Đamien
14-09-2006, 04:15 PM
CHIÊM NIỆM BẢY SỰ THƯƠNG KHÓ CỦA ĐỨC MẸ MARIA
Đỗ Trân Duy
Cuộc đời đức Mẹ Maria là cuộc đời của bà Mẹ có trăm nghìn đau khổ nối tiếp nhau kể ra không hết. Tước hiệu Đức Bà Sầu Bi (Our Lady of Sorrows) phần nào nói lên lòng thương cảm và tôn kính của Kitô hữu đối với Đức Bà. Lòng tôn kính này phổ biến rộng rãi từ thế kỷ XII. Để Kitô hữu có thể chiêm niệm sự đau khổ của Đức Mẹ một cách cụ thể, Hội Thánh chọn bảy sự thương khó tiêu biểu gắn liền với lịch sử cứu độ của Đức Giêsu để tưởng niệm.
1. Lời Tiên Tri Của Thầy Cả Simêon (Sử liệu: Luca 2,22-35 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%202:22-35&FontSize=Txt10); Maria Agreda: The Mystical City of God).
Sau khi sinh nở được 40 ngày, Đức Maria phải làm lễ thanh tẩy và dâng con trai đầu lòng lên Thiên Chúa theo luật Do Thái. Thánh gia hành lễ tại đền Giêrusalem. Trong đền thờ có lão thầy thượng phẩm Simêôn vẫn hằng cầu nguyện xin được gặp Đấng Cứu Độ trước khi ông lìa trần. Một đêm, Thánh Linh cho biết ông sẽ thấy Đấng Kitô vào ngày mai. Hôm sau ông đứng sẵn trước bàn thờ hằng giờ chờ đợi. Ông thấy thánh gia đi tới có hào quang phủ xung quanh. Ông nhận ra ngay con trẻ Giêsu là Đấng Mêsia. Ông ẵm Hài Nhi và xúc động nói: “Giờ đây tôi tớ Chúa xin được ra đi vì mắt tôi đã thấy ơn cứu độ.” Rồi ông nói với Đức Maria: “Hài nhi sẽ là dấu cho người ta chống đối và là sinh mệnh cho nhiều người ngã xuống hay chỗi dậy trong dân Israen. Còn bà! Một lưỡi gươm sẽ xuyên thấu hồn bà, nhờ vậy mà ý nghĩ trong những tâm hồn khác được phơi bày.”
Tuy được Thánh Linh chỉ dẫn nhưng phát ngôn của Simêôn chỉ là một trực giác siêu hình, không phải là một hiểu biết, nên ông không thể giải thích. Cả Simêôn lẫn Đức Bà đều cảm nhận một cái gì cao cả bao la và hàm chứa nhiều điều không thể khai triển. Những điều này may ra có thể hiểu được khi chúng ứng nghiệm trong thời gian. Hài Nhi Giêsu được xác định là một đối tượng bị khổ nạn (trong xứ Israen) và sẽ mang lại đau khổ cho cha mẹ. Đây là một đau khổ nội tại, như một thiên mệnh. Có bà mẹ nào không đau lòng khi biết số phận tương lai con mình như vậy. Nỗi khổ nạn của Hài Nhi không thể tránh vì nó không phải là một tai nạn nhưng là nền tảng siêu việt phát sinh ra sự sống cho nhiều người. Cũng vậy lưỡi gươm đâm thấu tim đức Maria không thể bỏ, vì nó là nguồn vận hành cho các ý nghĩ (ý thức về Thiên Chúa) của nhiều tâm hồn được nẩy nở. Đức Maria âm thầm chịu đựng sự đau khổ từ phút nghe Simêôn nói. Đức Mẹ hồi hộp không biết cái gì sẽ xảy ra trong ngày mai, nên chỉ biết kéo dài sự thổn thức lo lắng cho đến hết đời mình.
2. Lẫn Trốn Qua Ai Cập (Sử liệu: Mt 2,13-18 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%202:13-18&FontSize=Txt10); Maria Agreda: The Mystical City of God; The Revelations of St. Bridget).
