PDA

View Full Version : Một số nhận xét về cuốn Nghi Thức Thánh Lễ 2005


admin
21-09-2006, 04:28 PM
MỘT SỐ NHẬN XÉT
VỀ CUỐN NGHI THỨC THÁNH LỄ 2005

An-be-tô Trần Phúc Nhân
Mi-ca-en Nguyễn Hữu Phú



Ấn bản mẫu thứ ba của Sách Lễ Rô-ma (SLR) bằng tiếng La-tinh Missale Romanum đã được công bố năm 2002. Thực ra phần Nghi Thức Thánh Lễ của ấn bản này không có nhiều thay đổi lớn so với ấn bản mẫu thứ nhất (1970) và thứ hai (1975), nhưng Uỷ Ban Phụng Tự (UBPT) trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (HĐGMVN) đã muốn duyệt lại hoàn toàn bản dịch trong Sách Lễ Rô-ma tiếng Việt in năm 1992 (SLR 1992). Bản dịch mới của Nghi Thức Thánh Lễ đã được ấn hành năm 2005 và bắt buộc phải sử dụng thay thế những bản văn trước đây, kể từ lễ Phục Sinh 2006.

Ngay từ khi mới được công bố, bản Nghi Thức Thánh Lễ 2005 (NTTL 2005) đã gây nên nhiều phản ứng –thường là bất lợi– từ trong nước cũng như ngoài nước. Bên cạnh đó cũng có những bài của những người có trách nhiệm về bản dịch : Đức Cha P. Trần Đình Tứ, Chủ tịch UBPT ; cha Kim Long, Tổng thư ký UBPT ; cha Nguyễn Thế Thủ, thành viên UBPT. Những bài này cho biết về tổ chức và tiến trình dịch thuật NTTL 2005, đồng thời cũng giải thích cho biết lý do vì sao UBPT đã chọn một cách dịch nào đó.

Cho đến nay Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ (NPD/CGKPV) vẫn chưa lên tiếng. Lý do là vì nếu phê bình thì có thể sẽ được nhắc nhở là “nói thì dễ, làm mới khó”. Nhưng không nói thì không yên lương tâm, vì vấn đề dịch phụng vụ có liên hệ trực tiếp và lâu dài đến đời sống cầu nguyện của Dân Chúa, và cách riêng Nhóm chúng tôi đã có kinh nghiệm phiên dịch các bản văn Kinh Thánh và phụng vụ từ 35 năm nay, nên cảm thấy có trách nhiệm phải góp ý trong trường hợp này. Do đó, sau một thời gian suy nghĩ và nghiên cứu, chúng tôi xin đưa ra một số nhận xét, hy vọng có thể đóng góp phần nào làm cho các bản dịch phụng vụ đáp ứng mục tiêu là giúp Dân Chúa cầu nguyện.

Trong bài này trước hết chúng tôi sẽ đưa ra những nhận xét tổng quát về NTTL 2005, sau đó là những nhận xét chi tiết về một số chỗ trong bản dịch.


I. NHẬN XÉT TỔNG QUÁT

1. Ấn loát

NTTL 2005 được in và trình bày khá đẹp. Tuy nhiên có điều bất tiện là nếu dùng chung với SLR 1992 thì trong khi cử hành thánh lễ cứ phải chuyển từ sách nọ sang sách kia, khiến linh mục nhiều khi lúng túng và giáo dân cũng bị chia trí lo ra.

Một điều bất tiện khác : ở nhiều chỗ trong các Kinh Nguyện Thánh Thể (KNTT), một số lời kinh được in từ trang nọ sang trang kia, hơi khó đọc, như ở tr. 76-77, 80-81, 84-85 (lời truyền phép Máu Thánh bị cắt làm đôi), tr. 98-99. Bất tiện nhất là có nhiều kinh linh mục đang dang tay đọc lại phải lật trang, như ở tr. 75-76, 77-78, 85-86, 87-88, 89-90, 93-94, 95-96. Bất tiện này, SLR 1992 thường để ý tránh khi dàn trang.

Ngoài ra, ở KNTT 1 có các Kinh Hiệp thông riêng cho một số lễ (tr. 77-78 ), nhưng trình bày rất khó phân biệt, khiến linh mục lúng túng (kinh “Vì vậy, lạy Chúa” riêng của lễ Phục Sinh ở tr. 78 cũng vậy). Có lẽ nên trình bày như SLR 1992 tr. 485-486 : in chữ nhỏ hơn và đóng khung các kinh này, hay ít là đóng khung.

