admin
28-09-2009, 05:50 AM
ĐIỀU GÌ THIÊN CHÚA PHỐI HỢP, LOÀI NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC PHÂN LY
SUY NIỆM PHÚC ÂM (III B 51); (04.10.2009); (Mc 10, 2-16)
CHÚA NHẬT XXVII PHỤNG VỤ THƯỜNG NIÊN, NĂM B
NGUYỄN HỌC TẬP
Một bài giáo lý quan trọng về hôn nhân được Chúa Giêsu huấn dạy, bằng cách nhắc lại đồ án nguyên thủy của Đấng Tạo Hoá.
Không có ai có uy quyền hơn Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, có khả năng hiểu rõ và được quyền giải thích tư tưởng chính xác của Chúa Cha, khi Người giảng dạy cho chúng ta về hôn nhân và gia đình, được đặt nền tảng trên tình thương chân chính.
Đoạn Phúc Âm được chia làm hai phần,
- phần đầu đề cập đến vấn đề ly dị (Mc 10, 2-12),
- phần hai diễn tả lại khung cảnh âu yếm Chúa Giêsu ôm vào lòng các trẻ em và chỉ cho chúng ta biết các em là khuôn mẫu hành xử phải có để được vào Nước Thiên Chúa (Mc 10, 13-16).
Cả hai đoạn đều có một điểm tương đồng: đó là Chúa Giêsu được Thánh Marco trình bày cho chúng ta như là vị Thầy uy quyền để tuyên bố các lề luật mới, được đặt nền tảng và phát xuất từ quyền toàn năng và vĩnh cửu của Thiên Chúa.
Rời bỏ Galilea, phía bắc, Chúa Giêsu di chuyển về phía Nam, phía Giudea, và chính xác hơn là trong vùng phía bên kia sông Giordano.
Sự hiện diện của Người làm cho dân chúng thích thú, quy tựu đến để nghe Người giảng dạy, vì nghe danh tiếng của Người từ trước đó, bởi đó họ kéo đến bên Người:
- " Chúa Giêsu rời bỏ nơi đó, đi tới miền Giudea và vùng bên kia sông Giordano. Đông đảo dân chúng lại tuôn đến với Người. Và như thường lệ, Người lại dạy dỗ họ " (Mc 10, 1).
1 - Kẻ đến nghe Người để học hỏi, kẻ khác để thử Người.
" Đông đảo dân chúng tuôn đến với Người " để học hỏi, nhưng cũng có kẻ như những người Pharisêu, các đối thủ có hữu của Người đến nghe và đặt câu hỏi để thử Người:
- "Họ hỏi thế là để thử Người" (Mc 10, 2b).
Câu hỏi của họ liên quan đến một điểm tế nhị, nhưng không phải là điểm tranh cải, ít nhứt dựa theo luật Do Thái:
- "Có mấy người Pharisêu đến gần Chúa Giêsu và hỏi rằng: "Thưa Thầy, chồng có được phép ly dị vợ không?" (Mc 10, 2).
Trước câu hỏi "chồng có được phép ly dị vợ không?", Chúa Giêsu trả lời bằng cách gởi họ thẳng về đạo luật hiện hành, được Moisen thiết lập và chính họ cũng biết, nên họ trích dẫn:
- "Vậy ông Moisen đã truyền dạy các ông điều gì ?" (Mc 10, 3).
- "Họ trả lời: Ông Moisen đã cho phép viết giấy ly dị mà rẫy vợ" (Mc 10, 4).
Câu trả lời của các người Pharisêu nhắc lại những gì liên hệ, đã được viết trong sách Đệ nhị Luật:
- "Nếu một người đàn ông đã lấy vợ và đã ă[I]n ở với nàng rồi, mà sau đó nàng không đẹp lòng người ấy nữa, vì người ấy thấy nơi nàng có điều gì chướng, thì sẽ viết cho nàng một chứng thư ly dị, trao tận tay và đuổi ra khỏi nhà" (Dt 24, 1).
Như vậy đạo luật cho phép ly dị đã có trong dân Do Thái.
Đạo luật nêu rõ ràng, nhưng không chính xác. Bởi đó nền thần học Do Thái có thái độ không đồng nhứt nhau, "tùy theo trường hợp".
