phuonglavang
14-11-2009, 04:01 PM
Đầu tháng Các Đẳng linh hồn (01/11/2009), tôi được một vị bô lão đồng hương tặng tập tài liệu phô tô cả tiếng Pháp và phần dịch tiếng Việt, tài liệu có hơi nhòa, khó đọc, nhất là đối với người lớn tuổi. Đây là tài liệu quý, tôi nghĩ cũng ít người có, nên ngồi đánh máy lại phần tiếng Việt để ai cần đọc thì đọc dễ dàng hơn. Tập tài liệu này có tựa đề:
MỘT TRANG HUYẾT LỆ
TRONG LỊCH SỬ TỈNH QUẢNG TRỊ
THÁNG CHÍN TÂY NĂM 1885
`
Tác giả: ông JABOUILLE
Nguyên Công sứ Quảng Trị
Tôi vừa đến nhận việc tại trú sứ Quảng Trị thì tôi liền tiếp nhiều lá đơn kêu ca về những sự trộm cướp trâu bò xảy ra, nhất là tại địa hạt Cam lộ và Gio linh.
Lúc bấy giờ, các Nam quan thương với tôi về sự tái lập trong mỗi một làng những xích- hậu (điếm canh) tại các ngả ba, ngả tư đường sá để phòng ngự trộm cướp. Dân trong mỗi làng phải chia phiên lo việc tuần phòng.
Lúc đó, trong một làng lương giáo tham bán kia thuộc miền Bái trời, một viên lý trưởng bất mãn vì thấy giáo dân không chịu canh tuần, nên trong cơn xung giận, tuyên bố rằng sự tái lập các xích- hậu là cái triệu sẽ có giặc giã mà nhân sự giặc giã ấy hết thảy giáo dân sẽ bị tàn sát như hồi năm 1885 vậy. Nghe nói như thế, không suy nghĩ hư thiệt thế nào, hết thảy người có đạo trong làng, tất nam, phụ, lão, ấu đua nhau lìa bỏ nhà cửa, đồ đạc, áo quần, mùa màng, không thèm mang theo mình một mảy may gì hết, họ kéo nhau đi trốn và đến xin vị Linh mục thừa sai Pháp gần hơn hết đang coi sóc Hội giáo Phước- sơn cứu giúp và che chở họ cùng.
Sự xảy ra đó, may không có kết quả hệ trọng gì. Các vị Linh- mục Thừa- sai và quan địa phương hiểu lẽ cho họ, nên họ trở về làng mà lo an cư lạc nghiệp.
Đối với một người không rõ nguyên do thật là một chuyện không thể tin thật được: chỉ nhớ đến năm 1885 thì có thể làm cho giáo dân ở miền ấy lập tức kinh khủng.
Vậy năm 1885 đến nay là 54 năm rồi, đã xảy ra sự việc gì ghê gớm mà nhớ đến thì đã sinh ra cảnm xúc lạ lùng đến thế?
Chúng ta biết rõ quan phụ chánh Tôn -thất -Thuyết mưu ám sát ngừơi Pháp tại Huế bị bại lộ, đem vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở (Cùa) gần Cam -lộ v.v…
Chúng ta cũng biết rằng sự xây đắp đồn lũy tại Cùa sắp đặt đã lâu, trong hai năm trời dân chịu khổ sở vì phải làm vô số tư ích; nhưng những điều kể trên cũng không giải cho chúng ta rõ cái nguyên cớ sự kinh khủng, hoảng hốt của các giáo dân khi nhớ đến năm 1885.
Chỉ nhờ một vài vị linh mục thừa sai và ít quan lại, nên tôi mới rõ rằng năm 1885, và nhất là trong tháng chín Tây năm ấy, tỉnh Quảng trị là một các trường tàn sát các giáo dân, dự định và tổ chức có quy củ do đảng Văn –Thân, lại được một (mà có lẽ cả hai) quan phụ chánh khuyến khích và ủng hộ, nên hầu hết các họ đạo, trừ chủng viện An ninh, đều bị cướp của, đốt nhà; còn những người công giáo nào mà lọt vào tay đảng đều bị giết một cách tàn nhẫn.
Những thời ấy, trong một tháng mà hơn tám ngàn người bị chém giết như ta sẽ thấy sau này, làm cho ta hồi tưởng đến những trang thê thảm trong lịch sử La-mã Đế quốc.
Sao mà lương tâm thình lình nổi dậy? Có phải tại Công giáo có thế lực hơn và càng ngày càng truyền bá khắp nước Nam? Những nam, phụ, lão, ấu mà người ta đốt và chém có phải chỉ vì họ không chối Đức Chúa Giêsu, vì họ một lòng trung thành với đạo Công giáo hay sao?
Lược xét sự giao tế của Nam - triều với các nước Âu- châu và nhứt là với nước Pháp trong thế kỷ XIX, thì hiểu rõ cái nguyên do vì sao năm 1885 xô đẩy một hạng người Nam đem dã tâm tàn sát người đồng chủng. Cũng vì tin rằng những người ấy nguy hiểm cho họ và chánh sách họ.
