admin
17-09-2006, 03:56 PM
GIÁO HỘI CÔNG GIÁO HÒA NHẬP
VỚI VĂN HÓA GIA ĐÌNH VIỆT NAM
Đỗ Quang Chính
Văn hóa gia đình Việt Nam, đó là vấn đề rộng lớn gồm nhiều khía cạnh khác nhau. Nói một cách tổng quát, có thể hiểu văn hóa gia đình Việt Nam là những cái đẹp, cái hay của gia đình Việt Nam. Những cái đẹp ấy có thể tồn tại hàng thế kỷ, cũng có thể chỉ đứng vững trong một thời gian nhất định nào đó, trong khung cảnh xã hội Việt Nam cụ thể.
Khi Tin Mừng được rao truyền ở xã hội Con Rồng Cháu Tiên này, thì Giáo hội phải thích nghi, hay nói như ngày nay là phải hội nhập hay hòa nhập vào xã hội Việt Nam, vào nếp sống văn hóa gia đình Việt Nam. Ai cũng biết rằng, gia đình Việt Nam đóng một vai trò rất quan trọng. Theo thiển ý chúng tôi, nếu Tin Mừng chỉ vào được cơ cấu thượng tầng xã hội Việt Nam (chính quyền) hay cho dù vào tới cơ cấu trung tầng xã hội Việt Nam (nếp sống làng xã), mà chưa thấm nhập vào cơ cấu hạ tầng xã hội Việt Nam (gia đình), thì nói được chăng là Tin Mừng mới tiếp cận với cái vỏ hay với cái ngọn, chưa “chui” vào trong, chưa tiếp cận với cái gốc của xã hội Việt Nam. Quả thật, nhờ việc Giáo hội đã hòa nhập được phần nào vào nếp sống văn hóa gia đình Việt Nam, nên trải qua bao thăng trầm, Tin Mừng ở xứ này vẫn đứng vững và sống động.
Dưới đây chúng tôi xin đứng về mặt lịch sử trình bày đôi nét trong nhiều nét mà Giáo hội đã hòa nhập vào văn hóa gia đình Việt Nam.
1. Hiếu thảo với ông bà cha mẹ
Thời kỳ đầu tiên truyền giáo ở Việt Nam, các thừa sai đã chú trọng rất nhiều nếp sống văn hóa gia đình Việt Nam, cụ thể là lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ.
Khi giải thích về điều răn thứ bốn cho các dự tòng, cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) đã viết trong cuốn Phép giảng tám ngày, xuất bản tại Roma năm 1651: “Ấy vậy mà mlời răn thứ bốn trong kinh đức Chúa blời […] thì dạy ta thảo kính cha mẹ cho nên […]. Lại sự thảo kính thì hằng có bốn phần, là yêu mến, kính dái, chịu luỵ, giúp cho [cha mẹ] mọi sự” (tr.293).
Tác giả cuốn sách trên còn nhấn mạnh tới sự hy sinh cụ thể của cha mẹ đối với con cái trong bối cảnh xã hội Việt Nam thời đó, nên con cái thảo kính cha mẹ: “Ta chịu ơn cha mẹ vì có chịu thai, mà ta ở trong lòng mẹ chín tháng mười ngày, chịu khốn khó mà đẻ ta, đoạn ba năm bú mớm; có khi thì mẹ cắt [phần ăn] của miệng mình mà cho con ăn; cũng có khi mẹ ăn miếng đắng, mà miếng ngon để dành cho con ăn; lại có khi mẹ nằm chốn ướt, mà chốn ráo để cho con nằm. Cha đẻ con đoạn thì lo việc nuôi nấng […]. Thật con thảo kính cha mẹ thì chậm phải, ví bằng có ai chẳng thảo kính, chẳng khứng vâng phép cha mẹ, thật thì có tội trọng” (ntr. tr.18).
Khi cha mẹ còn sống: Ngoài việc tỏ lòng hiếu thảo như thăm viếng, săn sóc, quà bánh… thì ngày mồng Một Tết, người dân, và cả những quan lớn sau khi theo vua chúa đi tế Nam giao về, “ai nếy về nhà mà lạy cha mẹ oũ bà oũ vải (ông bà ông vải), bởi vì có mlẽ (lý lẽ) ở tlaõ làõ mình dẽại (dạy) kính phụ (cha) thứ ba là chức dưới bệy (vậy)” (ntr.tr.23). Thầy giảng Bentô Thiện cũng viết bằng chữ Quốc ngữ trong tập Lịch sử nước An-nam năm 1659 tại Thăng Long về vấn đề này như sau: “Thói nước Annam, đầu năm, mùng một tháng giêng gọi là ngày tết Thiên hạ đi lậy vua đoạn lậy chúa mới lậy ông bà ông vải cha mẹ, cùng Kẻ cả bề trên, quan quyền thì lậy vua chúa, thứ dân thì lậy bụt trước” (ghi theo chính tả ngày nay)<SUP> (1)</SUP>.
