ghi nhớ Giao ước và Luật (Thora), cùng với lịch sử Dân Chúa cũng là quan hệ TC-DC trong lịch sử. Thế mà Giao ước (cùng với lời hứa và điều kiện) và Luật đều do đích thân Giavê xướng xuất (Xh.19.3tt.; 20.1tt.). Cuối cùng, bản hiến pháp này lại được khắc ghi lên hai bảng đá do chính tay Giavê (XH.31.18), để rồi khi Maisen vì giận dân mà đập vỡ mất, thì TC lại dùng hai phiến đá khác mà đọc cho Maisen ghi lên (XH.34.1, 27-28). Kịp đến thời các ngôn sứ, những người này cũng chỉ nghe rồi nhắc lại lời TC nói : Chúa nói, Đây là Lời Chúa, Đây Lời sấm của Chúa…!
Vì kinh thánh là Lời của Thiên Chúa, mà Thiên Chúa thì biết hết sự thật, lại chỉ nói thật và nói lẽ phải, nên việc của ngôn sứ và Dân Chúa chỉ là nhắm mắt nghe theo, là tin và thi hành, thế thôi.
Nhưng rồi cũng tới lúc dân trí được nâng cao, người ta sẽ muốn một hiểu biết có phê phán (critic) về tất cả, về Kinh thánh cũng vậy. Không phải người ta không tin vào Thiên Chúa nữa, nhưng người ta cảm thấy khó chấp nhận rằng mọi cái nói trong Kinh thánh đều là Lời Chúa hết mọi mặt. Bằng chứng là có những điều đúng là lời con người, với tất cả khiếm khuyết và giới hạn của nó.
Cái mà Kinh thánh, đặc biệt CƯ, đụng đầu với trước tiên là khoa học, khi tới thời đại khoa học. Quả thế, liền sau N. Copernic, G. Galiei phát hiện và cố chứng minh rằng trái đất xoay quanh mặt trời, chứ không phải mặt trời xoay quanh trái đất như Thánh kinh nói (Tv.104.5; Gs.1.4-5v.v.)[2]. Cũng ngược lại với CƯ vốn dạy: TC dựng nên sinh vật từng loài một, nhất là con người (Stt. 1.24tt), Lamarck và Darwinquả quyết: các giống loại ấy đã do tiến hóa mà hình thành dần trong một thời gian rất lâu.[3]
Ngày nay, ai chả hiểu rằng trong Kinh thánh, TC không hề có ý mở một khóa dạy khoa học, và tác giả ngôn sứ chỉ muốn khẳng định trong niềm tin, rằng vũ trụ do TC mà có. Thế nhưng vào thời ấy, người ta hiểu TK theo nghĩa đen, và chỉ coi ngôn sứ như một công cụ, nên những khẳng quyết nói trên của khoa học đã gây sóng gió lớn, cả trong Công giáo lẫn Tin lành.
Thật ra, chú giải TK còn thô sơ thời ấy không chỉ gặp khó khăn với khoa học, mà cả với triết học nữa kể từ thế kỷ Ánh sáng hay thế kỷ XVII với sự nổi lên của những tên tuổi mới là R. Descartes, E. Kant, F. Hegel. Theo các triết gia này thì chân lý phải tìm bằng lý trí (duy lý) và nơi ý tưởng (duy tâm, idea-lism), do đó, trong tri thức phải gạt bỏ thành kiến và quyền bính ra ngoài.
Giữa làn sóng duy lý, duy tâm[4] đang nổi lên như sóng cồn ấy, nhiều nhà tư tưởng KTG, dù vẫn trung thành với đức tin, cũng không nhắm mắt tin theo hết những gì TK nói nữa, mà bằng ánh sáng lý trí và qua khảo sát khách quan, gắng tìm xem mỗi bản văn TK đã hình thành trong lịch sử như thế nào và dựa trên những nền tảng nhân văn nào. Nhờ thế, bắt đầu hình thành thứ Chú giải mới, có tính khoa học, khách quan, được gọi là Exégèse, rồi Herméneutique khi mà phải hiểu bản văn như thành phần của một truyền thông, nghĩa là đối thoại: đối thoại giữa người nói và kẻ nghe được coi là những chủ thể cùng với chân trời (thế giới, bối cảnh văn hóa và lịch sử…) của họ.[5]
*
Năm 1666, L. Meyer kiến thiết thứ tri luận TK của mình trên những nguyên tắc Descartes đề xuất. Trước hết phải nghi ngờ đã, bằng một nghi ngờ có tính phương pháp (doute méthodique). Kế đến, qua khảo sát khách quan về lời và câu văn bản, xem đâu là ý nghĩa sáng sủa rõ ràng từ đó xuất hiện, và đây cũng là ý tưởng phù hợp nhất với tư tưởng tác giả bản văn. Những tri giác (perception) hay trực nhận ấy, do tính "sáng sủa rõ ràng" của chúng sẽ gây một ý thức thâm sâu (conscience intime) về điều nói trên. TC vốn là nguyên nhân của sự trực nhận sáng sủa rõ ràng, nên đồng thời cũng là nguyên nhân của ý thức thâm sâu kia, nhờ thế chúng ta biết điều thấy rõ kia là điều xác thực.