Gia-Long Hoàng đế hết phương khôi phục ngôi báu, nên xin Đức Thầy Phêrô giúp mình. Ngài biết ơn, không phải biết ơn chính phủ Pháp, vì chính phủ Pháp lúc ấy vô lực, Ngài biết ơn những người Pháp có lòng quyết định giúp Ngài rất công hiệu mà Ngài khôi phục ngôi báu và trị an trong nước. Những người Pháp ấy biến lìa rất chóng khỏi trường chính trị An-Nam.
Đức Thầy Phêrô ly trần năm 1799, chỉ còn bốn người Pháp ở lại triều Gia –Long. Những người ấy đại diện cho chánh thể cũ và có lẽ cũng không ra sức buộc chặt cái dây liên lạc giũa nước Nam và Đế - quốc Pháp do các mạng tạo ra.
Dẫu sao đi nữa vua Gia-Long cũng có thịnh tình đối với người Pháp hết thảy. Ngài tiếp kiến một cách lãnh đạm những người Anh –cát –Lợi, vì Ngài biết họ muốn chiếm đảo Côn-Lôn và cửa Hàn. Còn đối với người Pháp, thì Ngài ban chức tước, coi họ như người Hoàng tộc vậy.
Ngài tỏ lòng khoan dung đối với sự truyền bá đạo Công-giáo, vì Hoàng - đế cũng đồng ý với quốc dân cho rằng người Pháp là người Công- giáo mà đãi người Pháp tử tế thì cũng phải đãi đạo Công-giáo như vậy (Xem J.B Chaigneau, do A.Salles soạn và đăng trong tạp chí Thần kinh hiếu cổ năm 1923, trang 66 và tiếp theo).
Chúng ta đả động đến một ý kiến- và tôi rõ ý kiến tôi nhiều nhà danh vị không tòan biểu đồng tình, cũng có dính vào những sự tôi sẽ kể sau này. Xem đó thì rõ cái căn do vấn đề tôn giáo ở nước Nam. Tùy theo chánh sách bài Pháp hoặc thân Pháp mà đạo Công –giáo sẽ bị bắt bớ hoặc hoan nghênh, vì nước Nam không khi nào phân biệt đạo với những đấng đem đạo ấy qua; cho rằng đạo Công –giáo là một cái đạo phương Tây, là một thứ đạo nhập cảng, vậy những người tín đồ đạo ấy dẫu có muốn hay không, dẫu có biết hay không, cũng là tương thân, cũng là đồ đệ, cũng là đại diện cho phuong Tây, lúc nào bất mãn với người Tây phương thì cho giáo hữu là đồng đảng của các “Tây quỉ” ấy vậy.
Âu là vì chút ý tưởng ấy mà tòan lịch sử giao tế của nước Nam tự diễn giải một cách rất rõ ràng; vì không ai mà nghĩ rằng sự phản đối cái đạo từ Âu- châu truyền qua là do lòng sùng đạo bổn quốc, vì những sự tín ngưỡng khác nhau tùy ý mỗi người lấy trong Phật giáo và Lão giáo, thực ra không phải như những tôn giáo Hồi-hồi và Công –giáo ở bên Tây –phương.
Chúng tôi rõ biết rằng nước Nam thịnh tình với đạo Công- giáo hay không, tùy sự giao tế của nướcNam với châu Âu và nhất là với nước Pháp khi thân mật hay lãnh đạm.
Về triều Gia-Long sự thân Pháp là một câu chuyện thích thời; đạo Công –giáo được thịnh vượng; các vị Linh -mục Thừa -sai tự do lai vãng, ký ngụ và được các quan vị nể. Nhưng mà những cái đặc ân một vài người Pháp được hưởng tại triều Gia-Long làm cho phái Văn-Thân oán hận chua chát, mà họ là những nhà quân sư mà cũng là tay sai của nhà vua. Nên không chầy thì kíp đã xảy ra sự phản động đối với ảnh hưởng các người châu Âu trong cuối triều Gia-Long (xem tạp chí Thần kinh Hiếu-cổ, năm 1923, trang 70 và tíếp theo).
Về triều Minh –Mạng hòan cảnh thay đổi rất chóng (xemT.C.T.K.H.C năm 1923, trang 87,93 và tiếp theo).