Lúc cha mẹ qua đời: Vào năm 1625, các thừa sai ở Hội An nói rõ với anh chị em bổn đạo là, đạo Đức Chúa Blời buộc mọi người phải tỏ lòng hiếu thảo với ông bà cha mẹ, nên phải thi hành nghi lễ cúng vái, trừ ít điều mê tín dị đoan, như đốt vàng mã, hay khi cúng lại tin là tổ tiên về ăn của cúng<SUP> (2)</SUP>. Một trăm năm sau, ngày 21-2-1717, cha G.B.Sanna, công bố tại Huế cho bổn đạo biết: - Bổn đạo được mang cờ gia triệu khi di quan ra phần mộ; - Bổn đạo được khấu đầu trước thi thể người quá cố; - Phải cúng giỗ cha mẹ, ai không làm là lỗi điều răn thứ bốn<SUP> (3)</SUP>. Trong các gia đình Công giáo Việt Nam, nơi cao trọng nhất trong nhà đặt bàn thờ Chúa, sau đó đến “bàn thờ” tổ tiên cùng những người thân trong gia đình đã qua đời.
Việc cầu nguyện, tưởng nhớ những người qua đời không phải chỉ làm trong dịp tảo mộ, giỗ chạp, hay tháng đôi ba lần, cũng không phải chỉ nhớ và cầu nguyện cho người thân thuộc, mà là nhớ cầu nguyện hàng ngày sáng tối cho mọi người đã qua đời, tại nhà thờ trong Thánh Lễ, trong Kinh Phụng vụ. Hơn nữa, việc cầu nguyện cho người thân đã lìa cõi thế, không phải chỉ làm ở nhà thờ với tính cách xứ đạo, làng xã, Giáo hội mà đủ; đối với các gia đình Công giáo Việt Nam, việc này còn phải được thực hiện trong ngôi nhà của gia đình nhất là trong chính ngôi nhà người thân trút hơi thở cuối cùng. Vì vậy, sáng tối mọi người trong gia đình phải họp nhau cầu nguyện, đặc biệt cầu nguyện cho ông bà, tổ tiên cùng thân nhân qua đời.
Nói cách chung, việc tỏ lòng hiếu thảo “bề ngoài” đối với người quá cố, như cúng vái nhang hương đã không thực hiện được kể từ ngày 11-7-1742 khi Hiến chế Ex quo Singulari providentia ra đời. Nhưng từ 14-6-1965, thời thế đã thay đổi, nên người Công giáo Việt Nam lại thể hiện lòng hiếu thảo theo nếp sống “tín ngưỡng” chung của xã hội như xưa.
VỚI VĂN HÓA GIA ĐÌNH VIỆT NAM
Đỗ Quang Chính
Văn hóa gia đình Việt Nam, đó là vấn đề rộng lớn gồm nhiều khía cạnh khác nhau. Nói một cách tổng quát, có thể hiểu văn hóa gia đình Việt Nam là những cái đẹp, cái hay của gia đình Việt Nam. Những cái đẹp ấy có thể tồn tại hàng thế kỷ, cũng có thể chỉ đứng vững trong một thời gian nhất định nào đó, trong khung cảnh xã hội Việt Nam cụ thể.
Khi Tin Mừng được rao truyền ở xã hội Con Rồng Cháu Tiên này, thì Giáo hội phải thích nghi, hay nói như ngày nay là phải hội nhập hay hòa nhập vào xã hội Việt Nam, vào nếp sống văn hóa gia đình Việt Nam. Ai cũng biết rằng, gia đình Việt Nam đóng một vai trò rất quan trọng. Theo thiển ý chúng tôi, nếu Tin Mừng chỉ vào được cơ cấu thượng tầng xã hội Việt Nam (chính quyền) hay cho dù vào tới cơ cấu trung tầng xã hội Việt Nam (nếp sống làng xã), mà chưa thấm nhập vào cơ cấu hạ tầng xã hội Việt Nam (gia đình), thì nói được chăng là Tin Mừng mới tiếp cận với cái vỏ hay với cái ngọn, chưa “chui” vào trong, chưa tiếp cận với cái gốc của xã hội Việt Nam. Quả thật, nhờ việc Giáo hội đã hòa nhập được phần nào vào nếp sống văn hóa gia đình Việt Nam, nên trải qua bao thăng trầm, Tin Mừng ở xứ này vẫn đứng vững và sống động.
Dưới đây chúng tôi xin đứng về mặt lịch sử trình bày đôi nét trong nhiều nét mà Giáo hội đã hòa nhập vào văn hóa gia đình Việt Nam.
1. Hiếu thảo với ông bà cha mẹ
Thời kỳ đầu tiên truyền giáo ở Việt Nam, các thừa sai đã chú trọng rất nhiều nếp sống văn hóa gia đình Việt Nam, cụ thể là lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ.
