admin
05-10-2009, 05:57 AM
LẠY THẦY NHÂN LÀNH, CON PHẢI LÀM GÌ ĐỂ ĐƯỢC SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI LÀM GIA NGHIỆP?
SUY NIỆM PHÚC ÂM (III B 52) ; (11.10.2009); (Mc 10, 17-30)
CHÚA NHẬT XXVIII PHỤNG VỤ THƯỜNG NIÊN, NĂM B
Với lời tuyên xưng đức tin của Phêrô (Mc 8, 27-30), Phúc Âm Thánh Marco được chia thành hai phần: nếu trước kia Chúa Giêsu chuyên lo rao giảng Tin Mừng cho tất cả, thì sau lời tuyên xưng đức tin vừa kể của Phêrô, mặc dầu không khước từ tiếp tục rao giảng cho dân chúng, nhưng chú tâm của Người cô đọng hơn vào việc huấn dạy Nhóm Mười Hai, trong nhãn quang chuẩn bị cho các vị đối phó với các biến cố khổ nạn, tử nạn và phục sinh sắp tới.
Bởi đó trong đoạn Phúc Âm hôm nay, chúng ta gặp được các yếu tố khác biệt pha lẫn cũng như cách hành văn không đồng nhứt, bởi lẽ đoạn Phúc Âm thuật lại lời kêu gọi, lời cảnh cáo, câu trả lời mặc nhiên cho câu hỏi của Phêrô.
Dù sao đi nữa, tư tưởng hướng dẫn toàn phần của đoạn Phúc Âm là tư tưởng nói lên sự sung mãn, giàu có, liên kết các phần của đoạn Phúc Âm lại với nhau.
a) Chúa Giêsu gặp một người giàu có và Người gọi ông ta hãy theo Người (Mc 10, 17-22): đoạn Phúc Âm được làm cho sống động bằng cách diễn tả động tác " chạy theo, qùy xuống và hỏi " (Mc 10, 17), đối nghịch lại thái độ thất thểu, buồn thảm "sa sầm nét mặt, buồn rầu, bỏ ra đi" (Mc 10, 22) ở phần cuối.
b) Cuộc đàm thoại của Chúa Giêsu với các môn đệ về tiền tài của cải, như là chướng ngại vật để được vào Nước Thiên Chúa và chướng ngại vật đó được quyền năng của Thiên Chúa vượt thắng (Mc 10, 23-27).
c) Phần thưởng trả công cho những ai theo Chúa Giêsu được Phêrô đặt ra và câu trả lời của Chúa Giêsu về phần thưởng hiện tại và tương lai (Mc 10, 28-31).
Câu trả lời của Chúa Giêsu có giá trị không những cho Nhóm Mười Hai lúc đó, mà cho tất cả những ai là môn đệ Chúa Ki Tô. Đó là câu giải đáp đem lại ánh sáng và định hướng cho người tín hữu Chúa Ki Tô, trở thành lề luật cho cuộc sống Ki Tô hữu.
1 - Một cuộc gặp gỡ không có kết quả.
Mở đầu đoạn Phúc Âm chúng ta chứng kiến một quang cảnh đầy hứng khởi của một người "chạy theo" để gặp được Chúa Giêsu, nói lên người đó đang có điều gì đó thích thú muốn bày tỏ cho Người.
Ngoài ra quang cảnh nhộn nhịp cử động đó, Phúc Âm Thánh Matthêu còn thêm một chi tiếc khác, đó là người "chạy theo" Chúa Giêsu là một thanh niên trẻ:
- "Nghe lời đó, người thanh niên buồn rầu bỏ đi, vì anh có nhiều của cải" (Mt 19, 22).
Trong khi đó thì đương sự trong Phúc Âm Thánh Marco là một người lớn tuổi, bởi vì ông cho biết:
- "Thưa Thầy, tất cả những điều đó con đã tuân giữ từ thuở nhỏ" (Mc 10, 20).
Dù sao đi nữa, cử chỉ qùy gối xuống trước mặt Chúa Giêsu, cho thấy ông là người rất kính trọng đối với vị Thầy Nazareth và ông đang mong đợi những chỉ bảo qúy báu, đáng giá nơi Người, mà không ai có thể chỉ bảo cho ông được:
- "...có một người chạy đến, qùy xuống trước mặt Người và hỏi:..." (Mc 10, 17).