2. Bản dịch

Bản dịch SLR 1992 lưu ý đến âm thanh, tiết điệu và văn phong tiếng Việt nên nghe xuôi và dễ hiểu. Làm như vậy, các dịch giả trong UBPT khi ấy không làm theo ý mình, cũng không quá chú trọng đến hình thức, nhưng đã theo những hướng dẫn của Toà Thánh qua Huấn thị về việc phiên dịch các bản văn phụng vụ do Hội đồng Thực thi Hiến chế Phụng vụ ban hành ngày 25-1-1969 (bản dịch tiếng Việt trong tạp chí Phụng Vụ số 4, tháng 6-1971, tr. 35-45). Tưởng nên nói thêm là Huấn thị này đã là kim chỉ nam cho tất cả các bản dịch phụng vụ hiện đang tiếp tục được sử dụng trên thế giới, ngoại trừ bản dịch của UBPT Hoa Kỳ đang được biên soạn lại. Tại Việt Nam, Uỷ ban phiên dịch SLR, ngoài Huấn thị này, cũng tham khảo các bản dịch có được vào thời điểm ấy bằng tiếng Pháp, Anh, Ý, Đức, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan. Các dịch giả đã không làm theo hứng, nhưng đã cân nhắc từng câu từng chữ quan trọng và đã giải thích lý do sự chọn lựa của mình trong tập Chú thích bản dịch Nghi thức Thánh Lễ 1992 của Uỷ Ban Phụng Tự dài 91 trang khổ A5 (tập này đã được đánh máy vi tính lại thành 118 trang cũng khổ A5, và sẽ được dẫn với ký hiệu CT và số trang của bản vi tính).

Trong khi đó NTTL 2005 chủ trương dịch sát tiếng La-tinh, theo Huấn thị 5 (HT 5) “Về việc sử dụng các ngôn ngữ địa phương khi xuất bản các Sách của phụng vụ Rô-ma”, do Bộ Phụng Tự ban hành ngày 28-3-2001. HT 5, số 20 viết :

“Chừng nào có thể, nguyên văn phải được dịch trọn vẹn và rất chính xác, nghĩa là không bớt không thêm xét về nội dung, không dùng những lối diễn nghĩa (paraphrases) hoặc giải thích (glossae)”.

Tuy nhiên, cũng ở chỗ đó, HT 5 nói là “được phép sắp đặt các từ ngữ, sử dụng cú pháp và văn phong, để soạn ra một bản văn trôi chảy và thích hợp với cách diễn tả của ngôn ngữ dân chúng.”

Như vậy, “để nội dung của nguyên văn vừa tầm cả với các tín hữu không được đào luyện trí thức đặc biệt, và họ có thể hiểu được, thì đặc tính của các bản dịch là dùng những từ ngữ dễ hiểu nhưng một trật cũng bảo tồn tính trang trọng, vẻ đẹp và nội dung đạo lý chính xác của nguyên văn” (số 25).

Có thế sẽ đạt được mục tiêu : “Các bản văn phụng vụ là phương tiện rất có hiệu lực để in sâu vào đời sống các tín hữu những ý niệm về đức tin và đời sống Ki-tô giáo” (số 26).

Ở đây cũng cần nhắc lại mục tiêu của việc cải tổ phụng vụ theo Hiến chế về Phụng vụ (PV) của Công Đồng Va-ti-ca-nô II :

“Việc cải tổ này phải sắp xếp các bản văn và nghi thức thế nào để diễn tả rõ ràng hơn những thực tại thánh mà các bản văn và nghi thức đó biểu thị, và để dân Ki-tô giáo có thể dễ dàng thấu triệt các thực tại ấy càng nhiều càng tốt, và có thể tham dự bằng việc cử hành đầy đủ, linh động và cộng đồng” (PV số 21).

“Giáo Hội hằng bận tâm lo sao cho các Ki-tô hữu đừng tham dự vào mầu nhiệm đức tin như những khách bàng quan thinh lặng, nhưng nhờ hiểu rõ mầu nhiệm ấy qua các nghi thức và kinh nguyện, sao cho họ tham dự việc cử hành thánh cách ý thức, đạo đức và linh động” (số 48 ).