Ông Nguyễn - văn-Thắng (Chaignceau) trở lại nước Nam làm lãnh- sự mang theo một bức thư của vua Lu-Y thứ mười tám, yêu cầu sự tự do thương mại. Vua Minh –Mạng chằng để ý đến người Anh-cát-Lợi ở Ấn -độ và chuyện mạo hiểm của Tippo-Sahid mà người Pháp ủng hộ một cách vô hiệu, nên không phúc thơ đáp lại những lời yêu cầu. Năm 1882, ảnh hưởng bài ngoại rất bành trướng. Ông Coursen de la Ville Helio đáp tàu Cleopâtre đến xin bệ kiến. Chính mình ông Chaigneau cũng khuyên chưa nên cho tàu buôn qua, để tránh sự xung giận của hàng quan lại. Ít lúc về sau, sứ thần Crawford cũng không được tiếp kiến một cach sốt sáng. Sau hết, ông Nguyễn - văn-Thắng (Chaignceau) và ông Nguyễn-văn –Chấn (Vanmer) thấy các quan phản đối ngấm ngầm và những sự miệt thị biểu lộ ra với họ, nên họ lìa bỏ triều Minh-Mạng mà về nước nhà.
Tháng ba năm 1825, ở nước Nam chỉ còn những vị linh- mục thừa- sai đại biểu cho Âu –châu.
Nhưng mà cái dụ thứ nhứt mà gọi là “ Dụ bắt đạo” thì đã hạ trong tháng hai tây năm 1825, Vua chưa dám đả động đến các vị linh-mục thừa-sai, vì các vị ấy đã giúp và đã mục kích các thời gian lao của tiền Triều; nhưng mà đã lần lần nhượng bộ theo phái bài ngoại, nên cấm các cố khác tự hậu không được vào trong nước. Chẳng phải là người ta ghét và bài đạo Công –giáo vì là một tôn giáo. Người ta ra sức bài trừ cái “tả đạo” của người Âu- châu làm mê hoặc lòng dân, nên những tầu Pháp phải bị xem xét coi có chở những vị linh- mục thừa- sai không, kẻo họ đổ bộ lên được (Xem E.Louvel: Nam-kỳ tôn- giáo, quyển nhì, trang 41).
Như thế chúng ta có thể theo từng bước mà giãi bày về lịch sử ngoại giao của nước Đại- Nam và chỉ rõ những kỳ bắt bớ các giáo dân và các vị thừa- sai, thì khi nào cũng vì cái tình cảnh gay gắt của sự giao tế giữa nước Nam với Âu-châu; nhưng đây chúng ta vội nói đến cái thời kỳ trước loạn Văn-Thân, là trước năm 1885 cho rồi.
Đến lúc người Pháp đánh nước Nam và vua Nam mất Nam- kỳ lục tỉnh, thì mới hết thời kỳ bắt đạo nước Nam.
Phái Văn-Thân và quan trường không có thể ngăn cản một nước Âu –châu can thiệp việc nước mình, nên họ muốn cho người Công-giáo phải chịu trách nhiệm của những thời cục chính họ không biết phòng trước, và không đủ sức ngăn cản. Họ coi các giáo dân là những kẻ thông mưu với người Pháp, vì phần nhiều các vị thừa-sai là người Pháp.
Trong tờ hịch truyền khắp mọi nơi, phái Văn-Thân nói rằng: Bọn giáo dân là quân phản quốc, là kẻ thông mưu cùng người Pháp, làm lợi cho nước Pháp: hễ trừ được quân “tả đạo” nội công đó, thì tự nhiên người Pháp phải trơ trọi yếu thế, như cua mất càng không bò, không kẹp được nữa” (Xem cái hịch nầy năm 1886, trong tiểu sử Đức Cha Puginier, do cố E. Louvel soạn, in tại nhà in Schneider Hanoi năm 1894, trang 395).
Cửa Thuận –an thất thủ, tờ hòa ước nhận chánh thể bảo- hộ làm cho phái Văn-Thân uất ức cực điểm nhất là quan phụ chánh Tôn-thất –Thuyết và quan phụ chánh Nguyễn –văn-Tường (Xem sách đề là nước nam từ ngày 5 tháng bảy tây năm 1885 đến ngày 4 tháng tư tây năm 1886, do quan tướng X*** soạn; in tại Paris, tại nhà in Chapelot năm 1901, trang 9 và trang 128). Nhưng mà ông Nguyễn-văn -Tường hành động một cách bí mật, họ cứ cố giữ cái não ấy chờ cơ hội để hành động.
Của Thuận-an thất thủ (năm 1883), người ta liền dùng hai định kế để cứu tương lai nước nhà, nêm một mặt dời triều đình và chánh phủ đến một nơi có thành trì kiên cố, địa thế hiểm trở, binh Pháp không đánh tới nơi được; còn mặt khác, mật dụ Văn-Thân khắp trong nước hẹn nhau lấy một ngày cùng nổi lên giết người Pháp và bọ nội ứng của họ là giáo dân.
Lúc bấy giờ, họ quyết định lợi dụng chốn hiểm trở của xứ Cùa để lập một tân đô (Tân -sở), cách Cam-lộ chừng tám, chín cây số, để vua lánh ẩn, giấu kín của quí và những vị yếu nhơn trong triều chính.
