admin
21-09-2006, 04:28 PM
MỘT SỐ NHẬN XÉT
VỀ CUỐN NGHI THỨC THÁNH LỄ 2005
An-be-tô Trần Phúc Nhân
Mi-ca-en Nguyễn Hữu Phú
Ấn bản mẫu thứ ba của Sách Lễ Rô-ma (SLR) bằng tiếng La-tinh Missale Romanum đã được công bố năm 2002. Thực ra phần Nghi Thức Thánh Lễ của ấn bản này không có nhiều thay đổi lớn so với ấn bản mẫu thứ nhất (1970) và thứ hai (1975), nhưng Uỷ Ban Phụng Tự (UBPT) trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (HĐGMVN) đã muốn duyệt lại hoàn toàn bản dịch trong Sách Lễ Rô-ma tiếng Việt in năm 1992 (SLR 1992). Bản dịch mới của Nghi Thức Thánh Lễ đã được ấn hành năm 2005 và bắt buộc phải sử dụng thay thế những bản văn trước đây, kể từ lễ Phục Sinh 2006.
Ngay từ khi mới được công bố, bản Nghi Thức Thánh Lễ 2005 (NTTL 2005) đã gây nên nhiều phản ứng –thường là bất lợi– từ trong nước cũng như ngoài nước. Bên cạnh đó cũng có những bài của những người có trách nhiệm về bản dịch : Đức Cha P. Trần Đình Tứ, Chủ tịch UBPT ; cha Kim Long, Tổng thư ký UBPT ; cha Nguyễn Thế Thủ, thành viên UBPT. Những bài này cho biết về tổ chức và tiến trình dịch thuật NTTL 2005, đồng thời cũng giải thích cho biết lý do vì sao UBPT đã chọn một cách dịch nào đó.
Cho đến nay Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ (NPD/CGKPV) vẫn chưa lên tiếng. Lý do là vì nếu phê bình thì có thể sẽ được nhắc nhở là “nói thì dễ, làm mới khó”. Nhưng không nói thì không yên lương tâm, vì vấn đề dịch phụng vụ có liên hệ trực tiếp và lâu dài đến đời sống cầu nguyện của Dân Chúa, và cách riêng Nhóm chúng tôi đã có kinh nghiệm phiên dịch các bản văn Kinh Thánh và phụng vụ từ 35 năm nay, nên cảm thấy có trách nhiệm phải góp ý trong trường hợp này. Do đó, sau một thời gian suy nghĩ và nghiên cứu, chúng tôi xin đưa ra một số nhận xét, hy vọng có thể đóng góp phần nào làm cho các bản dịch phụng vụ đáp ứng mục tiêu là giúp Dân Chúa cầu nguyện.
Trong bài này trước hết chúng tôi sẽ đưa ra những nhận xét tổng quát về NTTL 2005, sau đó là những nhận xét chi tiết về một số chỗ trong bản dịch.
I. NHẬN XÉT TỔNG QUÁT
1. Ấn loát
NTTL 2005 được in và trình bày khá đẹp. Tuy nhiên có điều bất tiện là nếu dùng chung với SLR 1992 thì trong khi cử hành thánh lễ cứ phải chuyển từ sách nọ sang sách kia, khiến linh mục nhiều khi lúng túng và giáo dân cũng bị chia trí lo ra.
Một điều bất tiện khác : ở nhiều chỗ trong các Kinh Nguyện Thánh Thể (KNTT), một số lời kinh được in từ trang nọ sang trang kia, hơi khó đọc, như ở tr. 76-77, 80-81, 84-85 (lời truyền phép Máu Thánh bị cắt làm đôi), tr. 98-99. Bất tiện nhất là có nhiều kinh linh mục đang dang tay đọc lại phải lật trang, như ở tr. 75-76, 77-78, 85-86, 87-88, 89-90, 93-94, 95-96. Bất tiện này, SLR 1992 thường để ý tránh khi dàn trang.