Trong các yếu tố góp phần xây dựng một cử hành phụng vụ linh động, chắc hẳn các bản văn là một yếu tố quan trọng, với điều kiện là các bản văn phải vừa chính xác vừa dễ hiểu. Riêng đối với các bản dịch phụng vụ, HT 5 nhấn mạnh đến tính chính xác, nhưng không vì thế mà dịch giả được quên không lưu ý là bản dịch cần phải dễ hiểu, nhất là vì đại đa số tín hữu chỉ được tiếp cận với các bản văn phụng vụ qua việc nghe bằng tai chứ không đọc bằng mắt. Do đó phải liệu sao để họ có thể hiểu dễ dàng và hiệp thông với lời nguyện của chủ tế. Thiết tưởng có thể áp dụng vào trường hợp này lời thánh Phao-lô viết về việc cầu nguyện bằng tiếng lạ : “Nếu bạn chỉ chúc tụng bằng thần khí, thì làm sao người ở vị trí người dự thính có thể thưa ‘A-men’ lúc bạn dâng lời tạ ơn, vì người đó không biết bạn nói gì ?” (1 Cr 14,16).

Chính xác và dễ hiểu : hai đòi hỏi nhiều khi rất khó dung hoà, và các bản dịch phụng vụ tiếng Việt luôn bị giằng co giữa hai bên.

admin
21-09-2006, 04:30 PM
II. NHẬN XÉT CHI TIẾT

Trong phần nhận xét chi tiết này, chúng tôi sẽ dẫn NTTL 2005 theo trang và theo số ; để dễ phân biệt, các lời của NTTL 2005 sẽ được in chữ nghiêng.

Tr. 4
Concordat cum originali và Imprimatur đều do Đức Cha Chủ Tịch UBPT ký, trong khi đó theo HT 5 thì Concordat cum originali do Đức Cha Chủ Tịch UBPT ký, còn Imprimatur phải do Đức Cha Chủ Tịch HĐGMVN.

Tr. 10, số 1
Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.
SLR 1992 dịch là “Nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần” thay cho công thức quen dùng “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”, vì hai lý do (CT tr. 14-15) :

1) Những từ “Cha” và “Con” hàm hồ, không nhất thiết chỉ Thiên Chúa Cha và Thiên Chúa Con. Có lẽ vì thế xưa cha ông ta đã dịch kinh Sáng Danh là “Sáng danh Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần”.

2) Khi nói chuyện với một người trẻ tuổi, linh mục thường xưng mình là “cha” và gọi người kia là “con”. Do đó, khi cử hành bí tích Rửa Tội, nếu linh mục đọc : “Cha rửa con, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” thì một người ngoại giáo có thể hiểu hai chữ cha và hai chữ con chỉ linh mục và người được rửa tội.

Có thể thêm một lý do nữa. Ở đầu thánh lễ, linh mục đọc : Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, rồi nói tiếp : Chúa ở cùng anh chị em. Cộng đoàn thưa : Và ở cùng cha. Một người không thạo giáo lý có thể hiểu hai chữ cha cùng chỉ linh mục.

NTTL 2005 lấy lại công thức Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, có lẽ để tránh cho hiểu rằng có ba Chúa. Nhưng xin trả lời : xưa nay ta vẫn đọc : “Sáng danh Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần”, nhưng chưa thấy ai thắc mắc là đây nói về ba Chúa. Đàng khác, chính NTTL 2005 vẫn nhiều lần dùng Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, Đức Chúa Thánh Thần trong kinh Vinh Danh (tr. 15) và kinh Tin Kính (tr. 17-18 ).


Tr. 12, số 4
Cử hành mầu nhiệm thánh dịch tiếng La-tinh ad sacra mysteria celebranda, nhưng chưa sát lắm, vì mysteria ở số nhiều. Dầu sao cử hành mầu nhiệm thánh có lẽ hơi khó hiểu. Trong các tác giả thời xưa, “sacra / sancta mysteria celebrare” có nghĩa là “cử hành thánh lễ” (A. Blaise, Dictionnaire latin-français des auteurs chrétiens, 1854, tr. 547). Vì thế SLR 1992 (CT tr. 17-18 ) đã dịch là cử hành thánh lễ, dựa theo bản dịch tiếng Pháp và Hà Lan (“Eucharistie”), và tiếng Đức (“das Gedašchtnis des Herrn” : cuộc tưởng niệm Chúa).

Tr. 13, số 6
Thinh lặng giây lát, rồi linh mục nói. Câu chữ đỏ này dịch thiếu (SLR 1992 tr. 567 dịch đầy đủ hơn). Đúng ra phải dịch là : “Thinh lặng giây lát. Rồi linh mục, hoặc phó tế hoặc một thừa tác viên khác, xướng những lời kêu cầu sau đây, hoặc những câu khác, có Xin Chúa thương xót chúng con.” Như vậy chắc hẳn là được phép sáng tác những lời kêu cầu khác.