Còn về sự “bình Tây sát tả”, thì tất cả các tỉnh đều thi hành một lượt và mưu ấy đã sắp đặt kỷ lưỡng trước (Xem Thần kinh Hiếu –cổ năm 1920, trang 259 và tiếp theo: Prise de Huế par les Francais, le 5 juillet,par Ad. Delvaux).
Công việc ghê gớm ấy thì phú cho phái Văn-Thân hạ thủ, nên họ thừa dịp thúc giục bọn phấn nghĩa cùng dân, lúc nào cũng sẳn cướp phá giáo dân và các hội giáo vì tưởng rằng rất nhiều tiền của.
Sự xây đắp thành trì Tân –sở cũng là một dịp cho phái Văn-Thân lợi dụng để khuấy phá giáo dân. Họ bảo với nhân dân đến xây thành trì ấy rằng: công việc lao khổ nặng nề nầy cũng bởi giáo dân, là quân nội công của người Pháp, là bọn phản quốc, gây nên, buộc vua quan bất đắc dĩ phải phòng bị và dời đô đi nới khác. Nhiều mật dụ truyền cho phái Văn-Thân và những làng lương dân chắc chắn trung thành phải rèn đức khí giới để trị tội những “nội Pháp” (chỉ người giáo dân), và thừa cơ ai nấy cũng phải tuân lịnh các đại tướng truyền xuống. Thoạt tiên hễ có lệnh truyền, thì thuyền bè, đò ngang tam bản đều tịch thu để lo việc vận tải, và những lệnh truyền phải tuân hành lập tức, nếu không thì hào mục và nhân dân phải bị xử trảm.
Những mật dụ ấy nói cách mờ mờ, nhưng các vị Thừa-sai cũng hiểu được ít nhiều. Giáo dân hoảng hốt vội vàng bày tỏ sự bối rối mình với các Linh- mục. Đức cha Lộc (Mgr Caspar) lo sợ nên yêu cầu quan Tây xin thu hồi mật dụ ấy.
Xem dưới đây một đoạn lý thú mà một vị võ quan lúc bấy giờ đóng tại Hải –phòng, ngày 20 tháng ba tây năm 1885 gửi đăng trong báo Thời Thế như vầy: “ Có mật dụ tại Huế truyền ra định qua tháng tư năm 1885 khắp nơi sẽ có cuộc chém giết. Về điều này tôi không bối rối chút nào hết, vì từ khi tôi đến xứ nầy, những mật dụ như vậy đã tầng có năm, sáu lần rồi, khi nào họ cũng định tàn sát chúng tôi hết”. (citépar Huart. Guerre du Tonkin, page 568).
Vậy Đức Cha Caspar (Lộc) hết sức can thiệp, yêu cầu bộ Lễ thu hồi mật dụ hạ hồi tháng tư năm 1883, vì mật dụ ấy trái với hòa-ước năm 1884. Nhưng quan Pháp ở Huế không tin, nên những lời của Ngài yêu cầu cũng vô hiệu.
Trong cái lịch của vua Hàm-Nghi mà chính quan phụ chánh Tôn-thất-Thuyết đã truyền ra ba tháng sau khi lìa khỏi chốn kinh đô (ngày 11 tháng tám): “ Trẫm quyết định phải huyết chiến tại Huế. Nếu được thắng lợi, thì khanh Nguyễn-văn-Tường phải tổ chức một đội cấm-binh hộ giá ra những tỉnh Nghệ-an và Hà-tỉnh; còn khanh Tôn-thất-Thuyết phải lưu tại Huế để thực hành việc “sát tả”, vì bọn này là quân thông mưu cùng “mọi Tây dương”. Nếu như chúng ta bị thất bại, Trẫm và tùy giá phải đào nạn, hầu tìm một phương kế khác mà khôi phục giang san” (Massacres…I, page 26 et 27: những cuộc tàn sát, quyển thứ nhất, trang 26,27. L’annam, par le Géneral X*** page 186- Le Laos et le Protectoral francai, par le Capitaine Gosselin Paris, chez Perrin, page 137 et suin-Id, page 321; (Nước Lào và cuộc Bảo hộ Pháp do quan đại úy Gosselin chép in tại Paris tại nhà in Perrin, trang 137 và tiếp theo và trang 321).
Ngày 5 tháng 7 tây năm 1885, kinh thành thất thủ, nên tất nhiên có cuộc phục thù thực hành âm mưu đã sắp đặt kỹ lưỡng hai năm trời.
Cuối tháng 7 tây năm 1885, trong những tỉnh về miền Nam, thấy cuộc đốt chém ghê gớm tàn hại giáo dân, và trong mấy tháng trời tòan nước Nam giáo dân bị tàn sát một cách thảm khốc ( Silvestre, Annales de L’ Ecole des Sciences Politiques, No du 15 Janvier 1898. page 107).
Dưới đây xin kể những số mục theo bản thống kê của địa phận Quy -nhơn.