Trường phái Shammai khắc nghiệt hơn và trường phái Hillel dễ dãi hơn.
Bởi đó theo bản văn Phúc Âm Thánh Matthêu, được viết cho các tín hữu Do Thái, nhấn mạnh hơn về phương diện luật pháp với câu hỏi của những kẻ chống đối Chúa Giêsu được diễn tả một cách minh bạch hơn:
- "Thưa Thầy có đươc phép rẫy vợ mình vì bất cứ lý do nào không ?" (Mt 19, 3).
Như vậy điểm bất đồng giữa các trường phái thần học Do Thái chính là lý do:
- nhóm thì cho rằng bằng "bất cứ lý do nào",
- nhóm khác chủ trương "vì một lý do đặc biệt".
Sự bất đồng ý kiến đó là do cách giải thích lý do " có điều gì chướng " hay " có điều gì sỉ nhục " (Dt 24, 1), được trích dẫn ở trên.
Phúc Âm Thánh Marco không đề cập rõ lý do của những thái độ đối nghịch đó. Điều vừa kể chúng ta có thể trực giác hiểu được, bởi vì là câu hỏi với chủ đề được đặt ra với vị Thầy Nazareth, mà mọi người đều kính trọng và thừa biết trí thông thái của Người.
Và câu trả lời của Chúa Giêsu cũng vượt ra bên ngoài lãnh vực mà các người đối kháng đang mong để có thể tố cáo Người.
2 - Chúa Giêsu không tấn công Moisen cũng như Lề Luật.
Như vừa nói, những người Pharisêu đến đó, đặt câu hỏi, không phải là để hiểu biết thêm, cho bằng để tìm kiếm những sai lỗi, tố cáo Chúa Giêsu.Và nếu người bị Lề Luật kết án là phạm nhân, có thể bị họ ném đá:
- " Họ hỏi thế là để thử Người " (Mc 10, 2b).
Chúa Giêsu trả lời một cách khôn khéo, quy trách cho sự việc tại sao ông Moisen phải viết ra điều luật trên về việc rẫy bỏ ly dị người vợ. Đó là do "lòng chai đá" (sklérokardía) của con người, và từ đó cho thấy chính " lòng chai đá " đó đã đặt con người ra bên ngoài đồ án mà Thiên Chúa có ý xếp đặt từ khởi thủy; "lòng chai đá " làm cho con người "đi trật đường rầy " Chúa muốn, lúc Người tạo dựng con người.
Điều đáng chú ý là giữa ông Moisen và những người Pharisêu đến tìm cách "hỏi để thử Người " hôm đó, đã có khoảng thời gian không dưới 1.000 năm. Nhưng trong câu trả lời của Chúa Giêsu, Người không nói là do " lòng chai đá của những người thời đó", mà là:
- " Chính vì "lòng chai đá của các ông ", nên ông Moisen mới viết điều răn đó "cho phép các ông" (Mc 10, 5).
Câu nói vùa kể của Chúa Giêsu ngụ ý cho thấy sở dĩ điều luật đó được viết ra và vẫn còn tồn tại đến ngày nay là do "lòng chai đá" trong tâm hồn con người, kể cả "các ông " những người Pharisêu đang đứng đó.
Nói lên điều đó Chúa Giêsu cho thấy điều luật được viêt ra liên hệ đến và tiếp nối liên hệ đến tình trạng hư đốn của con người, chớ không phải tự ông Moisen chế biến ra.
Như vậy ông Moisen viết ra điều luật là vì ý thức được thực trạng hư đốn đó, tách xa khỏi đồ án tốt lành ngyên thủy Thiên Chúa dự định, nên ông viết ra, "cực chẳng đã" phải cho phép:
- "...nên ông Moisen mới viết ra điều răn đó để cho phép các ông".
Hiểu như vậy, Chúa Giêsu xác nhận có điều luật, vẫn còn có hiệu lực luật định, nhưng là đạo luật không phản ảnh lại ý muốn của Moisen, vị soạn thảo ra luật, lại càng không phản ảnh lại thánh ý của Thiên Chúa, Đấng Tối Cao sáng lập luật và trật tự trần thế.
