admin
10-11-2009, 08:36 PM
Cổ Thành Êphêsô
<table width="200" align="left" border="0" cellpadding="0" cellspacing="3"><tbody><tr><td>http://giaophanvinh.net/uploads/News/pic/1256222059.nv.jpg</td> </tr> <tr> <td align="center">
</td> </tr> </tbody></table> Trong những ngày nghỉ ở Thổ Nhĩ Kỳ, chúng tôi có dịp đi thăm viếng Êphêsô, địa danh không xa lạ gì với chúng ta qua những bức thư của thánh Phaolô gửi tín hữu vùng này. Êphêsô còn lưu lại nhiều kỳ tích ngoạn mục, nhưng chắc chắn người tới đây tham quan không thể bỏ qua Artémis - một trong bảy kỳ quan thế giới. Không thể không viếng mộ Thánh Gioan và nhất là ngôi nhà Đức Trinh Nữ Maria. Êphêsô cách bờ biển Egée 6km, thuộc miền cực Tây lục địa châu Á. Các hải đảo ngoài khơi, nối liền với bên kia bờ biển là những thành phố, thủ đô Athène nước Hy lạp. Trước Thiên Chúa giáng sinh (TCGS) 20 thế kỷ, Êphêsô đã có người sinh sống, người Amazone xuất hiện đầu tiên ở vùng này. Thế kỷ 12 trước TCGS bộ tộc Ionien ở Hy lạp tới xâm chiếm. Tới thế kỷ thứ 7 trước TCGS người Cimméria từ Hắc Hải tràn xuống chiếm cứ Êphêsô, sau lại tới người Lydia, người Perse. Vào năm 180 trước TCGS đế quốc La Mã chiếm trọn vùng Tiểu Á, đặt nền móng lâu dài nơi đây. Qua các triều đại vua chúa, các nền văn minh thời Thượng cổ, Trung cổ, nhiều công trình qui mô to lớn được xây dựng. Ngày nay thành Êphêsô hầu hết chỉ còn giữ lại những chứng tích vào thời đế quốc La Mã.
Người tới tham quan cổ thành Êphêsô trông cảnh sụp đổ không khỏi bàng hoàng, và cũng khó hình dung ra được thời đế quốc La Mã nơi đây là thủ phủ của 500 tỉnh thành vùng Tiểu Á, và cũng là tỉnh thành quan trọng thứ hai sau Rôma. Êphêsô có trên 250.000 người ngày đêm buôn bán tấp nập với những thương hiệu lớn, mới mẻ và tối tân nhất thời bấy giờ. Dân cư trong thành giàu có sung túc. Có hí trường chứa 25.000 chỗ ngồi, có vận động trường rộng lớn mời gọi lực sĩ xa gần về đây tranh tài, có thư viện lớn thứ 3 trên thế giới, sau Alexandrie và Pergame. Hằng năm hàng triệu người qui tụ về Êphêsô bên cạnh đền Artémis. Nơi Homère viết những bài thơ bất hủ, Héraclite đề xướng triết thuyết ảnh hưởng rất lớn thời cổ đại, nơi thánh Gioan âm thầm viết Phúc âm.
Xe chúng tôi trực chỉ hướng Êphêsô, dọc theo trục lộ tráng nhựa thẳng băng giữa cánh đồng khô cháy, bao bọc bởi những rặng núi cao ngất trời. Khó có thể hình dung ngày xưa nơi đây là một hải cảng lớn trên thế giới, chỉ đứng sau Rôma và Alexandrie. Biển Egée xưa kia vào sát chân thành Êphêsô. Không biết người giận biển bỏ đi hay biển giận người bỏ đi, ngày nay bờ biển cách Êphêsô tới 6km, và trong thành không một bóng người sinh sống. Hải cảng biến thành cánh đồng khô cháy, trên cánh đồng ngày nay đã có một phi cảng, hầu hết là trực thăng đủ mọi màu sắc dành cho người tham quan trong vùng.
Khoảng 9 giờ sáng, xe chúng tôi dừng trước cổng thành, tuy còn sớm nhưng những tia nắng đã bắt đầu hâm nóng làn da. Đứng nơi đây khá lâu, nhìn thành quách tuy có gãy đổ nhưng qua những chứng tích không giấu được vẻ hùng vĩ, kiến trúc tuyệt đẹp và có giá trị khảo cổ. Đây đó những cột đá, bức tường, hình tạc tượng…nghiêng mình trên biển cát nóng bỏng không một bóng cây, dù cho thời gian có soi mòn làm hư hại sụp đổ.
http://giaophanvinh.net/uploads/spaw/news/1256222517.nv.jpgChúng tôi bước vào hí trường rộng lớn, toàn đá là đá, tạo thành hình vòng cung, lưng dựa vào sườn núi Pion. Hí trường bắt đầu xây dựng từ năm 41- 54 sau TCGS và được tiếp tục tu bổ từ năm 98 tới 117. Chứa được 24 ngàn chỗ ngồi và 1 ngàn chỗ đứng. Đối diện hí trường, con đường mang tên Hải Cảng dẫn tới bến tàu. Bỏ đường này chúng tôi tiếp tục đi thẳng hướng Thư viện, đường Đá Hoa (marbre) rộng thênh thang thẳng tắp, những phiến đá hoa không đều, tảng 2m x 2m, tảng 70cm x 50cm… hai bên những cột đá cao, cái đứt đầu, cái gãy ở lưng, chạy dọc dài theo con đường. Đi ngang qua quảng trường Agora, thấy xa xa một bức tường cao, ngay người không am tường về kiến trúc, không để ý tới mỹ thuật cũng phải nhận là đẹp, đẹp thật ! Khi tới gần thì đúng chỉ còn một bức tường mặt tiền. Cao 16m, chia thành 2 tầng, tầng dưới có 4 mỹ nữ dựng trên những bức tường cạnh cửa vào thư viện. Mỗi mỹ nữ giữ một tôn chỉ mà dân thành Êphêsô muốn hướng tới. Có 9 thang cấp bằng đá, mỗi bậc mở rộng 21m. Phía trong nhìn theo nền nhà, phòng đọc sách dài rộng 16m trên 10m. Ở giữa thư viện, ngôi mộ của Celsius Polemaenus tổng trấn vùng Tiểu Á, nên thư viện này có tên Celsius. Ngày nay bức tường nguy nga này được các các nhà khảo cổ, chuyên gia đánh giá rất cao, và xem là một kiến trúc hoàn mỹ, tuyệt vời có một không hai, cho thấy được đỉnh cao của nền văn minh cổ thành Êphêsô vào giai đoạn này.
