PDA

View Full Version : Lạy Thầy Nhân Lành, Con Phải Làm Gì để được Sự Sống đời đời Làm Gia Nghiệp?


admin
05-10-2009, 05:57 AM
LẠY THẦY NHÂN LÀNH, CON PHẢI LÀM GÌ ĐỂ ĐƯỢC SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI LÀM GIA NGHIỆP?

SUY NIỆM PHÚC ÂM (III B 52) ; (11.10.2009); (Mc 10, 17-30)
CHÚA NHẬT XXVIII PHỤNG VỤ THƯỜNG NIÊN, NĂM B


Với lời tuyên xưng đức tin của Phêrô (Mc 8, 27-30), Phúc Âm Thánh Marco được chia thành hai phần: nếu trước kia Chúa Giêsu chuyên lo rao giảng Tin Mừng cho tất cả, thì sau lời tuyên xưng đức tin vừa kể của Phêrô, mặc dầu không khước từ tiếp tục rao giảng cho dân chúng, nhưng chú tâm của Người cô đọng hơn vào việc huấn dạy Nhóm Mười Hai, trong nhãn quang chuẩn bị cho các vị đối phó với các biến cố khổ nạn, tử nạn và phục sinh sắp tới.
Bởi đó trong đoạn Phúc Âm hôm nay, chúng ta gặp được các yếu tố khác biệt pha lẫn cũng như cách hành văn không đồng nhứt, bởi lẽ đoạn Phúc Âm thuật lại lời kêu gọi, lời cảnh cáo, câu trả lời mặc nhiên cho câu hỏi của Phêrô.
Dù sao đi nữa, tư tưởng hướng dẫn toàn phần của đoạn Phúc Âm là tư tưởng nói lên sự sung mãn, giàu có, liên kết các phần của đoạn Phúc Âm lại với nhau.
a) Chúa Giêsu gặp một người giàu có và Người gọi ông ta hãy theo Người (Mc 10, 17-22): đoạn Phúc Âm được làm cho sống động bằng cách diễn tả động tác " chạy theo, qùy xuống và hỏi " (Mc 10, 17), đối nghịch lại thái độ thất thểu, buồn thảm "sa sầm nét mặt, buồn rầu, bỏ ra đi" (Mc 10, 22) ở phần cuối.
b) Cuộc đàm thoại của Chúa Giêsu với các môn đệ về tiền tài của cải, như là chướng ngại vật để được vào Nước Thiên Chúa và chướng ngại vật đó được quyền năng của Thiên Chúa vượt thắng (Mc 10, 23-27).
c) Phần thưởng trả công cho những ai theo Chúa Giêsu được Phêrô đặt ra và câu trả lời của Chúa Giêsu về phần thưởng hiện tại và tương lai (Mc 10, 28-31).
Câu trả lời của Chúa Giêsu có giá trị không những cho Nhóm Mười Hai lúc đó, mà cho tất cả những ai là môn đệ Chúa Ki Tô. Đó là câu giải đáp đem lại ánh sáng và định hướng cho người tín hữu Chúa Ki Tô, trở thành lề luật cho cuộc sống Ki Tô hữu.