Và dĩ nhiên câu hỏi của ông được thốt lên một cách trang trọng: "Thưa Thầy tốt lành" (Mc 10, id.).
Câu hỏi đó lập tức được Chúa Giêsu lưu ý sửa dạy:
- "Không có ai tốt lành cả, trừ một mình Thiên Chúa" (Mc 10, 18).
Câu trả lời thoạt tiên làm cho có cảm tưởng là Chúa Giêsu từ chối tước hiệu mà ông ta tuyên xưng cho Người là " Thầy tốt lành". Nhưng suy nghĩ kỷ hơn, cách trả lời vừa kể không phải là để từ chối, mà là để định hướng cho đương sự, cũng như cho những ai đang nghe Người lúc đó, phải có một chú tâm chính đáng, giúp cho mọi người hiểu được đâu là "nguồn mạch tốt lành " mà tất cả đều phải quy hướng về để có thể nhận lãnh được:đó là Chúa Cha.
Đó cũng là những gì Giáo Hội dạy chúng ta trong Lời Nguyện Thánh Thể II (Sách Lễ Roma):
- "Lạy Cha chí thánh, nguồn mạch của mọi sự thánh thiện...".
Hiểu một cách cụ thể hơn, Chúa Giêsu quy hướng mọi chú ý của con người về Chúa Cha, Đấng đã bày tỏ lòng tốt lành của Người trong Mười Điều Răn:
- " Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp...".
Nêu lên ý nghĩa "tốt lành" của điều răn thứ năm, "chớ giết người" vừa kể của Giao Ước trên núi Sinai, Chúa Giêsu có ý nhắc lại cho đương sự đến với Người những điều Người giảng dạy liên hệ với truyền thống Thánh Kinh, để nói lên tính cách chính thống của điều Người nói.
Và như chúng ta biết điều thứ năm được đề cập, được ghi trong bia đá II của luật Moisen, chứa đựng những bổn phận đối với người thân cận, trong khi đó thì trên bia đá I được ghi lại những bổn phận đối với Thiên Chúa.
Điều vừa kể cho thấy chân lý Thiên Chúa là " Đấng tốt lành ", mà sự tốt lành của Người còn được tỏ hiện ra rõ rệt trong các giới răn đối với người thân cận:
- "Chúa Giêsu đáp: " Sao anh gọi tôi là tốt lành? Không có ai tốt lành cả, trừ một mình Thiên Chúa. Hẳn anh biết các điều răn: Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thờ kính cha mẹ" (Mc 10, 18- 19).
Câu trả lời của Chúa Giêsu chính đáng, nhưng không nói lên điều gì mới lạ, đối với người Do Thái như người " chạy đến và qùy xuống " trước Chúa Giêsu hôm đó.
Bởi đó anh thêm câu:
- "Thưa Thầy, tất cả những điều đó, con đã tuân giữ từ thuở nhỏ" (Mc 10, 20).
Điều đó cho thấy người đang qùy xuống trước mặt Chúa Giêsu hôm đó còn đang khẩn thiết chờ đợi một điều gì đó mới mẻ hơn, nhưng anh không thể hay chưa có khả năng định chuẩn được.
Điều có phẩm chất cao cả hơn được xảy ra trong cử chỉ và trong cảm tình trước khi được phát hiện ra bằng lời nói.
Đó là điều mà Thánh Marco ghi lại tặng cho chúng ta một chi tiếc tuyệt vời trong cái nhìn và tâm tình của Chúa Giêsu đối với người đang qùy đối thoại với Người:
- "Chúa Giêsu đưa mắt nhìn anh và đem lòng yêu mến" (Mc 10, 21).
Mãnh lực của cái nhìn và ý nghĩa động lực của tình yêu, mời gọi, thúc đẩy người đối thoại đón nhận điều mới mẻ mà anh cảm thấy còn mông lung, chưa xác định và giờ đây được nghe Chúa Giêsu nói rõ với anh:
- "Con chỉ còn thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì con có mà cho người nghèo, con sẽ được kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo Ta" (Mc 10, 21).
Tất cả ý nghĩa câu nói được đặt trên hai đầu cán cân:
- "Hãy đi bán..." và "Đến, theo Ta".