Theo B. Spinoza, tìm hiểu TK cũng phải theo cùng một đường lối như khi tìm hiểu tự nhiên. Nghĩa là khảo sát có hệ thống và phương pháp lịch sử sự hình thành bản văn, do đó cần học ngôn ngữ, nghiên cứu con người, cuộc đời tác giả, nghiên cứu cả thói quen và ý hướng của ông, cùng với môi trường ông sống. Còn về nội dung, thì phải nhìn mọi tác phẩm của ngôn sứ như một toàn khối xét về mặt tư tưởng. Sau những khảo sát như thế, bằng một tâm trí trong sáng và tự do, không thành kiến, người ta mới nhìn ra được những ý nghĩa sáng và rõ của văn bản.
Riêng R. Simon giới hạn sự tìm hiểu vào CƯ thôi. Theo ông, để hiểu CƯ nói gì, phải khảo sát tình trạng của mỗi bản văn qua từng thời đại và từng vùng trời. Vì nguyên bản (bản gốc thời đầu) không còn nữa, mà hiện bản thì biến đổi nhiều quá sau bao giai đoạn truyền khẩu, sưu tập, sao chép, v.v., nên để hiểu đúng, cũng phải nắm được những đổi thay nói trên.
Có điều TK thì không thể sai (inerrantia), nên Thần khí không thể không dõi theo bản văn từng bước, ở mọi đổi thay dù ở lời hay ý nghĩa lời. Bởi thế ngày nay, ngoài bản văn trong hiện trạng của nó, chúng ta còn phải dựa vào những người đã hiểu, phê phán và viết về TK qua các thời đại, nhờ đó nắm bắt được cốt lõi ý nghĩa.
Như thế, vừa nới rộng thần hứng đến mọi đổi thay ở bản văn, Simon vừa đề xuất một trợ giúp của Thần khí cho việc duy trì ý nghĩa TK qua các thời đại. Và đây là Truyền thống đức tin, cũng là Truyến thống hiểu Lời Chúa. Theo Simon, Truyền thống không khép lại với thời đại giáo phụ, vì giáo phụ không thể vét cạn ý nghĩa TK.[6]
*
Quả thật, đi vào bản văn và lịch sử hình thành TK, nhất là nơi CƯ, không thể hiểu như dân DT xưa, rằng TK chỉ giản đơn là Lời Chúa, hay Lời Chúa tinh thuần. Ngay Luật Maisen, yếu tố lập thành (élément constitutif) Đạo cũ, cũng không giản đơn là Luật Chúa hay ý Chúa. Theo Chúa Giêsu, khoản cho phép chồng rẫy vợ trong Nl. 24.1-3 chỉ là của riêng Maisen, vì lòng chai đá Israel mà ông đặt ra do nhượng bộ (Mc.10.3).
Phải sau thờiSalomon, Israel mới có chữ viết. Kể từ đó, các bản văn truyền khẩu mới dần dần được sưu tập, chắp nối để viết nên từng bộ sách. Với bao biến động lịch sử trong một khoảng thời gian dài dặc tới mấy chục thế kỷ như thế, có biết bao cái bị thất lạc, bị "tam sao thất bản", nên phải nhìn nhận với Simon về phép lạ vĩ đại, là sự kéo dài của ơn thần hứng nó đã dõi theo và phủ trọn những những biến đổi của nguyên tác, khiến cho những gì là cốt lõi của Lời Chúa vẫn được bảo vệ an toàn giữa cộng đồng đức tin và vì cộng đồng ấy.
