admin
22-09-2006, 07:32 AM
Đức Tin, Lý Trí và Đại Học:
Ký Ức và Suy Tư
Bản dịch của Đặng Minh An
Nguồn Vietcatholic.
Thưa quý Bà và quý Ông thân mến,
Thật là một kinh nghiệm xúc động cho tôi khi một lần nữa lại được đứng trên bục giảng của trường đại học này để thuyết trình. Tôi hồi tưởng lại những năm trước đây khi, sau một thời gian thật đáng hài lòng tại trường Freisinger Hochschule, tôi đã bắt đầu giảng dạy tại Đại Học Bonn. Đó là vào năm 1959, trong những ngày tháng tại ngôi trường cũ gồm các giáo sư chuyên khoa. Nhiều giáo sư không có cả trợ giáo lẫn thư ký riêng, nhưng bù lại đã có nhiều tiếp xúc trực tiếp giữa chúng tôi với sinh viên và giữa các giáo sư với nhau. Chúng tôi thường gặp gỡ nhau trong phòng họp của các nhân viên giảng huấn. Ở đó đã diễn những cuộc trao đổi sống động giữa các nhà sử học, các triết gia, các nhà ngữ học, và dĩ nhiên là giữa hai phân khoa thần học.
Mỗi một lục cá nguyệt trong học kỳ đều có một buổi "Ngày học thuật - dies academicus" trong đó các giáo sư từ mỗi phân khoa đứng trước các sinh viên của toàn trường đại học thể hiện một kinh nghiệm thật sự về môi trường đại học "universitas": Một thực tại mà bất kể môn chuyên biệt của chúng tôi, nên có lúc đã tạo ra những khó khăn khi trao đổi với nhau, chúng tôi cố gắng hình thành một tổng thể, trong khi đào sâu mọi thứ trên căn bản lý luận duy nhất với những khía cạnh khác nhau của nó, và trên căn bản của trách nhiệm chung về sự sử dụng lý trí cách đúng đắn – thực tại này đã trở thành một kinh nghiệm sống động.
Trường đại học này cũng rất tự hào về hai phân khoa thần học. Rõ ràng rằng qua việc suy xét tính chất hợp lý của đức tin, hai phân khoa đã tiến hành một công việc coi là phần thiết yếu của “tổng thể” "tính cách đại đồng của sự hiểu biết - universitas scientiarum", dầu rằng nếu như có người không thể thể chia sẻ đức tin mà các thần học gia đang tìm kiếm cách thức liên hệ với lý trí như một tổng thể. Ý niệm nhất quán sâu sắc trong phạm trù thuộc tính cách đại đồng của lý luận (universe of reason) không gây khó khăn gì cho chúng tôi, ngay cả khi có ai cho biết rằng một đồng nghiệp của chúng tôi tuyên bố rằng trường đại học này thật kỳ lạ: nó có tới hai phân khoa dành cho một điều không hiện hữu là Thiên Chúa. Ngay trả trước chủ nghĩa hoài nghi cấp tiến như thế, vẫn cần thiết và hợp lý để nêu ra câu hỏi về Thiên Chúa qua việc sử dụng lý trí, và tiến hành điều đó trong bối cảnh của truyền thống đức tin Kitô giáo: Điều này, trong phạm vi Trường Đại học này, đã được chấp nhận mà không hề có thắc mắc gì cả.
Tôi đã hồi tưởng lại tất cả điều này gần đây khi đọc phiên bản của giáo sư Theodore Khoury (Muenster) về phần đối thoại diễn ra – có lẽ vào năm 1391 trong các trại lính mùa đông gần Ankara, giữa Đại Đế uyên thâm của Byzatine là Manuel II Paleologus và một học giả Ba Tư về chủ đề Kitô Giáo và Hồi Giáo, và chân lý của cả hai tôn giáo.