http://giaophanvinh.net/uploads/spaw/news/1256222672.nv.jpg
Thư viện Celsius
Xem qua các di tích cổ xưa khác như nhà cầu công cộng, nhà tắm công cộng với hệ thống thoát nước hoàn bị. Đền Hadrian, máy nước Trajan, cửa ngõ Heracle, chúng tôi đi vào con đường Curetes dài 600m, hai bên đường cột đá tuy gãy đổ nhưng thẳng tắp như một đại lộ ngày nay. Qua tượng đài Memminus, đền Dominitian……càng đi, càng thấy như trở về một thế giới cổ xưa, xa lắm. Chúng tôi lên xe tới Vận Động Trường, hiện tại hầu hết đã hư hại, xa xa thấy có người vẫn còn đào bới, nên người tham quan ít có dịp vào đây xem được. Trên đường đi, đây đó vẫn còn thấy các nhà nghiên cứu, khảo cổ tiếp tục đào xới tìm kiếm, hay tu sửa, bảo trì. Người đi tham quan cổ thành Êphêsô như lạc vào một thế giới huyền hoặc, đây đó có bước chân của Thánh Phao lô, Thánh Gioan, có bước chân của các Lãnh Chúa thay ngôi đổi chủ. Mỗi tảng đá, mỗi cột đá nơi có chữ, nơi có hình như khắc ghi cả một qúa khứ.
Bên cạnh những chứng tích lịch sử, chúng tôi cũng không không quên tới hang động ‘‘Bảy Người Ngủ’’, huyền thoại kể lại vào thời Vua Decius (249-251) người theo đạo Thiên Chúa rất khốn khổ. Bảy tín hữu còn trẻ bị tội tử hình, bị truy nã họ chạy thoát ra khỏi thành, trốn vào nơi hang động, những người truy lùng bịt kín miệng hang động, không cho các tín hữu này thoát, nên phải ngủ lại luôn trong đó. Hai trăm năm sau thời vua Théodose II, khi đạo Thiên Chúa trở thành quốc giáo, qua một trận động đất hang động bị nứt, 7 người lù lù bước ra trở về Êphêsô. Khi chết thật 7 người lại được chôn cất trong hang động này. Ngày nay còn nhà nguyện tống táng, các ngôi mộ của họ được đục chôn trong tường, dưới đá.
Khoảng độ 12 giờ trưa trời nắng nóng, xem vội một số phế tích, chúng tôi phải từ giã Êphêsô, vì còn di chuyển tới điạ điểm đã được định sẵn.
http://giaophanvinh.net/uploads/spaw/news/1256222799.nv.jpgCách cổ thành Êphêsô 3km, xe rẽ vào con đường đất thật nhỏ, vừa đủ cho một chiếc xe chạy ra hoặc vào. Độ vài chục mét xe dừng trước một khu đất rộng, nơi đây ngày xưa là đền Artémis một trong 7 kỳ quan trên thế giới, nơi khách tứ phương tuôn về hành hương. Đền Artémis xây vào năm -560 trước TCGS trên nền một ngôi đền cũ cùng tên. Không may năm -356 đền Artémis bị hỏa hoạn do Érostrate một tên bất bình thường châm lửa đốt chỉ vì muốn mình được nổi danh, ghi tên vào lịch sử. Sau trận hoả hoạn, đền được xây dựng lại, nhưng rồi lại bị tàn phá, chỉ còn lại vùng đất lún sâu. Ngày nay một cột đền dựng lại nơi này làm biểu tượng. Qua nền đất chỗ còn chỗ mất, nhìn thấy khung hình chữ nhật, 105 m trên 55 m.
Bên cạnh vùng đất Artémis, có thánh đường Hồi giáo Isa Bey, xây cất vào năm 1375. Thánh đường được bảo trì nên ngày nay vẫn còn nguyên vẹn.
http://giaophanvinh.net/uploads/spaw/news/1256222916.nv.jpgVà cũng sát đó trên một đồi đất cao hơn, vùng đất mênh mông, trông thấy đền đài to lớn sụp đổ đó là đại giáo đường Thánh Gioan. Khác với thánh Phaolô rao giảng Tin mừng ở Êphêsô năm sáu năm, bị tù đày,rồi ra đi tới các vùng xa xôi khác. Thánh Gioan tới Êphêsô giữa những năm 37 tới 48 sau TCGS. Ngài viết Phúc âm thứ tư nơi đây và thánh nhân ở lại đây cho tới mãn đời. Mộ Ngài đặt trên đồi Ayasuluk này. Xưa kia có một thánh đường nhỏ, bị mưa gió sụp đổ, Hoàng đế Justinien xây dựng lại một đại thánh đường dài tới 110 m. Sau những cuộc đổi đời đại giáo đường hư hại nhiều, nhất là khi đoàn quân Mông cổ tràn qua đây đã đốt phá trên đỉnh đồi này. Ngày nay quanh mộ Thánh Gioan chỉ thấy những phế tích sót lại, tuy đổ nát sụp đổ nhưng người tới tham quan không khỏi ngạc nhiên qua sự đồ sộ to lớn của ngôi đại giáo đường này.