Lời Chúa trong TƯ không phải trải qua quá nhiều biến động đến thế. Tuy nhiên, cũng phải chờ mấy chục năm sau, các Phúc âm mới được viết ra. Với Phúc âm, nguyên tác chính là lời do TC thành người nói, được các tông đồ nhắc lại sau này trong các bài thuyết giáo, được các tín đồ ghi lại thành những bản văn rời, để rồi một số người sưu tập, sắp xếp theo những chủ đề thần học riêng mà viết nên từng Phúc âm (trong Phúc âm nhất lãm). Vì thế, ơn thần hứng không thể không phủ trọn các công đoạn nói trên, để dù với những đổi thay và nối kết ấy, cốt lõi của nguyên tác vẫn được bảo vệ nguyên toàn.
TƯ không chỉ nhắc lại Lời Chúa và ghi lại các mầu nhiệm Nhập thể, Thánh giá và Phục sinh của Ngài. Từ những Lời, những mầu nhiệm ấy và dưới ánh sáng thần hứng, Phaolô, Phêrô, Gioan…còn suy tư thêm để dạy và hướng dẫn Dân Chúa bằng những lá thư quý giá. Dù đây là lời của họ, nhưng vì họ suy tư từ Lời Chúa và với sự truyền hứng đặc biệt của Thần khí Chúa, để cả thư của họ cũng thành quy phạm tuyệt đối (norma non normata) cho đức tin, nên đây cũng chính là Thiên Chúa nói qua lời họ.
Như thế, trong TK không thể thiếu sự đóng góp của con người, dù sự đóng góp ấy được Thần hứng khởi phát và đảm bảo. Và như thế, những người chủ trương TC là tác giả duy nhất của TK phải vò đầu bứt trán, tìm xem đâu là cách thức Thần Khí làm để hướng dẫn tâm trí ngôn sứ, khiến cho lời viết ra chỉ là Lời Chúa, còn họ là organon hay công cụ của TC, giống như cây viết của bút sỹ hay cây đờn của nhạc sỹ vậy.
Quả thực, làm sao giải thích được đây khi mà mỗi ngôn sứ chẳng những có ngữ vựng và cách hành văn riêng, mà còn sắp đặt tư liệu theo một cái nhìn thần học đặc thù, nhất là khi suy tư của Phaolô và Gioan sâu xa khác hẳn với của Phêrô và Giacobê?
Vậy đâu là giải đáp khả thi ?
Chính vì đặt TC trên cùng mặt phẳng với con người, trên đó hành động của hai bên không thể không loại trừ nhau (ở đâu có công việc con người, ở đấy không có công việc TC), nên dù bảo thủ hay cấp tiến, người ta không thể xác định chỗ nào là phần của Thiên Chúa, chỗ nào là phần của ngôn sứ trong TK. Và đây cũng là khó khăn muôn kiếp của triết học khi phải dung hòa giữa tự do con người và tính toàn năng của TC, hay của thần học giữa tác động của ân sủng và công lao của chúng ta.
Thật ra, không thể cân trên cùng một bàn cân cái siêu tính (le transcendantal) của TC (và ân sủng) và cái mong manh (contingent, tương đối) của thụ tạo (và hành động con người). Vâng, dù thụ tạo là chúng ta có hành động tự mình được, thì cũng là do TC đã biệt định cho chúng ta làm như thế. Vâng, TC chỉ vượt trên ta từ nơi chúng ta, chứ không phải từ ngoài. Và chúng ta chỉ có thể làm như Bossuet nói, nghĩa là nắm chắc lấy hai đầu của sợi xích : tuyệt đối tính của TC và tự do của chúng ta. Chứ cố tìm xem hai đầu ấy nối với nhau thế nào, thì chỉ là mò kim đáy biển, hay vét cạn biển sâu bằng một cái chén con con, hình ảnh mà Augustin đưa ra.