1 - Một cuộc gặp gỡ không có kết quả.
Mở đầu đoạn Phúc Âm chúng ta chứng kiến một quang cảnh đầy hứng khởi của một người "chạy theo" để gặp được Chúa Giêsu, nói lên người đó đang có điều gì đó thích thú muốn bày tỏ cho Người.
Ngoài ra quang cảnh nhộn nhịp cử động đó, Phúc Âm Thánh Matthêu còn thêm một chi tiếc khác, đó là người "chạy theo" Chúa Giêsu là một thanh niên trẻ:
- "Nghe lời đó, người thanh niên buồn rầu bỏ đi, vì anh có nhiều của cải" (Mt 19, 22).
Trong khi đó thì đương sự trong Phúc Âm Thánh Marco là một người lớn tuổi, bởi vì ông cho biết:
- "Thưa Thầy, tất cả những điều đó con đã tuân giữ từ thuở nhỏ" (Mc 10, 20).
Dù sao đi nữa, cử chỉ qùy gối xuống trước mặt Chúa Giêsu, cho thấy ông là người rất kính trọng đối với vị Thầy Nazareth và ông đang mong đợi những chỉ bảo qúy báu, đáng giá nơi Người, mà không ai có thể chỉ bảo cho ông được:
- "...có một người chạy đến, qùy xuống trước mặt Người và hỏi:..." (Mc 10, 17).
Và dĩ nhiên câu hỏi của ông được thốt lên một cách trang trọng: "Thưa Thầy tốt lành" (Mc 10, id.).
Câu hỏi đó lập tức được Chúa Giêsu lưu ý sửa dạy:
- "Không có ai tốt lành cả, trừ một mình Thiên Chúa" (Mc 10, 18).
Câu trả lời thoạt tiên làm cho có cảm tưởng là Chúa Giêsu từ chối tước hiệu mà ông ta tuyên xưng cho Người là " Thầy tốt lành". Nhưng suy nghĩ kỷ hơn, cách trả lời vừa kể không phải là để từ chối, mà là để định hướng cho đương sự, cũng như cho những ai đang nghe Người lúc đó, phải có một chú tâm chính đáng, giúp cho mọi người hiểu được đâu là "nguồn mạch tốt lành " mà tất cả đều phải quy hướng về để có thể nhận lãnh được:đó là Chúa Cha.
Đó cũng là những gì Giáo Hội dạy chúng ta trong Lời Nguyện Thánh Thể II (Sách Lễ Roma):
- "Lạy Cha chí thánh, nguồn mạch của mọi sự thánh thiện...".
Hiểu một cách cụ thể hơn, Chúa Giêsu quy hướng mọi chú ý của con người về Chúa Cha, Đấng đã bày tỏ lòng tốt lành của Người trong Mười Điều Răn:
- " Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp...".
Nêu lên ý nghĩa "tốt lành" của điều răn thứ năm, "chớ giết người" vừa kể của Giao Ước trên núi Sinai, Chúa Giêsu có ý nhắc lại cho đương sự đến với Người những điều Người giảng dạy liên hệ với truyền thống Thánh Kinh, để nói lên tính cách chính thống của điều Người nói.
Và như chúng ta biết điều thứ năm được đề cập, được ghi trong bia đá II của luật Moisen, chứa đựng những bổn phận đối với người thân cận, trong khi đó thì trên bia đá I được ghi lại những bổn phận đối với Thiên Chúa.
Điều vừa kể cho thấy chân lý Thiên Chúa là " Đấng tốt lành ", mà sự tốt lành của Người còn được tỏ hiện ra rõ rệt trong các giới răn đối với người thân cận:
- "Chúa Giêsu đáp: " Sao anh gọi tôi là tốt lành? Không có ai tốt lành cả, trừ một mình Thiên Chúa. Hẳn anh biết các điều răn: Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thờ kính cha mẹ" (Mc 10, 18- 19).
Câu trả lời của Chúa Giêsu chính đáng, nhưng không nói lên điều gì mới lạ, đối với người Do Thái như người " chạy đến và qùy xuống " trước Chúa Giêsu hôm đó.
Bởi đó anh thêm câu:
- "Thưa Thầy, tất cả những điều đó, con đã tuân giữ từ thuở nhỏ" (Mc 10, 20).
Điều đó cho thấy người đang qùy xuống trước mặt Chúa Giêsu hôm đó còn đang khẩn thiết chờ đợi một điều gì đó mới mẻ hơn, nhưng anh không thể hay chưa có khả năng định chuẩn được.