Đó là hai cặp mệnh đề ở thì mệnh lệnh tính, trái ngược được đặt bên cạnh nhau một cách bi thảm: động tác cử động xa lánh ở cặp động từ đầu và động tác đến gần ở cặp động từ thứ hai.
Đó là đặc tính tân kỳ của cách sống khó nghèo trong Phúc Âm và đi theo làm môn đệ Chúa Giêsu, điều kiện nầy là điều kiện cần thiết phải có, để có thể thực hiện được điều kia.
Nhà thần học S. Fausti đã phát biểu tư tưởng vừa kể bằng một câu nói thời danh:
- "Phương thức đích thực để tạo dựng kho tàng nơi Thiên Chúa là ban phát, bố thí cho người khác. Một người không có được kho tàng tương đương với số lượng mình tích trữ đuợc, cho bằng tương đương với số lượng mình ban phát cho người khác".
Như vậy, người môn đệ Chúa Giêsu phải bỏ đi, xa lánh khỏi một cái gì đó, để bắt đầu bước theo Chúa Ki Tô:
- "...hãy đi bán những gì con có, mà cho người nghèo...rồi hãy đến theo Ta".
Chúa Giêsu kêu gọi con người trở thành môn đệ Người, bằng cách cho thấy một lý tưởng tuyệt vời hấp dẫn, nhưng đồng thời cũng cho biết là một lý tưởng đòi hỏi nhiều khó khăn, hy sinh để thực hiện.
Đó là những gì nhà triết học Kierkegaard cũg đã nói lên:
- "Trở thành môn đệ Chúa Ki Tô hệ tại ở việc kết hợp mật thiết đồng thời vừa thảm trạng vừa an lành với Chúa Ki Tô, thay vì ở đó trong trạng thái chiêm ngắm bất động".
Ơn kêu gọi theo Chúa Giêsuđòi buộc phải có một mối liên hệ với con người của Người, bởi vì Chúa Giêsu không hứa hẹn điều gì khác hơn là con người của Người và đòi buộc cuộc đoạn giao với hiện tại. Ngoài ra mối thông hiệp nầy, còn lại chỉ là những tư tưởng và đồ án mạo hiểm, khô cằn, chết yểu và không có tương lai.
Chúa Ki Tô không đòi buộc chúng ta phải mất gốc hay đơn độc, trái lại đưa cho chúng ta dự án sống liên hệ và thông hiệp với Người. Mời gọi chúng ta hãy theo Người, Người định hướng cho chúng ta rằng chính Người là cùng đích của các giới răn, và là sự thực hiện hoàn hảo những gì các giới răn đòi buộc.
Câu trả lời hoàn hảo cho anh giàu có đến hỏi Người những gì còn trổi vượt hơn những gì anh đang có, đó là chính Người.
Chính Người là sự khác biệt, trổi vượt hơn những gì truyền thống lể luật đã giải đáp cho anh.
Anh giàu có sợ những gì không chắc chắn trong tương lai và bởi đó anh thích bám díu vào hiện tại đang có.
Nhưng rồi qua câu trả lời của Chúa Giêsu "hãy bán đi những gì con có , mà cho người nghèo" làm cho anh mất đi lòng phấn khởi muốn thăng tiến hơn lúc ban đầu, xuôi tay rơi vào buồn thảm thất vọng và bỏ ra đi.
Thánh Marco ghi lại tình trạng đáng thương đó của anh:
- "Nghe lời đó, anh sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh có nhiều của cải" (Mc 10, 22).
Thánh Marco ghi lại trạng thái tâm lý của đương sự như là một bậc thầy về tâm lý học, phát hiện trước tiên thái độ thấy được bên ngoài, "sa sầm nét mặt", kế đến là trạng thái buồn bực nội tâm, thất vọng, "và buồn rầu bỏ đi".
Con người của anh không biết cách làm sao tháo gỡ mình ra khỏi của cải đang làm cho anh trở thành nô lệ. Điều đó khiến cho anh thất vọng, bỏ ra đi.
Như vậy từ cuộc phấn khởi "chạy đến" để gặp được Chúa Giêsu đến cảnh tượng thảm đạm "bỏ ra đi" cho thấy bối cảnh đáng thương của những ai chỉ nhằm làm giàu đối với của cải trần thế, uy quyền thế lực trước người khác, chớ không phải trước Thiên Chúa.