Tính cách mới mẻ, cách mạng của Chúa Giêsu là đặt vấn đề trở lại ở thực tại nguyên thủy của nó, trong đồ án hôn nhân nguyên thủy mà Thiên Chúa đã nghĩ đến.
Chúa Giêsu đưa vấn đề trở lại nguồn gốc khởi thủy của nó, " arché ", nguồn gốc khởi thủy, lúc chưa bị ô nhiểm bởi khuynh hướng hư đốn của con người, " lòng chai đá của các ông " (sklérokardía).
Và để nói lên cho mọi người biết đồ án nguyên thủy tốt lành đó của Thiên Chúa về hôn nhân, Chúa Giêsu trích dẫn ý nghĩa của hai chương sách Sáng Thế Ký:
- " Còn lúc khởi đầu chương trình tạo dựng, Thiên Chúa đã dựng nên con người có nam có nữ, vì thế người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt " (Mc 10, 6-8).
Theo đồ án tạo dựng nguyên thủy đó,
- " Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ " (Gen 1, 27),
- " Bởi vậy,người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt " (Gen 2, 24).
Từ chương I (Gen 1, 27), Chúa Giêsu cho thấy thánh ý của Thiên Chúa tạo dựng nên hai phái khác biệt nhau " Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ ".
Và từ chương II (Gen 2, 24), việc phối hợp phái tính như là cách diễn tả sâu đậm, thông hiệp thân tình, bởi đó " người đàn ông lìa bỏ cha mẹ mình mà gắn bó với vợ mình và cả hai thành một xương một thịt ".
Qua hai đoạn trích dẫn sách Sáng Thế Ký vừa kể, Chúa Giêsu nhắc lại cho những ai nghe người lúc đó và cho mọi người chúng ta thánh ý chính xác của Thiên Chúa, Đấng Sáng Tạo vũ trụ và Vị Lập Pháp tối cao: đó là cả hai vợ chồng thông hiệp nhau, thương yêu nhau, gắn bó với nhau, như một thân thể duy nhứt:
- " Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt " (Mc 10, 8).
Và sau phần trình bày, giải thích đó, Chúa Giêsu rút ra kết luận, bằng cách đưa ra một nguyên tắc rõ ràng:
- " Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, người đời không được phân ly " (Mc 10, 9).
Trước lý chứng như vừa kể, những thầy thông thái luật Pharisêu, dựa theo luật đặt nền tảng trên Moisen, bị đánh bại rõ rệt trước Lề Luật của Thiên Chúa.
Và như vậy, nếu cho đến lúc đó các thầy thông thái luật Pharisêu theo lề luật Moisen cho phép ly dị, " do lòng chai đá của họ ", thì giờ đây, với đoạn Phúc Âm hôm nay, với sự hiện diện và lời tuyên bố của Chúa Giêsu, thời điểm mới của ơn cứu rổi đã bắt đầu,
" Nước Trời đang hiện diện giữa các ông" (Mt 12, 28),
con người phải trở lại tuân giữ đồ án khởi thủy của Thiên Chúa.
Lời giảng dạy của Chúa Giêsu mang lại sắc thái và không khí của mùa xuân tươi tốt, lành mạnh và đầy sức sống tích cực, bởi đó dân chúng tuôn đến với Người:
- " Chúa Giêsu bỏ nơi đó, đi tới miền Giudea và vùng bên kia sông Giordano. Đông đảo dân chúng lại tuôn đến với Người" (Mc 10, 1).
Tuy nhiên câu trả lời cứng rắn của Chúa Giêsu, tố cáo " lòng chai đá của các ông " đã làm cho không những các người Pharisêu phải câm miệng, mà cũng tạo ra bối rối giữa các môn đệ, bởi lẽ bổng nhiên các vị thấy người đàn ông bị mất hết "đặc ân " có thể ly dị rẫy bỏ vợ mình.
Điều bối rối đó còn được Phúc Âm Thánh Matthêu ghi lại rõ hơn, khi thấy các môn đệ đâm ra chán nản:
- " Các môn đệ thưa với Người: " Nếu làm chồng mà phải như thế (không được rẫy vợ mà cưới vợ khác, Mt 19, 9), thì thà đừng lấy vợ còn hơn" (Mc 19,10).