Điều có phẩm chất cao cả hơn được xảy ra trong cử chỉ và trong cảm tình trước khi được phát hiện ra bằng lời nói.
Đó là điều mà Thánh Marco ghi lại tặng cho chúng ta một chi tiếc tuyệt vời trong cái nhìn và tâm tình của Chúa Giêsu đối với người đang qùy đối thoại với Người:
- "Chúa Giêsu đưa mắt nhìn anh và đem lòng yêu mến" (Mc 10, 21).
Mãnh lực của cái nhìn và ý nghĩa động lực của tình yêu, mời gọi, thúc đẩy người đối thoại đón nhận điều mới mẻ mà anh cảm thấy còn mông lung, chưa xác định và giờ đây được nghe Chúa Giêsu nói rõ với anh:
- "Con chỉ còn thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì con có mà cho người nghèo, con sẽ được kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo Ta" (Mc 10, 21).

Tất cả ý nghĩa câu nói được đặt trên hai đầu cán cân:
- "Hãy đi bán..." và "Đến, theo Ta".
Đó là hai cặp mệnh đề ở thì mệnh lệnh tính, trái ngược được đặt bên cạnh nhau một cách bi thảm: động tác cử động xa lánh ở cặp động từ đầu và động tác đến gần ở cặp động từ thứ hai.
Đó là đặc tính tân kỳ của cách sống khó nghèo trong Phúc Âm và đi theo làm môn đệ Chúa Giêsu, điều kiện nầy là điều kiện cần thiết phải có, để có thể thực hiện được điều kia.
Nhà thần học S. Fausti đã phát biểu tư tưởng vừa kể bằng một câu nói thời danh:
- "Phương thức đích thực để tạo dựng kho tàng nơi Thiên Chúa là ban phát, bố thí cho người khác. Một người không có được kho tàng tương đương với số lượng mình tích trữ đuợc, cho bằng tương đương với số lượng mình ban phát cho người khác".
Như vậy, người môn đệ Chúa Giêsu phải bỏ đi, xa lánh khỏi một cái gì đó, để bắt đầu bước theo Chúa Ki Tô:
- "...hãy đi bán những gì con có, mà cho người nghèo...rồi hãy đến theo Ta".

Chúa Giêsu kêu gọi con người trở thành môn đệ Người, bằng cách cho thấy một lý tưởng tuyệt vời hấp dẫn, nhưng đồng thời cũng cho biết là một lý tưởng đòi hỏi nhiều khó khăn, hy sinh để thực hiện.
Đó là những gì nhà triết học Kierkegaard cũg đã nói lên:
- "Trở thành môn đệ Chúa Ki Tô hệ tại ở việc kết hợp mật thiết đồng thời vừa thảm trạng vừa an lành với Chúa Ki Tô, thay vì ở đó trong trạng thái chiêm ngắm bất động".
Ơn kêu gọi theo Chúa Giêsuđòi buộc phải có một mối liên hệ với con người của Người, bởi vì Chúa Giêsu không hứa hẹn điều gì khác hơn là con người của Người và đòi buộc cuộc đoạn giao với hiện tại. Ngoài ra mối thông hiệp nầy, còn lại chỉ là những tư tưởng và đồ án mạo hiểm, khô cằn, chết yểu và không có tương lai.
Chúa Ki Tô không đòi buộc chúng ta phải mất gốc hay đơn độc, trái lại đưa cho chúng ta dự án sống liên hệ và thông hiệp với Người. Mời gọi chúng ta hãy theo Người, Người định hướng cho chúng ta rằng chính Người là cùng đích của các giới răn, và là sự thực hiện hoàn hảo những gì các giới răn đòi buộc.
Câu trả lời hoàn hảo cho anh giàu có đến hỏi Người những gì còn trổi vượt hơn những gì anh đang có, đó là chính Người.
Chính Người là sự khác biệt, trổi vượt hơn những gì truyền thống lể luật đã giải đáp cho anh.