SUY NIỆM PHÚC ÂM (III B 52) ; (11.10.2009); (Mc 10, 17-30)
CHÚA NHẬT XXVIII PHỤNG VỤ THƯỜNG NIÊN, NĂM B
Với lời tuyên xưng đức tin của Phêrô (Mc 8, 27-30), Phúc Âm Thánh Marco được chia thành hai phần: nếu trước kia Chúa Giêsu chuyên lo rao giảng Tin Mừng cho tất cả, thì sau lời tuyên xưng đức tin vừa kể của Phêrô, mặc dầu không khước từ tiếp tục rao giảng cho dân chúng, nhưng chú tâm của Người cô đọng hơn vào việc huấn dạy Nhóm Mười Hai, trong nhãn quang chuẩn bị cho các vị đối phó với các biến cố khổ nạn, tử nạn và phục sinh sắp tới.
Bởi đó trong đoạn Phúc Âm hôm nay, chúng ta gặp được các yếu tố khác biệt pha lẫn cũng như cách hành văn không đồng nhứt, bởi lẽ đoạn Phúc Âm thuật lại lời kêu gọi, lời cảnh cáo, câu trả lời mặc nhiên cho câu hỏi của Phêrô.
Dù sao đi nữa, tư tưởng hướng dẫn toàn phần của đoạn Phúc Âm là tư tưởng nói lên sự sung mãn, giàu có, liên kết các phần của đoạn Phúc Âm lại với nhau.
a) Chúa Giêsu gặp một người giàu có và Người gọi ông ta hãy theo Người (Mc 10, 17-22): đoạn Phúc Âm được làm cho sống động bằng cách diễn tả động tác " chạy theo, qùy xuống và hỏi " (Mc 10, 17), đối nghịch lại thái độ thất thểu, buồn thảm "sa sầm nét mặt, buồn rầu, bỏ ra đi" (Mc 10, 22) ở phần cuối.
b) Cuộc đàm thoại của Chúa Giêsu với các môn đệ về tiền tài của cải, như là chướng ngại vật để được vào Nước Thiên Chúa và chướng ngại vật đó được quyền năng của Thiên Chúa vượt thắng (Mc 10, 23-27).
c) Phần thưởng trả công cho những ai theo Chúa Giêsu được Phêrô đặt ra và câu trả lời của Chúa Giêsu về phần thưởng hiện tại và tương lai (Mc 10, 28-31).
Câu trả lời của Chúa Giêsu có giá trị không những cho Nhóm Mười Hai lúc đó, mà cho tất cả những ai là môn đệ Chúa Ki Tô. Đó là câu giải đáp đem lại ánh sáng và định hướng cho người tín hữu Chúa Ki Tô, trở thành lề luật cho cuộc sống Ki Tô hữu.
1 - Một cuộc gặp gỡ không có kết quả.
Mở đầu đoạn Phúc Âm chúng ta chứng kiến một quang cảnh đầy hứng khởi của một người "chạy theo" để gặp được Chúa Giêsu, nói lên người đó đang có điều gì đó thích thú muốn bày tỏ cho Người.
Ngoài ra quang cảnh nhộn nhịp cử động đó, Phúc Âm Thánh Matthêu còn thêm một chi tiếc khác, đó là người "chạy theo" Chúa Giêsu là một thanh niên trẻ:
- "Nghe lời đó, người thanh niên buồn rầu bỏ đi, vì anh có nhiều của cải" (Mt 19, 22).
Trong khi đó thì đương sự trong Phúc Âm Thánh Marco là một người lớn tuổi, bởi vì ông cho biết:
- "Thưa Thầy, tất cả những điều đó con đã tuân giữ từ thuở nhỏ" (Mc 10, 20).
Dù sao đi nữa, cử chỉ qùy gối xuống trước mặt Chúa Giêsu, cho thấy ông là người rất kính trọng đối với vị Thầy Nazareth và ông đang mong đợi những chỉ bảo qúy báu, đáng giá nơi Người, mà không ai có thể chỉ bảo cho ông được:
- "...có một người chạy đến, qùy xuống trước mặt Người và hỏi:..." (Mc 10, 17).