Có lẽ chính đại đế đã đề xướng cuộc thảo luận này, diễn ra trong thời kỳ Constantinople bị vây hãm từ năm 1394 cho đến 1402, và điều này giải thích tại sao lập luận của ngài được trình bày chi tiết hơn là những lý lẽ do học giả người Ba Tư đưa ra. Cuộc đối thoại đã bàn rộng rãi trên các cấu trúc của đức tin chứa đựng trong Thánh Kinh và trong Kinh Koran, và nhấn mạnh đặc biệt đến hình ảnh của Thiên Chúa và của con người, trong khi liên hệ thường xuyên với quan hệ của “ba Bộ Luật”: Cựu Ước, Tân Ước và Kinh Koran.
Trong bài thuyết trình này tôi chỉ muốn nhấn mạnh đến một điều duy nhất – tự nó có lẽ là ngoài lề cuộc đối thoại nêu trên, nhưng trong bối cảnh của vấn đề “đức tin và lý trí”, tôi thấy là lý thú và có thể dùng làm điểm khởi đầu cho những suy tư của tôi về vấn đề này.
Trong đoạn đối thoại thứ bẩy ("diálesis" – tranh luận đối đầu”) do giáo sư Khoury san định lại, vị đại đế đã đề cập đến chủ đề jihad (thánh chiến). Vị đại đế biết rõ ràng rằng đoạn sura 2:256 viết là: “Không có sự cưỡng bách trong tôn giáo”. Đó là một trong những đoạn sura của thời kỳ đầu khi Mohammed chưa có quyền hành trong tay và đang bị đe dọa đến tính mạng. Nhưng hiển nhiên vị đại đế cũng biết đến những chỉ thị, được phát triển sau này và được ghi vào Kinh Koran, liên quan đến thánh chiến.
Không đi vào những chi tiết, chẳng hạn sự phân biệt đối xử giữa những ai có “Sách” và “những kẻ vô đạo”, vị đại đế đã đặt ra cho người đối thoại với mình một câu hỏi thô bạo mà trọng tâm liên quan đến quan hệ giữa tôn giáo và bạo lực cách tổng quát, với những lời sau: “Hãy chỉ cho tôi thấy Mohammed đã mang lại điều gì mới, và ở đó bạn chỉ thấy toàn là sự dữ và phi nhân bản, chẳng hạn như lệnh truyền của Mahommed ta là phải dùng gươm giáo để truyền bá niềm tin mà ông ta đã rao giảng”.
Vị đại đế tiếp tục giải thích chi tiết về những lý do tại sao việc truyền bá đức tin bằng bạo lực là điều vô lý. Bạo lực không phù hợp với bản tính Thiên Chúa và tính bản thiện của tâm hồn. “Thiên Chúa không hài lòng trước máu me, và không hành xử hợp lý là trái với bản tính Thiên Chúa. Đức tin được sinh ra bởi linh hồn chứ không phải bởi thân xác. Những ai muốn dẫn dắt người ta đến với đức tin cần có khả năng nói hay và lý luận xác đáng, không tựa vào bạo lực và những đe dọa…Để thuyết phục một linh hồn có lý trí, ta không cần dùng đến cánh tay mạnh mẽ, hay vũ khí các loại, hay những phương thế đe dọa một con người bằng cái chết …”
Lập luận có tính chất quyết định chống lại việc cưỡng bách cải đạo hệ tại điều này: Không hành động phù hợp với lý trí là tương phản với bản tính của Thiên Chúa. Giáo sư Theodore Khoury nhận xét rằng: Đối với vị đại đế, một người Byzantine, được hình thành bởi triết học Hy lạp, khẳng định này tự nó là đương nhiên. Nhưng đối với giáo huấn Hồi Giáo, Thiên Chúa là tuyệt đối siêu việt. Ý chí của Ngài không bị trói buộc bởi các phạm trù của chúng ta, ngay cả trong phạm vi lý trí. Ở đây, Khoury trích dẫn một tác phẩm của một học giả về Hồi Giáo của Pháp, ông R. Arnaldez, người đã chỉ ra rằng Ibn Hazn đã đi xa đến mức cho rằng Thiên Chúa không bị trói buộc cả với chính những lời Ngài, và không có gì khả dĩ buộc Thiên Chúa phải mạc khải chân lý cho chúng ta. Ngay cả nếu Chúa muốn chúng ta thờ các tà thần, thì chúng ta cũng phải làm như thế.