Meryemana - Nhà Đức Trinh Nữ Maria
Günaydin. – Günaydin, người tài xế taxi chào lại chúng tôi. Meryemana ‘e gidecegim - Ne kadar (tôi muốn tới nhà Đức Trinh Nữ - giá bao nhiêu) Ông tài xế cười tít mắt, khi nghe chúng tôi nói được vài câu tiếng Thổ bì bõm. Có lẽ tiếng Thổ không khó lắm, ít ra họ nghe được mình nói gì. Văn tự Thổ dùng mẫu tự La tinh từ lúc tướng Mustafa Kemal còn gọi là Atatürk truất ngôi vua, thành lập chính thể Cộng hòa, muốn tách rời mọi ảnh hưởng với khối Ả Rập, cho dịch kinh coran qua tiếng Thổ, bỏ lịch Hồi giáo để theo tây lịch, theo hệ thống đo lường Âu châu, giải phóng phụ nữ… nói chung lấy các nước Âu châu làm mẫu mực. Người Thổ tự hào cũng đúng. Dân tộc xa xưa ở tuốt bên trung bộ châu Á, nơi miền núi Altäi, biên giới Tàu - Nga sô, cùng gốc với người Mông Cổ. Từ thế kỷ thứ 9 họ tiến dần vế hướng Tây, qua các nước Iran, Arménie, Syrie. Thế kỷ 13 họ tiến tới vùng Ankara thấy phong thổ tốt, dừng lại đây sinh sống (Ankara ngày nay là thủ đô của Thổ Nhĩ Kỳ). Quân đội Thổ hùng mạnh, thiện chiến, cưỡi ngựa không yên cương, tấn công như vũ bão. Họ mang quân đi chinh phục, tạo thành một đế quốc rộng lớn, thu phục hầu hết các xứ Hồi giáo vùng Trung Đông, Bắc Phi. Tung hoành trên Điạ Trung hải, Hắc hải rồi tiến lên phiá Đông giáp Áo, Ba Lan, Liên xô. Hưởng được 2 nền văn minh nhất thế giới thời thượng cổ : Ai cập và Mésopotamie. Như vậy người Thổ không phải là người Ả rập và cũng chỉ mới tới vùng đất này ở thế kỷ 13. Ảnh hưởng của đế quốc Ả rập Hồi giáo trong suốt 4 thế kỷ trước đó để lại 90 phần trăm người Thổ theo đạo Hồi. Một sai lầm lớn nhất của Thổ là đứng về phe Đức trong thế chiến thứ nhất. Sau thế chiến các nước đồng minh tranh nhau lấy đất như Anh, Pháp, Ý, Hy lạp.
Đối thoại với tài xế taxi một chút xe đã tới cổ thành Êphêsô, từ đây xe bắt đầu leo dốc. Đường tuy tốt nhưng ngoằn ngoèo, vòng qua những sườn núi càng lúc càng lên cao độ. Khoảng 4km xe chậm lại, qua cổng kiểm soát xe đổ xuống một thung lũng cây cối rợp mát. Vào bãi đậu, hàng quán hai bên đường bày bán đồ lưu niệm, thực phẩm. Qua dãy hàng quán, có bảng chỉ hướng nhà Đức Mẹ. Cũng từ nơi đây mọi người im lặng, đi dưới những tàng cây bao phủ bóng mát. Chừng 50 mét, phiá trái nhiều người đang hứng từng ngụm nước uống từ sườn đồi. Xa hơn, cũng về phía trái đã thấy nhà Đức Mẹ.
Đứng trước cửa nhà của Mẹ, có lẽ ai cũng xúc cảm khi thấy căn nhà Mẹ ở thật đơn sơ. Nhiều người mân mê từng viên đá, bức tường hình dung lại nơi đây, trong căn nhà này Đức Mẹ, Mẹ Chúa Trời đã sống những ngày cuối đời trước khi Mẹ về trời.
Nhà không lớn, chiều rộng và dài căn nhà độ khoảng 4x10 mét, cuối nhà phía phải còn một phòng nhỏ khoảng 3x4 mét đổ ra sân. Tường cuối nhà dựa vào lưng núi, cây cối phủ mát căn nhà. Trong nhà hiện nay đặt tượng Đức Mẹ và 3 tấm bảng nhỏ ghi ngày tháng 3 vị Giáo Hoàng đã tới viếng : Các Đức giáo hoàng Phao lô đê lục 26/07/1967, Gioan-Phaolô II 30/11/79 và Bêniđictô 29/11/2006 . Trước đó Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII cũng đã viếng thăm khi Ngài còn là Hồng y. Ngoài ra các Đức Giáo Hoàng Léon XII, Pio X, Léon XIII cùng có chung một quan điểm là Đức Trinh Nữ đã sống trong căn nhà này.
Trước đây mọi người đều nghĩ Đức Mẹ ở Giêrusalem cho đến cuối đời. Thật ra khi chịu đóng đanh trên thập tự Chúa Giêsu đã gửi gắm Đức Mẹ cho thánh Gioan, môn đệ Chúa yêu mến. ‘‘Thưa Bà, đây là con của Bà’’ Rồi Ngài nói cùng môn đệ : ‘‘Đây là mẹ của anh…’’ (Ga 19,26-27). Thánh Gioan sau này đã tới vùng Tiểu Á, và một điều chắc chắn Ngài đã không để Đức Mẹ một mình ở Giêrusalem. Mộ Thánh Gioan hiện đặt trên đồi Ayasuluk
Câu chuyện căn nhà Đức Trinh Nữ thật hi hữu. Sơ Anna Katharina Emmerich ở nước Đức viết cuốn sách "Cuộc sống của Thánh Nữ Đồng Trinh" vào năm 1822, mô tả một cách chính xác ngôi nhà Đức Trinh Nữ ở vùng Êphêsô. Sơ Emmerich chưa từng đi du lịch ra khỏi nước Đức, Sơ lại luôn đau yếu. Trước hai năm từ trần, với một thiên nhãn, Sơ đã nhìn thấy khung cảnh nơi Đức Mẹ sống, nhất là lại ở Êphêsô chứ không phải Giêrusalem. Rất tiếc cuốn sách không được ai để ý tới.
