PDA

View Full Version : Bản văn Luca 4,21-30 thiếu mạch lạc?


admin
17-09-2006, 12:25 PM
Một vấn đề cũ :

Bản văn Luca 4,21-30 thiếu mạch lạc?


Trong bản văn Tin Mừng Luca trình bày chuyến Đức Giêsu trở về quê Nadarét có một vấn đề. Vấn đề đó như sau:


http://www.ofmvn.org/chiase/2006/Cs-09-06_files/image048.jpg


Hôm ấy là ngày sabát, Đức Giêsu đã vào hội đường Nadarét để nghe, để đọc Sách Thánh và chia sẻ Lời Chúa. Dân chúng nghe Người nói thì đều tán thành về lời giảng dạy của Người và thán phục Người. Rồi họ đã nói: “Ông này không phải là con ông Giuse đó sao? (c. 22). Câu này có thể diễn tả sự khó chịu, bực bội, khinh bỉ hoặc mộtsự ngạc nhiên đầy thích thú, sự thán phục; nhưng theo ngữ cảnh, nên hiểu là sự thán phục. Thế là Đức Giêsu tuyên bố: “Hẳn là các ông muốn nói với tôi câu tục ngữ: Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình!”(c. 23). Người dùng câu tục ngữ này để tiết lộ nguyện vọng thầm kín của người dân Nadarét: Vì họ đã nghe biết nhiều về hoạt động của Đức Giêsu tại Caphácnaum, họ ước muốn Người cũng làm như thế cho quê hương. Dân Nadarét đang tính toán vụ lợi. “Một người làm quan, cả họ được nhờ” mà! Chúng ta không nghe ra giọng điệu ghen tị loại trừ của dân làng Nadarét đối với người Caphácnaum, mà nhận ra một chứng lý ad hominem (“đối thủ luận” - cha Trần Văn Hiến Minh): Dân Caphácnaum không là đồng hương của ông, mà ông còn chiếu cố đến, thì chúng tôi đây, là thân thuộc của ông, ít ra cũng phải được ông quan tâm đến như thế chứ!

Và đến đây chúng ta gặp câu gây vấn đề: Đức Giêsu nói tiếp: “Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương” (Lc 4,24). Đây là Bản dịch CGKPV (Bốn Sách TM 2004). Cha Nguyễn Thế Thuấn (1976) cũng dịch theo cùng một hướng: “… không có một tiên tri nào được sủng mộ tại quê hương”. Chúng ta thử tham khảo các bản dịch ngoại quốc:

-TOB 1994: “… aucun phophète ne trouve accueil dans sa patrie”.
-NAB 1995: “… no prophet is accepted in his own native place”.
-BJ 1998: “… aucun prophète n’est bien reçu dangs sa patrie”.
-Nova Vulgata 1998: “Nemo propheta acceptus est in patria sua”.
-Le Nouveau Testament - Traduction officielle pour la liturgie 2003: “… aucun phophète n’est bien accueilli dans son pays”.

Như thế, các Bản dịch tiêu biểu đều dịch như Bản dịch của Nhóm CGKPV. Bản dịch Bốn Sách TM (CGKPV 2004) đã chú thích để khẳng định quan điểm: “… Nội dung của Mc 6,4; Mt 13,57; Ga 4,4 và Lc 4,24 giống một phần nào ngạn ngữ trong tiếng Việt: “Bụt nhà không thiêng” (tr. 234).
Trong một chiều hướng tương tự, Lời Chúa cho mọi người (CGKPV - B.&L. Hurault 2005) chú thích như sau: “Trước hết, vì họ kiêu ngạo: nhiều người hăm hở chạy theo một người lạ, nhưng không chấp nhận thấy một người cùng giới với mình tự nhiên nổi danh hoặc lên chức làm thầy mình [...]”. Vì hiểu thái độ của người Nadarét là ghen tị với Đức Giêsu và phân bì với dân Caphácnaum, nên phần chú thích tiếp là: “Vì họ ích kỷ: họ không chấp nhận thấy người khác được hưởng ơn lộc của Thiên Chúa. Vậy Chúa Giêsu nhắc cho họ nhớ rằng các ngôn sứ thời xưa đâu đã chỉ làm ơn cho người đồng hương các ông mà thôi” (tr. 291).

