View Full Version : Chúa nhật năm C - Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
28-11-2009, 08:08 AM
CHÚA NHẬT I MÙA VỌNGPhụng Vụ của Chúa Nhật I Mùa Vọng này là Phụng Vụ của niềm hy vọng.
Gr 33: 14-16
Bài đọc I là sấm ngôn của ngôn sứ Giê-rê-mi-a được một bàn tay vô danh sửa lại sau khi vương triều Đa-vít biến mất. Bản văn này chuyển niềm hy vọng Mê-si-a sang Giê-ru-sa-lem, thành đô của Thiên Chúa.
1Tx 3: 12-4: 2
Thánh Phao-lô khuyên nhủ các Ki tô hữu Thê-xa-lô-ni-ca sống trong tư thế sẵn sàng chờ đón ngày Đức Giê-su trở lại trong vinh quang bằng cách thực hành đức ái huynh đệ và thăng tiến trên con đường thánh thiện.
Lc 21: 25-28, 34-36
Tin Mừng được trích từ bài diễn từ của Đức Giê-su về ngày tận thế theo thánh Lu-ca. Đức Giê-su loan báo cuộc trở lại trong vinh quang của Ngài để khai mạc một thế giới mới; các tín hữu phải chờ đợi ngày này trong niềm tin tưởng chứa chan hy vọng.
BÀI ĐỌC I (Gr 33: 14-16)
Bản văn Gr 33: 14-16 nầy lập lại sấm ngôn của Giê-rê-mi-a ở 23: 5-6, tuy nhiên đoạn cuối đã được một nhà biên soạn vô danh sửa lại sau này. Việc sửa lại này dâng hiến một lợi ích lớn lao về phương diện lịch sử cũng như tâm lý.
Ngôn sứ Giê-rê-mi-a công bố sứ điệp hy vọng này vào lúc triều đại Đa-vít biến mất trong một cơn phong ba bão táp dữ dội và xem ra cuốn theo với nó mọi lời hứa về Đấng Mê-si-a thuộc dòng dõi Đa-vít.
1. Bối cảnh lịch sử:
Bối cảnh lịch sử được định vị vào 597 trước Công Nguyên, khi vua Na-bu-cô-đô-nô-xo, vua Ba-by-lon, xâm chiếm Giê-ru-sa-lem và bắt vua Giơ-hô-gia-kim, vua Ít-ra-en, và các thân hào nhân sĩ đi lưu đày; đoạn, mười năm sau đó cướp sạch thành thánh và triệt hạ Đền Thờ.
Trước khi tai họa xảy đến cho đất nước, ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã lãnh nhận một sứ mạng khó khăn báo trước cho các vị lãnh đạo và các thân hào nhân sĩ những biến cố bi thảm này, nếu họ không chịu thay đổi cách ăn nếp ở, thực hành công chính và lòng trung thành với Đức Chúa. Nhưng khi những nỗi gian truân bất ngờ xảy đến, ngôn sứ Giê-rê-mi-a, từ ngôn sứ loan báo những tai họa trở thành sứ giả loan báo niềm hy vọng, khẳng định rằng không có gì mất cả; những lời hứa của Thiên Chúa liên quan đến dòng dõi Đa-vít không bị hủy bỏ.
“Này, sẽ đến những ngày” (biểu thức mà ngôn sứ Giê-rê-mi-a rất tâm đắc, chắc chắn được mượn ở ngôn sứ A-mốt) Thiên Chúa sẽ cho mọc lên từ dòng dõi Đa-vít một “mầm non” (thuật ngữ này đã là một danh hiệu của Đấng Mê-si-a), Đấng này sẽ trị nước theo lẽ công bình chính trực. Ngôn sứ Giê-rê-mi-a kết thúc sấm ngôn của mình khi trao tặng cho hậu duệ Đa-vít tương lai danh hiệu “Đức Chúa là sự-công-chính-của-chúng-ta”, một trong những danh xưng biểu tượng mà các ngôn sứ thường sử dụng (từ “công chính” được hiểu theo nghĩa Kinh Thánh sự thánh thiện của Thiên Chúa).
2. Ý nghĩa của việc sửa lại.
Nhiều thế kỷ trôi qua, nền độc lập không còn được khôi phục và vương triều không còn được thiết lập lại. Dân Chúa chọn được tổ chức theo thần quyền, chung quanh các tư tế của họ và Đền Thờ Giê-ru-sa-lem được tái thiết. Vào lúc đó, sấm ngôn Giê-rê-mi-a được sửa lại. Vì thế ai xứng đáng đón nhận danh hiệu Mê-si-a “Đức Chúa là sự-công-chính-của-chúng-ta” này, nếu không là Giê-ru-sa-lem, một cách nào đó được nhân cách hóa? Không phải từ nay Thành Thánh là nơi độc nhất được ký thác các lời hứa cứu độ sao?
Các nhà chuyên môn có thể ghi niên biểu của việc sửa đổi này vào hậu bán thế kỷ thứ ba trước Công Nguyên, vì bản dịch Hy lạp, bản Bảy Mươi, không biết đoạn văn này. Ấy vậy, bản dịch nầy được thực hiện ở thành A-lê-xan-ri-a vào những năm 285-246 trước Công Nguyên.
Việc sửa đổi này rất có ý nghĩa. Vào thời đó, dòng dõi Đa-vít bị mất hút vào trong tập thể. Vị thượng tế lãnh nhận lễ xức dầu tấn phong thế vị vua. Trào lưu Mê-si-a vương đế và trào lưu Mê-si-a tư tế được nhập thành một. Thành Thánh Giê-ru-sa-lem là trung tâm độc nhất, dấu chỉ của niềm hy vọng vĩnh hằng.
BÀI ĐỌC II (1Tx 3: 12-4: 2)
Thư thứ nhất gởi các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca được thánh Phao-lô viết vào đầu năm 51, tức khoảng hai mươi năm sau cái chết của Đức Giê-su. Đây là một văn kiện Tân Ước lâu đời nhất.
Thánh Phao-lô viết hai bức thư gởi cho các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca; trong cả hai bức thư, viễn cảnh quang lâm của Đức Giê-su là một trong những chủ đề chính, viễn cảnh nầy đem lại cho những lời khuyên bảo của thánh nhân một cung giọng khẩn thiết. Như vậy, đoạn trích thư này hòa hợp với hai bài đọc khác của Chúa Nhật I Mùa Vọng.
1. Bối cảnh:
Thánh Phao-lô đã sáng lập Giáo Đoàn Thê-xa-lô-ni-ca vào năm 50. Thê-xa-lô-ni-ca là thành phố thương mại miền duyên hải, thủ phủ của Ma-kê-đô-ni-a. Đây là thành phố thứ hai thuộc Châu Âu đón nhận sứ điệp Tin Mừng, thành thứ nhất là Phi-líp-phê (1Tx 2: 2). Việc thánh Phao-lô rao giảng thành công đã khiến một nhóm người Do thái ghen tức, họ xúi dục một nhóm chống lại thánh nhân dữ dội đến mức thánh nhân cùng với hai người bạn đồng hành là Xin-va-nô và Ti-mô-thê đang đêm phải vội vã trốn khỏi thành phố (Cv 17: 5-10). Thánh Phao-lô ra đi mang theo nỗi bận lòng của ngài vì phải rời bỏ lại một giáo đoàn mà ngài vừa mới thành lập đức tin còn non yếu. Vì thế, khi thời thế thuận tiện, thánh nhân đã phái ông Ti-mô-thê viếng thăm giáo đoàn Thê-xa-lô-ni-ca mà chính thánh nhân đã không thể. Khi trở về, ông Ti-mô-thê đem đến những thông tin đầy khích lệ: các tín hữu non trẻ vẫn “đứng vững trong Chúa” (Tx 3: 8), bất chấp những gian truân mà họ phải chịu. Lúc đó, thánh Phao-lô ở Cô-rin-tô, với niềm vui và tâm tình cảm tạ tri ân, viết một bức thư chan chứa ân tình, thư thứ nhất gởi các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca.
Thư này gồm hai phần. Đoạn trích hôm nay là một bản lề: chúng ta đọc đoạn kết của phần thứ nhất (3: 12-13) và đoạn mở của phần thứ hai (4: 1-2).
2. Lời nguyện xin của thánh Phao-lô:
Phần thứ nhất kết thúc với lời nguyện xin của thánh Phao-lô (phần thứ hai cũng vậy). Qua những từ ngữ của lời nguyện xin này, thánh nhân nhắc nhở cho các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca nguyên tắc Ki tô giáo tuyệt vời: “Xin Chúa cho tình thương của anh em đối với nhau và đối với mọi người ngày càng thêm đậm đà thắm thiết”. Giáo đoàn đa số là các Ki tô hữu gốc lương dân, như mạch văn để cho thấy điều đó, nhưng chắc chắn bao gồm những Ki tô hữu gốc Do thái.
Trong Giáo Hội tiên khởi việc sống chung không là vấn đề, nhưng thánh nhân còn đi xa hơn: khuyên các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca không chỉ yêu thương nhau mà còn yêu thương hết mọi người, “ngày càng thêm đậm đà thắm thiết”, lời khuyên này vào hoàn cảnh đó thật quan trọng, tức là các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca phải yêu mến những người bách hại mình, dù phải chịu nhiều nỗi gian truân. Để nâng đỡ và khích lệ họ, thánh nhân nhắc nhở cho họ tấm lòng mà ngài có đối với họ: “cũng như tình thương của chúng tôi đối anh em vậy”.
Luật yêu thương là con đường thánh thiện, “không có gì đáng chê trách, trước nhan Thiên Chúa là Cha chúng ta, trong ngày Đức Giê-su, Chúa chúng ta, quang lâm cùng với các thánh của Người”.
3. Ngày của Chúa:
Chúng ta ghi nhận rằng ngay từ bản văn Tân Ước đầu tiên này, Đức Giê-su được gọi là Chúa, danh xưng mà Cựu Ước dành riêng cho Đức Chúa. Như vậy, các Ki tô hữu tiên khởi đã khẳng định Thần Tính của Đức Giê-su. “Ngày của Chúa” mà các ngôn sứ đã loan báo trở thành tên gọi cho “ngày Quang Lâm”, nghĩa là ngày Đức Giê-su trở lại trong vinh quang cùng với “các thánh của Ngài”.
Các thánh này là ai? Theo truyền thống Do thái, nhất là truyền thống khải huyền, vào ngày chung thẩm, Đức Chúa được các thiên sứ đứng chầu chung quanh, thường được gọi “các thánh” (cf. Dcr 14: 5). Các sách Tin Mừng vang dội lại truyền thống này: “Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu” (Mt 25: 31). Tuy nhiên, thánh Phao-lô vừa mới gợi lên sự thánh thiện của các tín hữu; không thể không nghĩ rằng thánh nhân liên kết sự hiện diện của những người được tuyển chọn vào sự hiện diện của các thiên sứ.
4. Trong ngày Đức Giê-su:
Đoạn văn này chỉ trích dẫn lời mào đầu của phần thứ hai thư gởi các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca (4: 1-2). Trong lời mào đầu này, thánh Phao-lô khuyên bảo các tín hữu hãy kiên vững và thăng tiến trên con đường thánh thiện. Thánh nhân nhắc nhớ giáo huấn của ngài, khi xác định ngài đã truyền đạt cho họ những chỉ thị mà ngài “đã lấy quyền Chúa Giê-su”; thánh nhân sẽ luôn luôn tự giới thiệu mình chỉ là người trung gian, sứ giả phàm nhân của lời Thiên Chúa.
Mặt khác, thật đáng chú ý, ngay từ bản văn đầu tiên của vị sứ đồ, xuất hiện biểu thức thường được lập đi lập lại dưới ngòi bút của thánh nhân, biểu thức then chốt phản ảnh hồn tông đồ cũng như cuộc sống nội tâm của thánh nhân: “Nhân danh Chúa Giê-su”: “Nhân danh Chúa Giê-su, chúng tôi xin, chúng tôi khuyên nhủ anh em”. Xa hơn một chút, thánh nhân lập lại đến hai lần “Nhân danh Chúa Giê-su” (5: 12, 18). Phải sống, hành động, suy nghĩ, cầu nguyện “nhân danh Chúa Ki tô”. Đây là cách thức duy nhất “làm vui lòng Thiên Chúa”.
TIN MỪNG (Lc 21: 25-28, 34-36)
Năm Phụng Vụ khởi đầu và kết thúc trên viễn cảnh Đức Giê-su trở lại vào ngày tận thế để thiết lập Triều Đại của Ngài một cách dứt khoát và tôn vinh các thánh. Như vậy, vào Chúa Nhật trước, chúng ta đã cử hành vương quyền hoàn vũ của Đức Giê-su. Vào Chúa Nhật I Mùa Vọng này, chúng ta lấy lại sự gợi ý tương tự, nhưng trong viễn cảnh Giáng Sinh. Đức Giê-su đã trở thành xác phàm và đã đi vào trong nhân loại để hướng dẫn nhân loại đến vận mệnh siêu nhiên của Ngài; Ngài sẽ hoàn thành công trình của mình vào ngày Quang lâm. Xứng với sự yếu đuối và khiêm hạ của biến cố Bê-lem lại là quyền năng và sự cao cả của “việc Con Người ngự đến”.
1. Bối cảnh:
Thánh Lu-ca, như thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu, đặt bài diễn từ về ngày Quang Lâm của Đức Giê-su vào lời giáo huấn sau cùng của Ngài ở Giê-ru-sa-lem, không bao lâu trước cuộc Thương Khó của Ngài. Chúng ta đọc phần cuối của bài diễn từ này.
Trong cả ba Tin Mừng nhất lãm, Chúa Giê-su công bố bài diễn từ này vào dịp Ngài rao giảng về sự sụp đổ Đền Thờ Giê-ru-sa-lem “không còn tảng đá nào trên tảng đá nào” (Lc 21: 6). Viễn cảnh này làm xao xuyến các môn đệ đến độ các ông liên kết nó với viễn cảnh ngày tận thế. Về phần mình, thánh Lu-ca cẩn trọng ghi nhận giữa hai biến cố này có một thời kỳ trung gian, “thời kỳ dân ngoại” ở 22: 24 ngay trước đoạn trích này: “Họ sẽ ngã gục dưới lưỡi gươm, sẽ bị đày đi khắp các dân các nước, và Giê-ru-sa-lem sẽ bị dân ngoại giày xéo, cho đến khi mãn thời của dân ngoại”.
Tại thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu, Đức Giê-su công bố diễn từ này trên núi Ô-liu, ngỏ lời với các môn đệ, hay chỉ một nhóm nhỏ, theo Mác-cô. Thánh Lu-ca định vị nó vào ở trung tâm Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, nơi mà việc sụp đổ sắp xảy ra (thành thánh Giê-ru-sa-lem và Đền Thờ luôn luôn là trọng tâm của những viễn cảnh sách Tin Mừng Lu-ca). Và bên kia các môn đệ, Đức Giê-su ngỏ lời với đám đông; như vậy thành thánh Giê-ru-sa-lem nghe công bố ngày Quang Lâm của Đấng mà nó sẳn sàng giết chết.
2. Truyền thống Kinh Thánh:
Trong Kinh Thánh, những điềm báo về việc Thiên Chúa can thiệp dứt khoát trong lịch sử, đề tài này xuất hiện rất sớm. Ví dụ như Đức Chúa gieo rắc sự kinh hoàng tại đất Ai-cập trước khi giải phóng dân Ngài (Xh 7: 14-11: 8). Đức Giê-su loan báo ngày tận thế theo cùng tiến trình: “Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc”, trong khi những người công chính “đứng thẳng và ngẩng đầu lên”.
Những điềm trời được các ngôn sứ sử dụng để loan báo những án phạt của Thiên Chúa trên các dân ngoại áp bức dân Ít-ra-en, cũng như trên chính dân Chúa chọn khi dân bất trung hay bất chính như Is 13: 10: “Quả vậy, tinh tú bầu trời và các chòm sao sẽ không chiếu sáng nữa, mặt trời vừa mọc lên đã tối sầm, mặt trăng sẽ không còn tỏa sáng”.
Khởi đi từ thế kỷ thứ hai trước Công Nguyên, các sách khải huyền phóng đại những mô tả này với những cảnh tượng huyền hoặc được gợi hứng từ Phương Đông (nó đã để lại dấu vết trên sách Khải Huyền của thánh Gioan). Thể loại văn chương này đưa vào trong Do thái giáo một trào lưu suy luận rộng lớn về “thế giới tương lai” và “kỷ nguyên cánh chung”. Vào thời Đức Giê-su, người ta rất quan tâm đến vấn đề này; chúng ta cũng có thể nói rằng vào lúc đó nhiều thế hệ đã sống trong niềm mong đợi ngày tận thế. Nhiều người Ki tô hữu gốc Do thái sống trong niềm mong đợi ngày Quang Lâm của Đức Ki tô.
3. Con Người ngự đến:
Thánh Lu-ca gợi lên những hình ảnh truyền thống và quy ước về những xáo động trên đất và biển như khúc dạo đầu “Ngày của Chúa”, vì những hình ảnh nầy diễn tả những vùng vẫy sau cùng của những quyền lực sự ác trước khi chúng bị tiêu diệt; nhưng thánh ký không chú tâm đến những hình ảnh này; ông ngỏ lời với quần chúng ít quen thuộc với thể loại văn chương khải huyền Do thái. Tất cả từ vựng này được sử dụng cốt nhấn mạnh quyền tối thượng của Đấng “ngự trong đám mây mà đến”.
Đức Giê-su đã loan báo nhiều lần rồi cho các môn đệ Ngài cuộc trở lại đầy quyền năng và vinh quang của Ngài dưới danh xưng Con Người; ở đây Ngài đặt cách diễn tả vào trong bối cảnh gốc của nó hầu như theo sát nguyên văn, thị kiến của ngôn sứ Đa-ni-en: “Có ai như một Con Người đang ngự giá mây trời mà đến” (Đn 7: 13). Do đó, danh hiệu mà Đức Giê-su tự nhận cho mình được khám phá với tất cả trương độ ý nghĩa của nó. Như Con Người trong thị kiến của ngôn sứ Đa-ni-en là thủ lãnh “dân thánh của Đấng Tối Cao”, Đức Giê-su mang lấy vận mệnh nhân loại. Vinh quang của Ngài cũng sẽ là tôn vinh tất cả những ai đã tin vào Ngài.
4. Bức tranh bộ đôi:
Thánh Lu-ca đặc biệt nhạy bén trước chiều kích con người về tấn thảm kịch sau cùng; thánh ký đặt hai bức tranh đối lập với nhau: bức tranh về quân vô đạo (chư dân) “sợ đến hồn xiêu phách lạc” và bức tranh về các tín hữu phát hiện giờ mình được cứu độ, giờ mình được giải thoát. Nói cách chính xác, nếu thánh ký không mô tả cuộc quy tụ những người được tuyển chọn, thì những từ ngữ ông sử dụng có một âm vang rất ý nghĩa: “đứng thẳng”, “ngẩng đầu lên”, diễn tả những tư thế của những người được sống lại.
5. Biến cố bất ngờ:
Đức Giê-su không bác bỏ văn chương khải huyền; nhưng Ngài đề nghị miêu tả Triều Đại của Ngài theo một cách thức khác, khi dựa trên một truyền thống tuy ít được chứng thực nhưng phổ biến: Ngày Quang Lâm của Ngài xảy đến bất ngờ không có dấu hiệu nào báo trước; nó thình lình giáng xuống địa cầu. Đức Giê-su đã gợi lên rồi viễn cảnh này ở nơi các dụ ngôn của Ngài về sự tỉnh thức: “Anh em cũng vậy, hãy sẳn sàng , vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến” (Lc 12: 40) và ở nơi việc Ngài so sánh Triều Đại của Ngài với trận đại hồng thủy bất ngờ: “Vì ánh chớp lòa chiếu sáng từ phương trời này đến phương trời kia thế nào, thì Con Người cũng là như vậy trong ngày của Người” (Lc 17: 20). Ở đây, Đức Giê-su sử dụng hình ảnh “chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu” mà ngôn sứ I-sai-a đã dùng: “Nào kinh hoàng, nào hố sâu, nào dò lưới đang chờ đợi ngươi, hỡi cư dân trái đất” (I s 24: 17). Thánh Phao-lô cùng theo một truyền thống khi thánh nhân viết cho các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca: “Vì chính anh em đã biết rõ: ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm ban đêm” (1Tx 5: 2), điều nầy không loại trừ thời kỳ gian nan khốn khó sau cùng: “Nhưng ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm. Ngày đó, các tầng trời sẽ ầm ầm sụp đổ, ngũ hành bốc cháy tiêu tan, mặt đất và các công trình trên đó sẽ bị thiêu hủy” (2Pr 3: 10).
6. Tỉnh thức và cầu nguyện:
Đức Giê-su đặt hai truyền thống này bên cạnh nhau: một truyền thống đặt dấu nhấn trên chiều kích hoàn vũ của biến cố, còn truyền thống kia – không loại trừ chiều kích hoàn vũ này – nhấn mạnh sự gặp gỡ thân tình của mỗi cá nhân với Chúa. Từ đó, Ngài mời gọi hãy tỉnh thức và cầu nguyện. Thánh Lu-ca không bao giờ quên tầm quan trọng của việc cầu nguyện; thánh nhân là thánh ký thường hằng ghi nhận vị thế quan trọng của lời cầu nguyện trong cuộc đời của Đức Giê-su.
“Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn”, đây là những lời căn dặn sau cùng của Đức Giê-su cho các môn đệ của Ngài; Ngài sẽ lập lại vài giờ sau này ở vườn Ô-liu…
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
30-11-2009, 02:08 PM
CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG
Phụng vụ Chúa Nhật II Mùa Vọng hoàn toàn hướng về biến cố Giáng Sinh. Giáo Hội mời gọi các Ki tô hữu tìm lại ý nghĩa việc Chúa ngự đến này qua những bản văn ngôn sứ ngõ hầu chuẩn bị sẵn sàng chờ đón Chúa đến.
Br 5: 1-9
Bài đọc thứ nhất là một bản văn rất muộn thời, mô phỏng lại những đề tài về cảnh giam cầm ở Ba-by-lon và cuộc hồi hương trở về. Thiên Chúa sẽ đích thân đến cứu dân Ngài và chuẩn bị con đường dẫn họ trở về thành thánh Giê-ru-sa-lem.
Pl 1: 4-11
Trong thư gởi các tín hữu Phi-líp-phê, thánh Phao-lô kêu mời các Ki tô hữu hãy thăng tiến trên con đường hoàn thiện và mở rộng lòng mình trước ân sủng để sống trong tư thế sẵn sàng chờ đón ngày Đức Ki-tô trở lại.
Lc 3: 1-6
Tin Mừng tường thuật khởi đầu sứ vụ của thánh Gioan Tẩy Giả. Vị Tiền Hô khuyên bảo đám đông dân chúng hãy chuẩn bị sẵn sàng chờ đón Đấng Mê-si-a ngự đến.
BÀI ĐỌC I (Br 5: 1-9)
Ông Ba-rúc là “bạn tâm giao” và là “thư ký” của ngôn sứ Giê-rê-mi-a, nhưng ông không là tác giả của sách mang tên ông. Sách Ba-rúc này được viết rất muộn thời, chắc chắn từ thế kỷ thứ hai trước Công Nguyên. Đây thật sự là một tuyển tập; những phần khác nhau của sách không do cùng một tác giả và cũng không thuộc cùng niên biểu.
1. Bối cảnh:
Dù thế nào, sách Ba-rúc đưa chúng ta trở về thời kỳ trào lưu ngôn sứ vắng bóng từ lâu, người ta lấy lại những bản văn cũ, suy niệm chúng và thích ứng chúng (như chúng ta đã đọc bản văn của Giê-rê-mi-a được sửa đổi ở Chúa Nhật I Mùa Vọng); người ta cố gắng hiện tại hóa sứ điệp khi đặt nó dưới sự bảo trợ của một nhân vật quá khứ nổi tiếng. Tác giả của sách Ba-rúc cũng theo một cách thức như vậy (thể loại văn chương này được gọi là “trào lưu ngôn sứ mạo danh”).
Tác giả chọn cảnh giam cầm ở Ba-by-lon làm khung cảnh lịch sử, bằng cách tưởng tượng ông Ba-rúc ở giữa những người lưu đày, để báo trước cho họ biết họ sắp được trở về quê cha đất tổ và kêu mời Giê-ru-sa-lem hân hoan vui mừng. Thật ra, ông Ba-rúc cũng như ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã không bị phát lưu sang Ba-by-lon. Những đề tài, hình ảnh, từ vựng được mượn ở I-sai-a đệ nhị, vị ngôn sứ an ủi những người lưu đày, cũng như ở I-sai-a đệ tam, vị ngôn sứ của thời kỳ những người lưu đày trở về Giê-ru-sa-lem.