Ngoài ra, ở KNTT 1 có các Kinh Hiệp thông riêng cho một số lễ (tr. 77-78 ), nhưng trình bày rất khó phân biệt, khiến linh mục lúng túng (kinh “Vì vậy, lạy Chúa” riêng của lễ Phục Sinh ở tr. 78 cũng vậy). Có lẽ nên trình bày như SLR 1992 tr. 485-486 : in chữ nhỏ hơn và đóng khung các kinh này, hay ít là đóng khung.
2. Bản dịch
Bản dịch SLR 1992 lưu ý đến âm thanh, tiết điệu và văn phong tiếng Việt nên nghe xuôi và dễ hiểu. Làm như vậy, các dịch giả trong UBPT khi ấy không làm theo ý mình, cũng không quá chú trọng đến hình thức, nhưng đã theo những hướng dẫn của Toà Thánh qua Huấn thị về việc phiên dịch các bản văn phụng vụ do Hội đồng Thực thi Hiến chế Phụng vụ ban hành ngày 25-1-1969 (bản dịch tiếng Việt trong tạp chí Phụng Vụ số 4, tháng 6-1971, tr. 35-45). Tưởng nên nói thêm là Huấn thị này đã là kim chỉ nam cho tất cả các bản dịch phụng vụ hiện đang tiếp tục được sử dụng trên thế giới, ngoại trừ bản dịch của UBPT Hoa Kỳ đang được biên soạn lại. Tại Việt Nam, Uỷ ban phiên dịch SLR, ngoài Huấn thị này, cũng tham khảo các bản dịch có được vào thời điểm ấy bằng tiếng Pháp, Anh, Ý, Đức, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan. Các dịch giả đã không làm theo hứng, nhưng đã cân nhắc từng câu từng chữ quan trọng và đã giải thích lý do sự chọn lựa của mình trong tập Chú thích bản dịch Nghi thức Thánh Lễ 1992 của Uỷ Ban Phụng Tự dài 91 trang khổ A5 (tập này đã được đánh máy vi tính lại thành 118 trang cũng khổ A5, và sẽ được dẫn với ký hiệu CT và số trang của bản vi tính).
Trong khi đó NTTL 2005 chủ trương dịch sát tiếng La-tinh, theo Huấn thị 5 (HT 5) “Về việc sử dụng các ngôn ngữ địa phương khi xuất bản các Sách của phụng vụ Rô-ma”, do Bộ Phụng Tự ban hành ngày 28-3-2001. HT 5, số 20 viết :
“Chừng nào có thể, nguyên văn phải được dịch trọn vẹn và rất chính xác, nghĩa là không bớt không thêm xét về nội dung, không dùng những lối diễn nghĩa (paraphrases) hoặc giải thích (glossae)”.
Tuy nhiên, cũng ở chỗ đó, HT 5 nói là “được phép sắp đặt các từ ngữ, sử dụng cú pháp và văn phong, để soạn ra một bản văn trôi chảy và thích hợp với cách diễn tả của ngôn ngữ dân chúng.”
Như vậy, “để nội dung của nguyên văn vừa tầm cả với các tín hữu không được đào luyện trí thức đặc biệt, và họ có thể hiểu được, thì đặc tính của các bản dịch là dùng những từ ngữ dễ hiểu nhưng một trật cũng bảo tồn tính trang trọng, vẻ đẹp và nội dung đạo lý chính xác của nguyên văn” (số 25).
Có thế sẽ đạt được mục tiêu : “Các bản văn phụng vụ là phương tiện rất có hiệu lực để in sâu vào đời sống các tín hữu những ý niệm về đức tin và đời sống Ki-tô giáo” (số 26).
Ở đây cũng cần nhắc lại mục tiêu của việc cải tổ phụng vụ theo Hiến chế về Phụng vụ (PV) của Công Đồng Va-ti-ca-nô II :
“Việc cải tổ này phải sắp xếp các bản văn và nghi thức thế nào để diễn tả rõ ràng hơn những thực tại thánh mà các bản văn và nghi thức đó biểu thị, và để dân Ki-tô giáo có thể dễ dàng thấu triệt các thực tại ấy càng nhiều càng tốt, và có thể tham dự bằng việc cử hành đầy đủ, linh động và cộng đồng” (PV số 21).