Quảng Nam 428 người bị Văn –Thân giết
Quảng Ngãi 5.500 "
Bình-định 8.940 "
Phú-yên 5.890 "
Khánh –hòa 2.048 "
Bình-thuận 1.492 "
Tổng cộng 24.298 "
(còn nữa-tiếp theo phần địa phận Dinh –cát và các hội giáo mà nay gọi là Hạt và các giáo xứ tại tỉnh Quảng Trị).
MỘT TRANG HUYẾT LỆ
TRONG LỊCH SỬ TỈNH QUẢNG TRỊ
THÁNG CHÍN TÂY NĂM 1885
`
Tác giả: ông JABOUILLE
Nguyên Công sứ Quảng Trị
Tôi vừa đến nhận việc tại trú sứ Quảng Trị thì tôi liền tiếp nhiều lá đơn kêu ca về những sự trộm cướp trâu bò xảy ra, nhất là tại địa hạt Cam lộ và Gio linh.
Lúc bấy giờ, các Nam quan thương với tôi về sự tái lập trong mỗi một làng những xích- hậu (điếm canh) tại các ngả ba, ngả tư đường sá để phòng ngự trộm cướp. Dân trong mỗi làng phải chia phiên lo việc tuần phòng.
Lúc đó, trong một làng lương giáo tham bán kia thuộc miền Bái trời, một viên lý trưởng bất mãn vì thấy giáo dân không chịu canh tuần, nên trong cơn xung giận, tuyên bố rằng sự tái lập các xích- hậu là cái triệu sẽ có giặc giã mà nhân sự giặc giã ấy hết thảy giáo dân sẽ bị tàn sát như hồi năm 1885 vậy. Nghe nói như thế, không suy nghĩ hư thiệt thế nào, hết thảy người có đạo trong làng, tất nam, phụ, lão, ấu đua nhau lìa bỏ nhà cửa, đồ đạc, áo quần, mùa màng, không thèm mang theo mình một mảy may gì hết, họ kéo nhau đi trốn và đến xin vị Linh mục thừa sai Pháp gần hơn hết đang coi sóc Hội giáo Phước- sơn cứu giúp và che chở họ cùng.
Sự xảy ra đó, may không có kết quả hệ trọng gì. Các vị Linh- mục Thừa- sai và quan địa phương hiểu lẽ cho họ, nên họ trở về làng mà lo an cư lạc nghiệp.
Đối với một người không rõ nguyên do thật là một chuyện không thể tin thật được: chỉ nhớ đến năm 1885 thì có thể làm cho giáo dân ở miền ấy lập tức kinh khủng.
Vậy năm 1885 đến nay là 54 năm rồi, đã xảy ra sự việc gì ghê gớm mà nhớ đến thì đã sinh ra cảnm xúc lạ lùng đến thế?
Chúng ta biết rõ quan phụ chánh Tôn -thất -Thuyết mưu ám sát ngừơi Pháp tại Huế bị bại lộ, đem vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở (Cùa) gần Cam -lộ v.v…
Chúng ta cũng biết rằng sự xây đắp đồn lũy tại Cùa sắp đặt đã lâu, trong hai năm trời dân chịu khổ sở vì phải làm vô số tư ích; nhưng những điều kể trên cũng không giải cho chúng ta rõ cái nguyên cớ sự kinh khủng, hoảng hốt của các giáo dân khi nhớ đến năm 1885.
Chỉ nhờ một vài vị linh mục thừa sai và ít quan lại, nên tôi mới rõ rằng năm 1885, và nhất là trong tháng chín Tây năm ấy, tỉnh Quảng trị là một các trường tàn sát các giáo dân, dự định và tổ chức có quy củ do đảng Văn –Thân, lại được một (mà có lẽ cả hai) quan phụ chánh khuyến khích và ủng hộ, nên hầu hết các họ đạo, trừ chủng viện An ninh, đều bị cướp của, đốt nhà; còn những người công giáo nào mà lọt vào tay đảng đều bị giết một cách tàn nhẫn.
Những thời ấy, trong một tháng mà hơn tám ngàn người bị chém giết như ta sẽ thấy sau này, làm cho ta hồi tưởng đến những trang thê thảm trong lịch sử La-mã Đế quốc.
Sao mà lương tâm thình lình nổi dậy? Có phải tại Công giáo có thế lực hơn và càng ngày càng truyền bá khắp nước Nam? Những nam, phụ, lão, ấu mà người ta đốt và chém có phải chỉ vì họ không chối Đức Chúa Giêsu, vì họ một lòng trung thành với đạo Công giáo hay sao?
Lược xét sự giao tế của Nam - triều với các nước Âu- châu và nhứt là với nước Pháp trong thế kỷ XIX, thì hiểu rõ cái nguyên do vì sao năm 1885 xô đẩy một hạng người Nam đem dã tâm tàn sát người đồng chủng. Cũng vì tin rằng những người ấy nguy hiểm cho họ và chánh sách họ.