2. Sấm ngôn mô phỏng:
Rất dể nhận ra đoạn văn Ba-rúc này mô phỏng vài bản văn của I-sai-a đệ nhị (Is 40-55) và I-sai-a đệ tam (Is 56-66). Chúng ta gặp thấy cũng một lời mời gọi thành thánh Giê-ru-sa-lem hãy vui lên như thế:
“Hỡi Xi-on, thức dậy đi, hãy biểu dương sức mạnh! Hỡi thành thánh Giê-ru-sa-lem, hãy mặc lễ phục huy hoàng! Vì từ nay, kẻ không cắt bì cũng như người ô uế sẽ không còn bước vào thành thánh nữa” (Is 52: 1).
“Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa trên ngươi. Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân; còn trên ngươi Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa, vinh quang Người xuất hiện trên ngươi. Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước. Đưa mắt nhìn tứ phía mà xem, tất cả đều tập hợp, kéo đến với ngươi: con trai ngươi từ phương xa tới, con gái ngươi được ẵm bên hông” (Is 60: 1-4).
Và thành thánh Giê-ru-sa-lem hân hoan vui mừng:
“Tôi mừng rỡ muôn phần nhờ Đức Chúa, nhờ Thiên Chúa tôi thờ, tôi hớn hở biết bao! Vì Người mặc cho tôi đức chính trực công minh, như chú rễ chỉnh tề khăn áo, tựa cô dâu lộng lẫy điểm trang” (Is 61: 10).
Ngôn sứ I-sai-a đã sánh ví rồi cuộc hồi hương của những người lưu đày với cuộc Xuất Hành mới ở đó Thiên Chúa còn thực hiện những điều kỳ diệu cho dân Ngài, “mọi thung lũng sẽ được lấp đầy, mọi núi đồi sẽ phải bạt xuống, nơi lồi lõm sẽ hóa thành đồng bằng, chốn gồ ghề nên vùng đất phẳng phiu” (Is 40: 4), “trong vùng hoang địa, Ta sẽ trồng bá hương, keo, sim với ô-liu; trên những dải đất hoang, Ta sẽ cho mọc lên một trật nào trắc bá, nào du, nào hoàng dương” (Is 41: 19).
3. Những danh hiệu biểu tượng:
Còn những danh hiệu được tác giả sách Ba-rúc gán cho Giê-ru-sa-lem như “Bình-an-xây-dựng-trên-công-<WBR>chính” hay “Vinh-quang-phát-xuấ- từ-lòng-kính-sợ-Thiên-Chúa”, được định vị vào hàng những danh hiệu thuộc trào lưu ngôn sứ: ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã trao cho Giê-ru-sa-lem danh hiệu “Đức-Chúa-là-sự-công-chính-<WBR>của-chúng-ta” (Gr 33: 16); ngôn sứ I-sai-a đệ tam gọi thành thánh là “Xi-on của Đức Thánh Ít-ra-en” (Is 60: 14) hay “Thành không bị bỏ” (Is 62: 12), vân vân.
Bù lại, việc gọi Thiên Chúa là “Đấng Vĩnh Hằng” là một nét mới và đặc thù của sách Ba-rúc. Danh hiệu này được lập đi lập lại đến bảy lần trong toàn bộ bài thơ; đây là một ví dụ độc nhất trong toàn bộ Cựu Ước. Qua đó tác giả nhấn mạnh: tất cả những gì Thiên Chúa làm đều “vĩnh hằng”: “mặc lấy ánh vinh quang vĩnh cửu Thiên Chúa ban cho ngươi”, “Mãi mãi Người sẽ gọi ngươi…”.
4. Hiện tại hóa sứ điệp:
Vấn đề tất yếu được nêu lên: tại sao có sự mô phỏng này? Tại sao mô phỏng theo cách thức này? Tại sao “loan báo” cuộc hồi hương vốn đã xảy ra bốn trăm năm trước đó? Tại sao thánh thánh Giê-ru-sa-lem lại cử hành sau nhiều thế kỷ? Phải đọc ẩn dụ này như thế nào để gặp lại độ nhạy bén của những người đương thời mà tác phẩm được gởi đến?
Thay vì đọc và nghĩ đến “những người Do thái lưu đày”, chúng ta nên đọc và nghĩ đến “những người Do thái tha hương”, điều này giúp chúng ta giải đáp được một phần điều bí ẩn này. Đây là những cộng đoàn Do thái Hải Ngoại gói gắm tâm tư nguyện vọng của mình vào nơi sách Ba-rúc. Bị phân tán trong thế giới Hy-La và trong miền Trung Đông, sống xa thành thánh Giê-ru-sa-lem, các cộng đồng này cảm thấy mình như “những kẻ lưu đày”; tuy xa mặt nhưng không cách lòng: mọi tâm tư tình cảm của họ đều hướng về Thành Thánh; họ hiệp nhất với Thành Thánh qua lời cầu nguyện (phần thứ nhất của sách Ba-rúc), qua việc thực hành Lề Luật, tức sự Khôn Ngoan của Thiên Chúa (phần thứ hai của sách) và qua niềm hy vọng (phần thứ ba, từ đó đoạn văn của chúng ta được trích dẫn).
5. Giê-ru-sa-lem thời Mê-si-a:
Đọc lại bản văn trong viễn cảnh này: bài thơ ca ngợi tán dương thánh thánh Giê-ru-sa-lem thời Mê-si-a.
“Ánh vinh quang vĩnh cửu của Thiên Chúa” sẽ được biểu lộ trong Thành Thánh. Thành Giê-ru-sa-lem sẽ là Thành Đô Bình An vì được xây dựng trên sự công chính, tức là sự thánh thiện của Thiên Chúa; Thành Thánh sẽ rạng ngời vinh quang của Thiên Chúa, phát xuất từ “lòng kính sợ Thiên Chúa”. Chính “Lời Đấng Thánh” sẽ quy tụ mọi con cái Thiên Chúa. Kỷ nguyên Mê-si-a này sẽ là Triều Đại chứa chan niềm vui, tràn ngập ánh sáng “của lòng từ bi và sự công chính của Người”.
Người Do thái đã đọc lại bài thơ này vào năm 63 trước Công Nguyên, để lấy lại can đảm sau khi tướng Rô-ma là Pom-pê đánh chiếm Giê-ru-sa-lem; họ cũng đã đọc lại bài thơ trong nước mắt vào ngày kỷ niệm việc các đạo binh của tướng Ti-tô phá hủy Đền Thờ thành bình địa vào năm 70; như vậy họ khẳng định niềm hy vọng muôn đời bất biến của họ.
Người Ki tô hữu đọc bản văn này bởi vì họ nắm bắt tầm quan trọng mang tính ngôn sứ của bài thơ này: Thiên Chúa sắp viếng thăm dân Ngài “để dân Ngài tiến bước bình an dưới ánh vinh quang của Thiên Chúa, cùng với lòng từ bi và sự công chính của Người”.
BÀI ĐỌC II (Ph 1: 4-6, 8-11)
Thánh Phao-lô sáng lập cộng đoàn Ki tô hữu đầu tiên ở thành Phi-líp-phê thuộc miền Ma-kê-đô-ni-a, trên vùng đất Châu Âu vào năm 49-50, khi thánh nhân tính thực hiện một cuộc mạo hiểm lớn: vượt qua biển Ê-gi-ê để loan báo Tin Mừng cho một lục địa khác.
1. Bối cảnh:
Thành Phi-líp-phê được đặt tên theo vua Phi-líp-phê II, thân phụ của A-lê-xan đại đế. Sau khi đã sáp nhập miền này vào năm 360 trước Công Nguyên, vị đại đế Hy lạp này đã tái thiết và phát triển thành phố. Vào năm 42 trước Công Nguyên, hai đại tướng Rô-ma, Mác-cô An-tô-ni-ô và Ốt-ta-vi-a-nô (Âu-gút-tô) đã đánh bại Bru-tô và Ca-xi-ô, và đã thiết lập một khu cho các cựu chiến binh thuộc các binh đoàn chiến thắng. Vào thời thánh Phao-lô, thành phố đã trở thành một đô thị Rô-ma, với những quan tổng trấn Rô-ma và những cấu trúc thành thị Rô-ma.
Vào năm 56 hay 57, thánh Phao-lô có dịp gởi một bức thư cho các Ki tô hữu Phi-líp-phê, đối với thánh nhân đó là một niềm vui, vì ngài rất quý mến giáo đoàn này, vả lại họ đã chứng tỏ tấm lòng trung thành đến cảm động. Thánh nhân đã hai lần chấp nhận hỗ trợ vật chất của các tín hữu Phi-líp-phê thân yêu này, trong khi ngài từ chối bất kỳ sự hỗ trợ nào từ phía cộng đoàn Ki tô hữu khác. Thư thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Phi-líp-phê bộc lộ lòng quý mến của thánh nhân đối với giáo đoàn này mà không có bất kỳ hậu ý trách cứ cũng như vấn đề đạo lý; bức thư này cũng là bức thư hấp dẫn nhất.
Phụng Vụ chọn đoạn văn hôm nay vì nó gợi lên ngày Đức Giê-su trở lại và cách thức người Ki tô hữu chuẩn bị chờ đón. Đoạn văn này gồm có hai phần, chứa đựng một suy tư thần học có tầm mức lớn lao theo hình thức tạ ơn và khuyên nhũ.
2. Công trình của Đức Giê-su:
Trước hết, thánh Phao-lô nói lên niềm vui và lòng biết ơn của mình đối với các tín hữu Phi-líp-phê vì họ nhiệt tâm đối với Tin Mừng và góp phần vào sứ mạng tông đồ của ngài; thánh nhân nhận ra đó là công việc tốt lành của Thiên Chúa ở nơi họ. Viễn cảnh này vẫn là một quan điểm thường hằng của thánh nhân: chúng ta không thể thánh hóa chính mình bằng sức riêng của mình, như vậy thánh Phao-lô khẳng định “quyền ưu tiên của ân sủng”.
Tuy thế, người Ki tô hữu phải luôn luôn sống trong tư thế chuẩn bị sẳn sàng, đó là điều tất yếu. Thánh nhân cũng gởi đến các tín hữu Phi-líp-phê những lời khuyên nhũ khẩn thiết với những lời lẽ trìu mến.
2. Sự cộng tác của con người:
Sau khi bày tỏ niềm vui, thánh Phao-lô nói lên tâm tình của mình: thánh nhân nhắc các tín hữu Phi-líp-phê nhớ đến tấm lòng của ngài đối với họ: “Có Thiên Chúa làm chứng cho tôi, là tôi hết lòng yêu quý anh em tất cả, với tình thương của Đức Giê-su Ki tô”. Từ ngữ Hy lạp diễn tả “tình thương của Đức Ki tô” theo nghĩa rất mạnh; nó gợi lên “tình phụ tử”; Đức Ki tô đã sinh ra họ trong đức tin qua sứ vụ của vị tông đồ của Ngài; vị tông đồ yêu thương họ bằng tình yêu có nguồn gốc trong tình yêu của Đức Ki tô.
Với lời khẩn nguyện nài xin cùng Thiên Chúa, thánh Phao-lô khuyên các tín hữu Phi-líp-phê hãy kiên tâm bền chí: động lực thăng tiến tinh thần của họ cốt ở nơi tình yêu, vừa lòng mến đối với Thiên Chúa vừa đức ái huynh đệ. Chính nhờ tình yêu này mà họ đạt được “ơn hiểu biết và tài trực giác siêu nhiên”. Thánh Phao-lô nhấn mạnh tầm quan trọng của đức biệt phân: “nhận ra cái gì là tốt hơn”; thánh nhân thường lập lại ở đây; đức biệt phân này là một khía cạnh của đức khôn ngoan Ki tô giáo, đổi mới thật sự lòng trí con người.
admin
30-11-2009, 02:09 PM
3. Ngày Đức Ki tô:
Trong đoạn văn này, thánh Phao-lô hai lần nhắc đến “ngày Đức Ki tô”. Như hai bức thư gởi các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca, thư gởi các tín hữu Phi-líp-phê làm chứng rằng các thế hệ Ki tô hữu đầu tiên mong chờ ngày Đức Giê-su Ki-tô trở lại sắp đến gần.
Vào ngày đó những người Ki-tô hữu phải được tinh tuyền và không làm gì đáng trách, sinh nhiều hoa trái dồi dào từ đời sống công chính nhờ Đức Ki-tô (từ công chính theo nghĩa kinh thánh, nghĩa là sống cuộc sống đạo hạnh phù hợp với ý muốn Thiên Chúa).
Chúng ta gặp lại ở đây Thần Học về ân sủng. Đây là phương thức quen thuộc của thánh Phao-lô, thánh nhân thích lập lại ở phần cuối lời khẳng định ban đầu.
Tất cả cuộc sống Ki tô hữu này, được sắp xếp trong Đức Ki-tô, nhằm một mục đích tối hậu là “tôn vinh và ngợi khen Thiên Chúa”. Đây là cứu cánh của con người.
TIN MỪNG (Lc 3: 1-6)
Thánh Lu-ca giới thiệu sứ vụ của ông Gioan Tẩy Giả với lời mào đầu long trọng; thánh nhân định vị biến cố này vào trong lịch sử thế giới khi trích dẫn hoàng đế Rô-ma. Điều này cho thấy thánh Lu-ca quan tam đến lịch sử, tuy nhiên thánh ký cũng muốn nói rằng lời rao giảng của ông Gioan Tẩy Giả, loan báo kỷ nguyên cứu độ, liên quan đến hết mọi người. Chính cũng vì lý do này, khi viện dẫn Is 40, thánh Lu-ca tuân theo truyền thống Mc 1: 3 và Mt 3: 3; tuy nhiên, thánh Lu-ca đem đến một điều mới mẽ khi thánh ký trích dẫn trọn vẹn sấm ngôn của I-sai-a, vì sấm ngôn này chấm dứt với những từ: “Rồi hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa”. Qua câu này, thánh ký khẳng định tính cách phổ quát của ơn cứu độ mà I s 40: 6 đã loan báo, cũng như thánh ký đã nói trước ở 2: 30-31: “Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ Chúa đã dành sẵn cho muôn dân”.
1. Bối cảnh lịch sử:
Lời mào đầu giới thiệu bối cảnh lịch sử thế giới qua đế quốc Rô-ma, và lịch sử trong và ngoài miền đất Palestine qua ba tiểu vương, các con của Hê-rô-đê đại đế.
- Năm thứ mười lăm dưới triều hoàng đế Ti-bê-ri-ô:
Năm thứ mười lăm dưới triều hoàng đế Ti-bê-ri-ô xem ra từ ngày mồng một tháng mười năm 27 đến ngày 30 tháng bảy năm 28. Người ta có thể do dự vì các lịch khác nhau. “Thời Phong-xi-ô Phi-la-tô làm tổng trấn miền Giu-đê”, tổng trấn Phi-la-tô đại diện chính quyền Rô-ma. Kể từ năm thứ sáu sau Công Nguyên, miền Giu-đa không còn có chính quyền bản địa nữa; vào năm này chính quyền Rô-ma đã truất quyền Archilaüs, con và người kế vị vua Hê-rô-đê đại đế, và nắm quyền trực tiếp trên miền Giu-đê, miền thường gây ra những cuộc bạo động. Như vậy miền Giu-đê có một thể chế đặc biệt. Chúng ta biết điều đó vào lúc xét xử Đức Giê-su.
- Hê-rô-đê làm tiểu vương miền Ga-li-lê.
Miền Ga-li-lê vẫn duy trì chính quyền bản địa do tiểu vương Hê-rô-đê, biệt hiệu An-ti-pát, con Hê-rô-đê đại đế. Chính vị tiểu vương này đã giết Gioan Tẩy Giả và Đức Giê-su bị điệu đến trước ông.
- Phi-líp-phê làm tiểu vương miền I-tu-rê và Tra-khô-nít.
Tiểu vương Phi-líp-phê, cũng là con của Hê-rô-đê đại đế, cai trị lãnh địa đông bắc biển hồ Ti-bê-ri-a. Ông là vị tiểu vương ôn hòa, không mặn nồng lắm với Do thái giáo, thậm chí ưu đãi những thờ cúng ngoại giáo.
- Ly-xa-ni-a làm tiểu vương miền A-bi-lên.
Miền A-bi-lên là một lãnh địa nhỏ bé được định vị ở Anti-Liban, phía tây Đa-mát. Tiểu vương Ly-xa-ni-a rất ít được biết đến. Vì thế người ta có thể tự hỏi trong danh sách của Lu-ca vị tiểu vương này đóng vai trò gì. Đế quốc Rô-ma cho ba người con của Hê-rô-đê đại đế làm tiểu vương ba lãnh địa, hai trong đất Palestine và một ở ngoài đất Palestine. Thật hợp lý khi kể thêm tiêu vương Ly-xa-ni-a cho đủ số ba người con của Hê-rô-đê đại đế. Nhưng lý do thật sự xem ra còn sâu xa hơn. Rõ ràng ý định của thánh Lu-ca là muốn thông tri cho đọc giả hiểu rằng “biến cố Gioan Tẩy Giả” vượt quá bên ngoài ranh giới miền đất Palestine.
- Kha-nan và Cai-pha làm thượng tế.
Sau khi nói đến thế quyền, thánh Lu-ca đề cập đến giáo quyền: Kha-nan, thượng tế mãn nhiệm, và Cai-pha, người con rể, thượng tế đương nhiệm. Kha-nan được nêu tên, vì thế lực của ông vẫn còn ảnh hưởng rất lớn. Theo thánh Gioan, sau khi bị bắt, Đức Giê-su bị điệu trước tiên đến thượng tế Kha-nan, sau đó mới đến thượng tế Cai-pha.
Đối diện với thế quyền và giáo quyền này, thánh Lu-ca đặt để một nhà khổ hạnh sống ẩn dật trong hoang địa, ông Gioan, con ông Da-ca-ri-a. Chính nơi nhân vật khiêm hạ này mà Lời Chúa được gởi đến.
2. Sứ vụ của ông Gioan Tẩy Giả.
“Có Lời Thiên Chúa phán cùng con ông Da-ca-ri-a là ông Gioan trong hoang địa”. Thánh Lu-ca mượn văn phong kinh thánh mô tả ơn gọi ngôn sứ như Hs 1: 1 hay Gr 11: 1. Như vậy thánh ký ghi nhận rằng ông Gioan Tẩy Giả là một vị ngôn sứ, ông phải nói với tư cách của một ngôn sứ. Sự kiện này lại càng gây chú ý hơn nữa vì từ năm trăm năm qua đã không có một ngôn sứ nào xuất hiện.
Tiếng gọi mầu nhiệm của Thiên Chúa chắc chắn còn cổ xưa hơn. Ông Gioan xuất thân từ gia đình tư tế; cha ông, ông Da-ca-ri-a, là tư tế phụng sự đền thờ Giê-ru-sa-lem. Ấy vậy, chức vụ tư tế của dân Ít-ra-en là cha truyền con nối. Ông Gioan khước từ chức vụ và danh dự này; được Chúa Thánh Thần thúc đẩy, ông vào sống ẩn mình “trong hoang địa cho đến ngày ra mắt dân Ít-ra-en” (Lc 1: 80).
Hoang địa này là sa mạc Giu-đê, dưới chân những ngọn đồi khô cằn, trong miền này được định vị giữa thành Giê-ri-cô và địa danh Qum-ran, có dòng sông Gio-đan đổ nước vào Biển Chết. Để thi hành sứ vụ của mình, ông Gioan Tẩy Giả tiếp cận với dân cư quanh vùng: “Ông liền đi khắp vùng ven sông Gio-đan”.
3. Phép rửa tỏ lòng sám hối.
Phép rửa mà Gioan Tẩy Giả đề xướng không nhằm mục đích nào khác ngoài việc tỏ lòng sám hối. Các vị lãnh đạo tôn giáo đòi buộc các tân tòng muốn gia nhập vào cộng đồng Ít-ra-en phải chịu phép rửa cùng với phép cắt bì. Các nghi thức thanh tẩy thì rất nhiều; thậm chí người Do thái hậu lưu đày vì lòng sốt sáng đã thêm vào một số lượng lớn; nghi thức thanh tẩy được thực thi hằng ngày và đa dạng tại các tu sĩ Qum-ran. Nhưng phép rửa mà Gioan đề xướng là một nghi thức duy nhất, bất khả lập lại, cũng không thuần túy chỉ là nghi thức. Thanh tẩy của thánh nhân là dấu hiệu thanh tẩy nội tâm, chuẩn bị tâm hồn đón nhận ơn tha thứ tội lỗi, nhưng tự nó chưa có quyền ban ơn tha thứ này.
4. Có tiếng người hô trong hoang địa.
Cả bốn thánh ký đều trích dẫn sấm ngôn của I-sai-a đệ nhị hứa với những người lưu đày ở Ba-by-lon, họ sẽ sớm được hồi hương. Thiên Chúa sẽ sai phái một sứ giả “trong sa mạc, mở một con đường cho Đức Chúa” (I s 40: 3-5), vì chính Thiên Chúa sẽ dẫn đường cho dân Ngài trở về Giê-ru-sa-lem.
Cả ba tác giả Tin Mừng nhất lãm đều đã thấy ở nơi vị sứ giả này dung mạo của ông Gioan Tẩy Giả. Tuy nhiên, chỉ duy thánh Lu-ca trích dẫn trọn vẹn sấm ngôn của ngôn sứ I-sai-a, nhưng thánh ký chủ ý thay đổi một chút câu cuối. Thay vì “Bấy giờ vinh quang Đức Chúa sẽ tỏ hiện, và mọi người phàm sẽ cùng được thấy”, thánh ký viết: “Rồi hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa”. Thật ra vinh quang của Đức Chúa là việc Thiên Chúa Ít-ra-en tỏ bày quyền năng rực rỡ của Ngài, Đấng, sau một thời gian dài xem ra không đoái hoài đến dân Ngài, đem đến cho những người bị giam cầm sự giải thoát, tiên trưng một cuộc giải thoát khác, chính xác hơn, giải thoát khỏi mọi giam cầm của tội lỗi.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
06-12-2009, 09:19 AM
CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG
Vào Chúa Nhật III Mùa Vọng này, Phụng Vụ mời gọi chúng ta hãy vui lên, bởi vì lễ Giáng Sinh sắp đến rồi.
Quả thật, Chúa Nhật này đánh dấu nữa đoạn đường Mùa Vọng, và như nữa đoạn đường Mùa Chay, đây thời gian nghỉ ngơi lấy sức cho một cuộc hành trình. Xưa kia, Chúa Nhật này được gọi Chúa Nhật “hãy vui lên”, nhan đề được rút ra từ đoạn thư thánh Phao-lô gởi các tín hữu Phi-líp-phê mà chúng ta đọc vào Chúa Nhật hôm nay.
Xp 3: 14-18
Bài đọc thứ nhất là bản văn của ngôn sứ Xô-phô-ni-a mời gọi Giê-ru-sa-lem “hãy vui lên”, vì đã được Thiên Chúa sủng ái và sắp được Thiên Chúa viếng thăm.
Pl 4: 4-7
Trong bài đọc thứ hai, thánh Phao-lô khuyên các tín hữu Phi-líp-phê “hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa”, Ngài là nguồn mạch của bình an.
Lc 3: 10-18
Đoạn Tin Mừng Lu-ca thuật lại lời rao giảng của thánh Gioan Tẩy Giả; lời rao giảng này xác định những nét đặc thù của “Tin Mừng”.
BÀI ĐỌC I (Xp 3: 14-18)
Ngôn sứ Xô-phô-ni-a sống vào thế kỷ thứ bảy trước Công Nguyên; ông thi hành sứ vụ của mình ở Giê-ru-sa-lem vào những năm 640-625 trước Công Nguyên.
1. Bối cảnh:
Vương quốc Giu-đa vào lúc đó được cai trị bởi một ấu chúa là Giô-si-gia, lên ngôi lúc tám tuổi. Thời kỳ được ghi dấu bởi những di hại của một triều đại dài lâu do một vị vua vô đạo là vua Mơ-na-se. Phong tục tập quán ngoại giáo, thờ cúng ngẫu tượng, bạo lực, gian lận, bất công xã hội, thói kiêu căng của những kẻ quyền thế, tinh thần hưởng thụ của những người giàu có, vân vân. Vị ngôn sứ lớn tiếng chê trách và tiên báo cơn thịnh nộ của Thiên Chúa; đó sẽ là “Ngày của Đức Chúa”, ngày thịnh nộ. Tuy nhiên, đó sẽ không là ngày tận thế. Thiên Chúa sẽ cho sót lại một dân nghèo hèn và bé nhỏ, chúng sẽ không làm những chuyện tàn ác bất công, nhưng tìm nương ẩn nơi Đức Chúa.