“Giáo Hội hằng bận tâm lo sao cho các Ki-tô hữu đừng tham dự vào mầu nhiệm đức tin như những khách bàng quan thinh lặng, nhưng nhờ hiểu rõ mầu nhiệm ấy qua các nghi thức và kinh nguyện, sao cho họ tham dự việc cử hành thánh cách ý thức, đạo đức và linh động” (số 48 ).
Trong các yếu tố góp phần xây dựng một cử hành phụng vụ linh động, chắc hẳn các bản văn là một yếu tố quan trọng, với điều kiện là các bản văn phải vừa chính xác vừa dễ hiểu. Riêng đối với các bản dịch phụng vụ, HT 5 nhấn mạnh đến tính chính xác, nhưng không vì thế mà dịch giả được quên không lưu ý là bản dịch cần phải dễ hiểu, nhất là vì đại đa số tín hữu chỉ được tiếp cận với các bản văn phụng vụ qua việc nghe bằng tai chứ không đọc bằng mắt. Do đó phải liệu sao để họ có thể hiểu dễ dàng và hiệp thông với lời nguyện của chủ tế. Thiết tưởng có thể áp dụng vào trường hợp này lời thánh Phao-lô viết về việc cầu nguyện bằng tiếng lạ : “Nếu bạn chỉ chúc tụng bằng thần khí, thì làm sao người ở vị trí người dự thính có thể thưa ‘A-men’ lúc bạn dâng lời tạ ơn, vì người đó không biết bạn nói gì ?” (1 Cr 14,16).
Chính xác và dễ hiểu : hai đòi hỏi nhiều khi rất khó dung hoà, và các bản dịch phụng vụ tiếng Việt luôn bị giằng co giữa hai bên.
VỀ CUỐN NGHI THỨC THÁNH LỄ 2005
An-be-tô Trần Phúc Nhân
Mi-ca-en Nguyễn Hữu Phú
Ấn bản mẫu thứ ba của Sách Lễ Rô-ma (SLR) bằng tiếng La-tinh Missale Romanum đã được công bố năm 2002. Thực ra phần Nghi Thức Thánh Lễ của ấn bản này không có nhiều thay đổi lớn so với ấn bản mẫu thứ nhất (1970) và thứ hai (1975), nhưng Uỷ Ban Phụng Tự (UBPT) trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (HĐGMVN) đã muốn duyệt lại hoàn toàn bản dịch trong Sách Lễ Rô-ma tiếng Việt in năm 1992 (SLR 1992). Bản dịch mới của Nghi Thức Thánh Lễ đã được ấn hành năm 2005 và bắt buộc phải sử dụng thay thế những bản văn trước đây, kể từ lễ Phục Sinh 2006.
Ngay từ khi mới được công bố, bản Nghi Thức Thánh Lễ 2005 (NTTL 2005) đã gây nên nhiều phản ứng –thường là bất lợi– từ trong nước cũng như ngoài nước. Bên cạnh đó cũng có những bài của những người có trách nhiệm về bản dịch : Đức Cha P. Trần Đình Tứ, Chủ tịch UBPT ; cha Kim Long, Tổng thư ký UBPT ; cha Nguyễn Thế Thủ, thành viên UBPT. Những bài này cho biết về tổ chức và tiến trình dịch thuật NTTL 2005, đồng thời cũng giải thích cho biết lý do vì sao UBPT đã chọn một cách dịch nào đó.