Gia-Long Hoàng đế hết phương khôi phục ngôi báu, nên xin Đức Thầy Phêrô giúp mình. Ngài biết ơn, không phải biết ơn chính phủ Pháp, vì chính phủ Pháp lúc ấy vô lực, Ngài biết ơn những người Pháp có lòng quyết định giúp Ngài rất công hiệu mà Ngài khôi phục ngôi báu và trị an trong nước. Những người Pháp ấy biến lìa rất chóng khỏi trường chính trị An-Nam.
Đức Thầy Phêrô ly trần năm 1799, chỉ còn bốn người Pháp ở lại triều Gia –Long. Những người ấy đại diện cho chánh thể cũ và có lẽ cũng không ra sức buộc chặt cái dây liên lạc giũa nước Nam và Đế - quốc Pháp do các mạng tạo ra.
Dẫu sao đi nữa vua Gia-Long cũng có thịnh tình đối với người Pháp hết thảy. Ngài tiếp kiến một cách lãnh đạm những người Anh –cát –Lợi, vì Ngài biết họ muốn chiếm đảo Côn-Lôn và cửa Hàn. Còn đối với người Pháp, thì Ngài ban chức tước, coi họ như người Hoàng tộc vậy.
Ngài tỏ lòng khoan dung đối với sự truyền bá đạo Công-giáo, vì Hoàng - đế cũng đồng ý với quốc dân cho rằng người Pháp là người Công- giáo mà đãi người Pháp tử tế thì cũng phải đãi đạo Công-giáo như vậy (Xem J.B Chaigneau, do A.Salles soạn và đăng trong tạp chí Thần kinh hiếu cổ năm 1923, trang 66 và tiếp theo).
Chúng ta đả động đến một ý kiến- và tôi rõ ý kiến tôi nhiều nhà danh vị không tòan biểu đồng tình, cũng có dính vào những sự tôi sẽ kể sau này. Xem đó thì rõ cái căn do vấn đề tôn giáo ở nước Nam. Tùy theo chánh sách bài Pháp hoặc thân Pháp mà đạo Công –giáo sẽ bị bắt bớ hoặc hoan nghênh, vì nước Nam không khi nào phân biệt đạo với những đấng đem đạo ấy qua; cho rằng đạo Công –giáo là một cái đạo phương Tây, là một thứ đạo nhập cảng, vậy những người tín đồ đạo ấy dẫu có muốn hay không, dẫu có biết hay không, cũng là tương thân, cũng là đồ đệ, cũng là đại diện cho phuong Tây, lúc nào bất mãn với người Tây phương thì cho giáo hữu là đồng đảng của các “Tây quỉ” ấy vậy.
Âu là vì chút ý tưởng ấy mà tòan lịch sử giao tế của nước Nam tự diễn giải một cách rất rõ ràng; vì không ai mà nghĩ rằng sự phản đối cái đạo từ Âu- châu truyền qua là do lòng sùng đạo bổn quốc, vì những sự tín ngưỡng khác nhau tùy ý mỗi người lấy trong Phật giáo và Lão giáo, thực ra không phải như những tôn giáo Hồi-hồi và Công –giáo ở bên Tây –phương.
Chúng tôi rõ biết rằng nước Nam thịnh tình với đạo Công- giáo hay không, tùy sự giao tế của nướcNam với châu Âu và nhất là với nước Pháp khi thân mật hay lãnh đạm.
Về triều Gia-Long sự thân Pháp là một câu chuyện thích thời; đạo Công –giáo được thịnh vượng; các vị Linh -mục Thừa -sai tự do lai vãng, ký ngụ và được các quan vị nể. Nhưng mà những cái đặc ân một vài người Pháp được hưởng tại triều Gia-Long làm cho phái Văn-Thân oán hận chua chát, mà họ là những nhà quân sư mà cũng là tay sai của nhà vua. Nên không chầy thì kíp đã xảy ra sự phản động đối với ảnh hưởng các người châu Âu trong cuối triều Gia-Long (xem tạp chí Thần kinh Hiếu-cổ, năm 1923, trang 70 và tíếp theo).
Về triều Minh –Mạng hòan cảnh thay đổi rất chóng (xemT.C.T.K.H.C năm 1923, trang 87,93 và tiếp theo).
Ông Nguyễn - văn-Thắng (Chaignceau) trở lại nước Nam làm lãnh- sự mang theo một bức thư của vua Lu-Y thứ mười tám, yêu cầu sự tự do thương mại. Vua Minh –Mạng chằng để ý đến người Anh-cát-Lợi ở Ấn -độ và chuyện mạo hiểm của Tippo-Sahid mà người Pháp ủng hộ một cách vô hiệu, nên không phúc thơ đáp lại những lời yêu cầu. Năm 1882, ảnh hưởng bài ngoại rất bành trướng. Ông Coursen de la Ville Helio đáp tàu Cleopâtre đến xin bệ kiến. Chính mình ông Chaigneau cũng khuyên chưa nên cho tàu buôn qua, để tránh sự xung giận của hàng quan lại. Ít lúc về sau, sứ thần Crawford cũng không được tiếp kiến một cach sốt sáng. Sau hết, ông Nguyễn - văn-Thắng (Chaignceau) và ông Nguyễn-văn –Chấn (Vanmer) thấy các quan phản đối ngấm ngầm và những sự miệt thị biểu lộ ra với họ, nên họ lìa bỏ triều Minh-Mạng mà về nước nhà.