Và dĩ nhiên câu hỏi của ông được thốt lên một cách trang trọng: "Thưa Thầy tốt lành" (Mc 10, id.).
Câu hỏi đó lập tức được Chúa Giêsu lưu ý sửa dạy:
- "Không có ai tốt lành cả, trừ một mình Thiên Chúa" (Mc 10, 18).
Câu trả lời thoạt tiên làm cho có cảm tưởng là Chúa Giêsu từ chối tước hiệu mà ông ta tuyên xưng cho Người là " Thầy tốt lành". Nhưng suy nghĩ kỷ hơn, cách trả lời vừa kể không phải là để từ chối, mà là để định hướng cho đương sự, cũng như cho những ai đang nghe Người lúc đó, phải có một chú tâm chính đáng, giúp cho mọi người hiểu được đâu là "nguồn mạch tốt lành " mà tất cả đều phải quy hướng về để có thể nhận lãnh được:đó là Chúa Cha.
Đó cũng là những gì Giáo Hội dạy chúng ta trong Lời Nguyện Thánh Thể II (Sách Lễ Roma):
- "Lạy Cha chí thánh, nguồn mạch của mọi sự thánh thiện...".
Hiểu một cách cụ thể hơn, Chúa Giêsu quy hướng mọi chú ý của con người về Chúa Cha, Đấng đã bày tỏ lòng tốt lành của Người trong Mười Điều Răn:
- " Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp...".
Nêu lên ý nghĩa "tốt lành" của điều răn thứ năm, "chớ giết người" vừa kể của Giao Ước trên núi Sinai, Chúa Giêsu có ý nhắc lại cho đương sự đến với Người những điều Người giảng dạy liên hệ với truyền thống Thánh Kinh, để nói lên tính cách chính thống của điều Người nói.
Và như chúng ta biết điều thứ năm được đề cập, được ghi trong bia đá II của luật Moisen, chứa đựng những bổn phận đối với người thân cận, trong khi đó thì trên bia đá I được ghi lại những bổn phận đối với Thiên Chúa.
Điều vừa kể cho thấy chân lý Thiên Chúa là " Đấng tốt lành ", mà sự tốt lành của Người còn được tỏ hiện ra rõ rệt trong các giới răn đối với người thân cận:
- "Chúa Giêsu đáp: " Sao anh gọi tôi là tốt lành? Không có ai tốt lành cả, trừ một mình Thiên Chúa. Hẳn anh biết các điều răn: Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thờ kính cha mẹ" (Mc 10, 18- 19).
Câu trả lời của Chúa Giêsu chính đáng, nhưng không nói lên điều gì mới lạ, đối với người Do Thái như người " chạy đến và qùy xuống " trước Chúa Giêsu hôm đó.
Bởi đó anh thêm câu:
- "Thưa Thầy, tất cả những điều đó, con đã tuân giữ từ thuở nhỏ" (Mc 10, 20).
Điều đó cho thấy người đang qùy xuống trước mặt Chúa Giêsu hôm đó còn đang khẩn thiết chờ đợi một điều gì đó mới mẻ hơn, nhưng anh không thể hay chưa có khả năng định chuẩn được.
Điều có phẩm chất cao cả hơn được xảy ra trong cử chỉ và trong cảm tình trước khi được phát hiện ra bằng lời nói.
Đó là điều mà Thánh Marco ghi lại tặng cho chúng ta một chi tiếc tuyệt vời trong cái nhìn và tâm tình của Chúa Giêsu đối với người đang qùy đối thoại với Người:
- "Chúa Giêsu đưa mắt nhìn anh và đem lòng yêu mến" (Mc 10, 21).
Mãnh lực của cái nhìn và ý nghĩa động lực của tình yêu, mời gọi, thúc đẩy người đối thoại đón nhận điều mới mẻ mà anh cảm thấy còn mông lung, chưa xác định và giờ đây được nghe Chúa Giêsu nói rõ với anh:
- "Con chỉ còn thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì con có mà cho người nghèo, con sẽ được kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo Ta" (Mc 10, 21).
Tất cả ý nghĩa câu nói được đặt trên hai đầu cán cân:
- "Hãy đi bán..." và "Đến, theo Ta".