Bài hoan ca được trích dẫn hôm nay mời gọi Giê-ru-sa-lem hãy vui lên, ngay liền sau đó, gợi lên những người công chính thoát khỏi án phạt.
Nguyên nhân sâu xa khiến Giê-ru-sa-lem hoan hĩ vui mừng chính là chắc chắn mình đã được Thiên Chúa sủng ái, đã được Thiên Chúa cứu độ, Ngài là Chúa Tể lịch sử và đang ngự giữa dân Ngài.
2. Niềm vui của dân Ngài cũng là niềm vui của Thiên Chúa:
Điều ngạc nhiên nhất của bài hoan ca này đó là vị ngôn sứ thiết lập một sự song đối giữa niềm vui của dân thành Giê-ru-sa-lem và niềm vui của Thiên Chúa, chính Ngài sẽ vui mừng hoan hĩ vì gặp lại dân Ngài.
Chắc chắn không cần thiết phải tìm kiếm xem biến cố nào đã gây nên niềm phấn khởi đầy lạc quan ở nơi vị ngôn sứ. Trước tiên, đây là viễn cảnh thời Mê-si-a. Bài thơ của ông ca ngợi vị Vua Cứu Tinh tiến vào trong Thành Thánh; Ngài là vị vua chiến thắng và giải thoát: “Án lệnh phạt ngươi, Đức Chúa đã rút lại, thù địch của ngươi, Người đã đẩy xa”. “Này Xi-on, đừng sợ, chớ kinh hãi rụng rời”. Bởi vì, trong ngôn từ của vị ngôn sứ, sự giải thoát là dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa tha thứ: “Đức Chúa Thiên Chúa của ngươi đang ngự giữa ngươi, Người là vị cứu tinh, là Đấng anh hùng”.
Thành Thánh Giê-ru-sa-lem hân hoan reo mừng đón tiếp Đức Vua của mình, chính Đức Chúa thân hành ngự giá đến ở giữa dân Ngài, Ngài là vị vua đích thật của Ít-ra-en. Trong một bản văn mang đậm nét Mê-si-a hơn, ngôn sứ Da-ca-ri-a ca ngợi niềm vui của Giê-ru-sa-lem bằng những lời lẽ tương tự: “Nào thiếu nữ Xi-on, hãy vui mừng hoan hỹ! Hỡi thiếu nữ Giê-ru-sa-lem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Chúa của người đang đến với ngươi…” (Dcr 9: 9). Thành Đô Giê-ru-sa-lem được giải thoát và sống trong cảnh thanh bình, bởi vì Chúa “sẽ lấy tình thương của Người mà đổi mới ngươi” như người yêu lấy tình thương mà biến đổi người mình yêu.
Niềm vui của Thiên Chúa chẳng thua kém gì niềm vui của Thành Thánh. Thiên Chúa hạnh phúc được ở giữa những người mà tình thương của Ngài đã cứu thoát. “Chúa sẽ nhảy múa tưng bừng như trong ngày lễ hội” vì dân Ngài đã thấy ơn cứu độ.
Một vị ngôn sứ khác, I-sai-a đệ tam, cũng thấy Thiên Chúa vui mừng hoan hĩ nhưng trong viễn cảnh cánh chung, Chúa liên kết mình vào với niềm vui của những người được tuyển chọn”: “Này đây Ta sáng tạo trời mới đất mới, không còn ai nhớ đến thuở ban đầu và nhắc lại trong tâm trí nữa. Nhưng thiên hạ sẽ vui mừng và luôn mãi hỷ hoan vì những gì chính Ta sáng tạo. Phải, này đây Ta sẽ tạo Giê-ru-sa-lem nên nguồn hoan hỷ và dân ở đó thành nỗi vui mừng. Vì Giê-ru-sa-lem Ta sẽ hoan hỷ, vì dân Ta, Ta sẽ nhảy mừng. Nơi đây, sẽ chẳng còn nghe thấy tiếng than khóc kêu la” (I s 65: 17-19). Thật ra bản văn của Xô-phô-ni-a không phải là không gợi lên quang cảnh Thành Thánh Giê-ru-sa-lem trên trời.
Niềm vui cứu độ thời Mê-si-a là niềm vui mà sứ thần loan báo cho Đức Ma-ri-a, thiếu nữ Xi-on tuyệt vời nhất: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà…Thưa bà, xin đừng sợ…Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà”.
BÀI ĐỌC II (Pl 4: 4-7)
Thánh Phao-lô cũng khẩn khoản nhắc đi nhắc lại các tín hữu Phi-líp-phê hãy vui lên. Còn hơn cả lời khuyên, lời mời gọi này là nguyên tắc căn bản trong thần học của vị sứ đồ; niềm vui tâm linh, “Hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa”, đúng nguyên ngữ, “trong niềm vui của Chúa Ki tô”; đây là biểu thức quen thuộc của thánh Phao-lô.
1. Hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa:
Tuy nhiên, như chúng ta biết qua bức thư này, các tín hữu Phi-líp-phê phải chiến đấu cam go vì niềm tin của mình: “Quả thế, nhờ Đức Giê-su Ki tô, anh em đã được phúc chẳng những là tin vào Người, mà còn được chịu đau khổ vì người. Nhờ vậy, anh em được tham dự cùng một cuộc chiến mà anh em đã thấy tôi phải đương đầu trước kia, và nay anh em nghe biết là tôi vẫn còn tiếp tục” (Pl 1: 29-30).
Thánh Phao-lô đưa ra một mẫu gương về niềm vui này, vì vào lúc đó ngài đang bị giam cầm, chắc chắn ở Ê-phê-sô. Thánh nhân vừa mới nhận biết những đau khổ sống động của sứ vụ tông đồ (vài người dân Cô-rin-tô đố kỵ và vu khống ngài và cản trở sứ vụ của thánh nhân ở Ê-phê-sô), tuy nhiên, thánh nhân vẫn vui trong niềm vui của Chúa.
2. Sống hiền hòa.
“Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hòa rộng rãi”. “Hiền hòa” là dụng ngữ của sự khôn ngoan Hy lạp; từ này chỉ đức hạnh đặt nền tảng trên lý trí và đức độ, thăng hoa ở nơi một cuộc sống hiền hòa. Thánh Phao-lô lập lại đức hiền hòa này trong lời khuyên gởi đến hai môn đệ và là cộng tác viên của ngài là Ti-mô-thê và Ti-tô (Tm 3: 3; Tt 3: 2). Nếu dân ngoại tìm kiếm một lý tưởng như vậy, huống chi là những người Ki tô hữu. Còn gì tốt đẹp cho bằng các tín hữu phải nêu gương một cuộc sống hiền hòa. Rõ ràng thánh Phao-lô gởi đến các Ki tô hữu gốc Hy lạp, họ có thể hiểu được lời khuyên của Ngài.
3. Chúa đã gần đến:
Những Ki tô hữu sống vui vẻ và hiền hòa vì họ xác tín ơn cứu độ đang ở trong tầm tay, điều mà các tác giả Tin Mừng diễn tả “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần rồi”. Quả thật, thật thích hợp để duy trì sự uyển chuyển ở nơi câu nói: “Chúa đã đến gần rồi”. Thánh Phao-lô có một cái nhìn tăng tốc của lịch sử. Cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Giê-su đã thiết lập kỷ nguyên cứu độ; chắc chắn kỷ nguyên này sẽ triển nở viên mãn vào ngày Đức Giê-su quang lâm. Viễn cảnh này phải đem lại niềm vui tròn đầy cho người Ki tô hữu, tuy nhiên, ngay từ bây giờ viễn cảnh này được khai mở trong một cuộc sống kết hợp với Đức Ki tô.
4. Niềm vui, lời khẩn nguyện và bình an:
Vui vì tin tưởng và phó thác vào Thiên Chúa, vậy chẳng có gì phải lo lắng cả. Chính ở nơi niềm tin tưởng này mà lời khẩn nguyện và tâm tình tạ ơn có thể được liên kết mật thiết với nhau. Mối liên kết này hoàn toàn theo truyền thống kinh thánh. Thánh vịnh gia dâng lên Thiên Chúa lời khẩn nguyện và tâm tình cảm tạ tri ân của mình, đồng thời ông tin chắc rằng Thiên Chúa sẽ đáp trả niềm tin tưởng của mình. Trong những viễn cảnh Ki tô giáo, lời khẩn nguyện cắm rể sâu vào trong tâm tình cảm tạ và chiêm ngắm mầu nhiệm cứu độ. Từ đó sinh ra một sự bình an trong tâm hồn, một sự bình an không phát xuất từ nỗ lực phàm nhân, nhưng từ lời hứa của Đức Giê-su cho các môn đệ Ngài, một sự bình an vượt quá mọi hiểu biết của con người.
Trong các bức thư của thánh Phao-lô chúng ta cũng gặp thấy những lời khuyên tương tự; nhưng thư gởi các tín hữu Phi-líp-phê được viết với những lời lẽ thân tình và tràn đầy tin tưởng, qua đó thánh Phao-lô để lộ những bí ẩn đời sống nội tâm của mình.
TIN MỪNG (Lc 3: 10-18).
Thánh Lu-ca là tác giả Tin Mừng duy nhất cho nhiều chi tiết xác định về lời rao giảng của thánh Gioan Tẩy Giả. Bản văn này cũng dâng hiến một lợi ích lớn lao: thánh ký không rao giảng về những đề tài thần học khó hiểu, nhưng về đời sống.
Bản văn bao gồm hai phần, tương xứng với chuyển động kép của câu chuyện: phát triển sứ điệp của thánh Gioan Tẩy Giả, khởi đi từ giáo huấn thực tiển đến mặc khải về Đấng Mê-si-a; đồng thời phát triển tâm lý của những ai thực tâm muốn thay đổi cuộc đời mình, từ việc mở lòng mình ra thi hành đức ái và sự công chính, cho đến việc vươn mình lên tìm kiếm Thiên Chúa hay ít ra vị sứ giả của Ngài.
1. Đám đông:
Đối với đám đông, những người đến xin được chịu phép rửa và bày tỏ ước nguyện thăng tiến trên con đường đức hạnh, thánh Gioan Tẩy Giả đề xuất nguyên tắc đức ái: “Ai có hai áo, thì chia cho người không có; ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy”. Việc san sẻ chia sớt cho nhau những hạt cơm manh áo là bước khởi đầu của sự biến đổi tấm lòng. Chúng ta đừng quên, thánh Lu-ca cũng là tác giả sách Công Vụ Tông Đồ: thánh ký đã mô tả hành động “tương thân tương ái” giữa các Ki-tô hữu tiên khởi: “Không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự điều là của chung” (Cv 4: 32).
Tiếp đó, thánh nhân trình bày những trường hợp cá biệt, trước tiên, trường hợp của những người thu thuế.
2. Những người thu thuế:
Những người thu thuế bị quy trách nhiệm là những kẻ tham lam hút máu đồng bào của mình, bởi vì những người thu thuế này ứng trước tiền thuế dân chúng phải nộp cho đế quốc Rô-ma, sau đó, thu lãi tiền thuế của dân chúng. Hơn nữa, dân chúng khinh bĩ họ vì sự hiện diện của họ nhắc nhớ ách đô hộ của chính quyền Rô-ma trên dân Do thái và buộc tội họ là tay sai của thế lực ngoại bang và đối xử họ như “quân trộm cướp”.
Đức Giê-su thường giao du với “quân trộm cướp” này, những kẻ tội lỗi này; Ngài cũng sẽ đưa ra một người trong số họ làm mẫu gương cầu nguyện (Lc 18: 9-14). Chính họ mà thánh Lu-ca, ngay từ khởi đầu Tin Mừng, giới thiệu họ như những người thành tâm thiện chí muốn được hoán cải: “Thưa thầy, chúng tôi phải làm gì?”. Thật lạ lùng, trong cùng một chương Tin Mừng Gioan sóng đôi với chương Tin Mừng Lu-ca, những người Pha-ri-sêu cũng đến hỏi Gioan Tẩy Giả, nhưng với thái độ hiếu kỳ và ngờ vực, vì thế họ từ chối hoán cải. Thói tự cao tự đại làm cho họ trở nên cố chấp trong khi những kẻ bị khinh bĩ, ghét bỏ và những người khiêm tốn lại mở lòng mình ra trước ánh sáng.
Đối với những người thu thuế này, thánh Gioan Tẩy Giả không đòi hỏi họ phải từ bỏ nghề nghiệp của mình, nhưng thực thi công bình: “Đừng đòi hỏi điều gì quá mức ấn định cho các anh”.
3. Binh lính:
Binh lính cũng đến hỏi thánh nhân: “Còn anh em chúng tôi thì phải làm gì?”. Những binh lính này là ai? Chắc chắn không phải là các binh lính Rô-ma, họ tránh không trà trộn vào đám đông dân chúng; cũng không phải binh lính Do thái, vì Rô-ma không cho các đất nước bị chiếm đóng quyền tổ chức quân đội. Chắc hẳn đây là dân quân tự vệ được chiêu mộ từ các dân tộc chung quanh, họ thường hộ tống những người thu thuế, vì việc thu thuế thường khó khăn. Khi kể họ ra, phải chăng thánh Lu-ca có ý định khoắc cho sứ điệp của Gioan Tẩy Giả một chiều kích phổ quát? Dù thế nào, họ cũng là hạng người bị dân chúng ghét cay ghét đắng như bọn người thu thuế.
4. Dân chúng:
Thật có ý nghĩa biết bao, vào lúc này, thánh Lu-ca không còn nói đến đám đông, nhưng đến “dân”: “Hồi đó, dân đang trông ngóng”. Như các ngôn sứ xưa kia, thánh nhân kêu gọi họ hãy hoán cải đừng chần chờ gì nữa vì thời gian sắp đến gần rồi.
Thánh nhân nói như một người có uy quyền khiến những ai trông đợi Đấng Mê-si-a tự hỏi: “biết đâu ông Gioan lại chẳng là Đấng Mê-si-a!”. Qua sách Công Vụ Tông Đồ chúng ta biết rằng trong suốt nhiều thập niên có những cộng đoàn môn đệ của thánh Gioan Tẩy Giả, họ vẫn trung thành lời dạy của thầy mình và tôn kính thánh nhân như Đấng Mê-si-a (Cv 18: 24-25; 19: 1-7).
Lúc đó, thánh Gioan Tẩy Giả công bố cho mọi người biết rằng ông không là Đấng Mê-si-a. Với đức khiêm hạ ông gợi lên sự cao cả vô cùng tận của Đấng mà ông chỉ là Tiền Hô của Ngài: “Tôi không đáng cỡi quai dép cho Người”. Lời này ám chỉ chính xác đến một truyền thống lâu đời: các kinh sư cấm không được bắt một người nô lệ Do thái làm một công việc nặng nhọc hay hèn hạ như cỡi dày cho chủ hay rửa chân cho chủ.
5. Phép rửa của Đấng Mê-si-a:
Thánh Gioan Tẩy Giả nhấn mạnh sự khác biệt giữa phép rửa của ông và phép rửa mà Đấng Mê-si-a sẽ thực hiện: “Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa”. “Lửa” này phải chăng được hiểu là lửa của Chúa Thánh Thần như các Giáo Phụ đã hiểu, hay phải hiểu lửa vừa theo Kinh Thánh vừa theo các văn chương phàm trần, nghĩa là lửa có chức năng vừa thanh luyện những người công chính vừa tiêu hủy quân vô đạo? Chúng ta không biết chính xác, nhưng một điều chắc chắn, đó là thánh Gioan Tẩy Giả tự nhận mình là vị Tiền Hô, không chỉ của Đấng Mê-si-a nhưng cũng là của Giáo Hội. Chính Giáo Hội sẽ lãnh nhận ơn Chúa Thánh Thần, Đấng ngự xuống trên Giáo Hội như “những hình lưỡi giống như lưỡi lửa” vào ngày lễ Ngũ Tuần (Cv 2: 1-4).
6. Đấng Mê-si-a Thẩm Phán:
Khi miêu tả chan dung của Đấng Mê-si-a như một vị Thẩm Phán, Ngài sẽ chọn lựa những người tốt ra khỏi những kẻ xấu, thánh Gioan Tẩy Giả định vị mình vào hàng những đại ngôn sứ, liên kết kỷ nguyên Mê-si-a và kỷ nguyên cánh chung vào trong cùng một viễn cảnh: “Tay Người cầm nia rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi”. Giờ thu hoạch mùa màng sẽ tới, nhưng chậm hơn. Chính Đức Giê-su sẽ là vị Thẩm Phán của ngày Chung Thẩm.
7. Tin Mừng:
“Ngoài ra, ông còn khuyên dân nhiều điều khác nữa, mà loan báo Tin Mừng cho họ”. Cũng như tại sách Tin Mừng Mác-cô, tại sách Tin Mừng Lu-ca lời rao giảng của thánh Gioan Tẩy Giả đánh dấu khởi điểm của Tin Mừng. Điều này khiến chúng ta nghĩ rằng khoa giáo lý tiên khởi bắt đầu với việc kể ra thánh Gioan Tẩy Giả và lời dạy của thánh nhân. Bản văn của thánh Lu-ca bày tỏ rất rõ nét khoa giáo lý này. Việc thực hành đức ái và công bình được xem như bước khởi đầu của việc hoán cải, nhưng như thế vẫn chưa đủ, phải dẫn đến việc kết hiệp với một con người, Đức Ki tô. Chính trong Giáo Hội mà sự kết hiệp này sẽ được thực hiện.
Đây là một trong những bài học, một bài học không nhỏ chút nào, của đoạn Tin Mừng hôm nay.
Lm. Ignatio Hồ Thông
admin
12-12-2009, 07:24 PM
CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG Thiên Chúa thực hiện những ý định cao cả của Ngài khi dựa trên sự bé nhỏ và sự yếu đuối của con người và trên những tấm lòng khiêm hạ. Đó là giáo huấn mà Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật này đem đến.
Mk 5: 1-5
Ngôn sứ Mi-kha loan báo rằng chính ở nơi thị trấn nhỏ bé của miền Giu-đê, ở đó một thị tộc nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giu-đa sinh sống, mà Đấng Mê-si-a một ngày kia sẽ xuất hiện. Con trẻ này sẽ thống lãnh Ít-ra-en và quyền lực của Ngài sẽ trải rộng cho đến tận cõi đất.
Dt 10: 5-10
Ngay từ khi nhập cuộc vào kiếp sống con người, Đức Giê-su sống khiêm hạ và vâng phục trước ý muốn của Thiên Chúa, Cha Ngài. Ngài luôn luôn sống trong tư thế dâng hiến bản thân mình thành hy lễ để kế hoạch của Cha Ngài được thành tựu.
Lc 1: 39-45
Tin Mừng Lu-ca tường thuật cuộc gặp gỡ của Đức Ma-ri-a với người chị họ mình là bà Ê-li-sa-bét, sau biến cố Truyền Tin. Ở nơi sự nhỏ bé và khiêm hạ của người thiếu nữ làng Na-da-rét, bà Ê-li-sa-bét nhận ra ý định cao cả của Thiên Chúa và niềm vui Mê-si-a khiến con trẻ, Gioan Tẩy Giả, nhảy lên vui sướng trong dạ mẹ.
BÀI ĐỌC I (Mk 5: 2-5)
Sấm ngôn của ngôn sứ Mi-kha này là một trong những bản văn vĩ đại loan báo về Đấng Mê-si-a. Sấm ngôn này đã được trích dẫn hai lần trong các sách Tin Mừng: một lần trong Tin Mừng Mát-thêu, các kinh sư trưng dẫn sấm ngôn này cho vua Hê-rô-đê để chỉ dẫn cho các nhà Chiêm Tinh biết “Bê-lem” là nơi Vua dân Do thái vừa mới sinh ra (Mt 2: 6); và một lần khác trong Tin Mừng Gioan, đám đông dân chúng tranh luận với nhau về Ngài, có kẻ lại nói rằng Ngài không thể là Đấng Mê-si-a bởi vì Ngài không “xuất thân từ Bê-lem” (Ga 7: 42).
1. Thân thế và sự nghiệp:
Ngôn sứ Mi-kha thi hành sứ vụ của mình trong vương quốc Giu-đa suốt hậu bán thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên, đồng thời với ngôn sứ I-sai-a. Nhưng trong khi ngôn sứ I-sai-a thuộc gia đình quý tộc ở Giê-ru-sa-lem, thì ngôn sứ Mi-kha xuất thân từ hàng dân giả phương nam, phía tây Khê-ron.
Như các ngôn sứ thuộc thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên như A-mốt, Hô-sê, I-sai-a, ngôn sứ Mi-kha tố cáo những bất công xã hội, nạn áp bức những người nghèo, tệ nạn tham ô hối lộ của các quan án, các tư tế, các thủ lãnh, vân vân, những hành vi này tạo nên một đoạn tuyệt với Giao Ước và dẫn đến những án phạt của Thiên Chúa. Có lẽ ngôn sứ Mi-kha định nghĩa rõ nét nhất những yêu sách của Giao Ước: “Hỡi người, bạn đã được nói cho hay điều nào là tốt, điều nào Đức Chúa đòi hỏi bạn: đó chính là thực thi công bình, quý yêu nhân nghĩa và khiêm nhường bước đi với Thiên Chúa của bạn” (Mk 6: 8). Ngôn sứ Mi-kha báo trước cho Sa-ma-ri cũng như cho Giê-ru-sa-lem những bất hạnh kinh khiếp, nhưng ông cũng hé mở những viễn cảnh chứa chan hy vọng, như bản văn hôm nay làm chứng.
Tác phẩm của ngôn sứ Mi-kha đã chịu nhiều sửa đổi và vài đoạn thêm vào cuối thời lưu đày hay hậu lưu đày, tức cuối thế kỷ thứ sáu trước Công Nguyên. Bản văn hôm nay được trích từ chương 5 là một trong những bản văn nêu lên nhiều vấn đề. Tuy nhiên, cũng vào thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên này, ngôn sứ I-sai-a vang lên cùng một sứ điệp tương tự: ở lòng những biến cố bi thảm (những đột nhập của quân đội Át-sua, cuộc vây hãm Giê-ru-sa-lem, sự tàn phá Sa-ma-ri, vân vân), các ngôn sứ nối tiếp nhau khơi lên niềm hy vọng khi nhắc nhớ lại những lời hứa gắn liền với nhà Đa-vít. Đó là điểm chung giữa các sấm ngôn của họ.
2. Bê-lem Ép-ra-tha:
Hai địa danh Bê-lem và Ép-ra-tha được liên kết với nhau ngay từ những bản văn cổ xưa nhất, ví dụ: “Bà Ra-khen qua đời và được chôn trên con đường đi Ép-ra-tha, tức là Bê-lem” (St 35: 9). Thị trấn Bê-lem nhỏ bé là nơi một thị tộc bé nhỏ, những người Ép-ra-tha, từ phương nam đến định cư lập nghiệp; sau đó, họ đã được sáp nhập vào bộ tộc Giu-đa. Tuy nhiên, “Ép-ra-tha” theo tiếng Do thái có nghĩa “sự màu mỡ”. Ngôn sứ Mi-kha xem ra chơi chữ: Bê-lem là vùng đất màu mỡ vì nó sẽ sinh ra Đấng Mê-si-a.
3. Một sự tương phản:
Sấm ngôn của ngôn sứ Mi-kha được xây dựng trên một sự tương phản: sự tương phản của một thị tộc nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giu-đa, giữa viễn cảnh về một con trẻ chào đời và uy danh cũng như quyền lực của con trẻ này có sứ mạng thống lãnh Ít-ra-en, quy tụ dân chúng bị phân tán và trải rộng quyền lực của mình cho đến tận cùng cõi đất.
Câu này được dịch sát nghĩa theo bản văn gốc bằng tiếng Do thái như sau: “Phần ngươi, hỡi Bê-lem Ép-ra-tha, ngươi quá nhỏ bé đến nổi không thể là một trong các thị tộc Giu-đa”. Từ “thị tộc” theo tiếng Do thái có nghĩa “ngàn”, vì nhóm người chỉ có thể hình thành nên một thị tộc nếu có thể cung cấp một ngàn chiến binh. Vì thế, Bê-lem nhỏ bé đến nổi nó không thể cung cấp một ngàn chiến binh. Chúng ta cũng gặp thấy một cách đối lập giữa sự nhỏ bé và sự vĩ đại như thế ở ngôn sứ I-sai-a đệ tam: “Người nhỏ nhất sẽ có ngàn con cháu, kẻ hèn nhất thành một dân hùng cường” (Is 60: 22).