Khi Đức Giêsu sinh ra, vua Hêrốt được ba đạo sĩ cho biết có vua Do Thái mới ra đời. Hoảng sợ bị mất ngôi, Hêrốt ra lệnh tìm giết Hài Nhi. Sau buổi lễ thanh tẩy nói trên được 5 ngày, thánh Giuse được thiên sứ báo tin dữ trong giấc mộng. Nửa đêm, thánh vội vàng thu tóm đồ đạc, lén lút mang Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập. Gia tài của thánh gia chỉ có 1 con lừa và ít mẩu bánh khô. Bấy giờ trời còn trong mùa Đông giá buốt, Đức Mẹ chỉ là cô gái yếu đuối 17 tuổi, còn Hài Nhi thì mới sinh. Cuộc đi trốn bằng đường bộ dài 400 dặm xuyên qua sa mạc và những cánh rừng hoang. Họ đi ban ngày, ban đêm ngủ trên cát sa mạc hay dưới gốc cây trong rừng sâu. Đức Giuse lấy chiếc áo của mình phủ lên vài cây cọc để làm lều cho Đức Mẹ và Hài Nhi trú thân. Sau 30 ngày lạc lõng, đói khát, và giá lạnh, thánh gia thất thểu tới thành Hêlipôli (Thành Mặt Trời), Ai Cập. Thánh gia lưu trú tại đó trong 7 năm trời. Cuộc sống của kẻ di cư hết sức bơ vơ và cùng cực. Đức Giuse làm công thợ mộc và đức Maria đan áo để sinh sống. Đức Giuse thường bị ông chủ bạc đãi không trả tiền công. Nhiều lần cả nhà phải nhịn đói, không có đến một mẩu bánh nhỏ cho Hài Nhi ăn.
Vì Thiên Chúa truyền cho thánh Giuse đi trốn, nên Đức Mẹ chấp nhận nỗi đau khổ với lòng khiêm nhường vâng theo Thánh Ý. Không phải Đức Mẹ không muốn một hoàn cảnh tốt đẹp hơn theo bản tính tự nhiên của con người, nhưng đức tin và đức cậy thuần khiết giúp Đức Mẹ vượt lên trên những ước vọng cá nhân trần thế. Vì thế Đức Mẹ càng nhẫn nhục trong đau khổ thì lại càng chìm sâu trong tình yêu Thiên Chúa. Nhờ đó Đức Mẹ sống trong Thiên Chúa một cách sâu xa. Thánh Benard nói: “Nếu không có đức khiêm nhường thì đức Maria cũng không được Thiên Chúa chấp nhận,” bởi vì Thiên Chúa đã phán: “Ai là kẻ được Ta đoái nhìn, ấy là người khốn khó trong tâm hồn khiêm nhường.” (Is 66, 2).
Đỗ Trân Duy
Cuộc đời đức Mẹ Maria là cuộc đời của bà Mẹ có trăm nghìn đau khổ nối tiếp nhau kể ra không hết. Tước hiệu Đức Bà Sầu Bi (Our Lady of Sorrows) phần nào nói lên lòng thương cảm và tôn kính của Kitô hữu đối với Đức Bà. Lòng tôn kính này phổ biến rộng rãi từ thế kỷ XII. Để Kitô hữu có thể chiêm niệm sự đau khổ của Đức Mẹ một cách cụ thể, Hội Thánh chọn bảy sự thương khó tiêu biểu gắn liền với lịch sử cứu độ của Đức Giêsu để tưởng niệm.
1. Lời Tiên Tri Của Thầy Cả Simêon (Sử liệu: Luca 2,22-35 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%202:22-35&FontSize=Txt10); Maria Agreda: The Mystical City of God).
Sau khi sinh nở được 40 ngày, Đức Maria phải làm lễ thanh tẩy và dâng con trai đầu lòng lên Thiên Chúa theo luật Do Thái. Thánh gia hành lễ tại đền Giêrusalem. Trong đền thờ có lão thầy thượng phẩm Simêôn vẫn hằng cầu nguyện xin được gặp Đấng Cứu Độ trước khi ông lìa trần. Một đêm, Thánh Linh cho biết ông sẽ thấy Đấng Kitô vào ngày mai. Hôm sau ông đứng sẵn trước bàn thờ hằng giờ chờ đợi. Ông thấy thánh gia đi tới có hào quang phủ xung quanh. Ông nhận ra ngay con trẻ Giêsu là Đấng Mêsia. Ông ẵm Hài Nhi và xúc động nói: “Giờ đây tôi tớ Chúa xin được ra đi vì mắt tôi đã thấy ơn cứu độ.” Rồi ông nói với Đức Maria: “Hài nhi sẽ là dấu cho người ta chống đối và là sinh mệnh cho nhiều người ngã xuống hay chỗi dậy trong dân Israen. Còn bà! Một lưỡi gươm sẽ xuyên thấu hồn bà, nhờ vậy mà ý nghĩ trong những tâm hồn khác được phơi bày.”