Tr. 14, số 8
KINH VINH DANH

1) Bình an dưới thế cho người thiện tâm. Câu này trích từ bài ca của các thiên thần trong đêm Giáng Sinh (Lc 2,14) ; cho người thiện tâm dịch theo bản La-tinh hominibus bonae voluntatis và hiểu là thiện tâm của con người.

Còn SLR 1992 hiểu là thiện tâm của Thiên Chúa nên đã dịch “cho loài người Chúa thương”, và đã giải thích ở CT tr. 21-22 lý do của cách dịch này. Ban dịch thuật đã tìm hiểu kỹ ý nghĩa của những từ ấy trong văn mạch về ơn cứu độ phổ quát trong Tin Mừng Lu-ca : sự bình an không do thiện tâm con người mà có, nhưng do tình thương Thiên Chúa ban tặng, khi “Ngôi Lời đã làm người (Ga 1,14), sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ (Lc 2,12) và sống giữa loài người chúng ta (Ga 1,14)”, nhờ đó “hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa” (Lc 3,6 dẫn Is 40,6).

Các bản dịch phụng vụ khác cũng hiểu theo hướng này :
– Pháp : “aux hommes qu’il aime”
– Tây Ban Nha : “a los hombres que ama el Senõor”
– Bồ-đào nha : “aos homens por ele amados”
– Đức : “den Menschen seiner Gnade”
– Anh : “to his people”
– Trung Quốc : “Chủ ái đích nhân”
(= những người Chúa yêu)

2) Ở cuối tr. 14, NTTL 2005 in : … vì vinh quang cao cả Chúa. Lạy Chúa là Thiên Chúa, là Vua trên trời, là Chúa Cha toàn năng. Như vậy câu cuối cùng này chỉ gồm những danh từ ở hô cách, mà không biết đưa về đâu. Trong khi đó bản La-tinh in dấu phẩy sau vì vinh quang cao cả Chúa, và như vậy hiểu Chúa Cha là đối tượng của tất cả những động từ ca ngợi, chúc tụng v.v… ở mấy dòng trên.

Do đó, phải chăng nên đưa hai dòng cuối cùng của tr. 14 lên trước chúng con ca ngợi Chúa, như SLR 1992 cùng với bản tiếng Anh và Bồ Đào Nha làm ? Như thế sẽ vừa hợp với cách thưa gửi trong tiếng Việt (CT tr. 23), vừa cho thấy rõ kinh Vinh Danh gồm hai phần : phần đầu dâng lên Chúa Cha, phần sau dâng lên Chúa Giê-su Ki-tô.

Tr. 16, số 14
Trong lời nguyện của linh mục đọc thầm trước khi đọc Tin Mừng, bản La-tinh không có competenter (đủ tư cách).

admin
21-09-2006, 04:30 PM
Tr. 17-18, số 18
KINH TIN KÍNH

Đây là bản tuyên xưng đức tin, có tính chất thần học nên rất khó dịch. Có nhiều ý kiến được đưa ra về bản dịch trong NTTL 2005. Bản CT tr. 34-44 phân tích khá kỹ kinh này (tuy rằng có một số đề nghị của Uỷ Ban đã không được đưa vào SLR 1992). Chúng tôi dựa vào bản CT này để nhận xét về một số điểm trong NTTL 2005.

1) Tôi tin kính một Thiên Chúa

Bản La-tinh của kinh này có bốn lần nhấn mạnh tính duy nhất khi nói về Thiên Chúa, Chúa (Giê-su Ki-tô), Hội Thánh và phép rửa, qua số từ unum / unam. Bản Hy-lạp gốc của kinh Tin Kính này cũng dùng các số từ hêna, mian và hên (Denzinger – Schošnmetzer, Enchiridion Symbolorum, 1963, số 150). Các bản dịch phụng vụ tiếng Pháp, Ý, Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Đức, Hà Lan đều nhấn mạnh tính duy nhất này. SLR 1992 cũng dịch bốn lần : “một Thiên Chúa duy nhất”, “một Chúa duy nhất”, “một Hội Thánh duy nhất”, “một phép rửa duy nhất”. NTTL 2005 chỉ dùng duy nhất khi nói về Hội Thánh, còn dùng một cho ba chỗ kia : Tôi tin kính một Thiên Chúa. Tôi tin kính một Chúa Giê-su Ki-tô. Tôi tuyên xưng có một Phép Rửa. Thiết tưởng như vậy chưa diễn tả đủ tính duy nhất mà kinh Tin Kính muốn nhấn mạnh. Vì thế xin đề nghị lấy lại cách dịch của SLR 1992 ; hoặc nếu không muốn dùng “duy nhất” thì có thể dịch như sau (dựa theo đề nghị của Cha Norberto Nguyễn Văn Khanh ofm) : “Tôi tin kính chỉ có một Thiên Chúa… Tôi tin kính chỉ có một Chúa duy nhất là Đức Giê-su Ki-tô… Tôi tin chỉ có một Hội Thánh thánh thiện… Tôi tuyên xưng chỉ có một Phép Rửa…”