Thật ra câu trả lời của Chúa Giêsu đề cập đến hôn nhân không thể bị phân tán, nhưng đồng thời Người cũng nói lên quyền bình đẳng giữa con người, người nam hay người nữ cũng là con người:
- "Ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình đối với vợ mình; ai bỏ chồng để lấy chồng khác, thì cũng phạm tội ngoại tình" (Mc 10, 11).
Như vậy tư tưởng hiệp thông giữa hai vợ chồng, " họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt " (Mc 10, 8), nói lên tình yêu giữa hai vợ chồng là điều không tùy thuộc vào thời gian, hoàn cảnh và các điều kiện sống, là yếu tố liên kết hai người trong suốt cuộc sống, đến nỗi "người đàn ông lìa bỏ cha mẹ mà gắn bó với vợ mình", hơn cả dòng tộc máu mủ đã sinh ra mình.
Một tình yêu theo thời gian tính " ad tempus " là tình yêu bị cắt đứt thành từng mảnh, gián đoạn, của một trái tim chai đá bị vẩn đục bởi thói hư tật xấu, muôn ngàn lần cách xa đồ án nguyên thủy tạo dựng của Thiên Chúa, không phải thuộc về Thiên Chúa, và chắc chắn không được Thiên Chúa chấp nhận.
3 - Chúa Giêsu và các trẻ em.
Cử chỉ đặt tay trên các trẻ em là cử chỉ âu yếm của Thiên Chúa và tình thương của Người đối với thế giới đơn sơ và vô tội:
- Người ta dẫn trẻ em đến với Chúa Giêsu, để Người đặt tay trên chúng " (Mc 10, 13).
Đối với Thiên Chúa thường những kẻ trong xã hội không có gì đáng kể, không có giá trị nào, lại là những chủ thể được Người yêu chuộng và đánh giá đứng hàng đầu.
Các môn đệ muốn đuổi chúng đi, có lẽ để cho Chúa Giêsu nghỉ ngơi, nhưng các ông không nghĩ rằng thái độ đó làm cho Người phật lòng. Bởi đó người khiển trách các ông nặng lời:
- " Nhưng các môn đệ la rầy chúng. Thấy vậy, Người không bằng lòng và nói với các ông: "Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Thiên Chúa là của những ai giống như chúng" (Mc 10, 13b-14).
Câu nói vừa kể của Chúa Giêsu cho thấy không những trẻ em có quyền tự do đến với Người, "cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng",
mà Người còn cho biết chính các em là mẫu gương sống cho mọi người, để có thể vào Nước Thiên Chúa.
Tại sao?
Bởi vì trẻ em luôn luôn tự bản tính của mình là hoàn toàn tin tưởng và phó thác vào cha mẹ,
- cảm thấy được cha mẹ yêu thương và bảo bọc,
- không cần có gì phải bênh vực,
- không có đặc quyền gì phải kháo kiện,
- không có vai trò gì phải gán cho mình, để cho mình được coi là quan trọng.
Buông mình vào tay cha mẹ là bảo đảm nhứt, hạnh phúc nhứt.
Điều tự bản năng làm cho đứa trẻ cảm thấy mình bên cạnh cha mẹ, phải là cách hành xử của con người chúng ta đối với Thiên Chúa là Cha mình:
- " Cha anh em biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin " (Mt 6, 8).
Và để có được lòng tin tưởng và phó thác đó đối với Thiên Chúa, là Cha thương yêu mình, con người phải phải sám hối, từ bỏ " lòng chai đá " của mình đối với những gì Cha của mình dạy bảo cho.
Đó là những gì Thánh Marco long trọng nói lên, ngay từ lúc khởi đầu Phúc Âm ngài:
- " Thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng " (Mc 1, 15).
Đoạn Phúc Âm chúng ta vừa suy niệm hôm nay nói lên
- ý nghĩa dồi dào, sung mãn của hôn nhân và cuộc sống tươi đẹp trong gia đình,
- tình yêu và tâm tình trong sáng tin tưởng phó thác của con cái đối với cha mẹ,
- hình ảnh âu yếm của Thiên Chúa là Cha đối với chúng ta,
sau những kinh nghiệm con người đã và đang hạ thấp phẩm giá của cuộc sống vợ chồng và cha mẹ đối với con cái và ngược lại, như cách sống của nhiều xã hội phi tôn giáo hiện đại.