Hiểu như vậy rồi, chúng ta có thể nói như K. Rahner rằng : TK trong toàn bộ và từng phần của nó là Lời Chúa, nhưng TK cũng là lời con người luôn. Đúng như Dei Verbum đã thoáng thấy khi so sánh tương quan nói trên với tương quan thiên tính-nhân tính nơi con người Đức Giêsu Kytô:
- "…lời của TC diễn xuất thành lời con người, đã trở nên giống như ngôn ngữ loài người, cũng như xưa Ngôi Lời của Cha vĩnh cửu khi mang lấy xác thịt loài người với những yếu đuối của xác thịt ấy, đã trở nên giống như mọi người (chúng ta)." (DV.13)
K. Rahner trình bày học thuyết của ông năm 1958 về lịch sử cứu độ và mạc khải, học thuyết ấy được nhắc lại sau này trong Traité fondamental de la foi năm 1983. Theo học thuyết nói trên, lịch sử cứu độ và mạc khải có chiều rộng của chính lịch sử thế giới. Riêng về mạc khải, thì sáng kiến mạc khải của TC nằm ở cực siêu tính (pôle transcendantal) của hoạt động ngôn sứ, ở chỗ thâm sâu nhất của tâm hồn ông, nơi Ngài tự thông ban chính mình cho ông và thông truyền kế hoạch cứu độ cho ông trước mọi niệm lý hóa (thématisation=conceptualisation). Vâng, ở điểm nguyên khởi (originaire) vô thức hay siêu ý thức ấy, TC tự thông ban chính mình (auto-communication), tự mạc khải mình va kế hoạch cứu độ của mình cho kẻ tin, kẻ đang sống niềm tin và được tuyển chọn để khách quan hóa kinh nghiệm trên ra ngoài thành quy phạm tuyệt đối cho đức tin của cộng đồng và các thế hệ tiếp theo. Để ngôn sứ có thể nói ra thành lời người như thế, TC ban cho họ một đặc sủng, khiến dù nói trong các phạm trù tự nhiên và khuôn văn hóa của lý trí, họ vẫn nói đúng ý Chúa, không thể sai lầm (inerrantia), nhờ đó TK mới thành quy phạm tuyệt đối (norma non normata) cho đức tin và đời sống đức tin. Vâng, TK đúng là Lời Chúa, và Lời ấy biểu hiện đúng thành lời người nơi ngôn sứ.[7]
Và đây cũng là điều khẳng định của Vatican II, rằng tuy TC là tác giả của cả TƯ lẫn CƯ, nhưng ngôn sứ cũng là "tác giả thật sự" của những tác phẩm này (DV. 11).
Những loại hình và cấp độ của thần hứng
TK là tác phẩm của cả TC và con người một lượt. Ngôn sứ là kẻ sống nghiệm đức tin sâu xa giữa cộng đồng đức tin. Để viết ra được từ kinh nghiệm sâu thẳm của tâm hồn và viết đúng, không sai, ông cần có một đặc sủng, và đây là ơn thần hứng. Thần hứng thổi lên từ vô thức bên trong, sẽ tiếp tục thổi ở giai đoạn niệm lý hóa (conceptualisation), rồi giai đoạn nói hay viết thành văn.
Theo tôi, đó là nguyên tắc chung, còn ở biểu hiện cụ thể trong từng trường hợp, thì thần hứng có thể nông sâu khác nhau. Để làm sáng tỏ vấn đề, tôi xin phép được suy diễn từ những mạc khải tư, nơi các thánh.
Mạc khải tư mà Bernadette nhận dược từ Đức Mẹ là điều thật mới mẻ đối với cô, nhưng cũng là điều đến từ ngoài hơn là từ trong cô. Ai cũng biết cô là người sùng đạo, nên sống nghiệm huyền bí đức tin (mystique expérientielle de foi) thật sâu. Ở bề sâu ấy, các chân lý vẫn nối kết với nhau nơi đơn nhất tính nội tại của nội dung đức tin, như Rahner nói.[8]Thế nhưng nghe Đức Mẹ, cô lại như nghe từ tai bên ngoài.[9] Và danh hiệu "Đức Vô nhiễm thai" thì cô chưa từng biết, nên cũng không hiểu là gì cả. Vậy mạc khải này không phát xuất từ kinh nghiệm sống đức tin bên trong dù tiềm tàng nơi đức tin ấy.[10]Nhận mạc khải từ ngoài và qua thính giác (hay tưởng tượng thính thị) có lẽ cũng là trường hợp của Maisen và hầu hết các ngôn sứ CƯ, kể cả của Đức Maria khi thiên sứ Gabrien truyền tin.