2) Từ trước muôn đời
Có lẽ nên đọc lại nhận xét của CT tr. 35-36 về kiểu nói này : giới từ “từ” biểu thị điểm xuất phát (trong không gian, ví dụ : “đi từ Hà Nội đến Hải Phòng), điểm khởi đầu (trong thời gian, ví dụ : “dậy từ sáng sớm”). Vì thế nói : Chúa Con sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời có thể gợi lên ý niệm sai lầm rằng sự Chúa Cha sinh ra Chúa Con có khởi điểm, có bắt đầu trong thời gian. Do đó có lẽ nên bỏ “từ”, mà chỉ nói “sinh bởi Đức Chúa Cha trước muôn đời”, nghĩa là trước khi có thời gian và muôn loài trong vũ trụ.

3) Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống
Bản La-tinh : Et in Spiritum Sanctum, Dominum et vivificantem. Về bản này nên lưu ý hai điểm : bản này không dùng Deum, “Thiên Chúa”, mà dùng Dominum, “Chúa” ; đàng khác có dấu phẩy sau Sanctum, như vậy từ Dominum được tách ra. Các bản phụng vụ cũng đều không dịch là “Thiên Chúa” và đều tách ra như vậy. Do đó, đề nghị dịch là : “Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần, là Chúa và là Đấng ban sự sống”.

4) Người bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra
Dùng từ mà ra có vẻ quá tầm thường, CT tr. 42 viết : “Đây là một tín điều quan trọng rút từ Ga 15,26, tuyên xưng nguồn gốc của Chúa Thánh Thần. Trong Ga 15,26, tác giả dùng động từ êkpôrêuômai (nghĩa thông thường là “đi ra”), và bản Phổ Thông dịch là procedere”. Động từ này trong thuật ngữ thần học tiếng Việt đôi khi được dịch là “nhiệm xuất”, nhưng từ ngữ này ít được dùng vì hơi khó hiểu. SLR 1992 đề nghị từ ngữ “phát xuất”, vừa dễ hiểu vừa trang trọng hơn kiểu nói mà ra của NTTL 2005.

5) Người đã dùng các tiên tri mà phán dạy
Theo cách hiểu thông thường, tiên tri là người “biết trước” việc sẽ xảy ra. Như vậy từ ngữ này không nói hết được ý nghĩa của từ propheta (La-tinh) hay prôphetes (Hy-lạp). Vai trò chính yếu của prôphetes không phải là biết trước và báo trước tương lai, nhưng là thay mặt Thiên Chúa mà nói ra ý của Chúa. Vì thế SLR 1992 đề nghị dùng từ “ngôn sứ”, nghĩa là người được sai đi để thay mặt Chúa (sứ) nói lên lời (ngôn) của Chúa (CT tr. 42-43).

6) Tôi trông đợi kẻ chết sống lại
NTTL 2005 ưa dùng những từ trừu tượng, nhưng ở đây lại dịch resurrectionem mortuorum thành kẻ chết sống lại, khiến người ta có thể nghĩ rằng chúng ta trông đợi những người chết sẽ sống lại, trở lại trần gian. Vì thế SLR 1992 dịch : “Tôi trông đợi ngày kẻ chết sống lại”. Trong Tin Mừng Gio-an hay nói về “kẻ chết sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6,54 ; x. 6,39-40.44 ; 11,24). Vì thế thêm “ngày” ở đây làm cho câu văn không hàm hồ, mà vẫn đi sát với Kinh Thánh (CT tr. 43-44).


Tr. 19, số 23 và 25
Lạy Chúa là Chúa Cả trời đất

Trong sách in, từ Cả được in chữ hoa nên hiểu là đi với Chúa : Chúa Cả. Nhưng khi nghe đọc, người ta có thể hiểu là đi với trời đất : cả trời đất. Để tránh kiểu nói mập mờ, có lẽ nên lấy lại cụm từ “Chúa tể càn khôn” của SLR 1971 và SLR 1992. Hoặc nếu thấy từ ngữ “càn khôn” hơi khó hiểu, có thể dùng “Chúa tể trời đất” hoặc “Chúa tể vũ trụ”.