SUY NIỆM PHÚC ÂM (III B 51); (04.10.2009); (Mc 10, 2-16)
CHÚA NHẬT XXVII PHỤNG VỤ THƯỜNG NIÊN, NĂM B
NGUYỄN HỌC TẬP
Một bài giáo lý quan trọng về hôn nhân được Chúa Giêsu huấn dạy, bằng cách nhắc lại đồ án nguyên thủy của Đấng Tạo Hoá.
Không có ai có uy quyền hơn Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, có khả năng hiểu rõ và được quyền giải thích tư tưởng chính xác của Chúa Cha, khi Người giảng dạy cho chúng ta về hôn nhân và gia đình, được đặt nền tảng trên tình thương chân chính.
Đoạn Phúc Âm được chia làm hai phần,
- phần đầu đề cập đến vấn đề ly dị (Mc 10, 2-12),
- phần hai diễn tả lại khung cảnh âu yếm Chúa Giêsu ôm vào lòng các trẻ em và chỉ cho chúng ta biết các em là khuôn mẫu hành xử phải có để được vào Nước Thiên Chúa (Mc 10, 13-16).
Cả hai đoạn đều có một điểm tương đồng: đó là Chúa Giêsu được Thánh Marco trình bày cho chúng ta như là vị Thầy uy quyền để tuyên bố các lề luật mới, được đặt nền tảng và phát xuất từ quyền toàn năng và vĩnh cửu của Thiên Chúa.
Rời bỏ Galilea, phía bắc, Chúa Giêsu di chuyển về phía Nam, phía Giudea, và chính xác hơn là trong vùng phía bên kia sông Giordano.
Sự hiện diện của Người làm cho dân chúng thích thú, quy tựu đến để nghe Người giảng dạy, vì nghe danh tiếng của Người từ trước đó, bởi đó họ kéo đến bên Người:
- " Chúa Giêsu rời bỏ nơi đó, đi tới miền Giudea và vùng bên kia sông Giordano. Đông đảo dân chúng lại tuôn đến với Người. Và như thường lệ, Người lại dạy dỗ họ " (Mc 10, 1).
1 - Kẻ đến nghe Người để học hỏi, kẻ khác để thử Người.
" Đông đảo dân chúng tuôn đến với Người " để học hỏi, nhưng cũng có kẻ như những người Pharisêu, các đối thủ có hữu của Người đến nghe và đặt câu hỏi để thử Người:
- "Họ hỏi thế là để thử Người" (Mc 10, 2b).
Câu hỏi của họ liên quan đến một điểm tế nhị, nhưng không phải là điểm tranh cải, ít nhứt dựa theo luật Do Thái:
- "Có mấy người Pharisêu đến gần Chúa Giêsu và hỏi rằng: "Thưa Thầy, chồng có được phép ly dị vợ không?" (Mc 10, 2).
Trước câu hỏi "chồng có được phép ly dị vợ không?", Chúa Giêsu trả lời bằng cách gởi họ thẳng về đạo luật hiện hành, được Moisen thiết lập và chính họ cũng biết, nên họ trích dẫn:
- "Vậy ông Moisen đã truyền dạy các ông điều gì ?" (Mc 10, 3).
- "Họ trả lời: Ông Moisen đã cho phép viết giấy ly dị mà rẫy vợ" (Mc 10, 4).
Câu trả lời của các người Pharisêu nhắc lại những gì liên hệ, đã được viết trong sách Đệ nhị Luật:
- "Nếu một người đàn ông đã lấy vợ và đã ă[I]n ở với nàng rồi, mà sau đó nàng không đẹp lòng người ấy nữa, vì người ấy thấy nơi nàng có điều gì chướng, thì sẽ viết cho nàng một chứng thư ly dị, trao tận tay và đuổi ra khỏi nhà" (Dt 24, 1).
Như vậy đạo luật cho phép ly dị đã có trong dân Do Thái.
Đạo luật nêu rõ ràng, nhưng không chính xác. Bởi đó nền thần học Do Thái có thái độ không đồng nhứt nhau, "tùy theo trường hợp".
Trường phái Shammai khắc nghiệt hơn và trường phái Hillel dễ dãi hơn.