Gần bảy mươi năm sau, giữa tháng 11 năm 1890 lại một chuyện tình cờ khác xảy ra. Sơ Mairet bề trên tỉnh dòng nhờ cha Eugene Poulin tìm giúp Sơ một cuốn sách đọc cho Nhà Tập. Cha Poulin vui vẻ nhận lời. Ngài đi thư viện kiếm về một lô sách đọc trước, trong đó có cuốn viết về ngôi nhà Đức Mẹ của sơ Anna Katharina Emmerich. Ngài đọc qua nhiều cuốn, riêng cuốn "Cuộc sống của Thánh Nữ Đồng Trinh" Ngài bỏ qua một bên không đọc để đem đi trả. Vậy mà năm lần bảy lượt mang sách trả thư viện, lúc thì vô ý, khi thì cố tình, cuốn sách vẫn năm nguyên trên bàn. Cha Poulin kể lại, không phải Ngài không muốn đọc, chỉ vì câu chuyện về ngôi nhà Đức Mẹ cha đã được nghe từ lúc ngài 25 tuổi, khi còn là một linh mục trẻ mới chịu chức. Cha Denys cựu bề trên Đại chủng viện thường kể câu chuyện này vào những buổi tối giờ giải lao, nhưng các cha, trong đó có ngài lúc nào cũng phá lên cười và cho đó là chuyện tàm phào, chuyện « đàn bà », hơi đâu mà để ý.
Cuốn sách cứ như thách thức ngài cho tới lúc ngài bực tức cầm ném vào tường. Sau một tuần lễ cuốn sách vẫn bất động ở một xó tường, cha Poulin nhìn thấy tội nghiệp, phủi bụi cầm lật tới lật lui, đọc ít hàng rồi lại lật…. cha đứng đó đã gần 1 giờ đồng hồ rồi.
Hay quá ! Lạ quá ! Ngài muốn cùng chia sẻ với mọi người. Khi cha Poulin mang sách giới thiệu cho các linh mục khác ai cũng cười và cùng một luận điệu : chuyện « đàn bà ». Nhưng cha Poulin không buông tha « cứ đọc đi sẽ thấy ». Đúng như ngài nói, các vị khác cũng đã chuyển lòng. Nhưng rồi cha Poulin cần tới một người khác, đó là cha Jung, vì ngài biết ý kiến cha Jung sẽ có ảnh hưởng, cha Jung là một nhà trí thức, giáo sư khoa học, giáo sư toán học và nổi tiếng giải thích những chuyện huyền bí rất khoa học. Kể từ lúc cha Jung tiếp nhận cuốn sách trên mọi chuyện đã trở thành hiện thực.
http://giaophanvinh.net/uploads/spaw/news/1256223044.nv.jpg
Thật ra vào năm 1881, trước đó 9 năm, cha Gouyet điạ phận Paris cũng đã đọc sách của sơ Anna Katharina Emmerich và đi Êphêsô tìm tòi. Ngài thấy vết tích về căn nhà này và Ngài đã báo cáo về thẩm quyền ở Paris và Roma nhưng không được trả lời.
Trở lại các cha dòng Lazarites. Cha Poulin va cha Jung quyết định phải tới điạ điểm trên tìm cho ra hư thực, các ngài tìm kiếm thêm những hướng dẫn viên trong vùng. Qua bao khó nhọc vất vả và nguy hiểm, cho tới một ngày : hôm đó là thứ năm ngày 13 tháng tám năm 1891, các ngài tới trước sân một nhà nguyện đổ nát. Trông thấy cảnh tượng giống như sơ Emmerich mô tả trong sách : có núi đá sau nhà, trên núi nhìn thấy Êphêsô và thấy biển. Trong nhà chia hai phòng…. Các Ngài tìm tòi lục lọi thấy những đồng tiền cũ, đồ sành, đồ gốm. Trong nhà còn có đống đá, phía dưới có tro.
Trở về, các cha để trình lên Giám mục Timoni, điạ phận Smyrne. Đức Giám mục đề cử một ban có khả năng gồm : 7 linh mục,2 giáo dân cùng ngài đến điạ điểm trên. Ngày 1 tháng 12 năm 1892 đoàn người lên đường tới Meryemana. Qua cuộc khảo sát, Đức Giám mục và mọi người tham dự nhận thấy đúng như sơ Emmerich đã viết trong cuốn sách. Sơ Marie de Mandat Grancey lập tức mua vùng đất với giá 40.000 quan Pháp và sơ đã dùng số tiền khi nhập dòng để sửa sang lại nhà nguyện này. Từ năm 1951 vị trí Meryemana chính thức được Vatican và giáo hội Chính thống giáo Đông phương công nhận là nơi hành hương.
Chúng tôi may mắn được tới nhà Đức Mẹ, giờ đây lại chuẩn bị tâm hồn để tham dự thánh lễ Chúa nhật ngay cạnh nhà của Mẹ, còn gì diễm phúc hơn. Các cha dòng Phanxicô cùng các sơ khăn áo màu xanh da trời, không biết thuộc dòng nào thu xếp chuẩn bị Thánh lễ. Đặc biệt nguyên cả thánh lễ chỉ một sơ hát xướng, không đàn không trống. Âm thanh lúc trầm lúc bổng hợp với tiếng chim, tiếng ve làm không khí trên ngọn núi ở cao độ 358 m trở nên thanh thoát nhẹ nhàng.
Nhìn hàng ngàn người tới hành hương nhà Đức Mẹ : Công giáo có, Chính thống giáo có và đông nhất là người Hồi giáo, cùng nghĩ tới chuyện thánh Gioan sắp xếp để Đức Mẹ ở ngọn núi cao ngất trên trời, chắc chắn phải có bàn tay Thiên Chúa đã làm nên mọi sự.
Tối nay, chúng tôi về từ một lữ quán đón khách trên con đường tơ luạ còn sót lại trong vùng, đứng trên lan can tòa nhà cao nhìn về hướng Êphêsô, chỉ thấy tối đen không một bóng điện, có lóe lên một chút ánh sáng nơi ấy cũng chỉ là những vì sao trên trời. Nhìn xuống dưới kia, một đoàn thanh niên nam nữ múa hát, y phục màu tím và nâu sậm, tạo thành vòng tròn, lớp tiến vào, lớp lui ra như nước thủy triều lên xuống, lại có lúc đi nửa vòng tròn rồi giật ngược lại. Âm vang tiếng hát đều đều không mấy thay đổi. Chúng tôi cố hình dung tìm trong điệu vũ, tiếng hát đó có chút gì còn rơi rớt lại của người Êphêsô xưa kia, nhưng tất cả cũng chỉ là bóng đen như nhìn về hướng cổ thành vậy.