Đọc các Bản Dịch trên, trước tiên, chúng ta có cảm tưởng là phản ứng mạnh (tiêu cực) của Đức Giêsu như thế dường như không phù hợp với thái độ (tích cực đón nhận) của cử tọa. Hơn nữa, các lời Đức Giêsu nói lại không thống nhất: người ta xin Người làm phép lạ (điều này giả thiết là người ta có tin, dù chút ít), Người lại than trách là bị tiếp đón tệ bạc (c. 24). Nếu đến c. 24 là hết bài tường thuật thì không có gì để nói thêm. Nhưng Đức Giêsu lại cung cấp hai ví dụ để hỗ trợ cho luận đề về “ngôn sứ không được chấp nhận tại quê hương” (cc. 25-27), mà dường như hai ví dụ này không phù hợp với hoàn cảnh: không phải là dân chúng tiếp đón các ngôn sứ cách tệ bạc (như Người), nhưng lại chính là các ngôn sứ mới tỏ ra tệ bạc với quê hương khi không làm các phép lạ để giúp đỡ người đồng hương. Như vậy, phải kết luận là bản văn Lc thiếu mạch lạc?
http://www.ofmvn.org/chiase/2006/Cs-09-06_files/image049.gif

admin
17-09-2006, 12:26 PM
Các lý luận sau đây của cha Nil Guillemette có sức thuyết phục:

Ở đây có vấn đề hiểu tính từ hy lạp dektos. Các Bản Dịch nêu trên thường hiểu tính từ này theo nghĩa bị động (passive): dektos là “được chấp nhận”, và như thế đã cho rằng tính từ dektos có ý nghĩa tương tự như tính từ atimos trong Mc 6,4 và Mt 13,57. Thật ra đây cũng còn là kiến của một giáo sư chuyên về Luca, J.A. Fitzmyer: “… no prophet is accepted in his own country” (x. The Gospel according to Luke I-IX, The Anchor Bible, Doubleday NY 1970, 537). Có thể nói các học giả đã hiểu bản văn Lc theo hướng của các bản văn song song Mc và Mt. Thế nhưng bản văn Lc lại khác: thay vì dùng từ atimos (“bị khinh bỉ”), tác giả dùng dektos. Dektos là một tính từ phái sinh từ động từ dechomai (“đón nhận, đón tiếp, chấp nhận”) và thường có nghĩa bị động; trong trường hợp này, dektos tương đương với atimos. Tuy nhiên, theo cha M. Zerwick, một chuyên viên ngữ học, các tính từ phái sinh từ động từ mà kết thúc bằng -tos không phải lúc nào cũng có nghĩa bị động; chúng cũng có thể có một nghĩa chủ động (active) (Cv 10,29; 2 Tm 2,15; 3,16) (x. M. Zerwick, Biblical Greek, Rome 1963, số 142). Như thế dektos cũng có thể có nghĩa là “đón nhận, ân cần, thuận thảo, thuận lợi”. Và trong thực tế, cách đó năm câu (Lc 4,19), từ dektos có ý nghĩa chủ động (“Năm hồng ân = năm thuận lợi; năm đón nhận”). Nếu như thế, câu nói của Đức Giêsu hẳn sẽ có nghĩa là: không một ngôn sứ nào dành ưu tiên / thiên vị cho / với quê hương; và ta cần hiểu cụm từ “không mộtngôn sứ nào” là mộtcụm từ “nói ngoa”, chứ không theo nghĩa chữ và nghĩa xấu (= một ngôn sứ luôn luôn tỏ ra bất thuận lợi với quê hương mình), bởi vì trong thực tế Mt 13,58 và Mc 6,5 cho thấy là Đức Giêsu cũng có làm một vài phép lạ tại Nadarét. Cuối cùng, câu nói của Đức Giêsu có ý nghĩa là: Một ngôn sứ không tỏ ra thuận thảo với quê hương mình hơn là với người ngoại quốc; tất cả là vấn đề đức tin và tình trạng tâm hồn sẵn sàng. Hiểu như thế, bản văn rất mạch lạc.