Tuy được Thánh Linh chỉ dẫn nhưng phát ngôn của Simêôn chỉ là một trực giác siêu hình, không phải là một hiểu biết, nên ông không thể giải thích. Cả Simêôn lẫn Đức Bà đều cảm nhận một cái gì cao cả bao la và hàm chứa nhiều điều không thể khai triển. Những điều này may ra có thể hiểu được khi chúng ứng nghiệm trong thời gian. Hài Nhi Giêsu được xác định là một đối tượng bị khổ nạn (trong xứ Israen) và sẽ mang lại đau khổ cho cha mẹ. Đây là một đau khổ nội tại, như một thiên mệnh. Có bà mẹ nào không đau lòng khi biết số phận tương lai con mình như vậy. Nỗi khổ nạn của Hài Nhi không thể tránh vì nó không phải là một tai nạn nhưng là nền tảng siêu việt phát sinh ra sự sống cho nhiều người. Cũng vậy lưỡi gươm đâm thấu tim đức Maria không thể bỏ, vì nó là nguồn vận hành cho các ý nghĩ (ý thức về Thiên Chúa) của nhiều tâm hồn được nẩy nở. Đức Maria âm thầm chịu đựng sự đau khổ từ phút nghe Simêôn nói. Đức Mẹ hồi hộp không biết cái gì sẽ xảy ra trong ngày mai, nên chỉ biết kéo dài sự thổn thức lo lắng cho đến hết đời mình.
2. Lẫn Trốn Qua Ai Cập (Sử liệu: Mt 2,13-18 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%202:13-18&FontSize=Txt10); Maria Agreda: The Mystical City of God; The Revelations of St. Bridget).
Khi Đức Giêsu sinh ra, vua Hêrốt được ba đạo sĩ cho biết có vua Do Thái mới ra đời. Hoảng sợ bị mất ngôi, Hêrốt ra lệnh tìm giết Hài Nhi. Sau buổi lễ thanh tẩy nói trên được 5 ngày, thánh Giuse được thiên sứ báo tin dữ trong giấc mộng. Nửa đêm, thánh vội vàng thu tóm đồ đạc, lén lút mang Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập. Gia tài của thánh gia chỉ có 1 con lừa và ít mẩu bánh khô. Bấy giờ trời còn trong mùa Đông giá buốt, Đức Mẹ chỉ là cô gái yếu đuối 17 tuổi, còn Hài Nhi thì mới sinh. Cuộc đi trốn bằng đường bộ dài 400 dặm xuyên qua sa mạc và những cánh rừng hoang. Họ đi ban ngày, ban đêm ngủ trên cát sa mạc hay dưới gốc cây trong rừng sâu. Đức Giuse lấy chiếc áo của mình phủ lên vài cây cọc để làm lều cho Đức Mẹ và Hài Nhi trú thân. Sau 30 ngày lạc lõng, đói khát, và giá lạnh, thánh gia thất thểu tới thành Hêlipôli (Thành Mặt Trời), Ai Cập. Thánh gia lưu trú tại đó trong 7 năm trời. Cuộc sống của kẻ di cư hết sức bơ vơ và cùng cực. Đức Giuse làm công thợ mộc và đức Maria đan áo để sinh sống. Đức Giuse thường bị ông chủ bạc đãi không trả tiền công. Nhiều lần cả nhà phải nhịn đói, không có đến một mẩu bánh nhỏ cho Hài Nhi ăn.
Vì Thiên Chúa truyền cho thánh Giuse đi trốn, nên Đức Mẹ chấp nhận nỗi đau khổ với lòng khiêm nhường vâng theo Thánh Ý. Không phải Đức Mẹ không muốn một hoàn cảnh tốt đẹp hơn theo bản tính tự nhiên của con người, nhưng đức tin và đức cậy thuần khiết giúp Đức Mẹ vượt lên trên những ước vọng cá nhân trần thế. Vì thế Đức Mẹ càng nhẫn nhục trong đau khổ thì lại càng chìm sâu trong tình yêu Thiên Chúa. Nhờ đó Đức Mẹ sống trong Thiên Chúa một cách sâu xa. Thánh Benard nói: “Nếu không có đức khiêm nhường thì đức Maria cũng không được Thiên Chúa chấp nhận,” bởi vì Thiên Chúa đã phán: “Ai là kẻ được Ta đoái nhìn, ấy là người khốn khó trong tâm hồn khiêm nhường.” (Is 66, 2).