Tháng ba năm 1825, ở nước Nam chỉ còn những vị linh- mục thừa- sai đại biểu cho Âu –châu.
Nhưng mà cái dụ thứ nhứt mà gọi là “ Dụ bắt đạo” thì đã hạ trong tháng hai tây năm 1825, Vua chưa dám đả động đến các vị linh-mục thừa-sai, vì các vị ấy đã giúp và đã mục kích các thời gian lao của tiền Triều; nhưng mà đã lần lần nhượng bộ theo phái bài ngoại, nên cấm các cố khác tự hậu không được vào trong nước. Chẳng phải là người ta ghét và bài đạo Công –giáo vì là một tôn giáo. Người ta ra sức bài trừ cái “tả đạo” của người Âu- châu làm mê hoặc lòng dân, nên những tầu Pháp phải bị xem xét coi có chở những vị linh- mục thừa- sai không, kẻo họ đổ bộ lên được (Xem E.Louvel: Nam-kỳ tôn- giáo, quyển nhì, trang 41).
Như thế chúng ta có thể theo từng bước mà giãi bày về lịch sử ngoại giao của nước Đại- Nam và chỉ rõ những kỳ bắt bớ các giáo dân và các vị thừa- sai, thì khi nào cũng vì cái tình cảnh gay gắt của sự giao tế giữa nước Nam với Âu-châu; nhưng đây chúng ta vội nói đến cái thời kỳ trước loạn Văn-Thân, là trước năm 1885 cho rồi.
Đến lúc người Pháp đánh nước Nam và vua Nam mất Nam- kỳ lục tỉnh, thì mới hết thời kỳ bắt đạo nước Nam.
Phái Văn-Thân và quan trường không có thể ngăn cản một nước Âu –châu can thiệp việc nước mình, nên họ muốn cho người Công-giáo phải chịu trách nhiệm của những thời cục chính họ không biết phòng trước, và không đủ sức ngăn cản. Họ coi các giáo dân là những kẻ thông mưu với người Pháp, vì phần nhiều các vị thừa-sai là người Pháp.
Trong tờ hịch truyền khắp mọi nơi, phái Văn-Thân nói rằng: Bọn giáo dân là quân phản quốc, là kẻ thông mưu cùng người Pháp, làm lợi cho nước Pháp: hễ trừ được quân “tả đạo” nội công đó, thì tự nhiên người Pháp phải trơ trọi yếu thế, như cua mất càng không bò, không kẹp được nữa” (Xem cái hịch nầy năm 1886, trong tiểu sử Đức Cha Puginier, do cố E. Louvel soạn, in tại nhà in Schneider Hanoi năm 1894, trang 395).
Cửa Thuận –an thất thủ, tờ hòa ước nhận chánh thể bảo- hộ làm cho phái Văn-Thân uất ức cực điểm nhất là quan phụ chánh Tôn-thất –Thuyết và quan phụ chánh Nguyễn –văn-Tường (Xem sách đề là nước nam từ ngày 5 tháng bảy tây năm 1885 đến ngày 4 tháng tư tây năm 1886, do quan tướng X*** soạn; in tại Paris, tại nhà in Chapelot năm 1901, trang 9 và trang 128). Nhưng mà ông Nguyễn-văn -Tường hành động một cách bí mật, họ cứ cố giữ cái não ấy chờ cơ hội để hành động.
Của Thuận-an thất thủ (năm 1883), người ta liền dùng hai định kế để cứu tương lai nước nhà, nêm một mặt dời triều đình và chánh phủ đến một nơi có thành trì kiên cố, địa thế hiểm trở, binh Pháp không đánh tới nơi được; còn mặt khác, mật dụ Văn-Thân khắp trong nước hẹn nhau lấy một ngày cùng nổi lên giết người Pháp và bọ nội ứng của họ là giáo dân.
Lúc bấy giờ, họ quyết định lợi dụng chốn hiểm trở của xứ Cùa để lập một tân đô (Tân -sở), cách Cam-lộ chừng tám, chín cây số, để vua lánh ẩn, giấu kín của quí và những vị yếu nhơn trong triều chính.
Còn về sự “bình Tây sát tả”, thì tất cả các tỉnh đều thi hành một lượt và mưu ấy đã sắp đặt kỷ lưỡng trước (Xem Thần kinh Hiếu –cổ năm 1920, trang 259 và tiếp theo: Prise de Huế par les Francais, le 5 juillet,par Ad. Delvaux).