Cho đến nay Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ (NPD/CGKPV) vẫn chưa lên tiếng. Lý do là vì nếu phê bình thì có thể sẽ được nhắc nhở là “nói thì dễ, làm mới khó”. Nhưng không nói thì không yên lương tâm, vì vấn đề dịch phụng vụ có liên hệ trực tiếp và lâu dài đến đời sống cầu nguyện của Dân Chúa, và cách riêng Nhóm chúng tôi đã có kinh nghiệm phiên dịch các bản văn Kinh Thánh và phụng vụ từ 35 năm nay, nên cảm thấy có trách nhiệm phải góp ý trong trường hợp này. Do đó, sau một thời gian suy nghĩ và nghiên cứu, chúng tôi xin đưa ra một số nhận xét, hy vọng có thể đóng góp phần nào làm cho các bản dịch phụng vụ đáp ứng mục tiêu là giúp Dân Chúa cầu nguyện.
Trong bài này trước hết chúng tôi sẽ đưa ra những nhận xét tổng quát về NTTL 2005, sau đó là những nhận xét chi tiết về một số chỗ trong bản dịch.
I. NHẬN XÉT TỔNG QUÁT
1. Ấn loát
NTTL 2005 được in và trình bày khá đẹp. Tuy nhiên có điều bất tiện là nếu dùng chung với SLR 1992 thì trong khi cử hành thánh lễ cứ phải chuyển từ sách nọ sang sách kia, khiến linh mục nhiều khi lúng túng và giáo dân cũng bị chia trí lo ra.
Một điều bất tiện khác : ở nhiều chỗ trong các Kinh Nguyện Thánh Thể (KNTT), một số lời kinh được in từ trang nọ sang trang kia, hơi khó đọc, như ở tr. 76-77, 80-81, 84-85 (lời truyền phép Máu Thánh bị cắt làm đôi), tr. 98-99. Bất tiện nhất là có nhiều kinh linh mục đang dang tay đọc lại phải lật trang, như ở tr. 75-76, 77-78, 85-86, 87-88, 89-90, 93-94, 95-96. Bất tiện này, SLR 1992 thường để ý tránh khi dàn trang.
Ngoài ra, ở KNTT 1 có các Kinh Hiệp thông riêng cho một số lễ (tr. 77-78 ), nhưng trình bày rất khó phân biệt, khiến linh mục lúng túng (kinh “Vì vậy, lạy Chúa” riêng của lễ Phục Sinh ở tr. 78 cũng vậy). Có lẽ nên trình bày như SLR 1992 tr. 485-486 : in chữ nhỏ hơn và đóng khung các kinh này, hay ít là đóng khung.
2. Bản dịch
Bản dịch SLR 1992 lưu ý đến âm thanh, tiết điệu và văn phong tiếng Việt nên nghe xuôi và dễ hiểu. Làm như vậy, các dịch giả trong UBPT khi ấy không làm theo ý mình, cũng không quá chú trọng đến hình thức, nhưng đã theo những hướng dẫn của Toà Thánh qua Huấn thị về việc phiên dịch các bản văn phụng vụ do Hội đồng Thực thi Hiến chế Phụng vụ ban hành ngày 25-1-1969 (bản dịch tiếng Việt trong tạp chí Phụng Vụ số 4, tháng 6-1971, tr. 35-45). Tưởng nên nói thêm là Huấn thị này đã là kim chỉ nam cho tất cả các bản dịch phụng vụ hiện đang tiếp tục được sử dụng trên thế giới, ngoại trừ bản dịch của UBPT Hoa Kỳ đang được biên soạn lại. Tại Việt Nam, Uỷ ban phiên dịch SLR, ngoài Huấn thị này, cũng tham khảo các bản dịch có được vào thời điểm ấy bằng tiếng Pháp, Anh, Ý, Đức, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan. Các dịch giả đã không làm theo hứng, nhưng đã cân nhắc từng câu từng chữ quan trọng và đã giải thích lý do sự chọn lựa của mình trong tập Chú thích bản dịch Nghi thức Thánh Lễ 1992 của Uỷ Ban Phụng Tự dài 91 trang khổ A5 (tập này đã được đánh máy vi tính lại thành 118 trang cũng khổ A5, và sẽ được dẫn với ký hiệu CT và số trang của bản vi tính).