4. Bê-lem, thành vua Đa-vít, thành Đấng Mê-si-a:
“Từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh Ít-ra-en”. Sấm ngôn của ngôn sứ Mi-kha đem đến một sự xác định mới. Sấm ngôn của ngôn sứ Na-than khẳng định tính muôn năm bền vững của vương triều Đa-vít: “Nhà của ngươi và vương quyền của ngươi sẽ tồn tại mãi mãi trước mặt Ta; ngai vàng của ngươi sẽ vững bền mãi mãi” (2Sm 7: 16); ngôn sứ I-sai-a công bố rằng dòng dõi vua Đa-vít sẽ được đảm bảo nhờ một con trẻ chào đời, được gọi là Em-ma-nu-en, nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Is 7: 14); trong khi đó, ngôn sứ Mi-kha xác định Bê-lem là sinh quán của Đấng Mê-si-a. Xưa kia, khi còn niên thiếu, vua Đa-vít đã chăn dắt đàn chiên trên cánh đồng Bê-lem; Đấng Mê-si-a sẽ là một Đa-vít mới và sẽ là vị mục tử đích thật của dân Ngài.
“Nguồn gốc của Người có từ thời trước, từ thuở xa xưa”. Có lẽ đây là lối nói phóng dụ về gia tộc của vua Đa-vít, có nguồn gốc lâu đời (sách Sử Biên quyển thứ nhất cho gia phả của vua Đa-vít lên đến tổ phụ Gia-cóp). Nhưng chúng ta có thể nghĩa rằng sấm ngôn này tiên báo về cuộc sống tiền hữu của Đấng Mê-si-a.
5. Thời thử thách và thời hy vọng:
Trước khi Đấng Mê-si-a sinh ra ở Bê-lem, Ít-ra-en sẽ phải kinh qua một thời gian đầy thử thách cam go, thời “Đức Chúa sẽ bỏ mặc Ít-ra-en”. Trước đó, ngôn sứ đã khai triển những tiên báo kinh khiếp liên quan đến vương quốc phương Bắc cũng như vương quốc phương Nam. Nhưng những trừng phạt không bao giờ là lời cuối cùng của Thiên Chúa. “Cho đến thời một phụ nữ sinh con”. Con trẻ kỳ diệu sinh ra từ một phụ nữ này sẽ cai trị Ít-ra-en và thế giới. Bản văn không nói một chút gì về cha của cậu.
Toàn thể đoạn văn nhắc nhớ sấm ngôn của ngôn sứ I-sai-a được công bố hai mươi năm trước đó: “Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en. Con trẻ sẽ ăn sữa chua và mật ong cho tới khi biết bỏ cái xấu mà chọ cái tốt. Vì trước khi con trẻ biết bỏ cái xấu mà chọn cái tốt, thì đất đai…đã bị bỏ hoang. Thiên Chúa sẽ đem lại cho ngài, cho dân ngài, cho thân phụ ngài những ngày như chưa từng có, kể từ khi Ép-ra-im tách khỏi Giu-đa” (I s 7: 14-17)
6. Quy tụ những người tản mác khắp nơi:
“Bấy giờ những anh em sống sót của người con đó sẽ trở về với con cái Ít-ra-en”. Chúng ta nhận ra ở đây nỗi bận lòng quy tụ những người Do thái bị tản mắc khắp nơi, nỗi ám ảnh xuất hiện nhất là vào thời lưu đày Ba-by-lon cũng như vào thời hậu lưu đày: có nhiều lý do xác đáng để nghĩ rằng đoạn văn này được thêm vào sau này.
7. Vị Mục Tử của Ít-ra-en:
Đấng Mê-si-a sẽ lãnh nhận từ chính Thiên Chúa sứ mạng chăn dắt Ít-ra-en: “Người sẽ dựa vào quyền lực Đức Chúa, vào uy danh Đức Chúa, Thiên Chúa của Người mà đứng lên chăn dắt họ”. Bản văn tiên báo hay nhắc nhớ một đoạn văn nổi tiếng của ngôn sứ Ê-dê-ki-en về “vị mục tử nhân lành” (Ed 34: 23). Việc gợi lên quyền năng vũ hoàn và nền hòa bình viên mãn của Đấng Mê-si-a tương lai ghi đậm nét I-sai-a (Is 9: 5), nhưng cũng có thể mang dấu ấn Mi-kha, trừ phi cốt là một bản văn được làm việc lại.
Từ cực nhỏ đến cực lớn, đây rõ ràng là bài học mà bản văn Tin Mừng hôm nay đưa ra: Đức Ma-ri-a, một thiếu nữ khiêm hạ làng Na-da-rét được người chị họ của mình, bà Ê-li-sa-bét, hoan hĩ chào đón như “Thân Mẫu Chúa tôi”.
BÀI ĐỌC II (Dt 10: 5-10)
Lễ Giáng Sinh sắp đến gần, Phụng Vụ dâng hiến cho chúng ta suy niệm một bản văn trình bày một cách thống thiết mục đích biến cố Nhập Thể; Đức Ki tô chấp nhận mặc lấy một thân thể nhằm dâng hiến thân mình thành hiến lễ và biến cuộc tử nạn của mình thành hy lễ để thánh hóa con người.
Chúng ta không biết tác giả thư gởi tín hữu Do thái (chắc chắn một môn đệ của thánh Phao-lô); bản văn của ông gần với bài giảng hơn là thư tín; ông ngỏ lời với các Ki tô hữu gốc Do thái, họ đã biết và đã thực hành phụng tự Mô-sê và xem ra luyến nhớ sự uy nghi trang trọng của nền phụng tự này. Tác giả chứng minh cho họ chức tư tế của Đức Giê-su cao vời hơn chức tư tế Cựu Ước và hy lễ của Đức Ki tô thì độc nhất, vô giá và có hiệu quả khôn sánh so với của hy lễ của Luật cũ.
1. Phụng Tự tinh thần:
Để giải thích bản chất rất đặc biệt và đặc thù của hy lễ Đức Ki tô, tác giả dựa trên thánh vịnh 40, thánh vịnh mang chiều kích Mê-si-a.
Thánh vịnh này diễn tả tâm tình của một người công chính. Từ cuộc sống đạo hạnh của mình, ông hiểu rằng vâng phục thánh ý Thiên Chúa và sẳn sàng hiến dâng bản thân mình thì cao vời hơn bất cứ hy lễ nào.
Một viễn cảnh như vậy không hoàn toàn đơn độc lẽ loi trong Cựu Ước. Chúng ta gặp thấy viễn cảnh này trên môi miệng của các ngôn sứ (x. Is 1: 11-16), họ công bố rằng các hy lễ sẽ là vô ích nếu thiếu tấm lòng; điều này cũng được khẳng định trong các Thánh Vịnh, hai sách Sa-mu-en (x. 1Sm 15: 22), và các tác phẩm minh triết (x. Hc 34: 19 và 35: 2-3). Vị thế hàng đầu của phụng tự tinh thần này là một sợi chỉ vàng chạy xuyên suốt cái cốt lõi mặc khải Kinh Thánh và chuẩn bị sứ điệp Tin Mừng.
2. Ơn gọi của Đức Ki tô:
Chính ở nơi Người Công Chính này mà tác giả thư gởi các tín hữu Do thái tái khẳng định tư thế sẳn sàng dâng hiến trọn vẹn bản thân mình của Đức Ki tô, ngay từ giây phút đầu tiên của biến cố Nhập Thể: “Ngay khi vào trần gian…”. Đồng thời tác giả cũng muốn nói đến cuộc sống tiền hữu của Đức Ki tô.
“Chúa không ưa hy lễ và hiến lễ, nhưng đã tạo cho con một thân thể”. Thánh vịnh này nhấn mạnh tính chất hiến lễ tự thân bởi những lời: “Chúa đã tạo cho con một thân thể”. Tác giả thư gởi các tín hữu Do thái đã đọc thấy ở đây lời tiên báo về biến cố Nhập Thể. Thân thể của Đấng Mê-si-a đã được Chúa Cha yêu thương chuẩn bị nhằm hiến lễ cao vời.
Với những thuật ngữ: “Hy lễ và hiến lễ”, tác giả tập hợp hai loại lễ tế vĩ đại, đổ máu và không đổ máu. Đoạn, ông thêm lễ toàn thiêu theo đó thân thể của tế vật hoàn toàn bị hỏa tế, và lễ xá tội theo đó máu hoàn toàn được hiến dâng. Tất cả những lễ tế này được Lề Luật quy định nhưng không được Thiên Chúa ưa thích. Bản văn để cho hiểu rằng chính vì tính chất duy luật của chúng.
Đức Ki tô bãi bỏ phụng tự duy hình thức và đề cao hiến lễ tinh thần.
3. Cái chết thành hiến lễ:
“Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài”.
Đối với Đức Ki tô không cốt tuân giữ những huấn lệnh mà ông Mô-sê truyền, nhưng chấp nhận quyết định của Thiên Chúa, đó là dẫn dắt nhân loại đến ơn cứu độ qua con đường đau khổ và tử nạn của Ngài.
Thư gởi tín hữu Do thái là một trong những bản văn Tân Ước giải thích rõ nhất tại sao cuộc tử nạn của Đức Ki tô có thể được xem như một hy lễ.
Xét trên thực tại hữu hình, cuộc tử nạn của Đức Ki tô không là một hy lễ, nhưng là kết quả của một sự sai lầm xét xử, hay, chính xác hơn, do sự thù hận quá độ; không có bàn thờ, người dâng hiến, sự thanh tẩy, tế vật. Nhưng xét trên thực tại vô hình, cái chết này có giá trị của một hy lễ vì đây là hiến lễ tự nguyện, tự ý, cá nhân, vì thế nó có một hiệu quả tinh thần: vả lại đã có một thân thể bị giết chết và máu đã hoàn toàn đổ ra.
Tuy nhiên, có một hy lễ chỉ vì có tội lỗi của con người. Đây là bằng chứng bi thảm. Suốt bức thư của mình, tác giả chứng mình rằng con người hưởng được hy lễ của Đức Ki tô, dưới ba khía cạnh liên tục: thanh tẩy, thánh hóa, và hiệp nhất với Thiên Chúa.
Như vậy trong lời “Xin vâng” của mầu nhiệm Nhập Thể hàm chứa rồi lời xin vâng của cuộc Khổ Nạn: “Xin đừng làm theo ý con, mà làm theo ý Cha” (Lc 22: 42).
TIN MỪNG (Lc 1: 39-45)
Trong sách Tin Mừng Lu-ca, chuyện tích Viếng Thăm tiếp liền sau chuyện tích Truyền Tin, như vậy, lời chào của sứ thần tiếp liền theo sau lời chào của bà Ê-li-sa-bét. Rất sớm các Ki tô hữu đã liên kết hai lời chào này. Chúng ta gặp thấy chúng trong những bản văn thuộc thế kỷ thứ năm: “Kính mầng Ma-ri-a đầy ơn phúc. Thiên Chúa ở cùng bà. Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ”. Đây sẽ là khởi điểm của Kinh Kính Mầng.
1. Đức Ma-ri-a vội vã lên đường:
Lý do đầu tiên của việc “Đức Ma-ri-a vội vã lên đường” có thể nhằm kiểm chứng những lời của sứ thần đã cho Mẹ biết rằng chị họ của Mẹ, tuy đã già rồi mà cũng đã cưu mang một người con trai. Đây là một “dấu lạ” đã được ban cho Mẹ để nâng đỡ mặc khải làm xáo động cuộc đời của Mẹ và cho Mẹ hiểu rằng đối với Thiên Chúa không có gì là không thể. Nhưng đây không là lý do chính yếu. Đức Ma-ri-a đã tin rồi; Mẹ đã không một mảy may nghi ngờ gì về sứ điệp của thiên sứ; sự vội vã của Mẹ là diễn tả niềm vui của Mẹ; Mẹ muốn đi chúc mừng người chị họ của Mẹ và chia vui với chị vì được làm mẹ như một thiên ân trong khi bà chị này không còn một chút hy vọng gì. Chắc chắn Đức Ma-ri-a cũng muốn giúp đỡ bà chị họ của mình “nay đã có thai được sáu tháng”. Quả thật, thánh ký viết ở cuối chuyện tích của mình: “Bà Ma-ri-a ở lại với bà Ê-li-sa-bét độ ba tháng”, nghĩa là cho đến khi con trẻ chào đời.
2. Niềm vui thời Mê-si-a:
Đức Ma-ri-a “vào nhà ông Da-ca-ri-a và chào hỏi bà Ê-li-sa-bét”. Vì là vai em nên Đức Ma-ri-a là người đầu tiên chào hỏi bà chị họ mình. Nhưng đột nhiên vai trò của hai chị em bị đảo ngược. Dưới tác động của Chúa Thánh Thần, bà Ê-li-sa-bét phát hiện bí mật của người em họ của mình và thốt lên lời “Chúc Tụng”: “Em được chúc phúc hơn mọi người nữ!”. Đây là cách thức người Do thái diễn tả tuyệt đối mà chúng ta gặp thấy nhiều lần trong Cựu Ước (Tl 5: 24; Gđt 15: 10): Đức Ma-ri-a là người phụ nữ tuyệt vời nhất bởi vì Mẹ được Thiên Chúa chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế.
“Người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này?” Danh hiệu “Chúa tôi” thường được dành riêng cho Đức Chúa, tuy nhiên cũng được gán cho Đấng Mê-si-a trong vài bản văn ngôn sứ. Chắc hẳn bà Ê-li-sa-bét không nghi ngờ gì về thần tính của Đấng Mê-si-a; nhưng chính xác hơn, các Ki tô hữu tiên khởi sẽ dùng danh hiệu này cho Đức Ki tô để tuyên xưng thần tính của Ngài. Danh xưng “Thân Mẫu Chúa tôi” chắc chắn là nền tảng cho tước hiệu đầu tiên mà Giáo Hội sau này dùng để tôn vinh Đức Ma-ri-a, “Theotokos”, Mẹ Thiên Chúa, cũng như hình thành nên phần thứ hai của Kinh Kính Mừng: “Thánh Ma-ri-a Đức Mẹ Chúa Trời…”.
“Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em”. Đây là mối phúc đầu tiên của Tân Ước. Ân phúc này liên quan đến lòng tin của Đức Ma-ri-a được thể hiện ở nơi biến cố Truyền Tin.
Thánh Lu-ca quy tụ vào trong lời ca ngợi của bà Ê-li-sa-bét (1: 42-45) hai ân phúc của Đức Ma-ri-a: phúc được làm Mẹ Đấng Cứu Thế và phúc vì đã tin vào mọi lời Chúa phán. Chính hai ân phúc này mà thánh ký chủ ý tách rời ra ở 11: 27-28, ở đó một người phụ nữ giữa đám đông ca ngợi ân phúc của người mẹ Đức Giê-su: “Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớn”; Đức Giê-su đáp lại: “Đúng hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa”. Ở nơi Đức Ma-ri-a hai ân phúc này trở thành một: ngay khi tin rằng mọi lời Thiên Chúa phán sẽ được thực hiện, Đức Ma-ri-a trở thành Mẹ của Đấng Cứu Thế. Rõ ràng đức tin của Mẹ là điều cốt yếu nhất cho mọi lời Chúa phán được thực hiện.
3. Bài ca “Ngợi Khen” (Mangificat):
Tất cả lời chào của bà Ê-li-sa-bét tràn đầy niềm vui thời Mê-si-a. Đức Ma-ri-a được công bố là có phúc; niềm hạnh phúc ở với bà Ê-li-sa-bét, đứa con trong bụng bà đã nhảy lên vui sướng. Sứ thần cũng đã nói: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng” và Đức Trinh Nữ xướng lên bài ca “Ngợi Khen” của mình. Đây là bài thánh ca thứ nhất trong bốn bài thánh ca của Tin Mừng Thời Thơ Ấu của Lc 1-2. Bài thánh ca này mô phỏng bài thánh ca của bà An-na (1Sm 2: 1-10), gồm có ba phần:
- Phần thứ nhất (1: 46-50): Đức Ma-ri-a ngợi khen Thiên Chúa vì đã đoái thương ban cho Mẹ được làm Mẹ Đấng Mê-si-a, dẫu Mẹ chỉ là phận nữ tì hèn mọn, chẳng có công trạng gì.
- Phần thứ hai (1: 51-53): một sự đảo ngược cảnh sống và bậc thang giá trị vào thời Mê-si-a giữa những người thấp hèn, bị áp bức chà đạp và những kẻ quyền thế kiêu căng, tự cao tự đại.
- Phần kết (1: 54-55): Đức Ma-ri-a cảm tạ Thiên Chúa vì Ngài vẫn hằng trung tín với những gì Ngài đã hứa.
Thánh Lu-ca là thánh ký gợi lên rõ nét nhất niềm vui cứu độ được đem đến cho loài người qua việc Đấng Mê-si-a ngự đến. Ngoài ra, chuyện tích Viếng Thăm của thánh ký đem đến một lời chứng quý giá về tâm tình cảm tạ tri ân của các Ki tô hữu tiên khởi về đức tính cao vời của “Thân Mẫu Chúa chúng ta”.
admin
20-12-2009, 05:50 AM
(xem Lễ Đêm Giáng Sinh (http://gpnt.net/chugiaiktcn/giangsinhb/Giangsinh%20ledem.htm))
LỄ RẠNG ĐÔNG GIÁNG SINH
Phụng Vụ Lễ Rạng Đông Giáng Sinh tiếp tục xoay quanh mầu nhiệm Nhập Thể của Con Thiên Chúa: sự cao cả được ẩn dấu trong sự đơn giản đến mức tối đa. Dân Thiên Chúa chiêm ngắm bà Ma-ri-a, thánh Giu-se, cùng Hài Nhi đặt nằm trong Máng Cỏ.
Is 62: 11-12
Ngôn sứ I-sai-a đệ tam loan báo rằng những người bị tản mác khắp nơi được Thiên Chúa quy tụ lại để thành “dân thánh của Ngài”, “dân được Chúa cứu chuộc”.
Tt 3: 4-7
Thánh Phao-lô khuyên ông Ti-tô, vị lãnh đạo cộng đoàn Crète, đừng tìm cách sửa đổi đạo lý tinh tuyền của Ki tô giáo cho phù hợp với ý muốn và sở thích của con người, dù dưới bất kỳ áp lực nào.
Lc 2: 15-20
Đoạn Tin Mừng này là phần cuối của chuyện tích lễ đêm Giáng Sinh. Ở nơi dáng dấp của các mục đồng, thành ký phác họa chân dung của những người Ki tô hữu: “Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ”.
BÀI ĐỌC I (Is 62: 11-12)
Sứ điệp này đã được công bố cho Giê-ru-sa-lem vào những năm khó khăn sau khi những người lưu đày trở về từ Ba-by-lon.
1. Hiện trạng tang thương của Giê-ru-sa-lem:
Những người hồi hương đã gặp lại Giê-ru-sa-lem nghèo khổ, dân cư thơ thớt, chịu cống nạp cho những người ngoại quốc; Đền Thờ hoang tàn đổ nát. Họ bắt tay tái thiết Đền Thờ, nhưng công việc phải dừng lại vì thiếu tài chánh. Vì thế họ hoàn toàn vỡ mộng. Ngôn sứ khơi lại ngọn lửa hy vọng của họ. Đức Chúa không quên dân Ngài.
Vị ngôn sứ này là tác giả vô danh mà người ta đặt biệt danh là ngôn sứ I-sai-a đệ tam (Is 40-55), vị ngôn sứ của thời hậu lưu đày. Ông là môn đệ của ngôn sứ I-sai-a đệ nhị (Is 56-66), vị ngôn sứ của thời lưu đày, mà ông lấy lại những cách diễn tả của thầy mình.
2. Sứ điệp chứa chan hy vọng:
Vị ngôn sứ này xác tín rằng thời kỳ cứu độ Giê-ru-sa-lem sắp đến gần, và Giê-ru-sa-lem rồi sẽ lại trở nên đông đúc, vì những con cái của nó bị tản mác khắp nơi sẽ trở về. Chính viễn cảnh về một cuộc quy tụ vĩ đại này hình thành nên chủ đề của đoạn trích hôm nay.
Theo gương thầy và vị tiền nhiệm của mình, ngôn sứ tưởng tượng Đức Chúa dẫn đầu dân Ngài và mang ơn cứu độ đến cho họ (x. Is 40: 10), nhưng đoàn người mà Đức Chúa dẫn dắt không còn là đoàn tù nhân được giải phóng, đây là đám rước bao la của những người Giu-đa bị tản mắc khắp thiên hạ, họ lên đường tiến về Thành Thánh. Đó là thành quả rực rỡ của việc Chúa can thiệp mà muôn dân muôn nước đều nhận biết.
Như vậy, Ít-ra-en lại có thể được gọi là “dân thánh”, “dân được Đức Chúa cứu chuộc”. Cuối cùng, Giê-ru-sa-lem có thể được chào đón bằng những tên biểu tượng: Nó sẽ được gọi là “Cô gái đắt chồng”; sau khi đã được Chúa của mình sủng ái, nó sẽ không còn là một người vợ bị bỏ rơi.
BÀI ĐỌC II (Tt 3: 4-7)
Phụng vụ đề nghị cho chúng ta một đoạn trích mới từ thư của thánh Phao-lô gởi ông Ti-tô.
1. Hoàn cảnh:
Trong đoạn trích này, chúng ta gặp lại những chủ đề lớn, cô động về lời rao giảng của thánh Phao-lô. Ông Ti-tô, người môn đệ mà thánh Phao-lô đã giao phó Giáo Đoàn Crète, đã gặp phải những khó khăn. Thật ra, những cuộc tranh luận về đức tin cốt yếu đến từ những Ki tô hữu gốc Do thái – chắc chắn rất đông ở trong các cộng đoàn Ki tô giáo Crète – một trong những sai lầm của họ là vẫn gắn bó với những công nghiệp của Lề Luật như nguồn mạch ơn cứu độ. Vì thế thánh nhân khuyên ông đừng tìm cách sửa đổi đạo lý tinh tuyền của Ki tô giáo cho phù hợp với ý muốn và sở thích của con người, dù dưới bất kỳ áp lực nào.
2. Ơn cứu độ của Thiên Chúa:
Thật là ý nghĩa khi thánh nhân nhắc lại đến hai lần cùng một chủ đề với thư gởi tín hữu Rô-ma: sự cứu độ không có bất kỳ mối liên hệ nào với những công nghiệp do tự sức chúng ta, nhưng hoàn toàn là ơn huệ nhưng không do lòng nhân hậu và yêu thương của Ngài: “Thiên Chúa đã tuôn đổ đầy tràn ơn Thánh Thần xuống trên chúng ta, nhờ Đức Giê-su Ki tô, Đấng cứu độ chúng ta”.
3. Những chủ đề quan trọng khác:
Đạo lý phép Rửa cũng được mạnh mẽ tái khẳng định như ơn tái sinh, cũng như quyền năng của Chúa Thánh Thần hiện ở trong chúng ta, đảm bảo cho chúng ta quyền thừa hưởng sự sống đời đời.
Ông Ti tô xem ra một con người nhút nhát, không quyết đoán trước những áp lực từ phía những người chống đối. Thánh Phao-lô mời gọi ông hãy kiên vững và đồng thời khích lệ ông hãy gìn giữ sự tinh tuyền của đạo lý Ki tô giáo.
TIN MỪNG (Lc 2: 15-20)
Đoạn Tin Mừng hôm nay là phần cuối của chuyện tích Giáng Sinh đã được công bố vào Lễ Đêm Giáng Sinh.
Thánh Lu-ca mô tả dáng dấp của các mục đồng: sau khi được các thiên sứ báo tin, “họ liền hối hả ra đi”, như Đức Ma-ri-a, sau khi được sứ thần loan báo, vội vả ra đi đến nhà người chị họ của mình là bà Ê-li-sa-bét. Thiên Chúa đã cho một dấu chỉ; phải đi kiểm chứng tức khắc và cố tìm hiểu ý nghĩa dấu chỉ của Ngài.
Dáng dấp của các mục đồng nói lên biết bao bài học. Vì thế, thánh ký đã tô điểm câu chuyện này với nhiều chi tiết long trọng.
1. Mục đồng:
Đấng Mê-si-a, được các ngôn sứ loan báo biết bao lần, được dân Ít-ra-en chờ đợi từ lâu lắm rồi, đã đi vào trong lịch sử con người một cách bất ngờ nhất và kín đáo nhất. Để nhận ra Ngài trong mầu nhiệm tự hạ này, phải có một tâm hồn nghèo khó, lột bỏ khỏi mọi thiên kiến. Thánh Lu-ca là thánh ký về đức nghèo khó.