Viết bên bờ biển Egée ngày 29 tháng 8 năm 2009
Nguyễn Minh Long
<table width="200" align="left" border="0" cellpadding="0" cellspacing="3"><tbody><tr><td>http://giaophanvinh.net/uploads/News/pic/1256222059.nv.jpg</td> </tr> <tr> <td align="center">
</td> </tr> </tbody></table> Trong những ngày nghỉ ở Thổ Nhĩ Kỳ, chúng tôi có dịp đi thăm viếng Êphêsô, địa danh không xa lạ gì với chúng ta qua những bức thư của thánh Phaolô gửi tín hữu vùng này. Êphêsô còn lưu lại nhiều kỳ tích ngoạn mục, nhưng chắc chắn người tới đây tham quan không thể bỏ qua Artémis - một trong bảy kỳ quan thế giới. Không thể không viếng mộ Thánh Gioan và nhất là ngôi nhà Đức Trinh Nữ Maria. Êphêsô cách bờ biển Egée 6km, thuộc miền cực Tây lục địa châu Á. Các hải đảo ngoài khơi, nối liền với bên kia bờ biển là những thành phố, thủ đô Athène nước Hy lạp. Trước Thiên Chúa giáng sinh (TCGS) 20 thế kỷ, Êphêsô đã có người sinh sống, người Amazone xuất hiện đầu tiên ở vùng này. Thế kỷ 12 trước TCGS bộ tộc Ionien ở Hy lạp tới xâm chiếm. Tới thế kỷ thứ 7 trước TCGS người Cimméria từ Hắc Hải tràn xuống chiếm cứ Êphêsô, sau lại tới người Lydia, người Perse. Vào năm 180 trước TCGS đế quốc La Mã chiếm trọn vùng Tiểu Á, đặt nền móng lâu dài nơi đây. Qua các triều đại vua chúa, các nền văn minh thời Thượng cổ, Trung cổ, nhiều công trình qui mô to lớn được xây dựng. Ngày nay thành Êphêsô hầu hết chỉ còn giữ lại những chứng tích vào thời đế quốc La Mã.
Người tới tham quan cổ thành Êphêsô trông cảnh sụp đổ không khỏi bàng hoàng, và cũng khó hình dung ra được thời đế quốc La Mã nơi đây là thủ phủ của 500 tỉnh thành vùng Tiểu Á, và cũng là tỉnh thành quan trọng thứ hai sau Rôma. Êphêsô có trên 250.000 người ngày đêm buôn bán tấp nập với những thương hiệu lớn, mới mẻ và tối tân nhất thời bấy giờ. Dân cư trong thành giàu có sung túc. Có hí trường chứa 25.000 chỗ ngồi, có vận động trường rộng lớn mời gọi lực sĩ xa gần về đây tranh tài, có thư viện lớn thứ 3 trên thế giới, sau Alexandrie và Pergame. Hằng năm hàng triệu người qui tụ về Êphêsô bên cạnh đền Artémis. Nơi Homère viết những bài thơ bất hủ, Héraclite đề xướng triết thuyết ảnh hưởng rất lớn thời cổ đại, nơi thánh Gioan âm thầm viết Phúc âm.
Xe chúng tôi trực chỉ hướng Êphêsô, dọc theo trục lộ tráng nhựa thẳng băng giữa cánh đồng khô cháy, bao bọc bởi những rặng núi cao ngất trời. Khó có thể hình dung ngày xưa nơi đây là một hải cảng lớn trên thế giới, chỉ đứng sau Rôma và Alexandrie. Biển Egée xưa kia vào sát chân thành Êphêsô. Không biết người giận biển bỏ đi hay biển giận người bỏ đi, ngày nay bờ biển cách Êphêsô tới 6km, và trong thành không một bóng người sinh sống. Hải cảng biến thành cánh đồng khô cháy, trên cánh đồng ngày nay đã có một phi cảng, hầu hết là trực thăng đủ mọi màu sắc dành cho người tham quan trong vùng.
Khoảng 9 giờ sáng, xe chúng tôi dừng trước cổng thành, tuy còn sớm nhưng những tia nắng đã bắt đầu hâm nóng làn da. Đứng nơi đây khá lâu, nhìn thành quách tuy có gãy đổ nhưng qua những chứng tích không giấu được vẻ hùng vĩ, kiến trúc tuyệt đẹp và có giá trị khảo cổ. Đây đó những cột đá, bức tường, hình tạc tượng…nghiêng mình trên biển cát nóng bỏng không một bóng cây, dù cho thời gian có soi mòn làm hư hại sụp đổ.
http://giaophanvinh.net/uploads/spaw/news/1256222517.nv.jpgChúng tôi bước vào hí trường rộng lớn, toàn đá là đá, tạo thành hình vòng cung, lưng dựa vào sườn núi Pion. Hí trường bắt đầu xây dựng từ năm 41- 54 sau TCGS và được tiếp tục tu bổ từ năm 98 tới 117. Chứa được 24 ngàn chỗ ngồi và 1 ngàn chỗ đứng. Đối diện hí trường, con đường mang tên Hải Cảng dẫn tới bến tàu. Bỏ đường này chúng tôi tiếp tục đi thẳng hướng Thư viện, đường Đá Hoa (marbre) rộng thênh thang thẳng tắp, những phiến đá hoa không đều, tảng 2m x 2m, tảng 70cm x 50cm… hai bên những cột đá cao, cái đứt đầu, cái gãy ở lưng, chạy dọc dài theo con đường. Đi ngang qua quảng trường Agora, thấy xa xa một bức tường cao, ngay người không am tường về kiến trúc, không để ý tới mỹ thuật cũng phải nhận là đẹp, đẹp thật ! Khi tới gần thì đúng chỉ còn một bức tường mặt tiền. Cao 16m, chia thành 2 tầng, tầng dưới có 4 mỹ nữ dựng trên những bức tường cạnh cửa vào thư viện. Mỗi mỹ nữ giữ một tôn chỉ mà dân thành Êphêsô muốn hướng tới. Có 9 thang cấp bằng đá, mỗi bậc mở rộng 21m. Phía trong nhìn theo nền nhà, phòng đọc sách dài rộng 16m trên 10m. Ở giữa thư viện, ngôi mộ của Celsius Polemaenus tổng trấn vùng Tiểu Á, nên thư viện này có tên Celsius. Ngày nay bức tường nguy nga này được các các nhà khảo cổ, chuyên gia đánh giá rất cao, và xem là một kiến trúc hoàn mỹ, tuyệt vời có một không hai, cho thấy được đỉnh cao của nền văn minh cổ thành Êphêsô vào giai đoạn này.