Chúng con dâng lên Chúa để trở nên bánh trường sinh
Chúng con dâng lên Chúa để trở nên của uống thiêng liêng
Theo ngữ pháp tiếng Việt, chủ ngữ của trở nên chỉ có thể là chúng con. Vì thế cần nói rõ chủ ngữ để khỏi hàm hồ. Ở tr. 84 số 101, tr. 87 số 109, tr. 94 số 118, tr. 149 số 3 v.v. cũng có vấn đề tương tự.

Tr. 19, số 24
Nhờ dấu chỉ nước hoà rượu này
Cụm từ trên dịch tiếng La-tinh per huius aquae et vini mysterium, một kiểu nói cao siêu, khó hiểu, do đó có nhiều cách dịch khác nhau. SLR 1971 : “Nhờ mầu nhiệm nước và rượu này” ; Anh : “By the mystery of this water and wine” ; Ý : “L’acqua unita al vino sia segno” ; Pháp : “Comme cette eau se mêle au vin pour le sacrement de l’Alliance ; SLR 1992 : “Cũng như giọt nước này hoà chung với rượu”. Thật khó mà tìm được cách dịch nào vừa diễn tả đầy đủ ý nghĩa vừa dễ hiểu.

Ngoài ra, kiểu nói của NTTL 2005 xin cho chúng con được tham dự vào thần tính có lẽ cũng chưa chỉnh, vì tham dự là dự vào một hoạt động cụ thể như “tham dự hội nghị, tham dự nghi lễ”, còn tham dự vào thần tính nghe không xuôi lắm.

admin
21-09-2006, 04:33 PM
Tr. 21, số 31
KINH NGUYỆN THÁNH THỂ

Từ Prex eucharistica đã được SLR 1992 dịch là “Kinh Tạ Ơn”. Nay NTTL 2005 lại trở về với SLR 1971 mà dịch là Kinh Nguyện Thánh Thể. Nghĩ gì về cách dịch này ? Chúng ta có thể xem lại CT tr. 87-88 để nhận xét như sau :

1) Dịch là Kinh Nguyện Thánh Thể dễ có thể bị hiểu sai là : “Kinh nguyện với Thánh Thể trước Nhà Chầu”, và thu gọn mầu nhiệm Thánh Thể vào sự hiện diện bí tích của Chúa Giê-su trong Bánh và Rượu đã được truyền phép thành Mình và Máu Thánh Chúa.

2) Tính từ La-tinh eucharistica là do danh từ Hy-lạp êukharistia (“sự tạ ơn, lời tạ ơn”), có ngữ căn là động từ êukharistêin (“biết ơn, cám ơn, tạ ơn”). Động từ này được chính Tân Ước dùng khi thuật lại việc Chúa Giê-su lập bí tích Thánh Thể : Chúa “cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn” (Lc 22,19 ; 1 Cr 11,23-24), “cầm lấy chén rượu, dâng lời tạ ơn” (Mt 26,27 ; Mc 14,23).

3) Chính Missale Romanum 2002 trong phần Quy chế tổng quát đặt ở đầu sách cũng viết : “Bây giờ bắt đầu điểm trung tâm và cao nhất của toàn bộ việc cử hành, là chính Kinh Tạ Ơn, nghĩa là kinh tạ ơn và thánh hiến (Prex eucharistica, prex scilicet gratiarum actionis et sanctificationis). Vị tư tế mời cộng đồng hướng tâm hồn lên Chúa để cầu nguyện và tạ ơn” (số 78 ).

Như vậy, dịch là “Kinh Tạ Ơn” thay vì Kinh Nguyện Thánh Thể thì vừa đúng với ý nghĩa Kinh Thánh và phụng vụ, vừa tránh hiểu theo nghĩa hạn hẹp.

Tr. 21
THÁNH ! THÁNH ! THÁNH !

X. CT 47-51. Ba dòng đầu của kinh này là lời tung hô của các Xê-ra-phim trong thị kiến của I-sai-a trong đền thờ (Is 6,3 ; phụng vụ thêm “trời”) và cũng là lời ca của bốn Con Vật trước ngai Thiên Chúa trên trời (Kh 4,8 ). Nhận xét về bản dịch NTTL 2005 :

1) Thánh ! Thánh ! Thánh !
Trong tiếng Híp-ri, lặp lại ba lần tức là nhấn mạnh (Gr 7,4 ; 22,29 ; Ed 21,32). I-sai-a nhiều lần dùng từ ngữ “Đức Thánh của Ít-ra-en” để chỉ Thiên Chúa (1,4 ; 5,19.24 ; 10,20 ; 12,6 v.v…), vì thế ở đây muốn khẳng định rằng Thiên Chúa là Đấng Chí Thánh. Do đó SLR 1992 đã dịch : “Thánh ! Thánh ! Chí Thánh !”