Những mục đồng là những kẻ bị liệt ra ngoài lề xã hội, những kẻ mà các tiến sĩ Luật nghi ngờ về đời sống đạo hạnh của họ, vì nghề nghiệp của họ không cho phép họ tuân giữ ngày sa-bát và tham dự thường xuyên kinh nguyện trong các hội đường. Chính ở nơi những tín đồ không ngoan đạo này mà lời loan báo đầu tiên về Triều Đại Mê-si-a được gởi đến. Chúng ta nhận ra cách thức của Thiên Chúa. Đức Giê-su sẽ hớn hở vui mừng và ngợi khen Cha Ngài “vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn” (Lc 10: 21).
Chính ở nơi các mục đồng này, thánh ký phác họa dáng dấp của các Ki tô hữu: họ “ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ”.
2. Hài Nhi Giê-su:
Khi đến nơi, “họ gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ”. Thánh Lu-ca nhấn mạnh một lần nữa từ: “máng cỏ” (2: 12, 16). Về phương diện vật chất, máng cỏ là chiếc nôi đầu đời của Con Thiên Chúa làm người; về phương diện tinh thần, Thiên Chúa đã làm cho mình trở nên nhỏ bé và nghèo hèn để được đón nhận. Ngài đến không chỉ để “cho”, nhưng cũng để “nhận”: nhận từ con người sự thờ phượng, lời cầu nguyện, lời ngợi khen và nhất là những cử chỉ yêu thương để rồi từ đó, “mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 24: 40).
3. Đức Ma-ri-a:
“Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng”. Đây là một ghi nhận quý giá. Thánh Lu-ca vén mở cho chúng ta một trong những nguồn của sách Tin Mừng mang tên thánh nhân; ông đã tô điểm chuyện tích Giáng Sinh với nhiều chi tiết thiêng liêng, nhưng khởi đi từ những sự kiện mà ông đã gìn giữ từ chính Đức Nữ Trinh, Mẹ hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng để cố hiểu hơn nữa mầu nhiệm của Con Mẹ.
admin
20-12-2009, 05:53 AM
LỄ THÁNH GIALễ Thánh Gia nhắc nhở chúng ta những năm tháng thân mật và thầm lặng thời thơ ấu và niên thiếu của Đức Giê-su, dưới mái ấm gia đình của thánh Giu-se và Mẹ Ma-ri-a, mẫu gương của tất cả mọi gia đình.
Hc 3: 3-7, 14-17a
Nhà hiền triết Do thái, ông Si-rác, khuyên con cái phải có lòng thảo kính cha mẹ, nhất là khi các ngài đã già.
Cl 3: 12-21
Thánh Phao-lô mời gọi các tín hữu Cô-lô-sê thực hành trong cộng đoàn, nhất là trong gia đình các nhân đức như là lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại, yêu thương, đó là những mối dây liên kết tuyệt hảo.
Lc 2: 41-52
Tin Mừng Lu-ca tường thuật giai thoại Đức Giê-su lên mười hai tuổi ngồi giữa các tiến sĩ Luật, trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem.
BÀI ĐỌC I (Hc 3: 3-7, 14-17a)
Vào đầu thế kỷ thứ hai trước Công Nguyên, một nhà hiền triết Do thái, ông Si-rác, mở trường dạy học và ghi lại những thành quả của những kinh nghiệm và những suy tư của ông. Tác phẩm của ông được viết bằng tiếng Do thái và được cháu của ông dịch sang Hy ngữ vào năm 150 trước Công Nguyên.
Tác phẩm này là một thủ bản đạo đức thực hành của một người Ít-ra-en muốn trung thành với đức tin của cha ông mình, không để cho mình bị ảnh hưởng bởi nền văn hóa dân ngoại chung quanh, đặc biệt là sức lôi cuốn của sự khôn ngoan Hy lạp. Sách ông bàn đến nhiều chủ đề rất đa dạng, được tô điểm bởi những câu thành ngữ rất dể nhớ, và rất được Do thái giáo mến chuộng. Giáo Hội sử dụng sách này đến mức sách có biệt danh là “Giảng Viên”.
Tác giả cho thấy mình rất gắn bó với Lề Luật, theo ông, việc thực hành Lề Luật là nguồn mạch của sự khôn ngoan. Trong chương 3, ông Si-rác khai triển một trong những huấn lệnh của Thập Giới, liên quan đến bổn phận của con cái đối với cha mẹ: “Ngươi hãy thờ kính cha mẹ, để được sống lâu trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi” (Xh 20: 12; Đnl 5: 16).
1. Lòng hiếu thảo mang chiều kích phổ quát:
Bổn phận thảo kính cha mẹ thuộc vào những truyền thống rất lâu đời của các nền văn hóa, được các tôn giáo và triết học ca tụng. Những lời khuyên của nhà hiền triết Ít-ra-en rất gần với những bản văn cổ của các nền văn hóa lớn, như Trung Quốc, Ấn Độ và Hy-lạp. Ở Việt Nam, lòng thảo kính của con cái đối với cha mẹ được truyền tụng trong những câu thành ngữ ca dao, ví dụ như: “Công cha như núi Thái Sơn; nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha; cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”. Như vậy lòng thảo kính mang chiều kích phổ quát.
2. Lòng hiếu thảo mang chiều kích siêu việt:
Huấn lệnh của Thập Giới về lòng hiếu thảo không chỉ thuộc về trật tự tự nhiên, nhưng cũng là chương trình của Đấng Sáng Tạo. Đời sống gia đình ở Ít-ra-en không chỉ nhằm lưu truyền nòi giống của tổ phụ Áp-ra-ham, nhưng cũng truyền đạt từ thế hệ này đến thế hệ khác đức tin của cha ông vào một vị Thiên Chúa duy nhất, Đấng đã tỏ mình ra. Chính vì Thiên Chúa này “làm cho người cha được vẻ vang vì con cái, cho người mẹ thêm uy quyền đối với các con” (Hc 3: 2); chính Ngài ban những lời chúc phúc cho con cái thảo kính cha mẹ mình.
3. Những ân phúc của tấm lòng hiếu thảo:
“Ai tôn vinh cha sẽ được trường thọ”, đây là lời chúc phúc truyền thống nhất, cuộc sống trường thọ được xem là quý giá nhất vào thời đó, thời mà những niềm hy vọng ở bên kia nấm mồ đã chưa được biết đến ở Ít-ra-en.
Ngạc nhiên hơn, và thuộc trật tự khác, là lời hứa: “Ai thờ cha thì bù đắp lỗi lầm”; cũng như “Ai kính mẹ thì tích trữ kho báu” (kho báu ơn tha thứ của Thiên Chúa). Cách diễn tả này tương tự với câu 14: “Vì lòng hiếu nghĩa đối với cha sẽ không bị quên lãng, và sẽ đền bù tội lỗi cho con”.
Trong Do thái giáo của thời hậu lưu đày, người ta rất nhạy bén trước khái niệm tội lỗi và rất bận tâm đến sự thanh sạch nội tâm. Ông Si-rác thuộc vào những thế hệ này, họ suy niệm giáo huấn của các ngôn sứ, vì thế, ông cũng đề cao việc thực hành các nhân đức hơn việc tế tự bên ngoài; về phương diện này ông còn đi xa hơn khi cho việc thực hành lòng hiếu thảo của Thập Giới một giá trị hy tế xá tội. Nhưng chúng ta nhận ra một sự khác biệt: trong khi các ngôn sứ đặc biệt bận lòng đến ơn cứu độ tập thể, các nhà hiền triết quan tâm hơn đến ơn cứu độ cá nhân.
Sau cùng, chúng ta nên ghi nhận rằng nhà hiền triết cẩn thận trích dẫn những nghĩa vụ không chỉ đối với cha mà còn đối với mẹ nữa. Phải nói rằng đây là một trường hợp họa hiếm trong Cựu Ước, ở đó thường là chỉ mình người cha được nêu tên.
BÀI ĐỌC II (Cl 3: 12-21)
Như thư gởi các tín hữu Ê-phê-sô, thư gởi tín hữu Cô-lô-sê được thánh Phao-lô viết khi thánh nhân bị giam cầm giữa năm 61-63 sau Công Nguyên.
1. Bối cảnh:
Thành Phố Cô-lô-sê, được định vị ở Tiểu Á, cách thành phố Ê-phê-sô 200 cây số về hướng đông, đã thấy xuất hiện một cộng đoàn Ki tô hữu, được một người bạn đồng hành và môn đệ của thánh Phao-lô thiết lập. Những giáo lý sai lạc, những suy luận về các quyền năng của của các thiên thần, những lối sống khắc khổ, những khuynh hướng Do thái giáo, gây nguy hiểm cho niềm tin của cộng đoàn non trẻ này. Thánh Phao-lô đang bị cầm tù nên không thể đích thân đến tận nơi được, vì thế ngài gởi một bức thư cho các tín hữu Cô-lô-sê. Trong thư này, thánh nhân tập trung giáo huấn của ngài về Đức Ki tô và quy chiếu cuộc đời Ki tô hữu vào điểm cốt yếu: sống kết hiệp với Đức Ki tô, noi gương Đức Ki tô, thực hành đức ái và các nhân đức thường ngày.
Vào ngày lễ Thánh Gia hôm nay, đoạn trích thư của thánh Phao-lô gởi tín hữu Cô-lô-sê này mời gọi chúng ta suy gẫm về đời sống gia đình: “Hãy có lòng xót thương, nhân hậu, khiêm nhu, hiền từ và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau”.
2. Giáo Huấn:
Đức ái Ki tô giáo là nguồn mạch của sự hiệp nhất và bình an trong cộng đoàn, huống chi trong cộng đoàn nhỏ bé của gia đình, ở đó tình yêu phải là “mối dây liên kết tuyệt hảo”. Theo thói quen của mình, thánh nhân mời gọi các tín hữu “để tỏ lòng biết ơn, anh em hãy đem cả tâm hồn mà hát dâng Thiên Chúa những bài thánh vịnh, thánh thi và thánh ca, do Thần Khí linh hứng”.
Đoạn trích kết thúc với vài nguyên tắc đặc thù về những bổn phận giữa vợ và chồng, và giữa cha mẹ và con cái, mà thánh Phao-lô khai triển trong thư của ngài gởi cho các tín hữu Ê-phê-sô 5: 21-32. Chúng ta nên nhớ rằng lời khuyên “người làm vợ hãy phục tùng chồng” được đặt vào trong nền văn hóa của thời đại đó, như nền văn hóa cổ truyền Việt Nam chúng ta: đức hạnh của người phụ nữ Việt Nam trước đây được quy định bởi “tam tòng”: “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”.
TIN MỪNG (Lc 2: 41-52)
Giai thoại mà thánh Lu-ca kể trong Tin Mừng hôm nay chiếu soi một luồng ánh sáng trên những năm tháng cuộc đời ẩn dật của Đức Giê-su, giữa việc cha mẹ dâng tiến Ngài trong Đền Thờ vào lúc Ngài được sáu tuần lễ và việc Ngài nhận phép rửa bởi Gioan Tẩy Giả vào lúc Ngài ba mươi tuổi.
1. Cách thức đào tạo tôn giáo ở Ít-ra-en:
Được đặt trở lại vào trong khung cảnh tôn giáo và văn hóa Do thái, dáng điệu của Đức Giê-su ngồi giữa các tiến sĩ Luật, ở Giê-ru-sa-lem, khi Ngài lên mười hai tuổi, không có gì là lạ lùng cả. Tất cả những thiếu niên Ít-ra-en đến tuổi này đều trở thành “con cái của Lề Luật”. Từ nay, các em được tham dự các cộng đoàn phụng vụ và được dự phần vào lời cầu nguyện chung.
Việc đào tạo tôn giáo cho con cái cốt yếu là bổn phận của cha mẹ trong gia đình, và được bổ túc bởi việc dạy dỗ ở hội đường, vào ngày sa-bát. Thường thường các kinh sư mở trường dạy học và người ta có thể nghĩ rằng họ bận lòng đào tạo những “con cái của Lề Luật” tương lại. Ở Giê-ru-sa-lem, các tiến sĩ Luật hình thành nên một loại hội đường ở bên trong Đền Thờ; họ dạy trên các hành lang. Theo truyền thống dạy dỗ kinh sư, để đối thoại với người nghe, họ khuyến khích các học viên nêu lên những câu hỏi hay tự mình đặt ra những câu hỏi cho các học viên.
Ông Flavius Josephus, sử gia Do thái (35-95 AC) kể lại một kỷ niệm thời niên thiếu của ông, giúp soi sáng đặc biệt giai thoại của Lu-ca. Khi cậu Flavius Josephus đến tuổi “con cái của Lề Luật”, cậu theo đuổi một năm đào tạo tôn giáo. Các kinh sư đòi cậu đến giữa họ để đặt câu hỏi cho cậu và tranh luận với cậu. Thật ra, cậu Flavius Josephus thuộc một gia đình danh giá chốn kinh thành Giê-ru-sa-lem, còn Đức Giê-su chỉ là một cậu thiếu niên khiêm tốn làng Na-da-rét; tuy nhiên, sự kiện chứng thực rằng các tiến sĩ Luật Giê-ru-sa-lem niềm nở tiếp đón mọi thiếu niên và lắng nghe chúng.
2. Ơn gọi được khẳng định:
Người ta có thể luôn luôn tự hỏi về mầu nhiệm ý thức mà Đức Giê-su có về ơn gọi của mình, về địa vị Con Thiên Chúa của mình: ý thức này được phát triển như thế nào? Ngài có thật sự hoàn toàn ý thức về sứ mạng của mình khi còn rất bé chứ? Dù sao ở Giê-ru-sa-lem vào lúc mười hai tuổi, Ngài vẫn cảm thấy thoải mái trong nhà của Cha Ngài như nhà của mình; Ngài bày tỏ trí thông minh và sự hiểu biết tôn giáo phi thường trước tuổi mình. “Ai nghe cậu nói cũng ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đối đáp của cậu”, nghĩa là, không chỉ những tiến sĩ luật, nhưng những học viên, và ngay cả đám đông trong sân Đền Thờ cũng dừng lại để lắng nghe cậu thiếu niên Giê-su này tranh luận với các chuyên viên Lề Luật. Sau này, sự thông hiểu của Đức Giê-su, sự quán triệt Kinh Thánh của Ngài sẽ làm kinh ngạc những vị lãnh đạo Do thái giáo: “Ông này không học hành gì, mà sao lại thông thạo chữ nghĩa như thế” (Ga 7: 15); còn dân chúng sửng sốt về lời dạy của Ngài: “Vì Người dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư của họ” (Mt 7: 28).
Giai thoại Đức Giê-su ngồi giữa các tiến sĩ Luật hàm chứa hai lời dạy: tinh thần siêu thoát đối với Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se và dấu chỉ tiên báo mầu nhiệm vượt qua, mầu nhiệm thương khó, đoạn mầu nhiệm phục sinh, vào ngày thứ ba.
3. Tinh thần siêu thoát:
Phải chăng đây là cuộc hành trình đầu tiên của Đức Giê-su lên Giê-ru-sa-lem vào dịp cử hành một trong những đại lễ trong năm? Người ta có thể tự hỏi điều này. Dù sao Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se vẫn để cho con trẻ nhiều tự do. Nghi lễ đã hoàn tất, đoàn hành hương đến từ Ga-li-lê lại lên đường trở về khoảng ba đến bốn ngày đường, theo từng nhóm.
Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se vất vả tìm kiếm Đức Giê-su ròng rã suốt hai ngày; đến ngày thứ ba họ mới tìm thấy Ngài để chỉ được nghe Ngài nói: “Sao cha mẹ lại tìm con?” Mẹ Ngài nói với Ngài về những vất vả lo lắng vất vả trong khi tìm kiếm Ngài: “Con ơi, sao con lại cư xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!”, Ngài nhắc lại bổn phận làm con đích thật của Ngài, bổn phận này nối kết Ngài với Thiên Chúa: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?”. Ngay từ lúc này, Ngài hé mở ý nghĩa cuộc đời Ngài: Ngài đến để mặc khải Chúa Cha; Ngài phải thi hành ý muốn của Cha Ngài. Đồng thời Đức Giê-su cũng ghi nhận những khoảng cách của Ngài đối với cha mẹ trần thế của Ngài: tình mẫu tử của Đức Ma-ri-a, tình phụ tử của thánh Giu-se phải nhường bước trước sứ mạng cao cả, mầu nhiệm hơn của người con này mà Thiên Chúa đã trao gởi cho họ.
“Nhưng ông bà không hiểu lời Người vừa nói”, tuy nhiên “riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng”. Thánh Lu-ca chỉ cho chúng ta một trong những nguồn sách Tin Mừng của ông, hoặc từ chính Đức Trinh Nữ, nếu thánh ký đã đích thân gặp gỡ Mẹ, hoặc qua thánh Gioan người môn đệ mà Mẹ đã sống cùng (Ga 19: 25-27) và chắc chắn đã thổ lộ một số lượng kỷ niệm.
4. Dấu chỉ:
Sau hai ngày tất tả tìm kiếm, “vào ngày thứ ba” họ mới tìm thấy Ngài.
Không thể không đọc thấy trong những sự kiện và những lời này, một dấu chỉ báo trước những ngày đau khổ của cuộc Tử Nạn, đoạn những lần gặp thấy lại sau biến cố Phục Sinh. Không tác giả Tin Mừng nào tường thuật Đức Ki tô phục sinh hiện ra với Mẹ mình. Phải chăng người ta có thể nói rằng lần hiện ra này được hàm chứa trong câu chuyện về một biến cố trước đó? Hơn nữa biến cố này được định vị ngay sau lễ Vượt Qua mà Đức Giê-su vừa cử hành ở Giê-ru-sa-lem…
Xem thêm Lễ Thánh Gia B (http://gpnt.net/chugiaiktcn/giangsinhb/Le%20thanhgiathatb.htm)
admin
26-12-2009, 04:15 PM
LỄ HIỂN LINH
Phụng Vụ Lời Chúa Lễ Hiển Linh mời gọi chúng ta suy niệm về Giáo Hội, Bí Tích Hiệp Nhất toàn thể gia đình nhân loại chung quanh Hài Nhi Giê-su, Đấng Cứu Thế của mình.
Is 60: 1-6
Ngôn sứ I-sai-a loan báo hình ảnh vinh quang của Giê-ru-sa-lem mới, tiên trưng Giáo Hội: “Muôn dân muôn nước sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước”.
Ep 3: 2-6
Thánh Phao-lô có sứ mạng loan báo “mầu nhiệm giữ kín từ muôn thuở ở nơi Thiên Chúa” nay được tỏ lộ, đó là muôn dân muôn nước trên khắp toàn cõi địa cầu đều được kêu mời họp thành một dân tộc duy nhất là Giáo Hội, trở nên một thân thể duy nhất là Thân Thể mầu nhiệm của Đức Giê-su Ki tô.
Mt 2: 1-12
Được soi lối chỉ đường: từ một hiện tượng thiên nhiên: ánh sao lạ, đến Lời Chúa, các nhà chiêm tinh, tiên trưng Giáo Hội, đến thờ lạy Đấng Cứu Thế.
BÀI ĐỌC I (Is 60: 1-6)
Các ngôn sứ Cựu Ước vĩ đại đều đã công bố chiều kích hoàn vũ của sứ mạng Giê-ru-sa-lem. Họ đã mở rộng những viễn cảnh của dân Ít-ra-en ở bên kia chủ nghĩa quốc gia và nhấn mạnh một trong những yêu sách ơn gọi của họ: ánh sáng cho muôn dân muôn nước.
Bản văn được chọn để cử hành lễ Hiển Linh được trích từ tác phẩm của một trong số các ngôn sứ nầy. Ông là vị ngôn sứ vô danh, môn đệ của ngôn sứ I-sai-a đệ nhị (Is 40-55), vì thế người ta gọi ông là I-sai-a đệ tam (Is 56-66). Ông thi hành sứ vụ của mình ở Giê-ru-sa-lem giữa những năm 537-520, nghĩa là sau cuộc hồi hương trở về từ cuộc lưu đày ở Ba-by-lon.
1. Vinh quang của Thành Đô Giê-ru-sa-lem mới (6: 1-2).
Ông loan báo một sứ điệp đầy tin tưởng và lạc quan để an ủi một cộng đoàn chán chường và thất vọng.
Cuộc trở về quê cha đất tổ đã đem lại một tinh thần phấn chấn cho những người hồi hương; nhưng rồi sớm vỡ mộng. Thành Thánh Giê-ru-sa-lem bần cùng và thưa thớt người, chẳng khác gì một làng quê. Cảnh Đền Thờ hoang phế trơ gan cùng tế nguyệt ngót bốn mươi năm trường. Đất đai bị những người ngoại kiều, nhất là dân Sa-ma-ri chiếm đoạt…Cuối cùng, những nổ lực tái thiết Đền Thánh phải dang dỡ.
Chính vào lúc ấy, một sấm ngôn vang lên để an ủi những ai mất can đảm:“Vùng lên! Bừng sáng lên ! Giê-ru-sa-lem hỡi!”.
Làm thế nào phải thất vọng được chứ khi Thiên Chúa đã tỏ mình ra bằng cách cho phép họ được trở về quê cha đất tổ: “Vì ánh sáng của ngươi đến rồi, vinh quang Chúa trên ngươi chiếu tỏa”. Những kẻ áp bức bị nghiền nát: “Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân”. Cuộc hồi hương nầy được ví như bình minh. Thiên Chúa được sánh ví như vầng kim ô chói lọi: “Còn trên ngươi, Chúa lại chiếu tỏa, vinh quang Người xuất hiện trên ngươi”. Những biến cố sau đó sẽ còn rực rỡ hơn nữa. Vị ngôn sứ đưa ra hai thị kiến chứa chan hy vọng.
2. Cuộc tụ họp vĩ đại (6: 3-4).
“Đưa mắt về tứ phía mà xem: ai nấy đều tụ họp, kéo đến với ngươi, con trai ngươi từ phương xa tới, con gái ngươi được ẵm bên hông.” Những con trai con gái nầy là những “cộng đồng Do thái hải ngoại” (họ không bao giờ vắng bóng trong tâm trí của ngôn sứ I-sai-a đệ tam). Thế nên, một truyền thống rất sống động muốn rằng sự thống nhất của toàn thể dân Ít-ra-en phải là công trình của Đấng Mê-si-a. Như vậy, sấm ngôn bao hàm hậu cảnh mê-si-a.
Thế nhưng những đứa con đến từ xa cũng là những đứa con của muôn dân muôn nước, họ sẽ chọn Giê-ru-sa-lem như Thành Đô của mình vì uy danh Thiên Chúa của nó quyến rủ họ: “Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước”.
3. Nguồn phú túc của chư dân sẽ đổ về Thành Đô (6: 5-6).
Thị kiến chứa chan hy vọng thứ hai được nối kết với thị kiến thứ nhất: chư dân sẽ đề xuất sự phú túc của mình để phụng sự Thành Thánh: “Lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà của người Ma-đi-an và Ê-pha; hết thảy từ Sa-ba kéo đến, mang theo vàng với trầm hương, và loan truyền lời ca tụng Chúa”. Những người Ma-đi-an, Ê-pha và Sa-ba là những dân miền Á-rập. Tên Sa-ba gợi lên kỷ niệm của nữ hoàng xứ Sa-ba đến triều yết vua Sa-lô-mon và dâng tặng cho vua nhiều quà tặng quý giá.
Thành đô Giê-ru-sa-lem sẽ không còn lầm than vất vã nhưng sống trong cảnh phú túc thịnh vượng. Thành Đô sẽ lại vùng đứng lên từ những hoang tàn đổ nát, Đền Thánh sẽ được tái thiết để trở thành nơi xứng đáng cho muôn dân đến tán dương ca tụng Thiên Chúa của dân mình.
Bức tranh muôn màu rực rỡ của vị ngôn sứ xem ra loan báo trước dáng dấp của các nhà chiêm tin, tiên trưng muôn dân muôn nước đến tôn thờ Thiên Chúa Ít-ra-en.
Vị ngôn sứ thoáng thấy điều mà thánh Phao-lô sẽ gọi “mầu nhiệm giữ kín từ muôn thuở nơi Thiên Chúa”: muôn dân muôn nước đồng thừa tự với người Do thái, dân của Lời Hứa (bài đọc II). Thị kiến hùng vĩ về một cuộc sum họp bao la chung quanh Thiên Chúa đích thật chuẩn bị thị kiến của thánh Gioan trong sách Khải Huyền: thành đô Giê-ru-sa-lem tương lai là Thành Đô thiên quốc mà bản phác thảo của nó trên trần thế nầy là Giáo Hội.
BÀI ĐỌC II (Ep 3: 2-3, 5-6)
Thánh Phao-lô viết bức thư nầy có lẽ trong khi ngài bị giam cầm ở Rô-ma vào những năm 61-63. Thánh nhân ngỏ lời với các tín hữu Ê-phê-sô, chính xác hơn với các cộng đoàn khác nữa ở miền Tiểu Á, mà thánh nhân muốn bức thư của mình được chuyển đến.