http://giaophanvinh.net/uploads/spaw/news/1256222672.nv.jpg
Thư viện Celsius
Xem qua các di tích cổ xưa khác như nhà cầu công cộng, nhà tắm công cộng với hệ thống thoát nước hoàn bị. Đền Hadrian, máy nước Trajan, cửa ngõ Heracle, chúng tôi đi vào con đường Curetes dài 600m, hai bên đường cột đá tuy gãy đổ nhưng thẳng tắp như một đại lộ ngày nay. Qua tượng đài Memminus, đền Dominitian……càng đi, càng thấy như trở về một thế giới cổ xưa, xa lắm. Chúng tôi lên xe tới Vận Động Trường, hiện tại hầu hết đã hư hại, xa xa thấy có người vẫn còn đào bới, nên người tham quan ít có dịp vào đây xem được. Trên đường đi, đây đó vẫn còn thấy các nhà nghiên cứu, khảo cổ tiếp tục đào xới tìm kiếm, hay tu sửa, bảo trì. Người đi tham quan cổ thành Êphêsô như lạc vào một thế giới huyền hoặc, đây đó có bước chân của Thánh Phao lô, Thánh Gioan, có bước chân của các Lãnh Chúa thay ngôi đổi chủ. Mỗi tảng đá, mỗi cột đá nơi có chữ, nơi có hình như khắc ghi cả một qúa khứ.
Bên cạnh những chứng tích lịch sử, chúng tôi cũng không không quên tới hang động ‘‘Bảy Người Ngủ’’, huyền thoại kể lại vào thời Vua Decius (249-251) người theo đạo Thiên Chúa rất khốn khổ. Bảy tín hữu còn trẻ bị tội tử hình, bị truy nã họ chạy thoát ra khỏi thành, trốn vào nơi hang động, những người truy lùng bịt kín miệng hang động, không cho các tín hữu này thoát, nên phải ngủ lại luôn trong đó. Hai trăm năm sau thời vua Théodose II, khi đạo Thiên Chúa trở thành quốc giáo, qua một trận động đất hang động bị nứt, 7 người lù lù bước ra trở về Êphêsô. Khi chết thật 7 người lại được chôn cất trong hang động này. Ngày nay còn nhà nguyện tống táng, các ngôi mộ của họ được đục chôn trong tường, dưới đá.
Khoảng độ 12 giờ trưa trời nắng nóng, xem vội một số phế tích, chúng tôi phải từ giã Êphêsô, vì còn di chuyển tới điạ điểm đã được định sẵn.
http://giaophanvinh.net/uploads/spaw/news/1256222799.nv.jpgCách cổ thành Êphêsô 3km, xe rẽ vào con đường đất thật nhỏ, vừa đủ cho một chiếc xe chạy ra hoặc vào. Độ vài chục mét xe dừng trước một khu đất rộng, nơi đây ngày xưa là đền Artémis một trong 7 kỳ quan trên thế giới, nơi khách tứ phương tuôn về hành hương. Đền Artémis xây vào năm -560 trước TCGS trên nền một ngôi đền cũ cùng tên. Không may năm -356 đền Artémis bị hỏa hoạn do Érostrate một tên bất bình thường châm lửa đốt chỉ vì muốn mình được nổi danh, ghi tên vào lịch sử. Sau trận hoả hoạn, đền được xây dựng lại, nhưng rồi lại bị tàn phá, chỉ còn lại vùng đất lún sâu. Ngày nay một cột đền dựng lại nơi này làm biểu tượng. Qua nền đất chỗ còn chỗ mất, nhìn thấy khung hình chữ nhật, 105 m trên 55 m.
Bên cạnh vùng đất Artémis, có thánh đường Hồi giáo Isa Bey, xây cất vào năm 1375. Thánh đường được bảo trì nên ngày nay vẫn còn nguyên vẹn.
http://giaophanvinh.net/uploads/spaw/news/1256222916.nv.jpgVà cũng sát đó trên một đồi đất cao hơn, vùng đất mênh mông, trông thấy đền đài to lớn sụp đổ đó là đại giáo đường Thánh Gioan. Khác với thánh Phaolô rao giảng Tin mừng ở Êphêsô năm sáu năm, bị tù đày,rồi ra đi tới các vùng xa xôi khác. Thánh Gioan tới Êphêsô giữa những năm 37 tới 48 sau TCGS. Ngài viết Phúc âm thứ tư nơi đây và thánh nhân ở lại đây cho tới mãn đời. Mộ Ngài đặt trên đồi Ayasuluk này. Xưa kia có một thánh đường nhỏ, bị mưa gió sụp đổ, Hoàng đế Justinien xây dựng lại một đại thánh đường dài tới 110 m. Sau những cuộc đổi đời đại giáo đường hư hại nhiều, nhất là khi đoàn quân Mông cổ tràn qua đây đã đốt phá trên đỉnh đồi này. Ngày nay quanh mộ Thánh Gioan chỉ thấy những phế tích sót lại, tuy đổ nát sụp đổ nhưng người tới tham quan không khỏi ngạc nhiên qua sự đồ sộ to lớn của ngôi đại giáo đường này.