Công việc ghê gớm ấy thì phú cho phái Văn-Thân hạ thủ, nên họ thừa dịp thúc giục bọn phấn nghĩa cùng dân, lúc nào cũng sẳn cướp phá giáo dân và các hội giáo vì tưởng rằng rất nhiều tiền của.
Sự xây đắp thành trì Tân –sở cũng là một dịp cho phái Văn-Thân lợi dụng để khuấy phá giáo dân. Họ bảo với nhân dân đến xây thành trì ấy rằng: công việc lao khổ nặng nề nầy cũng bởi giáo dân, là quân nội công của người Pháp, là bọn phản quốc, gây nên, buộc vua quan bất đắc dĩ phải phòng bị và dời đô đi nới khác. Nhiều mật dụ truyền cho phái Văn-Thân và những làng lương dân chắc chắn trung thành phải rèn đức khí giới để trị tội những “nội Pháp” (chỉ người giáo dân), và thừa cơ ai nấy cũng phải tuân lịnh các đại tướng truyền xuống. Thoạt tiên hễ có lệnh truyền, thì thuyền bè, đò ngang tam bản đều tịch thu để lo việc vận tải, và những lệnh truyền phải tuân hành lập tức, nếu không thì hào mục và nhân dân phải bị xử trảm.
Những mật dụ ấy nói cách mờ mờ, nhưng các vị Thừa-sai cũng hiểu được ít nhiều. Giáo dân hoảng hốt vội vàng bày tỏ sự bối rối mình với các Linh- mục. Đức cha Lộc (Mgr Caspar) lo sợ nên yêu cầu quan Tây xin thu hồi mật dụ ấy.
Xem dưới đây một đoạn lý thú mà một vị võ quan lúc bấy giờ đóng tại Hải –phòng, ngày 20 tháng ba tây năm 1885 gửi đăng trong báo Thời Thế như vầy: “ Có mật dụ tại Huế truyền ra định qua tháng tư năm 1885 khắp nơi sẽ có cuộc chém giết. Về điều này tôi không bối rối chút nào hết, vì từ khi tôi đến xứ nầy, những mật dụ như vậy đã tầng có năm, sáu lần rồi, khi nào họ cũng định tàn sát chúng tôi hết”. (citépar Huart. Guerre du Tonkin, page 568).
Vậy Đức Cha Caspar (Lộc) hết sức can thiệp, yêu cầu bộ Lễ thu hồi mật dụ hạ hồi tháng tư năm 1883, vì mật dụ ấy trái với hòa-ước năm 1884. Nhưng quan Pháp ở Huế không tin, nên những lời của Ngài yêu cầu cũng vô hiệu.
Trong cái lịch của vua Hàm-Nghi mà chính quan phụ chánh Tôn-thất-Thuyết đã truyền ra ba tháng sau khi lìa khỏi chốn kinh đô (ngày 11 tháng tám): “ Trẫm quyết định phải huyết chiến tại Huế. Nếu được thắng lợi, thì khanh Nguyễn-văn-Tường phải tổ chức một đội cấm-binh hộ giá ra những tỉnh Nghệ-an và Hà-tỉnh; còn khanh Tôn-thất-Thuyết phải lưu tại Huế để thực hành việc “sát tả”, vì bọn này là quân thông mưu cùng “mọi Tây dương”. Nếu như chúng ta bị thất bại, Trẫm và tùy giá phải đào nạn, hầu tìm một phương kế khác mà khôi phục giang san” (Massacres…I, page 26 et 27: những cuộc tàn sát, quyển thứ nhất, trang 26,27. L’annam, par le Géneral X*** page 186- Le Laos et le Protectoral francai, par le Capitaine Gosselin Paris, chez Perrin, page 137 et suin-Id, page 321; (Nước Lào và cuộc Bảo hộ Pháp do quan đại úy Gosselin chép in tại Paris tại nhà in Perrin, trang 137 và tiếp theo và trang 321).
Ngày 5 tháng 7 tây năm 1885, kinh thành thất thủ, nên tất nhiên có cuộc phục thù thực hành âm mưu đã sắp đặt kỹ lưỡng hai năm trời.
Cuối tháng 7 tây năm 1885, trong những tỉnh về miền Nam, thấy cuộc đốt chém ghê gớm tàn hại giáo dân, và trong mấy tháng trời tòan nước Nam giáo dân bị tàn sát một cách thảm khốc ( Silvestre, Annales de L’ Ecole des Sciences Politiques, No du 15 Janvier 1898. page 107).
Dưới đây xin kể những số mục theo bản thống kê của địa phận Quy -nhơn.
Quảng Nam 428 người bị Văn –Thân giết
Quảng Ngãi 5.500 "
Bình-định 8.940 "
Phú-yên 5.890 "
Khánh –hòa 2.048 "
Bình-thuận 1.492 "
Tổng cộng 24.298 "
(còn nữa-tiếp theo phần địa phận Dinh –cát và các hội giáo mà nay gọi là Hạt và các giáo xứ tại tỉnh Quảng Trị).