Bởi đó theo bản văn Phúc Âm Thánh Matthêu, được viết cho các tín hữu Do Thái, nhấn mạnh hơn về phương diện luật pháp với câu hỏi của những kẻ chống đối Chúa Giêsu được diễn tả một cách minh bạch hơn:
- "Thưa Thầy có đươc phép rẫy vợ mình vì bất cứ lý do nào không ?" (Mt 19, 3).
Như vậy điểm bất đồng giữa các trường phái thần học Do Thái chính là lý do:
- nhóm thì cho rằng bằng "bất cứ lý do nào",
- nhóm khác chủ trương "vì một lý do đặc biệt".
Sự bất đồng ý kiến đó là do cách giải thích lý do " có điều gì chướng " hay " có điều gì sỉ nhục " (Dt 24, 1), được trích dẫn ở trên.
Phúc Âm Thánh Marco không đề cập rõ lý do của những thái độ đối nghịch đó. Điều vừa kể chúng ta có thể trực giác hiểu được, bởi vì là câu hỏi với chủ đề được đặt ra với vị Thầy Nazareth, mà mọi người đều kính trọng và thừa biết trí thông thái của Người.
Và câu trả lời của Chúa Giêsu cũng vượt ra bên ngoài lãnh vực mà các người đối kháng đang mong để có thể tố cáo Người.
2 - Chúa Giêsu không tấn công Moisen cũng như Lề Luật.
Như vừa nói, những người Pharisêu đến đó, đặt câu hỏi, không phải là để hiểu biết thêm, cho bằng để tìm kiếm những sai lỗi, tố cáo Chúa Giêsu.Và nếu người bị Lề Luật kết án là phạm nhân, có thể bị họ ném đá:
- " Họ hỏi thế là để thử Người " (Mc 10, 2b).
Chúa Giêsu trả lời một cách khôn khéo, quy trách cho sự việc tại sao ông Moisen phải viết ra điều luật trên về việc rẫy bỏ ly dị người vợ. Đó là do "lòng chai đá" (sklérokardía) của con người, và từ đó cho thấy chính " lòng chai đá " đó đã đặt con người ra bên ngoài đồ án mà Thiên Chúa có ý xếp đặt từ khởi thủy; "lòng chai đá " làm cho con người "đi trật đường rầy " Chúa muốn, lúc Người tạo dựng con người.
Điều đáng chú ý là giữa ông Moisen và những người Pharisêu đến tìm cách "hỏi để thử Người " hôm đó, đã có khoảng thời gian không dưới 1.000 năm. Nhưng trong câu trả lời của Chúa Giêsu, Người không nói là do " lòng chai đá của những người thời đó", mà là:
- " Chính vì "lòng chai đá của các ông ", nên ông Moisen mới viết điều răn đó "cho phép các ông" (Mc 10, 5).
Câu nói vùa kể của Chúa Giêsu ngụ ý cho thấy sở dĩ điều luật đó được viết ra và vẫn còn tồn tại đến ngày nay là do "lòng chai đá" trong tâm hồn con người, kể cả "các ông " những người Pharisêu đang đứng đó.
Nói lên điều đó Chúa Giêsu cho thấy điều luật được viêt ra liên hệ đến và tiếp nối liên hệ đến tình trạng hư đốn của con người, chớ không phải tự ông Moisen chế biến ra.
Như vậy ông Moisen viết ra điều luật là vì ý thức được thực trạng hư đốn đó, tách xa khỏi đồ án tốt lành ngyên thủy Thiên Chúa dự định, nên ông viết ra, "cực chẳng đã" phải cho phép:
- "...nên ông Moisen mới viết ra điều răn đó để cho phép các ông".
Hiểu như vậy, Chúa Giêsu xác nhận có điều luật, vẫn còn có hiệu lực luật định, nhưng là đạo luật không phản ảnh lại ý muốn của Moisen, vị soạn thảo ra luật, lại càng không phản ảnh lại thánh ý của Thiên Chúa, Đấng Tối Cao sáng lập luật và trật tự trần thế.
Tính cách mới mẻ, cách mạng của Chúa Giêsu là đặt vấn đề trở lại ở thực tại nguyên thủy của nó, trong đồ án hôn nhân nguyên thủy mà Thiên Chúa đã nghĩ đến.