Ký Ức và Suy Tư
Bản dịch của Đặng Minh An
Nguồn Vietcatholic.
Thưa quý Bà và quý Ông thân mến,
Thật là một kinh nghiệm xúc động cho tôi khi một lần nữa lại được đứng trên bục giảng của trường đại học này để thuyết trình. Tôi hồi tưởng lại những năm trước đây khi, sau một thời gian thật đáng hài lòng tại trường Freisinger Hochschule, tôi đã bắt đầu giảng dạy tại Đại Học Bonn. Đó là vào năm 1959, trong những ngày tháng tại ngôi trường cũ gồm các giáo sư chuyên khoa. Nhiều giáo sư không có cả trợ giáo lẫn thư ký riêng, nhưng bù lại đã có nhiều tiếp xúc trực tiếp giữa chúng tôi với sinh viên và giữa các giáo sư với nhau. Chúng tôi thường gặp gỡ nhau trong phòng họp của các nhân viên giảng huấn. Ở đó đã diễn những cuộc trao đổi sống động giữa các nhà sử học, các triết gia, các nhà ngữ học, và dĩ nhiên là giữa hai phân khoa thần học.
Mỗi một lục cá nguyệt trong học kỳ đều có một buổi "Ngày học thuật - dies academicus" trong đó các giáo sư từ mỗi phân khoa đứng trước các sinh viên của toàn trường đại học thể hiện một kinh nghiệm thật sự về môi trường đại học "universitas": Một thực tại mà bất kể môn chuyên biệt của chúng tôi, nên có lúc đã tạo ra những khó khăn khi trao đổi với nhau, chúng tôi cố gắng hình thành một tổng thể, trong khi đào sâu mọi thứ trên căn bản lý luận duy nhất với những khía cạnh khác nhau của nó, và trên căn bản của trách nhiệm chung về sự sử dụng lý trí cách đúng đắn – thực tại này đã trở thành một kinh nghiệm sống động.
Trường đại học này cũng rất tự hào về hai phân khoa thần học. Rõ ràng rằng qua việc suy xét tính chất hợp lý của đức tin, hai phân khoa đã tiến hành một công việc coi là phần thiết yếu của “tổng thể” "tính cách đại đồng của sự hiểu biết - universitas scientiarum", dầu rằng nếu như có người không thể thể chia sẻ đức tin mà các thần học gia đang tìm kiếm cách thức liên hệ với lý trí như một tổng thể. Ý niệm nhất quán sâu sắc trong phạm trù thuộc tính cách đại đồng của lý luận (universe of reason) không gây khó khăn gì cho chúng tôi, ngay cả khi có ai cho biết rằng một đồng nghiệp của chúng tôi tuyên bố rằng trường đại học này thật kỳ lạ: nó có tới hai phân khoa dành cho một điều không hiện hữu là Thiên Chúa. Ngay trả trước chủ nghĩa hoài nghi cấp tiến như thế, vẫn cần thiết và hợp lý để nêu ra câu hỏi về Thiên Chúa qua việc sử dụng lý trí, và tiến hành điều đó trong bối cảnh của truyền thống đức tin Kitô giáo: Điều này, trong phạm vi Trường Đại học này, đã được chấp nhận mà không hề có thắc mắc gì cả.
Tôi đã hồi tưởng lại tất cả điều này gần đây khi đọc phiên bản của giáo sư Theodore Khoury (Muenster) về phần đối thoại diễn ra – có lẽ vào năm 1391 trong các trại lính mùa đông gần Ankara, giữa Đại Đế uyên thâm của Byzatine là Manuel II Paleologus và một học giả Ba Tư về chủ đề Kitô Giáo và Hồi Giáo, và chân lý của cả hai tôn giáo.