Những cộng đoàn nầy đa số là những Ki tô hữu gốc lương dân. Thánh Phao-lô nhắc nhở họ ơn gọi tông đồ dân ngoại của mình. Nhiệm vụ của ngài là loan báo cho họ không còn một dân tộc dặc quyền đặc lợi nữa vì muôn dân được chấp nhận đồng hưởng cùng một ơn cứu độ như dân Do thái.
1. Mầu nhiệm của Đức Ki tô:
Trọng tâm sứ điệp của bức thư nầy là “mầu nhiệm của Đức Ki tô”,. Qua từ “mầu nhiệm” nầy, thánh Phao-lô muốn nói đến ý định ẩn kín từ muôn thuở ở nơi Thiên Chúa mà người ta có thể biết được chỉ nhờ Mặc Khải mà thôi.
Đối với thánh nhân, các thầy thông luật đã học hỏi Kinh Thánh dù thành tâm mấy đi nữa cũng không thể nào biết được mầu nhiệm: “nhờ rao giảng Tin Mừng và được liên kết với Đức Giê-su Ki tô, các dân ngoại cũng được đồng thừa tự với người Do thái”. Thánh nhân đã hiểu được Thiên Ý nhiệm mầu nầy chỉ nhờ ơn soi sáng của Đức Giê-su trên đường Đa-mát.
2. Dân thánh:
Từ trong chốn lao tù của mình, vào lúc cuộc đời xế bóng, thánh Phao-lô không quên liên kết sứ vụ Tông Đồ cho lương dân của mình với tất cả các tông đồ và các nhà rao giảng khác (những người mà thánh nhân gọi “ngôn sứ”), họ là những người đã lãnh nhận Thần Khí và thi hành sứ vụ như ngài. Qua cách diễn tả “các thánh”, thánh nhân không gợi lên sự thánh thiện nói riêng, nhưng chỉ chung tất cả mọi người Ki tô hữu. Xuống vài hàng, thánh Phao-lô tự nhận mình là “kẻ rốt hết trong toàn thể dân thánh”.
3. Vị Tông Đồ của dân ngoại:
Thánh nhân đã hiến dâng mọi sức lực của mình cho ơn gọi của mình. Sách Công Vụ tường thuật thánh nhân đã nhiệt thành thực hiện sứ mạng của mình biết là ngần nào: trèo non lặn suối, vượt biển băng ngàn không quản ngại gian nguy. Chương 13 tường thuật một chi tiết điển hình: sau bài thuyết giáo của thánh nhân ở hội đường An-ti-ô-khi-a, người Do thái sinh lòng ghen tức…trong khi dân ngoại vui mừng tôn vinh lời Chúa.
Đó cũng là hai thái độ khác nhau mà thánh Mát-thêu nêu bật trong hoạt cảnh “Các Nhà Chiêm Tinh đến triều yết Chúa Hài Nhi”.
TIN MỪNG (Mt 2: 1-12)
Thánh Mát-thêu là vị thánh ký duy nhất tường thuật biến cố “các nhà chiêm tinh đến yết kiến Chúa Hài Nhi”. Ông đã giữ lại giai thoại nầy vì nó xác minh một trong những chủ đề của sách Tin Mừng của ông. Chính quyền và Giáo quyền Giê-ru-sa-lem đã không nhận ra Đấng Cứu Độ; vì thế, Thiên Chúa đã mở rộng con đường cho dân ngoại gia nhập Giao Ước, bởi vì sứ điệp Tin Mừng cũng được gởi đến cho họ. Thật lạ lùng trong khi dân ngoại đáp trả lời mời gọi, thì con cái của Lời Hứa lại quay lưng với Giao Ước.
Thánh Lu-ca trình bày cho chúng ta các mục đồng đến chiêm ngưỡng và thờ lạy Chúa Hài Nhi, họ đại diện những người đơn sơ, khiêm tốn, chân thành và nghèo khó. Trong khi đó, thánh Mát-thêu trình bày cho chúng ta các nhà chiêm tinh từ phương xa vạn dặm đến triều bái Chúa Hài Nhi, họ đại diện những người giàu có, thông thái. Những người đầu tiên là những thành viên của dân Chúa chọn, trong khi những người thứ hai đến từ thế giới ngoại giáo. Hai bức tranh tương phản nhưng bổ túc cho nhau.
1. Lên đường theo ánh sáng tự nhiên.
Chuyện tích của Mát-thêu rất phức tạp và phân tích nó đòi hỏi biết bao công sức. Hai loại yếu tố được đan quyện vào nhau ở đây: những yếu tố nầy thuộc những dữ kiện lịch sử, những yếu tố khác do cách thức trình bày những sự kiện. Phương thức nầy được gợi hứng bởi cách giải thích kinh thánh của các kinh sư Do thái được gọi là “midrash”. Đây là văn thể đang thịnh hành trong những môi trường Do thái vào thời Chúa Ki tô và vào thời Giáo Hội tiên khởi.
“Midrash” là phương thức chuyện kể cốt yếu là quy tụ chung quanh một hạt nhân lịch sử những mảnh ghép của những câu trích dẫn Kinh Thánh, phóng đại vài chi tiết và hể có dịp nêu bật khía cạnh kỳ diệu của chúng, để nhấn mạnh tính cách quan phòng của chúng.
Chắc chắn phải có một “biến cố thực” ở nơi nền tảng của câu chuyện Tin Mừng. Rõ ràng thánh Mát-thêu múc lấy những dữ kiện của mình ở nơi những kỷ niệm và truyền thống Bê-lem, trong khi thánh Lu-ca tham chiếu nhiều hơn đến những kỷ niệm và truyền thống Na-da-rét.
Mặt khác, những thủ bản Biển Chết đã củng cố chuyện tích Tin Mừng. Trong số những thủ bản được khám phá, người ta gặp thấy số tử vi của vị vua mê-si-a được chờ mong. Như vậy vào thời Đức Ki tô chào đời, người ta bận lòng muốn biết Đấng Mê-si-a sinh ra dưới vị sao hộ mệnh nào, và trong vài môi trường Do thái, người ta tra cứu bầu trời để khám phá vị sao nầy xuất hiện, vì Đấng Mê-si-a chào đời khi vị sao hộ mệnh của Ngài xuất hiện. Quả thật, các chiêm tinh nói: “Chúng tôi đã thấy vị sao của Người xuất hiện”.
Trong chuyện tích Tin Mừng Mát-thêu, ngôi sao được trình bày như một hiện tượng thiên nhiên. Nhưng xa hơn một chút, thánh ký làm cho nó thành một dấu hiệu: ánh sáng của ngôi sao là lời kêu gọi mầu nhiệm soi lối dẫn đường cho các nhà chiêm tinh nầy. Thánh vịnh không nói với chúng ta: “Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, không trung loan báo kỳ công Người. Ngày nầy mách bảo cho ngày tới, đêm nầy truyền tụng với đêm kia. Không bằng ngôn ngữ ầm vang mà tiếng vang đã vang dội khắp hoàn cầu và thông điệp loan đi tới khắp chân trời góc biển” sao (Tv 19: 2-5) ? Nếu chỉ suy nghĩ một cách sâu xa biến bao biến cố xảy ra trong đời thường là những ánh sao lạ thúc đẩy chúng ta lên đường đấy chứ.
2. Dừng chân ở Giê-ru-sa-lem.
Các nhà chiêm tinh đến Giê-ru-sa-lem bởi vì chính “vua dân Do thái” mà họ tìm kiếm. Thánh Mát-thêu có chủ ý dùng tước hiệu nầy: đó là tước hiệu được ghi ở nơi bản án kết tội của Đức Giê-su: “Người nầy là Giê-su, vua dân Do thái” (Mt 27: 37).
Sự xuất hiện của các nhà chiêm tinh ở Giê-ru-sa-lem làm cho vua Hê-rô-đê và triều thần của vua bối rối. Điều nầy xem ra cũng dể hiểu thôi vì vua cùng triều thần của vua nghĩ đến một đối thủ bất ngờ xuất hiện. Nhưng cả thành Giê-ru-sa-lem cũng xôn xao thì quả thật là lạ lùng. Tại sao dân thành Giê-ru-sa-lem không vui mừng nhỉ? Đây là lời ghi nhận mang đậm nét Tin Mừng Mát-thêu. Thánh Mát-thêu không thích Giê-ru-sa-lem, bởi vì dân nầy đã lỗi hẹn với cuộc gặp gỡ Đấng Cứu Độ mà họ trông đợi qua những lời loan báo của các ngôn sứ. Ở nơi nỗi xao xuyến của dân thành Giê-ru-sa-lem, thánh ký báo trước việc dân nầy sẽ từ chối Đức Giê-su trong tương lai. Mặt khác, vào thời điểm thánh Mát-thêu viết Tin Mừng của mình, những người Do thái chống đối cộng đoàn Ki tô hữu rất dữ dội. Sự căng thẳng nầy có thể được nhận ra ở nơi những lời nhận xét nầy.
“Nhà vua triệu tập các thượng tế, các kinh sư lại, và hỏi cho biết Đấng Ki tô phải sinh ở đâu”. Các thượng tế là những lãnh tụ tối cao của Do thái giáo. Các kinh sư là những chuyên viên Kinh Thánh, vì thế họ có thể trả lời cho các nhà chiêm tinh biết chính xác Đấng Cứu Thế sinh ra ở đâu. Họ rất tự phụ về sự hiểu biết Kinh Thánh của mình, nhưng họ không muốn đi xa hơn. Sự hiểu biết Kinh Thánh của họ đã soi lối chỉ đường cho những người ngoại quốc xa lạ nầy đến với Chúa Hài Nhi, trong khi chính họ và toàn thể dân thành Giê-ru-sa-lem từ chối đến với Ngài. Như vậy sự quy tụ của những người ngoại quốc chung quanh vị vua Do thái vừa mới sinh nầy xem ra là hình ảnh tham dự trước của một cuộc quy tụ vĩ đại của Giáo Hội đến từ muôn dân.
Bản văn mà các kinh sư trích dẫn là lời sấm của ngôn sứ Mi-kha (thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên) được thánh Mát-thêu thay đổi một chút. Ngôn sứ Mi-kha viết: “Phần ngươi, hỡi Bê-lem Ép-ra-tha, ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giu-đa, từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh Ít-ra-en …” (Mk 5: 1), trong khi lời trích dẫn của bản văn Mát-thêu: “Phần ngươi, hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời”. Rõ ràng trong bản văn của mình, Mát-thêu không trích dẫn nguyên văn lời sấm của Mi-kha, nhưng còn sửa đổi và thêm vào bản văn của 2Sm 5: 2: “Chính ngươi sẽ chăn dắt Ít-ra-en, dân Ta…”.
Vua Hê-rô-đê bí mật triệu tập các nhà chiêm tinh và dò hỏi tường tận ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện để xác định chính xác thời gian xuất hiện của Hài Nhi. Rõ ràng nhà vua có mưu đồ hãm hại Hài Nhi rồi, nhưng với thái độ giả nhân giả nghĩa nhà vua nói với họ: “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái yết Người”.
Vài nét chấm phá trên đây phác họa chân dung của nhân vật nầy sát với những gì các sử gia miêu tả về vị bạo chúa nầy: tâm địa ngờ vực, thù hằn, mê tín dị đoan và tàn bạo cho đến điên cuồng khát máu. Ông ra lệnh thảm sát vợ ông, bà Marianne, cùng nhiều người thân của bà, ba người anh em họ và ba người con riêng của bà. Chính ông ra lệnh hành hình nhiều người biệt phái trước công chúng. Cũng như ông truyền lệnh thiêu sống mười bốn trẻ em để trả thù cho việc dân chúng đã phá đổ con ó bằng vàng mà ông đã cho đặt trước Đền Thờ. Vì thế, đối với vị vua nầy, việc thảm sát các hài nhi Bê-lem không có gì là không thể. Vì danh vọng và quyền lực người ta có thể làm bất cứ điều gì dù mất đi tính người đi nữa.
Phải chăng việc các nhà chiêm tinh dừng chân ở Giê-ru-sa-lem được khai triển theo cách thức giải thích “Midrash” ? Chắc chắn một phần nào đó. Chúng ta đọc thấy cách giải thích Midrash về cuộc chào đời của Mô-sê như sau: “Pha-ra-ô triệu tập tất cả các nhà thông thái và triều đình …Toàn dân kinh hải…một hoàng tử triều yết vua và tấu trình lên vua…một hài nhi sắp chào đời cho con cái Ít-ra-en. Xin ra lệnh giết tất cả nam nhi…”
Đây là lời chú giải Midrash trên đoạn văn sách Xuất Hành 1: 9-22. Phải chăng thánh Mát-thêu đã được gợi hứng từ phương thức nầy? Hai hoàn cảnh tương tự như nhau thì rất rõ.
3. Lên đường theo ánh sáng Lời Chúa.
Chắc chắn cũng phải lưu ý đến cách thức tô điểm midrash ở nơi việc tái xuất hiện của vị sao lạ nầy. Việc ngôi sao lạ này lại xuất hiện có cần thiết không, bởi vì Kinh Thánh đã cho họ thông tin chính xác về nơi sinh hạ của Hài Nhi rồi. Ấy vậy, làng nầy rất gần với Giê-ru-sa-lem, cách khoảng 9 km. Vậy, ánh sao dẫn bước các nhà chiêm tinh đến Bê-lem phải được hiểu theo văn mạch là “ánh sáng Lời Chúa”. Quả thật, Thánh vịnh đã không nói với chúng ta: “Lời Chúa là ánh sáng soi lối dẫn đường cho bước chân con đi” sao?
4. Gặp gỡ Ngôi Lời Thiên Chúa làm người.
Bấy giờ các nhà chiêm tinh gặp thấy Hài Nhi không còn trong “hang lừa máng cỏ” nữa, nhưng trong “nhà”. Một khoảng thời gian đã trôi qua giữa Hài Nhi chào đời và các nhà chiêm tinh đến yết kiến: “Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Ma-ri-a…” Như vậy, theo dấu chỉ của Lời Chúa, họ đã đến gặp gỡ chính Đấng mà thánh Gioan tuyên xưng: “Ngôi Lời làm người và cư ngụ ở giữa chúng ta”. Chính ở nơi Ngài mà Cựu Ước quy về và cũng chính ở nơi Ngài mà Cựu Ước gặp thấy ý nghĩa tròn đầy của mình.
Chúng ta ghi nhận thánh Giu-se không được kể ra ở đây. Điều nầy thật lạ lùng, vì cho đến lúc nầy thánh ký rất chú ý đến những sự việc xảy ra cho thánh Giu-se. Việc không nhắc đến thánh Giu-se ở đây có ẩn ý gì chứ? Phải chăng đây là dấu chỉ đầu tiên bày tỏ niềm tôn kính dành cho Đức Trinh Nữ ở nơi cách nói “Hài Nhi cùng với thân mẫu của Ngài” ?
Với tấm lòng tôn kính và quảng đại Đông Phương quen thuộc, họ dâng tiến các tặng vật lên Hài Nhi bé bỏng mà họ nhận ra ở nơi cái vẻ bên ngoài quá mức tầm thường nầy là một vị vua vừa mới giáng sinh.
Các Giáo Phụ cố gắng giải mã ý nghĩa của những phẩm vật nầy: vàng là phẩm vật cao quý được dâng tặng cho vua, vì Hài Nhi nầy là vua; nhũ hương là hương liệu được đốt trên bàn thờ của các thần linh, tỏa hương trầm nghi ngút, vì Hài Nhi nầy là Thiên Chúa; mộc dược là một trong những vật liệu được dùng để ướp xác, vì Hài Nhi nầy sẽ thực hiện ơn cứu độ trần gian bằng con đường Tử Nạn. Như vậy, qua ba phẩm vật đầy ý nghĩa nầy, các nhà chiêm tinh tuyên xưng Hài Nhi Giê-su là vua, Thiên Chúa và cũng là Đấng Cứu Thế.
Các nhà chiêm tinh đến từ xa thời lạy Hài Nhi, thế là các sấm ngôn về Đấng Cứu Thế trần gian được ứng nghiệm ở nơi Hài Nhi Giê-su nầy (Tv 72: 10-15; Is 60: 5tt; 49: 23; Ds 24: 17).
Người ta có thể nêu lên vấn đề lịch sử tính của câu chuyện nầy, nhưng không ai có thể chối cải đây là cuộc hành trình tâm linh của chính Giáo Hội vốn từ muôn dân mà đến khởi đi từ con đường mặc khải tự nhiên: một hiện tượng thiên nhiên, một biến cố, một hoàn cảnh sống… đến con đường mặc khải siêu nhiên: Lời Chúa, để rồi cuối cùng gặp gỡ chính Đấng là Ngôi Lời Thiên Chúa. Theo một cách nào đó, đây cũng là cuộc hành trình tâm linh của mỗi người chúng ta.
admin
03-01-2010, 05:50 PM
CHÚA GIÊ-SU CHỊU PHÉP RỬA
Vào Chúa Nhật này, chúng ta tưởng niệm biến cố Đức Giê-su chịu phép rửa trong nước bởi Gioan Tẩy Giả, và ngay liền sau đó, được Chúa Thánh Thần ngự xuống và được Chúa Cha chứng nhận: “Con là Con Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con”. Đó là lý do tại sao các Giáo Hội Đông Phương cử hành phép rửa của Đức Ki tô như một trong ba lễ Chúa Hiển Linh, nghĩa là, biến cố Chúa tỏ mình ra : các nhà chiêm tinh thờ lạy Hài Nhi (Mt 2: 11), phép rửa của Đức Giê-su (Lc 3: 21-22; Mt 3: 13-17; Mc 1: 9-11) và dấu lạ đầu tiên ở tiệc cưới Ca-na (Ga 2: 11).
I s 40: 1-5, 9-11
Bài đọc I gợi lên nguồn gốc nguyên khởi của thuật ngữ “Tin Mừng” được loan báo cho những người lưu đày ở Ba-by-lon.
Tt 2: 11-14; 3: 4-7
Thánh Phao-lô nhắc cho ông Ti-tô nhớ rằng giá trị vô song của phép rửa Ki tô giáo chính là tái sinh và đổi mới người Ki tô hữu trong Chúa Thánh Thần.
Lc 3: 15-16, 21-22
Phép rửa của Đức Giê-su là nguyên mẫu phép rửa Ki tô giáo. Chúng ta đã được lãnh nhận phép rửa dưới dấu chỉ của Thiên Chúa Ba Ngôi, “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”.
BÀI ĐỌC I (Is 40: 1-5, 9-11)
Sứ điệp an ủi này được gởi đến cho những người lưu đày ở Ba-by-lon khi mà cuộc thử thách đã quá dài lâu đến mức người ta không còn chịu đựng được nữa. Những người lưu đày đầu tiên, sau đó là những đợt lưu đày khác nữa, đã bị dẫn đến đất nước ngoại bang này đã gần năm mươi năm rồi.
1. Bối cảnh:
Ở giữa những người đồng hương lưu đày của mình, một vị ngôn sứ đã đem đến cho những người chán chường thất vọng này một niềm an ủi khi ông hứa với họ cuộc giải phóng sắp đến gần. Người ta không biết một chút gì về vị ngôn sứ, ngay cả tên của ông; vì thế, người ta đặt cho ông một biệt danh là I-sai-a đệ nhị, vì tác phẩm của ông (Is 40-55) được sáp nhập vào tác phẩm của vị tiền nhiệm của ông (Is 1-39). Vào lúc đó, trên chính trường Trung Đông, vua Ba tư, Ky-rô, nổi lên như một thế lực hùng mạnh. Vị ngôn sứ thoáng thấy nơi nhân vật này khí cụ của Thiên Chúa. Được Thánh Thần thúc đẩy, ông quả quyết: Thiên Chúa sắp can thiệp để giải phóng dân Ngài khỏi cảnh đời lưu đày.
2. “Hãy an ủi, an ủi dân Ta”:
“Hãy an ủi, an ủi dân Ta”. Đây là những lời đầu tiên của tác phẩm ngôn sứ I-sai-a đệ nhị, chính xác được đặt dưới nhan đề “Sách An Ủi”. Diễn ngữ “dân Ta” này chắc chắn đã làm ấm lại lòng của những người lưu đày khốn khổ, họ cứ tưởng Thiên Chúa đã quên họ, không còn đoái hoài gì đến họ. Không, họ vẫn luôn luôn là “dân của Ngài”, dân Chúa chọn mà xưa kia đã được Ngài nuông chiều.
“Hãy ngọt ngào khuyên bảo Giê-ru-sa-lem”. Tâm tư của những người lưu đày không bao giờ ngừng hướng về Thành Thánh. Bị trừng phạt vì tội bất trung dài lâu, điều quan trọng là dân thành được loan báo rằng Thiên Chúa tha thứ tội của dân và Ngài sẽ đích thân dẫn đưa dân trở về quê cha đất tổ.
“Thời phục dịch của Thành đã mãn, tội của Thành đã đền xong, vì Thành đã bị tay Đức Chúa giáng phạt gấp hai lần tội phạm”. Chúng ta có thể hiểu diễn ngữ “gấp hai lần” theo sát nghĩa của từ, nếu chúng ta khảo sát hai cuộc thử thách lớn mà dân thành phải chịu: dân thành bị lưu đày đến Ba-by-lon và Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa dân Ngài, bị phá hủy hoang tàn. Nhưng diễn ngữ này cũng được hiểu một cách đơn giản như ghi nhận muôn vàn đau khổ mà dân phải chịu.
3. Một cuộc xuất hành mới:
Để trở về cố hương, những người lưu đày sẽ phải băng qua hoang địa (sa mạc Syri-Palestine). Đây sẽ là một cuộc xuất hành mới ở đó Thiên Chúa sẽ lại hướng dẫn dân Ngài và thực hiện cho họ những điều kỳ diệu. Điều quan trọng là phải chuẩn bị tấm lòng đón nhận lòng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa. Ở nơi những hình ảnh của các câu “Trong sa mạc, hãy mở một con đường cho Đức Chúa, giữa đồng hoang, hãy vạch một con lộ thẳng băng. Mọi thung lũng sẽ được lấp đầy, mọi núi đồi sẽ phải bạt xuống, nơi lồi lõm sẽ hó thành đồng bằng, chốn gồ ghề nên vùng đất phẳng phiu”, chúng ta gặp thấy một lời mời gọi hãy thay lòng đổi dạ, biến đổi sa mạc của tâm hồn. Các tác giả Tin Mừng sẽ áp dụng cho thánh Gioan Tẩy Giả dung mạo của vị ngôn sứ vô danh này, biệt danh là I-sai-a đệ nhị.
4. Nguồn gốc nguyên khởi của thuật ngữ “Tin Mừng”:
“Hỡi kẻ loan tin mừng cho Xi-on, hãy trèo lên núi cao”. Chính ở nơi bản văn này mà các Ki tô hữu tiên khởi đã mượn diễn ngữ “Tin Mừng” để chỉ mặc khải của Đức Giê-su. Chính ở đây mà chúng ta ở nơi tận nguồn thần học về Tin Mừng.
“Tin Mừng” này đòi hỏi phải được loan báo từ trên núi cao để mọi dân trong các thành Giu-đê được nghe, đó là Tin Mừng gì? Thưa, chính Thiên Chúa đích thân đến cứu dân Ngài, giải thoát những kẻ bị giam cầm và đưa họ trở về quê cha đất tổ.
Vị ngôn sứ tưởng tượng cuộc hồi hương trở về Giê-ru-sa-lem như một đám rước khải hoàn; nhưng ông tô đậm chân dung Đức Chúa vinh thắng khi liên kết Ngài với hình ảnh của người mục tử tận tình chăm sóc đàn chiên của mình: “Như mục tử, Chúa chăn giữ đoàn chiên của Chúa, tập trung cả đoàn dưới cánh tay. Lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng, bầy chiên mẹ, cũng tận tình dẫn dắt”. Thiên Chúa tha thứ và dẫn đưa dân Ngài về Đất Hứa, trước hết là Thiên Chúa tình yêu.
Đó là “Tin Mừng” đầu tiên báo trước một Tin Mừng khác dứt khoát hơn, phổ quát hơn: giải phóng những người tội lỗi. Vì thế, đoàn rước khải hoàn mà vị ngôn sứ tưởng tượng không phải loan báo cuộc hành trình của những người được chọn về Thành Thánh Giê-ru-sa-lem Thiên Quốc hay sao?
BÀI ĐỌC II (Tt 2: 11-14; 3: 4-7)
Ông Ti-tô là một trong số môn đệ và bạn đồng hành của thánh Phao-lô. Ông được ủy nhiệm chăm sóc các cộng đoàn Ki tô hữu thuộc đảo Cơ-rết-ta.