Anh giàu có sợ những gì không chắc chắn trong tương lai và bởi đó anh thích bám díu vào hiện tại đang có.
Nhưng rồi qua câu trả lời của Chúa Giêsu "hãy bán đi những gì con có , mà cho người nghèo" làm cho anh mất đi lòng phấn khởi muốn thăng tiến hơn lúc ban đầu, xuôi tay rơi vào buồn thảm thất vọng và bỏ ra đi.
Thánh Marco ghi lại tình trạng đáng thương đó của anh:
- "Nghe lời đó, anh sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh có nhiều của cải" (Mc 10, 22).
Thánh Marco ghi lại trạng thái tâm lý của đương sự như là một bậc thầy về tâm lý học, phát hiện trước tiên thái độ thấy được bên ngoài, "sa sầm nét mặt", kế đến là trạng thái buồn bực nội tâm, thất vọng, "và buồn rầu bỏ đi".
Con người của anh không biết cách làm sao tháo gỡ mình ra khỏi của cải đang làm cho anh trở thành nô lệ. Điều đó khiến cho anh thất vọng, bỏ ra đi.
Như vậy từ cuộc phấn khởi "chạy đến" để gặp được Chúa Giêsu đến cảnh tượng thảm đạm "bỏ ra đi" cho thấy bối cảnh đáng thương của những ai chỉ nhằm làm giàu đối với của cải trần thế, uy quyền thế lực trước người khác, chớ không phải trước Thiên Chúa.

admin
05-10-2009, 05:58 AM
2 - Vấn đề liên hệ đối với của cải.
Biến cố người giàu có đến tìm gặp Chúa Giêsu làm cho chúng ta một vài suy nghĩ đến của cải trần thế, có thể là mối nguy hiểm đại hoạ cho tất cả.
Lời cảnh cáo của Chúa Giêsu hôm đó:
- "Những người có của thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao!" (Mc 10, 23)
chắc chắn phải làm cho đoàn lủ dân chúng nghe Người phải lạnh mình và làm cho các môn đệ bấn loạn.
Nên nhớ rằng dân chúng cũng như các môn đệ là những người được sinh ra và lớn lên trong nền thần học Cựu Ước, cho rằng sự giàu có thế trần được coi như là dấu chứng được Thiên Chúa chúc lành ở trần gian (và cũng là bảo chứng cho phần rổi đời sau, theo tư tưởng của Calvin).
Không biết lời của các ngôn sứ và nền thần học Cựu Ước có khả năng đến đâu đánh động để sửa đổi quan niệm đại chúng vừa kể, và cũng là quan niệm được phái Sadducei thừa nhận và truyền bá.
Bởi đó trong dân chúng Do Thái lúc đó có hai lý tưởng sống,
- lý tưởng "'anawim" (các kẻ nghèo hèn của YHWH, Yahvé), hoàn toàn đặt tin tưởng vào Thiên Chúa,
- và cách hành xử thực tế của giới có tiền của cho rằng của cải vật chất là tài nguyên tích trử được Thiên Chúa chúc phúc.