Chúa Giêsu đưa vấn đề trở lại nguồn gốc khởi thủy của nó, " arché ", nguồn gốc khởi thủy, lúc chưa bị ô nhiểm bởi khuynh hướng hư đốn của con người, " lòng chai đá của các ông " (sklérokardía).
Và để nói lên cho mọi người biết đồ án nguyên thủy tốt lành đó của Thiên Chúa về hôn nhân, Chúa Giêsu trích dẫn ý nghĩa của hai chương sách Sáng Thế Ký:
- " Còn lúc khởi đầu chương trình tạo dựng, Thiên Chúa đã dựng nên con người có nam có nữ, vì thế người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt " (Mc 10, 6-8).
Theo đồ án tạo dựng nguyên thủy đó,
- " Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ " (Gen 1, 27),
- " Bởi vậy,người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt " (Gen 2, 24).
Từ chương I (Gen 1, 27), Chúa Giêsu cho thấy thánh ý của Thiên Chúa tạo dựng nên hai phái khác biệt nhau " Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ ".
Và từ chương II (Gen 2, 24), việc phối hợp phái tính như là cách diễn tả sâu đậm, thông hiệp thân tình, bởi đó " người đàn ông lìa bỏ cha mẹ mình mà gắn bó với vợ mình và cả hai thành một xương một thịt ".
Qua hai đoạn trích dẫn sách Sáng Thế Ký vừa kể, Chúa Giêsu nhắc lại cho những ai nghe người lúc đó và cho mọi người chúng ta thánh ý chính xác của Thiên Chúa, Đấng Sáng Tạo vũ trụ và Vị Lập Pháp tối cao: đó là cả hai vợ chồng thông hiệp nhau, thương yêu nhau, gắn bó với nhau, như một thân thể duy nhứt:
- " Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt " (Mc 10, 8).
Và sau phần trình bày, giải thích đó, Chúa Giêsu rút ra kết luận, bằng cách đưa ra một nguyên tắc rõ ràng:
- " Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, người đời không được phân ly " (Mc 10, 9).
Trước lý chứng như vừa kể, những thầy thông thái luật Pharisêu, dựa theo luật đặt nền tảng trên Moisen, bị đánh bại rõ rệt trước Lề Luật của Thiên Chúa.
Và như vậy, nếu cho đến lúc đó các thầy thông thái luật Pharisêu theo lề luật Moisen cho phép ly dị, " do lòng chai đá của họ ", thì giờ đây, với đoạn Phúc Âm hôm nay, với sự hiện diện và lời tuyên bố của Chúa Giêsu, thời điểm mới của ơn cứu rổi đã bắt đầu,
" Nước Trời đang hiện diện giữa các ông" (Mt 12, 28),
con người phải trở lại tuân giữ đồ án khởi thủy của Thiên Chúa.
Lời giảng dạy của Chúa Giêsu mang lại sắc thái và không khí của mùa xuân tươi tốt, lành mạnh và đầy sức sống tích cực, bởi đó dân chúng tuôn đến với Người:
- " Chúa Giêsu bỏ nơi đó, đi tới miền Giudea và vùng bên kia sông Giordano. Đông đảo dân chúng lại tuôn đến với Người" (Mc 10, 1).
Tuy nhiên câu trả lời cứng rắn của Chúa Giêsu, tố cáo " lòng chai đá của các ông " đã làm cho không những các người Pharisêu phải câm miệng, mà cũng tạo ra bối rối giữa các môn đệ, bởi lẽ bổng nhiên các vị thấy người đàn ông bị mất hết "đặc ân " có thể ly dị rẫy bỏ vợ mình.
Điều bối rối đó còn được Phúc Âm Thánh Matthêu ghi lại rõ hơn, khi thấy các môn đệ đâm ra chán nản:
- " Các môn đệ thưa với Người: " Nếu làm chồng mà phải như thế (không được rẫy vợ mà cưới vợ khác, Mt 19, 9), thì thà đừng lấy vợ còn hơn" (Mc 19,10).