Hai đoạn trích (2: 11-14 và 3: 4-7) mà Phụng Vụ đề nghị cho chúng ta vào ngày lễ hôm nay, hình thành nên hai bản văn sóng đôi; cả hai là hai phần kết của những lời khuyên mà thánh Phao-lô gởi đến cho ông Ti-tô.
1. Thiên Chúa tình yêu thánh hóa chúng ta (2: 11-14):
Sau một loạt những chỉ thị chính xác liên quan đến những loại tín hữu khác nhau, thánh Phao-lô đưa ra lý do sâu xa về cách ăn nếp ở của người Ki tô hữu: Ân sủng của Thiên Chúa mời gọi chúng ta phải nên thánh; vì Đức Ki tô đã thanh luyện chúng ta ngõ hầu chúng ta có đủ khả năng làm việc thiện. Vì thế, “chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này”.
Lời khuyên “sống chừng mực” ở đây thật có ý nghĩa, bởi vì thánh Phao-lô ngỏ lời với ông Ti-tô, một người Hy lạp sống ở giữa những người Hy lạp. Đây không là lần duy nhất trong bức thư này thánh nhân ám chỉ đến “đức điều độ” của dân Hy lạp này. Ki tô giáo là chủ nghĩa nhân bản dẫn con người đến vận mạng tương lai, vận mệnh này sẽ được biểu lộ ở nơi vinh quang của Đức Ki tô, “Thiên Chúa vĩ đại và là Đấng cứu độ chúng ta”. Danh hiệu này được ban cho Đức Ki tô thì hiếm dưới ngòi bút của thánh Phao-lô, chung chung thánh nhân dành riêng danh hiệu thần linh này cho Chúa Cha.
2. Thiên Chúa tình yêu tái sinh chúng ta (3: 4-7):
Đoạn trích thứ hai này trình bày một lý do khác về những đòi hỏi của Thiên Chúa: Thiên Chúa đầy lòng yêu thương đã tái sinh chúng ta. “Nhờ phép rửa” Ngài đã tái sinh chúng ta và đổi mới chúng ta trong Chúa Thánh Thần.
Đoạn văn này cùng với vài đoạn văn khác trong các thư của thánh Phao-lô được xem là một trong những chứng liệu xưa nhất liên quan đến phép rửa Ki tô giáo. Đoạn văn này kể ra vài trong số muôn vàn thiên ân của phép rửa: tính nhưng không của ơn cứu độ, mối liên hệ giữa nước và Thánh Thần, muôn vàn ơn ban của Thánh Thần, được thừa hưởng sự sống đời đời. Những thiên ân này làm chứng “lòng nhân hậu và yêu thương của Thiên Chúa đối với nhân loại”.
TIN MỪNG (Lc 3: 15-16, 21-22)
Đoạn Tin Mừng hôm nay được trích từ hai phân đoạn: phân đoạn thứ nhất (3: 15-16) về phép rửa của Đức Giê-su và phân đoạn thứ hai (3: 21-22) về cuộc hiển linh của Đức Giê-su. Ngoài ra, phân đoạn thứ nhất lấy lại phần cuối của đoạn Tin Mừng Chúa Nhật Mùa Vọng III năm C, ở đó lời rao giảng của ông Gioan Tẩy Giả đã được nêu lên. Việc lấy lại này cho phép định vị câu chuyện Chúa Giê-su chịu phép rửa vào trong mạch văn của nó.
1. Ý nghĩa phép rửa của Đức Giê-su:
Thánh ký chỉ kể ra một cách ngắn gọn phép rửa của Đức Giê-su, nhưng bằng một cách rất có ý nghĩa: Đức Giê-su ở giữa đám đông dân chúng; Ngài hòa nhập vào dòng người tội lỗi, họ muốn thể hiện cử chỉ ăn năn sám hối. Như họ, Ngài bước vào dòng nước sông Gio-đan để lãnh nhận phép rửa, dấu chỉ bày tỏ lòng sám hối; kể từ giây phút này Ngài bày tỏ ý muốn của Ngài được liên đới với nhân loại tội lỗi. Cử chỉ công khai đầu tiên của Đức Giê-su tự nó đã là một cử chỉ cứu chuộc.
Dường như thánh Lu-ca gợi lên rằng phép rửa của Đức Giê-su kết thúc phép rửa của “toàn dân” (diễn ngữ đặc thù của thánh Lu-ca), như để muốn nói rằng sứ vụ của Gioan Tẩy Giả đã đạt được mục đích của nó: chuẩn bị tấm lòng cho một sứ điệp khác và nhường chỗ cho một sứ vụ đang đến.
2. Lời cầu nguyện của Đức Giê-su:
Khi bước ra khỏi dòng nước sông Gio-đan, Đức Giê-su cầu nguyện. Thánh Lu-ca là thánh ký duy nhất ghi nhận nét đặc trưng này; thánh ký luôn luôn chủ ý nhấn mạnh thái độ này của Đức Giê-su trong những giờ phút quan trọng hay có tính quyết định (Lc 5: 16; 6: 12; 9: 18, 28-29; 10: 21; 11: 1; 22: 32, 40, 46; 23: 34, 46). Vào ngày Lễ Ngũ Tuần, các Tông Đồ cũng đang cầu nguyện, thì Chúa Thánh Thần ngự xuống (Cv 2: 1-6).
Khi Đức Giê-su cầu nguyện, thì “trời mở ra”, nghĩa là, một sự thông hiệp giữa thế giới thần linh và con người bởi một cuộc thần hiện kép: Chúa Thánh Thần ngự xuống dưới hình dáng chim bồ câu và Chúa Cha tỏ mình ra qua tiếng phán từ trời.
3. Chúa Thánh Thần tấn phong:
“Thánh Thần ngự xuống trên Đức Giê-su”. Phép rửa trong nước mà Đức Giê-su đón nhận bởi thánh Gioan Tẩy Giả trở nên phép rửa trong Chúa Thánh Thần, khuôn mẫu và nguyên mẫu phép rửa Ki tô giáo. Đức Giê-su, đã hòa mình vào đám đông dân chúng tội lỗi, được Chúa Thánh Thần xức dầu tấn phong; vì thế, Đức Giê-su đích thật là “Đấng được xức dầu”, nghĩa là, “Đấng Mê-si-a” theo tiếng Híp-ri, hay “Đấng Ki tô” theo tiếng Hy-lạp. Xưa kia, các ngôn sứ đã được Chúa Thánh Thần xức dầu tấn phong để có đủ tư cách truyền đạt Lời Chúa. Cũng vậy, Đức Giê-su được Chúa Thánh Thần xức dầu tấn phong làm ngôn sứ. Nhưng, phải nói một cách chính xác hơn, Đức Giê-su không đơn giản là một trong các ngôn sứ, được hiểu theo nghĩa “phát ngôn viên của Lời Thiên Chúa”, nhưng Ngài là Ngôi Lời Thiên Chúa tự thân, đã trở thành một phàm nhân.
Quả thật, Đức Giê-su, ngay từ khi thụ thai, được Chúa Thánh Thần ở cùng; Ngài sinh ra bởi phép Chúa Thánh Thần, nhưng trong cuộc sống thầm lặng ẩn dật của Ngài, Chúa Thánh Thần đã không tỏ mình ra một cách rực rỡ. Vào ngày Đức Giê-su chịu phép rửa này đánh dấu khởi điểm sứ mạng của Ngài, Đức Giê-su được đảm bảo rằng Ngài sẽ luôn luôn được Chúa Thánh Thần phù trợ.
Chúa Thánh Thần tỏ mình ra qua một dấu chỉ bên ngoài “dưới hình dáng chim bồ câu”, như sau này, vào ngày Lễ Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần sẽ tỏ mình ra ở nơi “những hình lưỡi giống như lưỡi lửa” (Cv 2: 3). Như vậy thánh Lu-ca muốn nói rằng Chúa Thánh Thần là một ngôi vị biệt phân với Chúa Cha. Quả thật, phép rửa của Đức Ki tô là mặc khải đầu tiên về Ba Ngôi Thiên Chúa. Đây là lần đầu tiên trong Kinh Thánh Ba Ngôi Thiên Chúa đồng hiện diện. Các Giáo Hội Đông Phương cử hành phép rửa của Đức Ki tô như một ngày Lễ Ba Ngôi; và chính dưới dấu chỉ Ba Ngôi mà phép rửa Ki tô giáo được ban “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”.
Diễn ngữ “dưới hình dáng chim bồ câu” chắc chắn nhắc nhớ những câu đầu tiên của Kinh Thánh trong chuyện tích về cuộc tạo dựng: “thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước” (St 1: 2). Trên mặt nước của dòng sông Gio-đan một cuộc tạo dựng mới bắt đầu.
4. Chúa Cha thánh hiến:
“Lại có tiếng từ trời phán rằng: Con là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con”. Đây là câu trích dẫn từ Tv 2, 7, một thánh vịnh phong vương mang chiều kích Mê-si-a tuyệt vời. Vào ngày vua được phong vương, Đức Chúa công bố vị tân vương là “con của Ngài” (“thiên tử”). Thánh Vịnh này ngầm quy chiếu đến sấm ngôn của ngôn sứ Na-than được ngỏ lời cho vua Đa-vít: “Ta sẽ làm cho ngai vàng của nó vững bền mãi mãi. Đối với nó, Ta sẽ là cha, đối với Ta, nó sẽ là con” (2Sm 7: 13-14).
Thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu cũng trích dẫn Tv 2 này, nhưng chỉ trích dẫn vế thứ nhất của câu 7: “Con là con yêu dấu của Cha” mà hai thánh ký liên kết thành một với bản văn của Is 42: 1 về ơn gọi của Người Tôi Trung: “Ta hài lòng về Người”, để loan báo Đấng Mê-si-a vừa là Vua, vừa là Người Tôi Trung: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 3: 17) và “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con” (Mc 1: 11).
Chỉ một mình thánh Lu-ca trích dẫn trọn vẹn câu 7 của Tv 2, theo đó Thiên Chúa xác nhận rằng Đức Giê-su là “Con Thiên Chúa”: “Con là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con”. Lời công bố Đức Giê-su là Con Thiên Chúa này cũng sẽ được vang lên khi trời được mở ra vào biến cố Biến Hình (Lc 9: 35). Chính trên Con Thiên Chúa này mà thánh Lu-ca muốn nhấn mạnh: cuộc thần hiện ngay sau phép rửa là mặc khải công khai, chính thức, về mầu nhiệm của Đức Giê-su, Ngài thật sự là Con Thiên Chúa.
Tuy nhiên, ngay từ thế kỷ hai, những người phủ nhận Thần Tính của Đức Ki tô đã khai thác vế thế hai của câu trích dẫn này để chủ trương rằng Đức Giê-su chỉ là một con người, con của ông Giu-se và bà Ma-ri-a, nhận được ơn nghĩa tử (được Thiên Chúa nhận làm con), ơn nghĩa tử này được công bố chính xác bởi những lời này “Ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con”.
Tư tưởng của thánh Lu-ca rất khác xa với một viễn cảnh như vậy. Rõ ràng ngay liền sau lời trích dẫn này, thánh ký tường thuật gia phả Đức Giê-su Ki tô, ở đó thánh ký chủ ý lên cho đến A-đam, “con Thiên Chúa” (Lc 4: 38). Đức Giê-su là A-đam mới, được sinh ra từ Thiên Chúa, Ngài là thủ lãnh của một nhân loại mới. Phép rửa của Ngài là một sự khẳng định về một thực tại thần linh thường hằng ở nơi Ngài rồi. Qua phép rửa của chúng ta, nhờ kết hiệp với Đức Giê-su Ki tô, Con Thiên Chúa làm người, chúng ta trở thành con cái Thiên Chúa, nghĩa tử của Chúa Cha: “ngày hôm nay, chúng ta được sinh ra”.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
10-01-2010, 05:29 PM
CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN
Phụng vụ Chúa Nhật này nêu bật đoạn Tin Mừng tường thuật dấu lạ đầu tiên của Đức Giê-su được thực hiện ở tiệc cưới Ca-na.
Theo truyền thống của các Giáo Hội Đông Phương, ba biến cố: các nhà chiêm tinh thờ lạy Hài Nhi Giê-su, phép rửa của Đức Ki tô và dấu lạ đầu tiên ở tiệc cưới Ca-na, hình thành nên ba biến cố Chúa Hiển Linh và được cử hành cùng nhau. Theo truyền thống Tây Phương, năm C là năm duy nhất trong ba năm phụng vụ, tưởng niệm việc Chúa Giê-su bày tỏ vinh quang của Ngài ở tiệc cưới Ca-na, sau phép rửa của Đức Ki tô và việc các nhà chiêm tinh thờ lạy Hài Nhi Giê-su, như vậy duy trì mối liên hệ giữa ba biến cố, ba cuộc hiển linh đầu tiên mở ra mầu nhiệm của Đức Giê-su là Vua, Con Thiên Chúa, Đấng Mê-si-a.
Is 62: 1-5
Chủ đề của bài đọc I là cuộc phục hưng Giê-ru-sa-lem trong tương lai được diển tả bằng ngôn ngữ hôn ước giữa Thiên Chúa và dân Ngài. Với từ hôn ước này, Thiên Chúa sắp hoàn lại tước vị “hôn thê” cho dân Ngài.
1Cr 12: 4-11
Thánh Phao-lô nhắc nhở các tín hữu Cô-rin-tô rằng muôn vàn ân sủng mà họ hưởng được đều phát xuất từ một Thần Khí duy nhất, Đấng tỏ mình ra nơi mỗi người mỗi cách vì lợi ích của cộng đoàn.
Ga 2: 1-12
Nhân tiệc cưới ở Ca-na, Chúa Giê-su thực hiện dấu lạ đầu tiên: Ngài hóa nước thành rượu, tiên trưng việc hóa rượu thành máu của Ngài, đây sẽ là dấu chỉ Giao Ước mới giữa Thiên Chúa và nhân loại.
BÀI ĐỌC I (Is 62: 1-5)
Bài thơ này ca ngợi sự phục hưng sắp đến của Giê-ru-sa-lem vào giờ phút khiến lòng người phải nghi ngờ. Sau khi trở về từ Ba-by-lon, những người lưu đày gặp lại thành thánh nghèo nàn, dân cư thưa thớt, dưới ách thống trị của ngoại bang, Đền Thờ hoang tàn đổ nát suốt năm mươi năm qua. Trước tiên họ bắt tay tái thiết đền thờ, nhưng công việc đã phải bị bỏ dỡ vì thiếu tài chánh và vì những chống đối khác nhau. Họ thất vọng vì công việc quá lớn lao và những khó khăn gặp phải.
Một ngôn sứ vô danh, người ta đặt cho ông biệt hiệu là I-sai-a đệ tam, môn đệ của I-sai-a đệ nhị, công bố rằng Giê-ru-sa-lem sắp được phục hưng và tìm lại vinh quang của mình.
1. Sự phục hưng huy hoàng sắp đến:
Phải chăng chính vị ngôn sứ nói hay lời hứa được đặt trên môi miệng của Đức Chúa? Thật khó phân định điều này; một sự luân phiên giữa giọng nói của vị ngôn sứ và giọng nói của Đức Chúa là một trong những nét đặc trưng của bài thơ này. Chung chung, vị ngôn sứ không bao giờ nói ở ngôi thứ nhất, trừ một lần, khi ông biện minh sứ vụ của mình. Qua những gì xảy ra trước đó, chúng ta biết rằng những người hồi hương luôn luôn phàn nàn về việc Thiên Chúa trì hoản phục hưng Thành Thánh và Đền Thờ của Ngài.
Thật kỳ lạ biết bao, vị ngôn sứ vặn lại, sự chậm trể không đến từ Thiên Chúa nhưng từ tội lỗi của các ngươi! Vì tấm lòng ưu ái của Thiên Chúa đối với dân Ngài vẫn thường hằng. Đó là ý nghĩa của câu thứ nhất mà người ta toan tính gán cho chính Đức Chúa: “Vì lòng mến Xi-on, tôi sẽ không nín lặng, vì lòng mến Giê-ru-sa-lem, tôi nghỉ yên sao đành, tới ngày đức công chính xuất hiện tựa hừng đông, ơn cứu độ của thành rực lên như ngọn đuốc”, nghĩa là Giê-ru-sa lem phải được tái thiết trong đức công chính của nó, trong ơn cứu độ của nó. Ở đây đức công chính và ơn cứu độ thì tương đương rất rõ nét.
Vị ngôn sứ ngỏ lời với Thành Thánh, ông loan báo rằng Thành Thánh sẽ được phục hưng trong huy hoàng rạng rỡ; những quốc gia và những vua chúa đã áp bức nó rồi sẽ thấy vinh quang của nó. Người ta thường nhận ra trong tác phẩm của ngôn sứ I-sai-a đệ tam, một ý tưởng đắc thắng. Dân Thiên Chúa sẽ hả dạ vì những nhục nhã họ đã phải chịu. Ơn cứu độ của Giê-ru-sa-lem sẽ “rực lên như ngọn đuốc”, “rồi muôn dân sẽ được chiêm ngưỡng đức công chính của ngươi, mọi đế vương sẽ được ngắm nhìn vinh quang ngươi tỏ rạng”.
2. Hôn ước giữa Đức Chúa và dân Ngài:
Phần cuối của đọan trích này lấy lại hình ảnh về hôn ước giữa Đức Chúa và dân Ngài, hình ảnh này đã trở thành kinh điển kể từ ngôn sứ Hô-sê, rồi đến ngôn sứ Giê-rê-mi-a, ngôn sứ Ê-dê-ki-en, ngôn sứ I-sai-a đệ nhị. Giao Ước được diễn tả bằng ngôn ngữ tình yêu: dân Chúa như người vợ tưởng rằng mình bị bỏ rơi gặp lại sự sủng ái của Đức Chúa như người chồng.
Nhưng để Giao Ước có thể được thiết lập lại, quá khứ tội lỗi phải bị xóa nhòa. Dấu hiệu đầu tiên là gán tên mới cho Giê-ru-sa-lem. Một tên mới tạo nên một căn tính mới. Chúng ta biết tầm quan trọng của tên trong truyền thống kinh thánh. Tên diễn tả bản chất sâu xa của một con người hay vận mệnh của người mang tên ấy. Giê-ru-sa-lem sẽ không còn được gọi “Đồ bị ruồng bỏ” nhưng “Ái khanh lòng Ta hỡi”. Xứ sở của nó sẽ không còn là “Phận bạc duyên đơn”, nhưng “Duyên thắm chỉ hồng”.
Còn hơn thế nữa, Giê-ru-sa-lem sẽ được Đấng tác thành mình lập hôn ước “như trai tài sánh duyên cùng thục nữ”, nghĩa là, mọi tội lỗi, bất trung, thờ ngẫu tượng của dân thành mà các ngôn sứ đã nhiều lần gọi “con điếm” vì đã chạy theo các thần minh khác, nay được phục hồi sự trinh khiết của mình: tình yêu của Thiên Chúa đã thanh tẩy Thành Thánh. Sau này sách Khải Huyền sẽ gợi lên hôn lễ của Con Chiên với thành thánh Giê-ru-sa-lem thiên quốc: “Nay đã tới ngày cử hành hôn lễ của Con Chiên, và Hiền Thê của Người đã trang điểm sẳn sàng, nàng đã được mặc áo vải gai sáng chói và tinh tuyền” (Kh 19: 8).
Ngon sứ I-sai-a đệ tam chắc chắn nhớ lại bản văn của vị tiền nhiệm của mình, I-sai-a đệ nhị, vị ngôn sứ đã mô tả cho những người lưu đày những rực rỡ của Thành Thánh Giê-ru-sa-lem tương lai và báo trước cho Thành Thánh: “Đừng sợ chi: ngươi sẽ không phải xấu hổ, chớ e thẹn: ngươi sẽ không phải nhục nhằn. Thật vậy, ngươi sẽ quên hết nỗi hổ thẹn tuổi thanh xuân và không còn nhớ bao nhục nhằn thời góa bụa. Quả thế, Đấng cùng ngươi sánh duyên cầm sắt chính là Đấng đã tác thành ngươi, tôn danh Người là Chúa các đạo binh; Đấng chuộc ngươi về, chính là Đức Thánh của Ít-ra-en, tước hiệu Người là Thiên Chúa toàn cõi đất” (Is 54: 4-5).
3. Niềm vui hôn ước và niềm vui thời Mê-si-a.
“Như cô dâu là niềm vui cho chú rể, ngươi cũng là niềm vui cho Thiên Chúa ngươi thờ”. Niềm vui của Giáo Ước được làm mới lại giữa Thiên Chúa và dân Ngài, tiên báo niềm vui thời Mê-si-a, niềm vui mà sự dồi dào của rược tiệc cưới Ca-na loan báo theo cách khác.
BÀI ĐỌC II (1Cr 12: 4-11)
Trong năm Chúa Nhật liên tiếp, Phụng Vụ đề nghị cho chúng ta đọc những đoạn trích thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô, từ chương 12 đến chương 15.
1. Bối cảnh:
Thánh Phao-lô đã thành lập Giáo Đoàn Cô-rin-tô và những năm 50-52. Thánh nhân đã lưu lại thành phố này khoảng mười tám tháng và đã để lại một cộng đoàn Ki tô hữu rất sinh động nhưng cũng gây nên nhiều nỗi bận lòng cho ngài.
Thánh Phao-lô đã viết ít nhất bốn bức thư cho các tín hữu Cô-rin-tô, thư thứ nhất và thư thứ ba đã thất lạc; bức thư mà chúng ta gọi thư thứ nhất thực tế là thư thứ hai. Thánh Phao-lô đã viết thư này từ Ê-phê-sô (có lẽ vào mùa xuân năm 55). Sau khi đã nhắc nhở trật tự trong cộng đoàn, tiếp đó, bàn đến nhiều vấn đề nhất định, thánh nhân bắt đầu tranh luận: toàn thể cộng đoàn Ki tô hữu đều phải ở dưới tác động của Chúa Thánh Thần, Đấng sẽ gìn giữ cộng đoàn trong sự hiệp nhất và sẽ giúp cho cộng đoàn biết phân biệt những hoạt động vì lợi ích chung của Cộng Đoàn.
2. Lương dân và người Ki tô hữu:
Các tín hữu Cô-rin-tô sống trong bối cảnh ngoại giáo khá đặc biệt. Thành phố là một đô thị lớn thuộc miền duyên hải và gồm nhiều dân tứ xứ, mở rộng cửa đón nhận thế giới bên ngoài. Chịu ảnh hưởng từ miền Cận Đông, các tôn giáo cổ truyền nhường chỗ cho những khát vọng huyền bí, trong khi những tôn giáo mầu nhiệm tràn lan với những nghi lễ khai tâm và thực tiển hướng đến niềm hưng phấn và xuất thần. Những thái độ này có thể rất gần với những đặc sủng mà các Ki tô hữu được hưởng. Cần phải nêu lên tất cả cái lập lờ này. Trong cộng đoàn Ki tô hữu những ân huệ nhận được có nguồn gốc siêu nhiên; nguồn mạch duy nhất của mọi ân huệ này là Thiên Chúa Ba Ngôi.
3. Dấu chỉ Ba Ngôi:
Lưu ý rằng thánh Phao-lô đặt những đặc sủng và những hoạt động Ki tô giáo dưới dấu hiệu của Thiên Chúa Ba Ngôi, khởi đi từ Chúa Thánh Thần:
- Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí.
- Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa (Đức Ki tô).
- Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người (Chúa Cha).
Đoạn thánh nhân liệt kê một loạt những ân huệ khác nhau, đều là hoa trái của Chúa Thánh Thần.
Giáo Hội tiên khởi chắc chắn đã hưởng được nhiều cách thức bày tỏ đặc biệt của Chúa Thánh Thần. Thánh Lu-ca đã nêu lên nhiều ví dụ trong sách Công Vụ Tông Đồ, đến nỗi sách này được gọi “Tin Mừng của Chúa Thánh Thần”.
Những ân huệ dồi dào và tự phát như thế bổ túc cho việc thiếu cơ cấu tổ chức. Nhưng thánh Phao-lô muốn tránh tình trạng hỗn loạn; vì thế thánh nhân nhấn mạnh sự duy nhất cơ bản của mọi ân huệ này: “Chính Thần Khí duy nhất ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tùy theo ý của Người”.
admin
10-01-2010, 05:30 PM
TIN MỪNG (Ga 2: 1-12)
Theo Tin Mừng Gioan, Đức Giê-su khai mạc sứ vụ của Ngài bởi dấu lạ tiệc cưới Ca-na: “Đức Giê-su đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Ca-na miền Ga-li-lê”. Vậy từ “dấu lạ” muốn nói lên điều gì? Như thường hằng trong Tin Mừng Gioan, vấn đề “dấu lạ” có rất nhiều nghĩa, nhưng được tập trung vào một nghĩa cơ bản: thời đại Mê-si-a đến ở nơi sự hiện diện của Đức Giê-su.