Hiểu như vậy, chúng ta thấy được phận vụ của Chúa Giêsu không phải dễ để lật ngược quan niệm đại chúng thông thường và thuyết giảng một phương thức mới để sống như Chúa muốn.
Người cứ thẳng thắng giảng dạy như không để ý gì đến cơn khủng hoảng đánh động có thể tạo ra:
- "Các con ơi, vào Nước Thiên Chúa thật khó biết bao!" (Mc 10, 24).
Người nói, không che giấu gì cả. Và theo cách diễn tả Đông Phương, lời nói được giải thích rõ hơn bằng ví dụ, hình ảnh:
- "Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hon người giàu vào Nước Thiên Chúa" (Mc 10, 25).
Dĩ nhiên đó là cách so sánh quá đáng, để nói lên tầm quan trọng của sứ điệp mà ai cũng phải hiểu.
Một vài nhà chú giải Thánh Kinh đề nghị cách diễn giải khiến cho hình ảnh trên dễ chấp nhận hơn, theo đó thì
- danh từ "kámelos" (con lạc đà ) được đổi thành "kámilos" (dây đỏi cột ghe ), như vậy "dây đỏi cột ghe còn dễ xỏ qua lỗ kim hơn nguời giàu vào Nước Thiên Chúa", khiến cho hình ảnh được đề cập dễ chấp nhận hơn.
- cũng có một vài tác giả khác cho rằng trong các vách tuờng của thành Giêrusalem có một vài cổng nhỏ, được gọi là "lỗ kim", mà con lạc đà khó có thể qua lọt. Dù sao thì các "cổng nhỏ lỗ kim" đó chưa ai tìm được trong các cách thành Giêrusalem.
Điều giải thích có lý hơn là Chúa Giêsu cố ý dùng hình ảnh một cách quá đáng để nói lên điều không thể thực hiện được và như vậy khiến cho ai cũng phải nghe lời giảng dạy của Người, nếu muốn được cứu rổi.

Trước sự bất lực được diễn ta qua hình ảnh vừa kể, phương thế còn lại duy nhứt của con người để được vào Nước Thiên Chúa, đó là đặt tất cả hy vọng vào động tác can thiệp của Thiên Chúa.
Và đó chính là những gì Chúa Giêsu cho chúng ta biết trong câu nói cô đọng của Người:
- "Đối với loài người thì không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa thì không phải vậy, vì đối với Thiên Chúa thì mọi sự đều có thể được" (Mc 10, 27).
Câu nói đó được Chúa Giêsu lấy lại từ Cựu Ước, trong biến cố của Sara và Abraham, để nhắc nhớ lại quyền năng của Thiên Chúa:
- "Thiên Chúa phán với Abraham: "Tại sao Sara lại cười và nói: "Có thật tôi già thế nầy mà còn sinh đẻ được chăng?" Nào có điều gì kỳ diệu vượt sức Thiên Chúa không?" (Gen 18, 13-14).
Hiểu như vậy, theo tư tưởng Chúa Giêsu, con người chỉ cần hướng về Thiên Chúa, xin Người giải cứu mình khỏi những khó khăn, mà sức con người mình trở thành bất lực, vô vọng.

Suy niệm đến đây, có lẽ chúng ta cần thêm một tư tưởng khác không chính đáng thường gặp. Đó là thái độ tiêu cực, khinh thường đến nỗi cần phải chối bỏ và xa lánh của cải trần thế, "thoát tục, như một vài nguồn tư tưởng chủ trương", xem thế giới và đời sống hằng ngày như là những vật vô giá trị và ghê tởm, chóng qua, đáng khinh bỉ.
Thái độ bi quan cực đoan đó không phải là tư tưởng nằm trong niềm tin Ki Tô giáo.
a) Thế giới mà Thiên Chúa dựng nên cho con người là công trình sáng tạo của Người và Thiên Chúa là Cha, người sáng tạo thế giới vũ trụ "là điều tốt đẹp", cho chúng ta con cái Người, như là người cha lo lắng nhà cửa khang trang cho con mình sắp sinh ra, để cho con cái có được nơi ăn chốn ở tốt lành, có nơi sống xứng đáng và mạnh khoẻ lớn lên, phát triển thể xác lẩn trí tuệ.
Bởi đó đọc lại sách Sáng Thế Ký, những điều Thiên Chúa dựng nên cho chúng ta trong năm ngày, trước khi dựng nên con người, đều là "những điều tốt đẹp" , mà Thiên Chúa hài lòng mỗi khi nhìn lại công trình tạo dựng cho con cái mình:
- "Thiên Chúa thấy đó là điều tốt đẹp" (Gen 1, 3.10.18.21.25).
Và sau khi dựng nên vũ trụ, trời đất, ánh sáng, không khí, nước uống, hoa cỏ, cầm thú ..."là điều tốt đẹp" đó, Thiên Chúa dựng nên con người giống hình ảnh Người, lấy hơi sống của mình "thổi vào lỗ mũi, và con người trở nên vật sống động" (Gen 2, 7).
Và Thiên Chúa hài lòng, ngắm nhìn con người, tuyệt tác của Người với cử chỉ hài lòng
- "thấy đó là điều rất tốt đẹp" (Gen 1, 31).
Hiểu như vậy, chúng ta thấy được của cải trần thế và cả con người của chúng ta không phải là những gì vô giá trị, cần vất đi, lánh xa, ghê tởm, và ai cũng có thể đàn áp, đánh đập, đối đải như súc vật, mà là những gì Thiên Chúa với lòng yêu thương đã dựng nên "là điều tốt đẹp" cho chúng ta , và "là điều rất tốt đẹp", vì chúng ta được dựng nên " giống hình ảnh Thiên Chúa..., giống như Thiên Chúa " (Gen 1, 26-27).