Meryemana - Nhà Đức Trinh Nữ Maria
Günaydin. – Günaydin, người tài xế taxi chào lại chúng tôi. Meryemana ‘e gidecegim - Ne kadar (tôi muốn tới nhà Đức Trinh Nữ - giá bao nhiêu) Ông tài xế cười tít mắt, khi nghe chúng tôi nói được vài câu tiếng Thổ bì bõm. Có lẽ tiếng Thổ không khó lắm, ít ra họ nghe được mình nói gì. Văn tự Thổ dùng mẫu tự La tinh từ lúc tướng Mustafa Kemal còn gọi là Atatürk truất ngôi vua, thành lập chính thể Cộng hòa, muốn tách rời mọi ảnh hưởng với khối Ả Rập, cho dịch kinh coran qua tiếng Thổ, bỏ lịch Hồi giáo để theo tây lịch, theo hệ thống đo lường Âu châu, giải phóng phụ nữ… nói chung lấy các nước Âu châu làm mẫu mực. Người Thổ tự hào cũng đúng. Dân tộc xa xưa ở tuốt bên trung bộ châu Á, nơi miền núi Altäi, biên giới Tàu - Nga sô, cùng gốc với người Mông Cổ. Từ thế kỷ thứ 9 họ tiến dần vế hướng Tây, qua các nước Iran, Arménie, Syrie. Thế kỷ 13 họ tiến tới vùng Ankara thấy phong thổ tốt, dừng lại đây sinh sống (Ankara ngày nay là thủ đô của Thổ Nhĩ Kỳ). Quân đội Thổ hùng mạnh, thiện chiến, cưỡi ngựa không yên cương, tấn công như vũ bão. Họ mang quân đi chinh phục, tạo thành một đế quốc rộng lớn, thu phục hầu hết các xứ Hồi giáo vùng Trung Đông, Bắc Phi. Tung hoành trên Điạ Trung hải, Hắc hải rồi tiến lên phiá Đông giáp Áo, Ba Lan, Liên xô. Hưởng được 2 nền văn minh nhất thế giới thời thượng cổ : Ai cập và Mésopotamie. Như vậy người Thổ không phải là người Ả rập và cũng chỉ mới tới vùng đất này ở thế kỷ 13. Ảnh hưởng của đế quốc Ả rập Hồi giáo trong suốt 4 thế kỷ trước đó để lại 90 phần trăm người Thổ theo đạo Hồi. Một sai lầm lớn nhất của Thổ là đứng về phe Đức trong thế chiến thứ nhất. Sau thế chiến các nước đồng minh tranh nhau lấy đất như Anh, Pháp, Ý, Hy lạp.
Đối thoại với tài xế taxi một chút xe đã tới cổ thành Êphêsô, từ đây xe bắt đầu leo dốc. Đường tuy tốt nhưng ngoằn ngoèo, vòng qua những sườn núi càng lúc càng lên cao độ. Khoảng 4km xe chậm lại, qua cổng kiểm soát xe đổ xuống một thung lũng cây cối rợp mát. Vào bãi đậu, hàng quán hai bên đường bày bán đồ lưu niệm, thực phẩm. Qua dãy hàng quán, có bảng chỉ hướng nhà Đức Mẹ. Cũng từ nơi đây mọi người im lặng, đi dưới những tàng cây bao phủ bóng mát. Chừng 50 mét, phiá trái nhiều người đang hứng từng ngụm nước uống từ sườn đồi. Xa hơn, cũng về phía trái đã thấy nhà Đức Mẹ.
Đứng trước cửa nhà của Mẹ, có lẽ ai cũng xúc cảm khi thấy căn nhà Mẹ ở thật đơn sơ. Nhiều người mân mê từng viên đá, bức tường hình dung lại nơi đây, trong căn nhà này Đức Mẹ, Mẹ Chúa Trời đã sống những ngày cuối đời trước khi Mẹ về trời.
Nhà không lớn, chiều rộng và dài căn nhà độ khoảng 4x10 mét, cuối nhà phía phải còn một phòng nhỏ khoảng 3x4 mét đổ ra sân. Tường cuối nhà dựa vào lưng núi, cây cối phủ mát căn nhà. Trong nhà hiện nay đặt tượng Đức Mẹ và 3 tấm bảng nhỏ ghi ngày tháng 3 vị Giáo Hoàng đã tới viếng : Các Đức giáo hoàng Phao lô đê lục 26/07/1967, Gioan-Phaolô II 30/11/79 và Bêniđictô 29/11/2006 . Trước đó Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII cũng đã viếng thăm khi Ngài còn là Hồng y. Ngoài ra các Đức Giáo Hoàng Léon XII, Pio X, Léon XIII cùng có chung một quan điểm là Đức Trinh Nữ đã sống trong căn nhà này.
Trước đây mọi người đều nghĩ Đức Mẹ ở Giêrusalem cho đến cuối đời. Thật ra khi chịu đóng đanh trên thập tự Chúa Giêsu đã gửi gắm Đức Mẹ cho thánh Gioan, môn đệ Chúa yêu mến. ‘‘Thưa Bà, đây là con của Bà’’ Rồi Ngài nói cùng môn đệ : ‘‘Đây là mẹ của anh…’’ (Ga 19,26-27). Thánh Gioan sau này đã tới vùng Tiểu Á, và một điều chắc chắn Ngài đã không để Đức Mẹ một mình ở Giêrusalem. Mộ Thánh Gioan hiện đặt trên đồi Ayasuluk
Câu chuyện căn nhà Đức Trinh Nữ thật hi hữu. Sơ Anna Katharina Emmerich ở nước Đức viết cuốn sách "Cuộc sống của Thánh Nữ Đồng Trinh" vào năm 1822, mô tả một cách chính xác ngôi nhà Đức Trinh Nữ ở vùng Êphêsô. Sơ Emmerich chưa từng đi du lịch ra khỏi nước Đức, Sơ lại luôn đau yếu. Trước hai năm từ trần, với một thiên nhãn, Sơ đã nhìn thấy khung cảnh nơi Đức Mẹ sống, nhất là lại ở Êphêsô chứ không phải Giêrusalem. Rất tiếc cuốn sách không được ai để ý tới.