2) Chúa là Thiên Chúa các đạo binh
NTTL 2005 theo SLR 1971 hiểu Thiên Chúa các đạo binh là thuộc ngữ (attribut) của Chúa. Trong khi đó các bản dịch I-sai-a và phụng vụ đều hiểu Thiên Chúa các đạo binh là đồng vị ngữ (apposition) của Chúa. Thánh mới là thuộc ngữ của Chúa, nhưng vì dài (lặp lại ba lần) nên được đặt trước. Do đó bản phụng vụ tiếng La-tinh cũng như tiếng Ý, Anh, Đức không có dấu chấm hay phẩy giữa Thánh và Chúa ; bản Tây Ban Nha thêm động từ “là” : “Santo es el Senor”. Vì hiểu như thế nên SLR 1992 đã dịch : “Thiên Chúa, Chúa Tể càn khôn là Đấng Thánh” (lặp lại “thánh” ở cuối cho rõ).

3) Thiên Chúa các đạo binh
Tiếng La-tinh là Deus Sabaoth. Sabaoth phiên âm một từ Híp-ri có nghĩa là “các đạo binh”, có thể hiểu là quân đội Ít-ra-en, hoặc đạo binh trên trời, nghĩa là các thiên thần, các tinh tú. Bản LXX (bản dịch cổ Cựu Ước ra tiếng Hy-lạp) dịch nhiều cách : “Chúa Sabaot”, “Chúa các quyền năng”, “Đấng toàn năng” (pantôkrator ; Kh 4,8 khi dẫn Is 6,3 cũng dùng từ này). Các bản dịch phụng vụ dịch là “Chúa vũ trụ” (“univers” : Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha), “Chúa của quyền năng và sức mạnh” (Anh, Đức). SLR 1992 đã dịch “Chúa Tể càn khôn”. Có lẽ nên theo hướng này, hoặc ít ra dùng “vũ trụ” thay các đạo binh.

Tr. 22
KINH TIỀN TỤNG
SLR 1992 để nghị dùng “Lời tiền tụng”. Lý do (CT tr. 46) là vì muốn dùng từ “kinh” cho toàn thể Kinh Tạ Ơn, và dùng từ “Lời” để chỉ các lời nguyện khác nhau trong Kinh Tạ Ơn ; Lời tiền tụng không phải là một kinh biệt lập, mà chỉ là phần đầu của Kinh Tạ Ơn.


Tr. 22-71, số 33-82
CÁC KINH TIỀN TỤNG
Chúng tôi không đi vào chi tiết bản dịch các Kinh Tiền Tụng (KTT), chỉ đưa ra một vài nhận xét tổng quát.

NTTL 2005 chủ trương dịch sát tiếng La-tinh, nên

– trong phần thân của KTT là phần đưa ra lý do để tạ ơn, nhiều khi để nguyên câu La-tinh dài, do đó hơi khó hiểu (ví dụ điển hình là KTT Chúa nhật Thường Niên VIII, phần thân dài 9 dòng là nguyên một câu, không có dấu chấm) ;

– dịch hết tên các “phẩm” thiên thần : Thiên thần, Tổng lãnh Thiên thần, Bệ thần, Quản thần, Quyền thần, thần Sốt mến (tuy nhiên ở tr. 31, số 42, còn để sót hai “phẩm” Caeli và Virtutes caelorum không dịch sát).

Trong khi đó SLR 1992, cũng như các bản dịch các thứ tiếng, thường cắt các câu dài, làm những câu ngắn cho dễ hiểu, đồng thời không dịch hết tên các “phẩm” thiên thần.

admin
21-09-2006, 04:34 PM
Tr. 75
KINH NGUYỆN THÁNH THỂ I

Trong các KNTT có vấn đề về cách xưng hô với Thiên Chúa. Về điểm này CT có bàn tới ở tr. 88-89. Vấn đề ở chỗ bản La-tinh xưng với Thiên Chúa khi thì “Cha” (Pater), khi thì “Chúa” (Domine), khi thì “Thiên Chúa” (Deus). Trong một kinh đọc liên tục mà thay đổi cách xưng hô như vậy, kể cũng lạ tai. Do đó, bản dịch tiếng Ý, ngoại trừ ở KNTT I thì theo La-tinh, còn trong KNTT II, III và IV thì dùng “Cha” hết (ngoại trừ một chỗ ở KNTT IV dùng “Thiên Chúa”).