b) Còn nữa, những điều Người dựng nên không những " là điều tốt đẹp ", mà Người còn đặt con người, có thân xác, có trí khôn ngoan và lòng tự do, có sức sống đặc biệt, mà chỉ có con người mới có trí khôn ngoan và lòng tự do khi Người "thổi hơi sống vào mũi con người" (Gen 2, 6).
Con người đó của chúng ta được Thiên Chúa vào vườn địa đàng, để cộng tác với Người " trồng trọt và trông coi ":
- "Chúa là Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn địa đàng, để trồng trọt và canh giữa đất đai" (Gen 2, 15).
Như vậy, một lần nữa, chúng ta thấy được, con người chúng ta và của cải vật chất trần thế là "là điều tốt đẹp", có giá trị, bởi lẽ nếu không, chúng ta không thể hiểu được tại sao Thiên Chúa lại đặt chúng ta vào nơi để "trồng trọt và trông coi" sản xuất thêm những đồ vật vô giá trị, ghê tởm, xấu xa, cần lánh khỏi, "thoát tục".

c) Một lý chứng khác nữa cho thấy của cải vật chất có giá trị hàm chứa trong câu nói với người giàu có đến gặp Chúa Giêsu trong Phúc Âm hôm nay. Nếu của cải giàu có của anh ta chỉ là những đồ vật ghê tởm, đê hèn, vô giá trị, thì có lẽ Chúa Giêsu sẽ nói với anh "vất bỏ đi", chớ không "bán đi":
- "...hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo...rồi hãy đến theo Ta" (Mc 10, 21).
Bởi lẽ nếu là những đồ kinh tởm, vô giá trị, bán cho ai được?

Như vậy Thiên Chúa đã dựng nên cho chúng ta của cải trần gian "là điều tốt đẹp", cho chúng ta có thân xác và trí khôn ngoan "giống hình ảnh Người , giống như Người", cũng như ước vọng sức sống bất diệt, khi Người "thổi sức sống của Người" vào mũi chúng ta, là để cho chúng ta có bắp thịt, trí khôn ngoan cộng tác với Người "trồng trọt và trông coi", xây dựng trần thế tốt đẹp cho chúng ta và cho anh em chúng ta có được một cuộc sống xứng đáng với phẩm giá con người ở trần gian và hiểu biết nguồn hạnh phúc viên mãn và bất diệt mà chúng ta phải cùng anh em chúng ta nhằm đến là chính Thiên Chúa, là Đấng đã "thổi sức sống của Người vào mũi chúng ta".
Thiên Chúa mới là nguồn hạnh phúc viên mãn và bất diệt, đáp lại lòng ước muốn hạnh phúc vô tận của con người.
Bởi đó, thái độ chỉ biết bám víu vào sự giàu có, quyền lực, của cải trần thế là thái độ mù quáng, biến mình thành nô lệ vào của cải, mặc dầu "là điều tốt đẹp", nhưng rồi sẽ qua đi, nhứt là chỉ lo thu tóm, gom góp, bịt mắt trước các nhu cầu, thiếu thốn, bất hạnh của anh em. Đó không phải là cách sống xứng đáng của người môn đệ Chúa Ki Tô.
- "hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo...rồi hãy đến theo Ta".
Người tín hữu Chúa Ki Tô là người tiếp tục chương trình cải tiến và canh tân thế giới mà Chúa Giêsu đến và đã khởi sự qua công cuộc cứu độ con người và hoàn hảo hoá thế giới của Người và mỗi người chúng ta có bổn phận tiếp tục "trồng trọt và trông coi", kiến tạo nên thế giới tốt đẹp cho chính mình và cho anh em mình.