Có người bẻ lại: bản văn nói “en tê patridi”, mà patris là “quê hương”, còn giới từ en là “tại, trong”; vậy en tê patridi có nghĩa là “tại quê hương”, mà như thế, nghĩa bị động của dektos được biện minh: “được đón/hấp nhận tại quê hương”! Thật ra, trong hy-ngữ phổ thông [koinê] (hy-ngữ Tân Ước là hy-ngữ này), en không chỉ có nghĩa nơi chốn, mà còn có nghĩa thời gian, dụng cụ, nguyên nhân, v.v. Trong nhiều cách sử dụng ấy, en thường được dùng với các động từ nói về tình cảm để diễn tả “điều mà tâm tình hướng về” (W. Bauer, A Greek-English Lexicon of the New Testament and Other Early Christian Literature, The University of Chicago Press, Chicago 1957, tr 160: III,3b).

Như vậy, chúng ta có thể trình bày ý nghĩa của bản văn Lc 4,21tt như sau:

Người dân Nadarét đang ca ngợi và thán phục Đức Giêsu. Do đó, họ bắt đầu tính toán: “Ông này không phải là con ông Giuse đó sao?” (c. 22). Nếu đây đúng là con ông Giuse, nay đã thành ngôn sứ và thầy chuyên làm phép lạ, chẳng lẽ ta lại không được khai thác hoàn cảnh này để có lợi cho làng ta sao? Câu trả lời sau đó của Đức Giêsu cho hiểu là quả thật dân chúng đang tính toán như thế.

Đức Giêsu mới dùng một câutục ngữ để trả lời họ: Đơn giản chỉ vì các ông là người đồng hương với tôi, mà các ông đòi hỏi tôi phải làm ở đây những phép lạ giống như tôi đã làm ở Caphácnaum. Nhưng một ngôn sứ không hề chiếu cố riêng đến quê hương mình. Các ông cứ nghĩ đến trường hợp ngôn sứ Êlia và Êlisa. Có biết bao bà góa Ít-ra-en phải đói, khi trời hạn hán ba năm sáu tháng; thế mà Êlia lại chỉ nuôi bà góa Sarépta mà thôi. Vào thời Êlisa, tại Ít-ra-en đâu có thiếu người phong hủi; thế mà Êlisa chỉ chữa lành một người ngoại quốc mà thôi. Như thế, Đức Giêsu từ chối liên kết các ân huệ thiên sai với những quan hệ thân tộc hoặc tình làng nghĩa xóm. Người là ngôn sứ; Người phải chu toàn mộtsứ mạng Thiên Chúa giao; chẳng phải là những yêu cầu của dân Nadarét có thể xác định hướng hoạt động cho Người. Đứng trước Thiên Chúa, phải bỏ đi mọi yêu sách, mọi đòi hỏi: Thiên Chúa hoàn toàn tự do trong việc ban tặng các ân huệ; chỉ có mộtđức tin khiêm nhường và tín thác mới có thể trông chờ (chứ không đòi hỏi) một phép lạ.

Hiểu như thế, theo giáo sư N. Guillemette, có một hệ luận về phương pháp được rút ra: “Giải thích một Tin Mừng Nhất Lãm bằng mộtTin Mừng Nhất Lãm khác không phải bao giờ cũng là khôn ngoan; mỗi Tin Mừng có viễn tượng riêng và nền thần học riêng. Hơn nữa, các TMNL thường hay phát xuất từ cùng một sự kiện lịch sử nhưng mỗi Tin Mừng giải thích sự kiện này theo cách của mình …” (Introduction, tr. 170).

Phan Long


http://www.ofmvn.org/chiase/2006/Cs-09-06_files/image050.jpg

Các sách tham khảo

Bauer, W., A Greek-English Lexicon of the New Testament and Other Early Christian Literature, The University of Chicago Press, Chicago 1957, tr. 160: III,3b.
Fitzmyer, J.A., The Gospel according to Luke I-IX, The Anchor Bible, Doubleday NY 1970.
Guillemette, N., Introduction à la lecture du Nouveau Testament - Au soir du troisième jour; Cerf, Paris 1980, tr. 167-171.
Zerwick, M., Biblical Greek, Rome 1963, số 142.
Các Bản dịch: Kinh Thánh (Lm. Nguyễn Thế Thuấn 1976); TOB 1994; NAB 1995; Nova Vulgata 1998; BJ 1998; Bốn sách Tin Mừng (CGKPV 2004); Lời Chúa cho mọi người (CGKPV - B. & L. Hurault 2005).