Đúng là từ trong di ra và từ sống nghiệm đức tin, có những mạc khải tư diễn ra trong huyền nghiệm của nhiều vị thánh, như I Nhã quận Loyola trên bờ sông Cardoner khi bỗng chốc hiểu được rất nhiều điều "thuộc bản chất khác nhau", mà dù cả một đời (62 năm) học hỏi cũng không sao bằng được.[11]Nên đây không phải là kiến thức lý tính có thể mang ra dạy hay viết thành nhiều cuốn sách, mà là theo tôi nghĩ, thứ hiểu siêu thường, tiền niệm lý (préconceptuel), một thứ "giác ngộ" nào đó nó dọi vào tâm trí để tất cả hừng sáng lên, và những hiểu biết dù cũ cũng biến thành những gì mới mẻ hoàn toàn. Và có lẽ cũng tương tự như vậy thứ hừng sáng mà các tông đồ tiếp nhận ngày lễ Ngũ tuần với biểu tượng Lưỡi lửa. Hay mạc khải mà Phaolô nhận trực tiếp từ Đức Kytô dù chưa tiếp xúc với nhóm Mười hai (Gal.1.12,17).
Thứ mạc khải này, như thế, đúng là từ kinh nghiệm vô thức đi ra, và nếu đây là ngôn sứ, thì ông sẽ có đặc sủng để khách quan hóa thành tư tưởng để làm quy phạm cho đức tin Dân Chúa. Có điều, nếu đây là những suy tư sâu xa, những trực giác dị thường, như mệnh đề Thiên Chúa là Tình yêu của Gioan, Giáo hội là Thân mình Đức Kytô của Phao lô, thì có thần hứng không đủ, mà phải có trí thông minh tuyệt vời hay văn hóa cao của đương sự nữa. Quả thế, nếu nói về kinh nghiệm vô thức và ơn thần hứng, thì hẳn Phêrô và Giacôbê đâu có thua Phaolô và Gioan. Rõ ràng là lời người có thể làm hiển sáng hơn hay giới hạn nhiều hơn Lời Chúa, mạc khải của Chúa vậy.
Nếu ngôn sứ nói mà không viết, và lời ông được truyền khẩu để sau sưu tập, sắp xếp và viết thành tác phẩm, thì thần hứng gốc sẽ vươn dài cánh tay để phủ luôn những công đoạn nói trên. Ai cũng thấy là thần hứng ở giai đoạn xuất phát thì từ trong đi ra, nhưng ở các giai đoạn truyền khẩu, sưu tập và viết ra, sao chép ra, thì thần hứng chỉ cần như một hỗ trợ, từ ngoài hơn là bên trong, để tránh sai lạc ở những gì là căn yếu. Nói chi đến việc bảo trì bản văn trong truyền thống cộng đồng đức tin, để rồi sau này huấn quyền, dựa vào truyền thống ấy, đưa nó vào quy điển (canon) chính thức, việc bảo trì và quy điển hóa ấy càng có tính ngoại tại hơn nữa. Và cũng bớt sâu như thế khi Giáo hội chọn bản dịch LXX thay vì bản Hy bá lai hay bản dịch Hy ngữ khác.
Thần hứng có lẽ cũng không cần "bên trong" nhiều khi truyện ngụ ngôn Ông Gióp của dân ngoại được hai ngôn sứ Israel thâu nạp và kể lại theo niềm tin Giavê. Hay khi thánh vịnh 19,29,104, trước được dùng trong phụng tự dân ngoại, sau được mang vào cầu nguyện Do Thái giáo với ít nhiều sửa đổi.[12] Nhất là khi Diễm tình ca với nguồn gốc rất đời của nó (có lẽ mãi sau thế kỷ V công nguyên mới xuất hiện trong phụng vụ Paskha Do Thái), cũng gia nhập danh sách quy điển mà không sửa đổi gì.
Còn mạc khải sâu nhất, MẠC KHẢI viết hoa, lại thành một với con người và cuộc sống Đức Kytô : Ai thấy Thầy là thấy Đấng sai Thầy (Gio.12.45). Vâng, không phải một cái gì đó của TC được tiết lộ cho chúng ta hay, mà là chính bản thân TC, bản thân Lời hay Ngôi Con TC. Cũng không phải Lời tự nói bằng lời người cho ta nghe, mà Lời đã thành người để nói về Cha và sự cứu độ của Cha bằng chính con người và cuộc sống của mình.