Có lẽ chính đại đế đã đề xướng cuộc thảo luận này, diễn ra trong thời kỳ Constantinople bị vây hãm từ năm 1394 cho đến 1402, và điều này giải thích tại sao lập luận của ngài được trình bày chi tiết hơn là những lý lẽ do học giả người Ba Tư đưa ra. Cuộc đối thoại đã bàn rộng rãi trên các cấu trúc của đức tin chứa đựng trong Thánh Kinh và trong Kinh Koran, và nhấn mạnh đặc biệt đến hình ảnh của Thiên Chúa và của con người, trong khi liên hệ thường xuyên với quan hệ của “ba Bộ Luật”: Cựu Ước, Tân Ước và Kinh Koran.
Trong bài thuyết trình này tôi chỉ muốn nhấn mạnh đến một điều duy nhất – tự nó có lẽ là ngoài lề cuộc đối thoại nêu trên, nhưng trong bối cảnh của vấn đề “đức tin và lý trí”, tôi thấy là lý thú và có thể dùng làm điểm khởi đầu cho những suy tư của tôi về vấn đề này.
Trong đoạn đối thoại thứ bẩy ("diálesis" – tranh luận đối đầu”) do giáo sư Khoury san định lại, vị đại đế đã đề cập đến chủ đề jihad (thánh chiến). Vị đại đế biết rõ ràng rằng đoạn sura 2:256 viết là: “Không có sự cưỡng bách trong tôn giáo”. Đó là một trong những đoạn sura của thời kỳ đầu khi Mohammed chưa có quyền hành trong tay và đang bị đe dọa đến tính mạng. Nhưng hiển nhiên vị đại đế cũng biết đến những chỉ thị, được phát triển sau này và được ghi vào Kinh Koran, liên quan đến thánh chiến.
Không đi vào những chi tiết, chẳng hạn sự phân biệt đối xử giữa những ai có “Sách” và “những kẻ vô đạo”, vị đại đế đã đặt ra cho người đối thoại với mình một câu hỏi thô bạo mà trọng tâm liên quan đến quan hệ giữa tôn giáo và bạo lực cách tổng quát, với những lời sau: “Hãy chỉ cho tôi thấy Mohammed đã mang lại điều gì mới, và ở đó bạn chỉ thấy toàn là sự dữ và phi nhân bản, chẳng hạn như lệnh truyền của Mahommed ta là phải dùng gươm giáo để truyền bá niềm tin mà ông ta đã rao giảng”.
Vị đại đế tiếp tục giải thích chi tiết về những lý do tại sao việc truyền bá đức tin bằng bạo lực là điều vô lý. Bạo lực không phù hợp với bản tính Thiên Chúa và tính bản thiện của tâm hồn. “Thiên Chúa không hài lòng trước máu me, và không hành xử hợp lý là trái với bản tính Thiên Chúa. Đức tin được sinh ra bởi linh hồn chứ không phải bởi thân xác. Những ai muốn dẫn dắt người ta đến với đức tin cần có khả năng nói hay và lý luận xác đáng, không tựa vào bạo lực và những đe dọa…Để thuyết phục một linh hồn có lý trí, ta không cần dùng đến cánh tay mạnh mẽ, hay vũ khí các loại, hay những phương thế đe dọa một con người bằng cái chết …”
Lập luận có tính chất quyết định chống lại việc cưỡng bách cải đạo hệ tại điều này: Không hành động phù hợp với lý trí là tương phản với bản tính của Thiên Chúa. Giáo sư Theodore Khoury nhận xét rằng: Đối với vị đại đế, một người Byzantine, được hình thành bởi triết học Hy lạp, khẳng định này tự nó là đương nhiên. Nhưng đối với giáo huấn Hồi Giáo, Thiên Chúa là tuyệt đối siêu việt. Ý chí của Ngài không bị trói buộc bởi các phạm trù của chúng ta, ngay cả trong phạm vi lý trí. Ở đây, Khoury trích dẫn một tác phẩm của một học giả về Hồi Giáo của Pháp, ông R. Arnaldez, người đã chỉ ra rằng Ibn Hazn đã đi xa đến mức cho rằng Thiên Chúa không bị trói buộc cả với chính những lời Ngài, và không có gì khả dĩ buộc Thiên Chúa phải mạc khải chân lý cho chúng ta. Ngay cả nếu Chúa muốn chúng ta thờ các tà thần, thì chúng ta cũng phải làm như thế.