Khi giải thích về điều răn thứ bốn cho các dự tòng, cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) đã viết trong cuốn Phép giảng tám ngày, xuất bản tại Roma năm 1651: “Ấy vậy mà mlời răn thứ bốn trong kinh đức Chúa blời […] thì dạy ta thảo kính cha mẹ cho nên […]. Lại sự thảo kính thì hằng có bốn phần, là yêu mến, kính dái, chịu luỵ, giúp cho [cha mẹ] mọi sự” (tr.293).
Tác giả cuốn sách trên còn nhấn mạnh tới sự hy sinh cụ thể của cha mẹ đối với con cái trong bối cảnh xã hội Việt Nam thời đó, nên con cái thảo kính cha mẹ: “Ta chịu ơn cha mẹ vì có chịu thai, mà ta ở trong lòng mẹ chín tháng mười ngày, chịu khốn khó mà đẻ ta, đoạn ba năm bú mớm; có khi thì mẹ cắt [phần ăn] của miệng mình mà cho con ăn; cũng có khi mẹ ăn miếng đắng, mà miếng ngon để dành cho con ăn; lại có khi mẹ nằm chốn ướt, mà chốn ráo để cho con nằm. Cha đẻ con đoạn thì lo việc nuôi nấng […]. Thật con thảo kính cha mẹ thì chậm phải, ví bằng có ai chẳng thảo kính, chẳng khứng vâng phép cha mẹ, thật thì có tội trọng” (ntr. tr.18).
Khi cha mẹ còn sống: Ngoài việc tỏ lòng hiếu thảo như thăm viếng, săn sóc, quà bánh… thì ngày mồng Một Tết, người dân, và cả những quan lớn sau khi theo vua chúa đi tế Nam giao về, “ai nếy về nhà mà lạy cha mẹ oũ bà oũ vải (ông bà ông vải), bởi vì có mlẽ (lý lẽ) ở tlaõ làõ mình dẽại (dạy) kính phụ (cha) thứ ba là chức dưới bệy (vậy)” (ntr.tr.23). Thầy giảng Bentô Thiện cũng viết bằng chữ Quốc ngữ trong tập Lịch sử nước An-nam năm 1659 tại Thăng Long về vấn đề này như sau: “Thói nước Annam, đầu năm, mùng một tháng giêng gọi là ngày tết Thiên hạ đi lậy vua đoạn lậy chúa mới lậy ông bà ông vải cha mẹ, cùng Kẻ cả bề trên, quan quyền thì lậy vua chúa, thứ dân thì lậy bụt trước” (ghi theo chính tả ngày nay)<SUP> (1)</SUP>.
Lúc cha mẹ qua đời: Vào năm 1625, các thừa sai ở Hội An nói rõ với anh chị em bổn đạo là, đạo Đức Chúa Blời buộc mọi người phải tỏ lòng hiếu thảo với ông bà cha mẹ, nên phải thi hành nghi lễ cúng vái, trừ ít điều mê tín dị đoan, như đốt vàng mã, hay khi cúng lại tin là tổ tiên về ăn của cúng<SUP> (2)</SUP>. Một trăm năm sau, ngày 21-2-1717, cha G.B.Sanna, công bố tại Huế cho bổn đạo biết: - Bổn đạo được mang cờ gia triệu khi di quan ra phần mộ; - Bổn đạo được khấu đầu trước thi thể người quá cố; - Phải cúng giỗ cha mẹ, ai không làm là lỗi điều răn thứ bốn<SUP> (3)</SUP>. Trong các gia đình Công giáo Việt Nam, nơi cao trọng nhất trong nhà đặt bàn thờ Chúa, sau đó đến “bàn thờ” tổ tiên cùng những người thân trong gia đình đã qua đời.
Việc cầu nguyện, tưởng nhớ những người qua đời không phải chỉ làm trong dịp tảo mộ, giỗ chạp, hay tháng đôi ba lần, cũng không phải chỉ nhớ và cầu nguyện cho người thân thuộc, mà là nhớ cầu nguyện hàng ngày sáng tối cho mọi người đã qua đời, tại nhà thờ trong Thánh Lễ, trong Kinh Phụng vụ. Hơn nữa, việc cầu nguyện cho người thân đã lìa cõi thế, không phải chỉ làm ở nhà thờ với tính cách xứ đạo, làng xã, Giáo hội mà đủ; đối với các gia đình Công giáo Việt Nam, việc này còn phải được thực hiện trong ngôi nhà của gia đình nhất là trong chính ngôi nhà người thân trút hơi thở cuối cùng. Vì vậy, sáng tối mọi người trong gia đình phải họp nhau cầu nguyện, đặc biệt cầu nguyện cho ông bà, tổ tiên cùng thân nhân qua đời.
Nói cách chung, việc tỏ lòng hiếu thảo “bề ngoài” đối với người quá cố, như cúng vái nhang hương đã không thực hiện được kể từ ngày 11-7-1742 khi Hiến chế Ex quo Singulari providentia ra đời. Nhưng từ 14-6-1965, thời thế đã thay đổi, nên người Công giáo Việt Nam lại thể hiện lòng hiếu thảo theo nếp sống “tín ngưỡng” chung của xã hội như xưa.