Trong khi đó NTTL 2005 chủ trương dịch sát tiếng La-tinh, theo Huấn thị 5 (HT 5) “Về việc sử dụng các ngôn ngữ địa phương khi xuất bản các Sách của phụng vụ Rô-ma”, do Bộ Phụng Tự ban hành ngày 28-3-2001. HT 5, số 20 viết :
“Chừng nào có thể, nguyên văn phải được dịch trọn vẹn và rất chính xác, nghĩa là không bớt không thêm xét về nội dung, không dùng những lối diễn nghĩa (paraphrases) hoặc giải thích (glossae)”.
Tuy nhiên, cũng ở chỗ đó, HT 5 nói là “được phép sắp đặt các từ ngữ, sử dụng cú pháp và văn phong, để soạn ra một bản văn trôi chảy và thích hợp với cách diễn tả của ngôn ngữ dân chúng.”
Như vậy, “để nội dung của nguyên văn vừa tầm cả với các tín hữu không được đào luyện trí thức đặc biệt, và họ có thể hiểu được, thì đặc tính của các bản dịch là dùng những từ ngữ dễ hiểu nhưng một trật cũng bảo tồn tính trang trọng, vẻ đẹp và nội dung đạo lý chính xác của nguyên văn” (số 25).
Có thế sẽ đạt được mục tiêu : “Các bản văn phụng vụ là phương tiện rất có hiệu lực để in sâu vào đời sống các tín hữu những ý niệm về đức tin và đời sống Ki-tô giáo” (số 26).
Ở đây cũng cần nhắc lại mục tiêu của việc cải tổ phụng vụ theo Hiến chế về Phụng vụ (PV) của Công Đồng Va-ti-ca-nô II :
“Việc cải tổ này phải sắp xếp các bản văn và nghi thức thế nào để diễn tả rõ ràng hơn những thực tại thánh mà các bản văn và nghi thức đó biểu thị, và để dân Ki-tô giáo có thể dễ dàng thấu triệt các thực tại ấy càng nhiều càng tốt, và có thể tham dự bằng việc cử hành đầy đủ, linh động và cộng đồng” (PV số 21).
“Giáo Hội hằng bận tâm lo sao cho các Ki-tô hữu đừng tham dự vào mầu nhiệm đức tin như những khách bàng quan thinh lặng, nhưng nhờ hiểu rõ mầu nhiệm ấy qua các nghi thức và kinh nguyện, sao cho họ tham dự việc cử hành thánh cách ý thức, đạo đức và linh động” (số 48 ).
Trong các yếu tố góp phần xây dựng một cử hành phụng vụ linh động, chắc hẳn các bản văn là một yếu tố quan trọng, với điều kiện là các bản văn phải vừa chính xác vừa dễ hiểu. Riêng đối với các bản dịch phụng vụ, HT 5 nhấn mạnh đến tính chính xác, nhưng không vì thế mà dịch giả được quên không lưu ý là bản dịch cần phải dễ hiểu, nhất là vì đại đa số tín hữu chỉ được tiếp cận với các bản văn phụng vụ qua việc nghe bằng tai chứ không đọc bằng mắt. Do đó phải liệu sao để họ có thể hiểu dễ dàng và hiệp thông với lời nguyện của chủ tế. Thiết tưởng có thể áp dụng vào trường hợp này lời thánh Phao-lô viết về việc cầu nguyện bằng tiếng lạ : “Nếu bạn chỉ chúc tụng bằng thần khí, thì làm sao người ở vị trí người dự thính có thể thưa ‘A-men’ lúc bạn dâng lời tạ ơn, vì người đó không biết bạn nói gì ?” (1 Cr 14,16).
Chính xác và dễ hiểu : hai đòi hỏi nhiều khi rất khó dung hoà, và các bản dịch phụng vụ tiếng Việt luôn bị giằng co giữa hai bên.