3 - Theo Chúa và được tưởng thưởng.
Nếu anh giàu có đến với Chúa Giêsu đã bị thất bại, thì người môn đệ Người là những người bỏ lại tất cả, theo ý nghĩa vừa kể, để mình được tự do, anh em mình được nâng đở và theo tiếng gọi mà Chúa "thổi sự sống vào lỗ mũi mình".
Nhưng hành xử như vậy, dĩ nhiên câu hỏi sẽ được đặt ra hàm chứa trong lời phát biểu của Phêrô:
- "Thưa Thầy, phần chúng con, chúng con đã bỏ hết mọi sự mà theo Thầy" (Mc 10, 28),
vậy thì chúng con sẽ nhận được phần thưởng nào?
Đoán trước được câu hỏi hàm chứa trong lời phát biểu đó của Phêrô, Chúa Giêsu nối tiếp như là câu trả lời:
- "Thầy nói thật với anh em: Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà ngay bây giờ, ở đời nầy, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất gấp trăm, cùng với sự ngược đãi, và sự sống vĩnh cửu đời sau" (Mc 10, 29-30).
Như vậy phần thưởng mà người môn đệ Chúa Giêsu nhận được khi đi theo Người, sau khi từ bỏ mọi sự là phần thưởng vĩnh cửu đời sau và phần thưởng lập tức tạm thời.
Phần thưởng thứ nhứt là "cuộc sống đời đời" , mà anh giàu có muốn được, nhưng vì bám víu nô lệ vào của cải anh lại khước từ "bỏ đi": bởi lẽ
- "Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào Nước Thiên Chúa " (Mc 10, 25).
Phần thưởng tạm thời có ngay, qua sự kiện người môn đệ Chúa Giêsu từ bỏ gia đình và của cải, sẽ gặp được một gia đình mới và một ngôi nhà mới trong cộng đồng Ki Tô giáo.
Tư tưởng đó đã được Chúa Giêsu cho biết trong Phúc Âm Thánh Marco trước đó, khi Người vượt lên trên mối liên hệ gia đình huyết tộc và quan niệm pháp luật, để có được gia đình mới trong đức tin:
- " Nhưng Người đáp lại: "Ai là mẹ Ta? Ai là anh em Ta?" Rồi Người rảo mắt nhìn những kẻ ngồi xung quanh và nói: "Đây là mẹ Ta, đây là anh em Ta. Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh em, chị em Ta, là mẹ Ta" (Mc 3, 33-34).

Qua bài học đoạn Phúc Âm dạy cho chúng ta hôm nay, chúng ta được thúc đẩy can đảm dồn mọi nỗ lực để giúp chúng ta và anh em chúng ta tăng trưởng thêm mức giàu có không bị mối mọt, lạm phát rút tỉa soi mòn.
Đó là mức giàu có chúng ta có thể làm cho tăng trưởng mỗi ngày trong thế giới đầy sức sống mà Thiên Chúa cho chúng ta được nếm trước và Người đang chờ đợi chúng ta, khi Người "thổi sinh khí vào lỗ mũi và con người trở nên sinh vật sống động" (Gen 2, 7).

NGUYỄN HỌC TẬP