Thật ra câu trả lời của Chúa Giêsu đề cập đến hôn nhân không thể bị phân tán, nhưng đồng thời Người cũng nói lên quyền bình đẳng giữa con người, người nam hay người nữ cũng là con người:
- "Ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình đối với vợ mình; ai bỏ chồng để lấy chồng khác, thì cũng phạm tội ngoại tình" (Mc 10, 11).
Như vậy tư tưởng hiệp thông giữa hai vợ chồng, " họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt " (Mc 10, 8), nói lên tình yêu giữa hai vợ chồng là điều không tùy thuộc vào thời gian, hoàn cảnh và các điều kiện sống, là yếu tố liên kết hai người trong suốt cuộc sống, đến nỗi "người đàn ông lìa bỏ cha mẹ mà gắn bó với vợ mình", hơn cả dòng tộc máu mủ đã sinh ra mình.
Một tình yêu theo thời gian tính " ad tempus " là tình yêu bị cắt đứt thành từng mảnh, gián đoạn, của một trái tim chai đá bị vẩn đục bởi thói hư tật xấu, muôn ngàn lần cách xa đồ án nguyên thủy tạo dựng của Thiên Chúa, không phải thuộc về Thiên Chúa, và chắc chắn không được Thiên Chúa chấp nhận.
3 - Chúa Giêsu và các trẻ em.
Cử chỉ đặt tay trên các trẻ em là cử chỉ âu yếm của Thiên Chúa và tình thương của Người đối với thế giới đơn sơ và vô tội:
- Người ta dẫn trẻ em đến với Chúa Giêsu, để Người đặt tay trên chúng " (Mc 10, 13).
Đối với Thiên Chúa thường những kẻ trong xã hội không có gì đáng kể, không có giá trị nào, lại là những chủ thể được Người yêu chuộng và đánh giá đứng hàng đầu.
Các môn đệ muốn đuổi chúng đi, có lẽ để cho Chúa Giêsu nghỉ ngơi, nhưng các ông không nghĩ rằng thái độ đó làm cho Người phật lòng. Bởi đó người khiển trách các ông nặng lời:
- " Nhưng các môn đệ la rầy chúng. Thấy vậy, Người không bằng lòng và nói với các ông: "Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Thiên Chúa là của những ai giống như chúng" (Mc 10, 13b-14).
Câu nói vừa kể của Chúa Giêsu cho thấy không những trẻ em có quyền tự do đến với Người, "cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng",
mà Người còn cho biết chính các em là mẫu gương sống cho mọi người, để có thể vào Nước Thiên Chúa.
Tại sao?
Bởi vì trẻ em luôn luôn tự bản tính của mình là hoàn toàn tin tưởng và phó thác vào cha mẹ,
- cảm thấy được cha mẹ yêu thương và bảo bọc,
- không cần có gì phải bênh vực,
- không có đặc quyền gì phải kháo kiện,
- không có vai trò gì phải gán cho mình, để cho mình được coi là quan trọng.
Buông mình vào tay cha mẹ là bảo đảm nhứt, hạnh phúc nhứt.
Điều tự bản năng làm cho đứa trẻ cảm thấy mình bên cạnh cha mẹ, phải là cách hành xử của con người chúng ta đối với Thiên Chúa là Cha mình:
- " Cha anh em biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin " (Mt 6, 8).
Và để có được lòng tin tưởng và phó thác đó đối với Thiên Chúa, là Cha thương yêu mình, con người phải phải sám hối, từ bỏ " lòng chai đá " của mình đối với những gì Cha của mình dạy bảo cho.
Đó là những gì Thánh Marco long trọng nói lên, ngay từ lúc khởi đầu Phúc Âm ngài:
- " Thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng " (Mc 1, 15).
Đoạn Phúc Âm chúng ta vừa suy niệm hôm nay nói lên
- ý nghĩa dồi dào, sung mãn của hôn nhân và cuộc sống tươi đẹp trong gia đình,
- tình yêu và tâm tình trong sáng tin tưởng phó thác của con cái đối với cha mẹ,
- hình ảnh âu yếm của Thiên Chúa là Cha đối với chúng ta,
sau những kinh nghiệm con người đã và đang hạ thấp phẩm giá của cuộc sống vợ chồng và cha mẹ đối với con cái và ngược lại, như cách sống của nhiều xã hội phi tôn giáo hiện đại.