Thay đổi cách xưng hô như vậy lại càng chói tai trong tiếng Việt. Vì trong tiếng La-tinh cũng như trong các ngôn ngữ chúng tôi được biết, sau khi xưng “Cha” hoặc “Chúa” ở đầu, các tiếng ấy chỉ dùng đại từ thay thế hoặc hiểu ngầm, hoặc dùng tính từ sở hữu. Ví dụ trong KNTT IV, ở đầu lời tiền tụng xưng Pater sancte, nhưng rồi, Pater được thay thế bằng đại từ tibi, te, hoặc được hiểu ngầm trong hình thức động từ es, fecisti, hoặc được diễn tả trong tính từ sở hữu tua (gloria tua).

Còn trong tiếng Việt, các từ “Cha”, “Chúa”, “Thiên Chúa” không thể được hiểu ngầm hoặc thay thế, mà cứ phải nói ra, lặp lại. Trong KNTT mà cứ phải thay đổi giữa các từ đó thì nghe cũng lủng củng, nhất là nội dung tình cảm của các từ đó khác nhau.

Vì vậy SLR 1992 chỉ xưng “Cha” trong tất cả các KNTT (kể cả trong các Lời tiền tụng).

Thế nhưng HT 5 lại chỉ thị là phải dịch Domine, Deus, Pater bằng những từ khác nhau (số 51) ! NTTL 2005 đã tuân hành đúng chỉ thị.

Nhưng phải chăng UBPT có nên trình bày lên Bộ Phụng Tự, qua nhân viên cao cấp người Việt phục vụ trong Bộ, về trường hợp đặc biệt của tiếng Việt Nam ?


Tr. 75, số 84
Xin Cha… ban phúc cho những của lễ hiến dâng

Động từ benedicere thường được dịch là “làm phép” khi nói về những vật vô tri, như làm phép nhà thờ, làm phép ảnh tượng, làm phép xe… Khi nói về người thì dịch là “ban phép lành, ban phúc lành, ban phúc, giáng phúc”. Ở đây, NTTL 2005 dịch ban phúc cho những của lễ hiến dâng chắc không hợp ; ở số 88 cũng vậy.

Ở hai chỗ này SLR 1992 dịch benedicere là “thánh hoá” và giải thích (CT tr. 91) : “Trong văn mạch, từ benedicere có nghĩa là ‘làm cho thành của thánh dành riêng cho Thiên Chúa’. Vì thế Uỷ Ban dịch là : thánh hoá.”


Tr. 76 số 86
… cùng toàn thể các thánh,
vì công nghiệp và lời cầu khẩn của các ngài,
xin Chúa phù hộ chúng con trong mọi sự.

Để dễ đọc hơn, sau các thánh nên có dấu chấm (như SLR 1992, bản tiếng Anh và Pháp) hay chấm phẩy (như bản La-tinh, Ý, Tây Ban Nha). Lý do : câu này đã quá dài và đã sang ý tưởng khác.

Ngày nay, từ công nghiệp ít được hiểu theo nghĩa ta quen hiểu trước đây (meritum), nhưng thường được hiểu như “kỹ nghệ” (ví dụ : “phát triển công nghiệp”). Vì thế nên dùng “công trạng”, như SLR 1992.

Xin Chúa phù hộ chúng con. Tiếng La-tinh dùng dồn dập nhiều từ có nghĩa gần giống nhau : protectionis tuae muniamur auxilio. Vì thế nếu muốn “dịch sát” có lẽ nên nói dài hơn, như : “Xin Chúa che chở phù hộ chúng con”.

Tr. 78, số 88
Linh mục sáp hai bàn tay lại, đặt trên lễ vật
Kiểu nói [sáp hai bàn tay còn được dùng ở nhiều chỗ khác tương tự (ở tr. 84, 87, 94, 143, 149, 155, 160, 165, 170, 185, 191). Chúng tôi thấy kiểu nói hơi lạ, nên đã đi tìm trong các từ điển tiếng Việt xuất bản trước cũng như sau năm 1975, thì thấy động từ “sáp” không được dùng một mình (ngoại trừ trong từ ngữ “sáp huyết” với nghĩa “uống máu để thề”), mà chỉ dùng với “nhập” thành “sáp nhập” tức là gom hai đơn vị hành chánh thành một. Các SLR 1971 và 1992 đều dịch là “đặt [hai] tay trên của lễ”. Vì thế có lẽ nên xét lại cách dịch sáp hai bàn tay lại.

Xin thương ban phúc…
Về việc dùng động từ ban phúc để dịch benedictam, xin xem nhận xét trên đây về tr. 75, số 84.