Gần bảy mươi năm sau, giữa tháng 11 năm 1890 lại một chuyện tình cờ khác xảy ra. Sơ Mairet bề trên tỉnh dòng nhờ cha Eugene Poulin tìm giúp Sơ một cuốn sách đọc cho Nhà Tập. Cha Poulin vui vẻ nhận lời. Ngài đi thư viện kiếm về một lô sách đọc trước, trong đó có cuốn viết về ngôi nhà Đức Mẹ của sơ Anna Katharina Emmerich. Ngài đọc qua nhiều cuốn, riêng cuốn "Cuộc sống của Thánh Nữ Đồng Trinh" Ngài bỏ qua một bên không đọc để đem đi trả. Vậy mà năm lần bảy lượt mang sách trả thư viện, lúc thì vô ý, khi thì cố tình, cuốn sách vẫn năm nguyên trên bàn. Cha Poulin kể lại, không phải Ngài không muốn đọc, chỉ vì câu chuyện về ngôi nhà Đức Mẹ cha đã được nghe từ lúc ngài 25 tuổi, khi còn là một linh mục trẻ mới chịu chức. Cha Denys cựu bề trên Đại chủng viện thường kể câu chuyện này vào những buổi tối giờ giải lao, nhưng các cha, trong đó có ngài lúc nào cũng phá lên cười và cho đó là chuyện tàm phào, chuyện « đàn bà », hơi đâu mà để ý.
Cuốn sách cứ như thách thức ngài cho tới lúc ngài bực tức cầm ném vào tường. Sau một tuần lễ cuốn sách vẫn bất động ở một xó tường, cha Poulin nhìn thấy tội nghiệp, phủi bụi cầm lật tới lật lui, đọc ít hàng rồi lại lật…. cha đứng đó đã gần 1 giờ đồng hồ rồi.
Hay quá ! Lạ quá ! Ngài muốn cùng chia sẻ với mọi người. Khi cha Poulin mang sách giới thiệu cho các linh mục khác ai cũng cười và cùng một luận điệu : chuyện « đàn bà ». Nhưng cha Poulin không buông tha « cứ đọc đi sẽ thấy ». Đúng như ngài nói, các vị khác cũng đã chuyển lòng. Nhưng rồi cha Poulin cần tới một người khác, đó là cha Jung, vì ngài biết ý kiến cha Jung sẽ có ảnh hưởng, cha Jung là một nhà trí thức, giáo sư khoa học, giáo sư toán học và nổi tiếng giải thích những chuyện huyền bí rất khoa học. Kể từ lúc cha Jung tiếp nhận cuốn sách trên mọi chuyện đã trở thành hiện thực.
http://giaophanvinh.net/uploads/spaw/news/1256223044.nv.jpg
Thật ra vào năm 1881, trước đó 9 năm, cha Gouyet điạ phận Paris cũng đã đọc sách của sơ Anna Katharina Emmerich và đi Êphêsô tìm tòi. Ngài thấy vết tích về căn nhà này và Ngài đã báo cáo về thẩm quyền ở Paris và Roma nhưng không được trả lời.
Trở lại các cha dòng Lazarites. Cha Poulin va cha Jung quyết định phải tới điạ điểm trên tìm cho ra hư thực, các ngài tìm kiếm thêm những hướng dẫn viên trong vùng. Qua bao khó nhọc vất vả và nguy hiểm, cho tới một ngày : hôm đó là thứ năm ngày 13 tháng tám năm 1891, các ngài tới trước sân một nhà nguyện đổ nát. Trông thấy cảnh tượng giống như sơ Emmerich mô tả trong sách : có núi đá sau nhà, trên núi nhìn thấy Êphêsô và thấy biển. Trong nhà chia hai phòng…. Các Ngài tìm tòi lục lọi thấy những đồng tiền cũ, đồ sành, đồ gốm. Trong nhà còn có đống đá, phía dưới có tro.
Trở về, các cha để trình lên Giám mục Timoni, điạ phận Smyrne. Đức Giám mục đề cử một ban có khả năng gồm : 7 linh mục,2 giáo dân cùng ngài đến điạ điểm trên. Ngày 1 tháng 12 năm 1892 đoàn người lên đường tới Meryemana. Qua cuộc khảo sát, Đức Giám mục và mọi người tham dự nhận thấy đúng như sơ Emmerich đã viết trong cuốn sách. Sơ Marie de Mandat Grancey lập tức mua vùng đất với giá 40.000 quan Pháp và sơ đã dùng số tiền khi nhập dòng để sửa sang lại nhà nguyện này. Từ năm 1951 vị trí Meryemana chính thức được Vatican và giáo hội Chính thống giáo Đông phương công nhận là nơi hành hương.
Chúng tôi may mắn được tới nhà Đức Mẹ, giờ đây lại chuẩn bị tâm hồn để tham dự thánh lễ Chúa nhật ngay cạnh nhà của Mẹ, còn gì diễm phúc hơn. Các cha dòng Phanxicô cùng các sơ khăn áo màu xanh da trời, không biết thuộc dòng nào thu xếp chuẩn bị Thánh lễ. Đặc biệt nguyên cả thánh lễ chỉ một sơ hát xướng, không đàn không trống. Âm thanh lúc trầm lúc bổng hợp với tiếng chim, tiếng ve làm không khí trên ngọn núi ở cao độ 358 m trở nên thanh thoát nhẹ nhàng.
Nhìn hàng ngàn người tới hành hương nhà Đức Mẹ : Công giáo có, Chính thống giáo có và đông nhất là người Hồi giáo, cùng nghĩ tới chuyện thánh Gioan sắp xếp để Đức Mẹ ở ngọn núi cao ngất trên trời, chắc chắn phải có bàn tay Thiên Chúa đã làm nên mọi sự.
Tối nay, chúng tôi về từ một lữ quán đón khách trên con đường tơ luạ còn sót lại trong vùng, đứng trên lan can tòa nhà cao nhìn về hướng Êphêsô, chỉ thấy tối đen không một bóng điện, có lóe lên một chút ánh sáng nơi ấy cũng chỉ là những vì sao trên trời. Nhìn xuống dưới kia, một đoàn thanh niên nam nữ múa hát, y phục màu tím và nâu sậm, tạo thành vòng tròn, lớp tiến vào, lớp lui ra như nước thủy triều lên xuống, lại có lúc đi nửa vòng tròn rồi giật ngược lại. Âm vang tiếng hát đều đều không mấy thay đổi. Chúng tôi cố hình dung tìm trong điệu vũ, tiếng hát đó có chút gì còn rơi rớt lại của người Êphêsô xưa kia, nhưng tất cả cũng chỉ là bóng đen như nhìn về hướng cổ thành vậy.
Viết bên bờ biển Egée ngày 29 tháng 8 năm 2009
Nguyễn Minh Long