Đó là hai cặp mệnh đề ở thì mệnh lệnh tính, trái ngược được đặt bên cạnh nhau một cách bi thảm: động tác cử động xa lánh ở cặp động từ đầu và động tác đến gần ở cặp động từ thứ hai.
Đó là đặc tính tân kỳ của cách sống khó nghèo trong Phúc Âm và đi theo làm môn đệ Chúa Giêsu, điều kiện nầy là điều kiện cần thiết phải có, để có thể thực hiện được điều kia.
Nhà thần học S. Fausti đã phát biểu tư tưởng vừa kể bằng một câu nói thời danh:
- "Phương thức đích thực để tạo dựng kho tàng nơi Thiên Chúa là ban phát, bố thí cho người khác. Một người không có được kho tàng tương đương với số lượng mình tích trữ đuợc, cho bằng tương đương với số lượng mình ban phát cho người khác".
Như vậy, người môn đệ Chúa Giêsu phải bỏ đi, xa lánh khỏi một cái gì đó, để bắt đầu bước theo Chúa Ki Tô:
- "...hãy đi bán những gì con có, mà cho người nghèo...rồi hãy đến theo Ta".
Chúa Giêsu kêu gọi con người trở thành môn đệ Người, bằng cách cho thấy một lý tưởng tuyệt vời hấp dẫn, nhưng đồng thời cũng cho biết là một lý tưởng đòi hỏi nhiều khó khăn, hy sinh để thực hiện.
Đó là những gì nhà triết học Kierkegaard cũg đã nói lên:
- "Trở thành môn đệ Chúa Ki Tô hệ tại ở việc kết hợp mật thiết đồng thời vừa thảm trạng vừa an lành với Chúa Ki Tô, thay vì ở đó trong trạng thái chiêm ngắm bất động".
Ơn kêu gọi theo Chúa Giêsuđòi buộc phải có một mối liên hệ với con người của Người, bởi vì Chúa Giêsu không hứa hẹn điều gì khác hơn là con người của Người và đòi buộc cuộc đoạn giao với hiện tại. Ngoài ra mối thông hiệp nầy, còn lại chỉ là những tư tưởng và đồ án mạo hiểm, khô cằn, chết yểu và không có tương lai.
Chúa Ki Tô không đòi buộc chúng ta phải mất gốc hay đơn độc, trái lại đưa cho chúng ta dự án sống liên hệ và thông hiệp với Người. Mời gọi chúng ta hãy theo Người, Người định hướng cho chúng ta rằng chính Người là cùng đích của các giới răn, và là sự thực hiện hoàn hảo những gì các giới răn đòi buộc.
Câu trả lời hoàn hảo cho anh giàu có đến hỏi Người những gì còn trổi vượt hơn những gì anh đang có, đó là chính Người.
Chính Người là sự khác biệt, trổi vượt hơn những gì truyền thống lể luật đã giải đáp cho anh.
Anh giàu có sợ những gì không chắc chắn trong tương lai và bởi đó anh thích bám díu vào hiện tại đang có.
Nhưng rồi qua câu trả lời của Chúa Giêsu "hãy bán đi những gì con có , mà cho người nghèo" làm cho anh mất đi lòng phấn khởi muốn thăng tiến hơn lúc ban đầu, xuôi tay rơi vào buồn thảm thất vọng và bỏ ra đi.
Thánh Marco ghi lại tình trạng đáng thương đó của anh:
- "Nghe lời đó, anh sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh có nhiều của cải" (Mc 10, 22).
Thánh Marco ghi lại trạng thái tâm lý của đương sự như là một bậc thầy về tâm lý học, phát hiện trước tiên thái độ thấy được bên ngoài, "sa sầm nét mặt", kế đến là trạng thái buồn bực nội tâm, thất vọng, "và buồn rầu bỏ đi".
Con người của anh không biết cách làm sao tháo gỡ mình ra khỏi của cải đang làm cho anh trở thành nô lệ. Điều đó khiến cho anh thất vọng, bỏ ra đi.
Như vậy từ cuộc phấn khởi "chạy đến" để gặp được Chúa Giêsu đến cảnh tượng thảm đạm "bỏ ra đi" cho thấy bối cảnh đáng thương của những ai chỉ nhằm làm giàu đối với của cải trần thế, uy quyền thế lực trước người khác, chớ không phải trước Thiên Chúa.