1. Ý nghĩa phong phú của dấu lạ Ca-na:
Bài tường thuật về dấu lạ đầu tiên này trình bày một loạt những đối chiếu với giai đoạn cuối cùng của sứ vụ trần thế của Đức Giê-su.
- Đây là “ngày thứ ba” Đức Giê-su “bày tỏ vinh quang của Người và các môn đệ đã tin vào Người”. Biến cố Phục Sinh ẩn hiện ở nơi dấu lạ đầu tiên này.
- Dấu lạ đầu tiên Đức Giê-su thực hiện cốt là biến nước thành rượu; dấu lạ sau cùng của Ngài cốt là biến rượu thành máu của Ngài.
- Dấu lạ đầu tiên này được thực hiện để cử hành tiệc cưới nhân loại; dấu lạ sau cùng để cử hành Giao Ước Mới, tiệc cưới của Thiên Chúa với nhân loại.
- Ở tiệc cưới Ca-na, Thân Mẫu Đức Giê-su được thánh ký kể ra lần đầu tiên; Mẹ Ngài sẽ chỉ được kể ra lần thứ hai và lần sau cùng dưới chân thập giá, ở đó Đức Giê-su sẽ thân thưa với Mẹ Ngài cũng bằng cách xưng hô như ở tại tiệc cưới Ca-na: “Thưa bà”. Có những bí ẩn hài hòa giữ hai biến cố này.
- Ở tiệc cưới Ca-na, Chúa Giê-su lần đầu tiên nói về “giờ của Ngài”. Giờ này sẽ là giờ Tử Nạn và Vinh Quang của Ngài. Khi thánh Gioan viết: “Đức Giê-su biết giờ của Ngài đã đến” (Ga 13: 1), thánh ký sẽ nói về lễ Vượt Qua gần đến và về bữa ăn sau cùng của Đức Giê-su với các môn đệ Ngài. Bữa ăn đầu tiên, tiệc cưới Ca-na, cũng được định vị vài ngày trước lễ Vượt Qua.
Những đối chiếu khác nhau này giúp chúng ta hiểu sâu xa những ý nghĩa phong phú của dấu lạ tại tiệc cưới Ca-na.
2. “Ngày thứ ba”:
Thánh Gioan xây dựng bài tường thuật của mình về những khởi đầu cuộc đời công khai của Đức Giê-su theo cùng một cách với bài tường thuật về giai đoạn sau cùng của Ngài, với thời gian đặc thù và biểu tượng: các biến cố được cô động thành một tuần lễ, ngầm tham chiếu đến bảy ngày của công trình sáng tạo. Chính “vào ngày thứ bảy” của tuần lễ khai mạc mà tiệc cưới Ca-na, dấu chỉ của ơn cứu độ thời Mê-si-a, được định vị: một cuộc sáng tạo mới. Nhưng đây cũng là “ngày thứ ba” khởi đi từ việc Đức Giê-su ra khỏi miền Giu-đê. Việc Đức Giê-su tham dự tiệc cưới Ca-na được đặt vào ngày thứ ba sau lời hứa của Ngài cho ông Na-tha-na-en, một trong những môn đệ đầu tiên của Ngài: “Vì tôi nói với anh là tôi đã thấy anh ở dưới cây vả, nên anh tin! Anh sẽ còn được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa” (Ga 1: 50).
Ca-na là một thị trấn nhỏ thuộc miền Ga-li-lê không xa làng Na-da-rét. Đức Ma-ri-a đến Ca-na, chắc chắn từ Na-da-rét; Mẹ đến một mình; chắc hẳn thánh Giu-se đã qua đời. Còn Đức Giê-su đến từ miền Giu-đê với các môn đệ Ngài; Ngài gặp lại Mẹ Ngài ở tiệc cưới này. Người ta đã nghĩ rằng chú rể và cô dâu thuộc gia tộc của Đức Ma-ri-a, vì Mẹ hành xử gần như gia chủ khi căn dặn gia nhân: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”. Dù thế nào, gia đình nầy thuộc tầng lớp hạ lưu, vì tại những gia đình giàu có rượu không thể thiếu. Những người được hưởng dấu lạ đầu tiên của Chúa Giê-su thuộc gia đình nghèo. Điều này chẳng có gì phải ngạc nhiên cả.
3. Dấu chỉ của rượu:
“Ở đó có đặt sáu chum đá dùng vào việc thanh tẩy theo thói tục người Do thái, mỗi chum chứa được khoảng tám mươi hoặc một trăm hai mươi lít nước”. Những chum đựng nước này được dùng cho các khách rửa tay trước khi dự tiệc, đây là cử chỉ thanh tẩy nghi thức đòi buộc. Một trong số chum đá này chắc chắn được dùng để thanh tẩy các vật dụng được dùng trong bữa ăn như thánh Mác-cô ghi nhận: “Thật vậy, người Pha-ri-sêu cũng như mọi người Do thái đều nắm giữ truyền thống của các tiền nhân: họ không ăn gì, khi chưa rửa tay cẩn thận; thức gì mua ngoài chợ về, cũng phải rảy nước đã rồi mới ăn; họ còn giữ nhiều tập tục khác nữa như rửa chén bát, bình lọ và các đồ đồng” (Mc 7: 3-4). Sau khi dùng, những chum này cạn nước. Đức Giê-su bảo đổ đầy nước vào các chum cho tới miệng. Như vậy, rượu mà Ngài sẽ ban cho thật dồi dào và thậm chí dư dật, như đối với phép lạ bánh hóa nhiều.
Ấy vậy, rượu dư dật đến như thế là hình tượng mà các ngôn sứ thường sử dụng để loan báo buổi bình mình của kỷ nguyên Mê-si-a (Am 9: 13; I s 49: 10; 55: 1-3; Ge 4: 18; Tv 78: 24-27; 132: 15). Phép lạ Ca-na là một dấu chỉ thời Mê-si-a.
Mặt khác, rượu là dấu chỉ của niềm vui; nói một cách chính xác, rượu biểu tượng niềm vui thời Mê-si-a, tiên trưng niềm vui vĩnh cữu, thường được biểu thị bởi bàn tiệc trong Nước Thiên Chúa, “bàn tiệc cánh chung”. Đức Giê-su ám chỉ đến điều này vào bữa Tiệc Ly: “Từ nay, Thầy sẽ không còn uống thứ sản phẩm này của cây nho, cho đến ngày Thầy cùng anh em uống thứ rượu mới trong Nước của Cha Thầy” (Mt 26: 29; Mc 14: 25 và Lc 22: 18).
Nước mà Đức Giê-su biến thành rượu không phải bất kỳ nước nào: chính là nước được dùng vào việc thanh tẩy theo thói tục của người Do thái. Đối với tác giả Tin Mừng Gioan, việc nước thanh tẩy của Cựu Ước biến thành rượu Mê-si-a báo hiệu “Cái cũ đã qua đi, và cái mới đã có ở đây rồi” (2Cr 5: 17). Thời đại Mê-si-a đã đến. Từ nay, nước thanh tẩy không còn có ích nữa, bị hủy bỏ và được thay thế bởi rượu, dấu chỉ của ơn cứu độ. Trong bối cảnh phụng vụ của Giáo Hội tiên khởi, rượu tiệc cưới Ca-na rất dể gợi lên trong tâm trí của các tín hữu Rượu Thánh Thể, đặc biệt khi thánh ký nói với chúng ta việc biến nước thành rượu xảy ra trước lễ Vượt Qua (2: 13), cùng một thời điểm mà ba năm sau này Đức Giê-su sẽ biến rượu thành máu của Ngài cho muôn người được tha tội (Mt 26: 28).
4. Dấu hiệu của Giao Ước:
Sự hiện diện của Đức Giê-su ở tiệc cưới Ca-na là một cử chỉ tình bạn. Vì tình bạn, Đức Giê-su thực hiện dấu lạ này để tránh cho gia đình này khỏi bẽ mặt; nhưng đồng thời Ngài đem đến một sự bảo lãnh – một sự bảo lãnh thần linh – cho tính chất linh thánh của hôn nhân. Ngoài ra, cử chỉ của Ngài mặc lấy một chiều kích thần học: chính bằng ngôn ngữ tình yêu hôn nhân mà các ngôn sứ đã dùng để diễn tả Giao Ước của Thiên Chúa với dân Ngài như một hôn ước.
Trong bài tường thuật, người quản tiệc nói với tân lang: “Ai ai cũng thiết rượu ngon trước, và khi khách đã ngà ngà mới đãi rượu xoàng hơn. Còn anh, anh lại giữ rượu ngon mãi cho đến bây giờ”. Nhưng người đãi rượu ngon không phải là tân lang mà là Đức Giê-su. Thật vậy, trong Tin Mừng Gioan, tân lang thường tượng trưng cho Đức Giê-su (Ga 3: 29). Sau này, khi ban cho các môn đệ rượu thánh thể, Ngài sẽ công bố rượu này là dấu chỉ Giao Ước mới. Thánh Phao-lô cũng sẽ sử dụng ngôn ngữ tình yêu vợ chồng để nói về sự hiệp nhất của Đức Giê-su với Giáo Hội của Ngài; và sách Khải Huyền sẽ cử hành tiệc cưới muôn đời của Con Chiên với dân Thiên Chúa được biểu thị bởi Thành Thánh Giê-ru-sa-lem Thiên Quốc.
Ở tiệc cưới Ca-na, Đức Giê-su khai mạc mầu nhiệm tình yêu và hiệp nhất của Thiên Chúa với nhân loại.
5. “Thưa Bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi?”
Tác giả Tin Mừng Gioan không bao giờ gọi đích danh “Ma-ri-a”, nhưng luôn luôn “Thân Mẫu Đức Giê-su”, bốn lần trong bài tường thuật này (2: 1, 3, 5, 12), bốn lần trong bài tường thuật về cuộc Thương Khó (19: 25-26), để tỏ lòng tôn kính đối với Đức Mẹ, Mẹ đã sống những năm cuối đời của Mẹ tại nhà thánh nhân và đã qua đời trong tình con thảo của thánh nhân. Chắc chắn đây cũng là tước hiệu tôn kính mà người Ki tô hữu tiên khởi dành cho Thân Mẫu của Chúa mình.
Lời thỉnh cầu kín đáo của Đức Ma-ri-a: “Họ hết rượu rồi” cho Đức Giê-su, Con Mẹ, diễn tả độ bén nhạy của Mẹ trước nhu cầu của tha nhân. Nhưng câu trả lời của người con cho mẹ mình: “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi?” thật đáng ngạc nhiên, như thử muốn nói rằng: “Đây không phải là công việc của mẹ. Xin đừng can dự vào”.
Trước tiên, cách xưng hô “Thưa bà” không nói lên một sự bất kính, nhưng diễn tả một khoảng cách. Chúa Giê-su xưng hô như thế với một người phụ nữ Sa-ma-ri (Ga 4: 21), người đàn bà Ca-na-an (Mt 15: 28), người phụ nữ còng lưng (Lc 13: 12), bà Ma-ri-a Mác-đa-la (Ga 20: 15). Cái khoảng cách này được tăng cường bởi những lời tiếp theo sau: “Chuyện đó can gì đến bà và tôi?”. Đây là cách nói mang đậm nét Do thái khá thông thường trong Cựu Ước (x. Tl 11: 12; 2Sm 16: 10; 1V 17: 18). Tại các sách Tin Mừng nhất lãm cách nói này được đặt trên môi miệng của hai người bị quỷ ám: “Chuyện chúng tôi can gì đến ông?” (Mt 8: 29).
Cách xưng hô của Đức Giê-su với Mẹ Ngài ở tiệc cưới Ca-na lại xuất hiện ở hoạt cảnh Thập Giá, ở đó Ngài thân thưa với Mẹ Ngài: “Thưa Bà, đây là con của Bà” (Ga 19: 26). Trong hoạt cảnh sau cùng này, vai trò của tình mẫu tử không bị bác bỏ, vì Đức Giê-su ban cho Mẹ người môn đệ yêu mến, mẫu gương của người Ki tô hữu hoàn thiện, làm con của Mẹ. Như vậy, với cách xưng hô lạ lùng ở tiệc cưới Ca-na, Đức Giê-su đòi hỏi Mẹ của Ngài mở rộng tình mẫu tử của Mẹ, biến đổi tình mẫu tử riêng tư giữa mẹ và con thành tình mẫu tử của một Người Mẹ ân cần săn sóc những ai theo Ngài, tức Giáo Hội của Ngài, Thân Thể mầu nhiệm của Ngài.
6. “Giờ tôi chưa đến”:
Trong Tin Mừng Gioan, “giờ của Chúa Giê-su” là giờ Ngài được giương cao trên thập giá, giờ Ngài được tôn vinh (Ga 3: 14-15; 8: 28), giờ mà tình yêu Thiên Chúa được biểu lộ tận mức ở nơi cái chết của Con Một Thiên Chúa. Rõ ràng, ở tiệc cưới Ca-na, giờ đó chưa đến.
Nếu chúng ta đọc lại tình tiết về người phụ nữ Ca-na-an, người ta sẽ gặp lại cũng một thái độ như thế của Đức Giê-su. Trước hết, Ngài không đáp một lời, đoạn từ chối, để thử thách niềm tin của người phụ nữ này. Người phụ nữ không chùn bước. Lúc đó, Chúa Giê-su thánh phục niềm tin kiên vững của bà và cho bà được toại nguyện: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được như vậy” (Mt 15: 28).
Đức Ma-ri-a trải qua một thử thách tương tự. Trước thái độ ngập ngừng của Con Mẹ, Mẹ trả lời bởi một hành vi đức tin vào Ngài: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”. Đức Mẹ đã tin vào Con Mẹ trước khi phép lạ xảy ra, trong khi các môn đệ Ngài tin vào Ngài sau khi phép lạ xảy ra. Lúc đó, Chúa Giê-su nghiêng mình trước đức tin đáng thán phục của Mẹ Ngài.
Trong bối cảnh: Đức Giê-su đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Ca-na miền Ga-li-lê để bày tỏ vinh quang của Ngài và để các môn đệ tin vào Ngài, thì lời căn dặn của Mẹ: “Người bảo gì các anh cứ làm theo” thật có ý nghĩa biết bao trong việc huyến luyện người môn đệ lý tưởng. Dù thế nào, chúng ta ghi nhận rằng thành quả của dấu lạ đầu tiên được thực hiện nhờ sự can thiệp của Đức Ma-ri-a và dẫn đến niềm tin của các môn đệ. Vì thế, truyền thống Ki tô giáo đã nhấn mạnh quyền năng cầu bầu của Đức Ma-ri-a, sự hiện diện ân cần của Mẹ, nỗi bận lòng của tình mẫu tử đối với tha nhân. Trang Tin Mừng này không chỉ mang chiều kích Ki tô học, nhưng còn mang chiều kích Thánh Mẫu học.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
17-01-2010, 04:56 PM
CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN
Chúa Nhật III thường niên năm C này là Chúa Nhật Lời Chúa tuyệt vời. Bài đọc I tường thuật cho chúng ta lần đầu tiên Lời Chúa được long trọng công bố cho toàn dân; Tin Mừng tường thuật cho chúng ta rằng trong một buổi phụng vụ Lời Chúa vào ngày sa-bát ở hội đường Na-da-rét, Đức Giê-su thời sự hóa Lời Chúa vào con người và sứ mạng của Ngài.
Nkm 8: 2-4a, 5-6, 8-10
Bản văn Cựu Ước, được trích từ sách Nơ-khe-mi-a, kể lại lần đầu tiên Sách Luật(Ngũ Thư) được long trọng công bố trước công chúng, khuôn mẫu phụng vụ Lời Chúa vào ngày sa-bát trong các hội đường sau này.
Lc 1: 1-4, 14-21
Tin Mừng Lu-ca tường thuật Đức Giê-su tham dự một buổi phụng vụ Lời Chúa trong hội đường. Chính Ngài đã đọc bản văn I-sai-a và công bố rằng: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh mà quý vị đã nghe”.
1Cr 12: 12-30
Đoạn trích thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi tín hữu Cô-rin-tô này chứa đựng Thần Học về Giáo Hội, Nhiệm Thể của Đức Ki tô: “Như thế, không có chia rẽ trong thân thể, trái lại các bộ phận đều lo lắng cho nhau. Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau. Nếu bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung”.
BÀI ĐỌC I (Nkm 8: 2-4a, 5-6, 8-10)
Sách Nơ-khe-mi-a có cùng một tác giả với sách Ét-ra và với hai sách Sử Biên, được soạn thảo vào giữa năm 360 và 300 trước Công Nguyên. Tự nguồn gốc, sách Nơ-khe-mi-sa và sách Ét-ra được hình thành nên một quyển sách; quả thật, bản Kinh Thánh Híp-ri cũng như bản Kinh Thánh Hy lạp (bản Bảy Mươi) chỉ nhận biết một quyển sách duy nhất. Việc phân chia thành hai cuốn sách được ghi nhận vào những thế kỷ đầu tiên Ki tô giáo.
Ở chương 8 này, sách Nơ-khe-mi-a dành một chỗ đặc biệt cho tư tế Ét-ra. Bản văn tường thuật một biến cố có tầm quan trọng lịch sử lớn lao: đây là lần đầu tiên Sách Luật, cũng được gọi Ngũ Thư, được long trọng công bố trước toàn dân.
1. Bối cảnh lịch sử:
Thật khó xác định niên biểu chính xác của biến cố này. Dựa trên chính tác phẩm, biến cố có lẽ đã xảy ra vào năm thứ bảy dưới triều đại Ác-tắc-sát-ta, vua Ba Tư, tức vào năm 458 trước Công Nguyên. Nhưng trong toàn bộ sách, niên biểu của những biến cố thì khá phức tạp; dù thế nào, bối cảnh lịch sử thì khá rõ. Thành Giê-ru-sa-lem vẫn còn in hằn nhiều vết tích của cuộc xâm lăng đế quốc Ba-by-lon vào thế kỷ trước đó; đất nước đã mất nền độc lập gần một trăm năm mươi năm rồi. Thật ra, cuộc cai trị của đế quốc Ba Tư thì tự do và thậm chí khoan dung, khác xa với sự thống trị của đế quốc Ba-by-lon. Những người lưu đày đã được hồi hương trở về, Đền Thờ đã được tái thiết, mặc dầu nhỏ hơn và đạm bạc hơn đền thờ Sa-lô-mon trước đó. Nhưng những bức tường thành với nhiều vết loang lỗ phơi bày một cảnh tượng tang thương, dân cư Giê-ru-sa-lem trở nên thưa thớt và nhiều đoàn người ngoại quốc đến định cư; những cuộc hôn nhân hỗn hợp càng lúc càng nhiều, những thanh niên thiếu nữ Ít-ra-en được những người mẹ ngoại giáo nuôi nấng dạy dỗ. Đức tin của dân Thiên Chúa gặp nguy hiểm. Giê-ru-sa-lem đã mất đi căn tính của mình.
2. Hai nhà canh tân:
Hai nhân vật Do thái, ông Ét-ra, tư tế và kinh sư, và ông Nơ-khe-mi-a, giáo dân, đều là quan chức ở triều đình Ba Tư, dưới triều đại vua Ác-tắc-sát-sa đệ nhất; cả hai ông đều ngậm ngùi trước hoàn cảnh tang thương này, vì thế xin được phái đến Palestine để chăm lo dân chúng của họ.
Tư tế Ét-ra có ý định phục hồi niềm tin cho Thành Thánh hoang tàn đổ nát và hoàn lại căn tính của Thành, bằng cách đặt dân thành vào việc lắng nghe Lời Chúa. Ông tổ chức một nghi lễ long trọng ở bên ngoài trung tâm Thành Thánh, nghĩa là ở nơi không thánh thiêng để mọi người đều có thể tề tựu. Ông khởi sự nghi lễ vào ngày mồng một tháng bảy, suốt bảy ngày liên tiếp từ sáng đến trưa.
Trước cuộc lưu đày, ngày mồng một tháng bảy đa là ngày lễ Tân Niên. Sách Dân Số cũng đã nêu lên ngày mồng một tháng bảy này: “Ngày mồng một tháng bảy, anh em sẽ phải tập hợp để thờ phượng Đức Chúa; anh em không được làm một việc nặng nhọc nào: đối với anh em, đó sẽ là ngày Hò Reo” (Ds 29: 1). Vì thế, ông Ét-ra có chủ ý chọn ngày này để quy tụ toàn dân.
3. Phụng vụ Lời Chúa:
Tư tế Ét-ra đứng trên bục gỗ cao và đọc Sách Thánh, còn các thầy Lê-vi giảng giải. Tất cả mang đậm nét của một lễ nghi phụng vụ: dân chúng đứng trong thái độ lắng nghe và cầu nguyện; vị tư tế chúc tụng Thiên Chúa, cộng đồng đáp lại, hai tay giơ lên cao hay phủ phục để bày tỏ tâm tình thờ phượng: ở đây có đủ mọi yếu tố sẽ hình thành nên nền tảng phụng vụ hội đường sau này. Nghi lễ được tường thuật ở đây đánh dấu ngày khai sinh Do Thái Giáo.
Ông Ét-ra đã khởi xướng phụng vụ Lời Chúa này do lòng mộ đạo sâu xa, cũng như niềm tôn kính lớn lao của ông đối với các bản văn kinh thánh. Ông Ét-ra là “tư tế kinh sư, chuyên về các lời diễn tả mệnh lệnh và các thánh chỉ của Đức Chúa liên quan đến Ít-ra-en” (E r 7: 11), vì thế, chúng ta có thể nghĩ rằng ông đã đóng một vai trò quan trọng vào công trình biên soạn chung cuộc của bộ Ngũ Thư. Ngoài ra, các vua Ba Tư chủ trương rằng mỗi một miền đế quốc rộng lớn của họ đều có luật riêng của mình. Vì thế, ở Ít-ra-en, luật chỉ có thể là Luật Mô-sê.
Nếu phụng vụ Lời Chúa được mô tả trong bản văn này là nguồn gốc của phụng vụ hội đường, thì đó cũng là nguồn gốc của phần thứ nhất trong việc cử hành Thánh Thể của chúng ta, được gọi “Bàn Tiệc Lời Chúa”, bởi vì việc cử hành Thánh Thể được gợi hứng từ phụng vụ hội đường. Chắc chắn vào thời lưu đày, những người Do thái, sống xa quê hương, xa Đền Thờ, đã cùng nhau tụ họp lại để cầu nguyện và lắng nghe Lời Chúa, một loại phụng vụ hội đường trước khi có văn bản. Chúng ta ghi nhận rằng tư tế Ét-ra nhấn mạnh tính thánh thiêng của “ngày của Chúa”, nhu cầu biến ngày của Chúa thành ngày của niềm vui và ngày của đức ái, vả lại phù hợp với truyền thống theo đó vào những ngày lễ, người ta không được quên những người nghèo khổ túng thiếu.
BÀI ĐỌC II (1Cr 12, 12-30)
Đoạn văn này, được trích từ thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô, tiếp theo đoạn văn của Chúa Nhật trước.
1. Sự hiệp nhất trong Giáo Hội:
Thánh Phao-lô đã chứng mình cho các tín hữu chia rẽ rằng cộng đoàn của họ hình thành nên một sự hiệp nhất sâu xa vì cộng đoàn sống dưới tác động của một Chúa Thánh Thần duy nhất. Thánh nhân tiếp tục chứng minh sự hiệp nhất này bằng hình ảnh về sự duy nhất của một thân thể với các bộ phận của nó. Quả thật, chính trong thư gởi các tín hữu Cô-rin-tô này vị sứ đồ phác họa những dữ kiện căn bản về thần học Giáo Hội, Nhiệm Thể của Đức Ki tô, mà sau này thánh nhân sẽ khai triển, nhất là trong thư gởi cho các tín hữu Ê-phê-sô.
2. Giáo Hội, Nhiệm Thể của Đức Ki tô:
Trong một đoạn văn trước, thánh nhân đã gợi lên rằng các tín hữu được tháp nhập vào Đức Ki tô nhờ bí tích Thánh Thể: “Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào máu Đức Ki tô ư? Và khi ta bẻ Bánh Thánh , đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao? Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (10: 16-17).
Trong đoạn văn được trích dẫn hôm nay, thánh nhân lại quy chiếu về bí tích Rửa Tội: “Thật thế, tất cả chúng ta, dầu là Do thái hay Hy lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể”. Và thánh nhân nhắc nhớ mối liên hệ giữa Phép Rửa và Chúa Thánh Thần: “Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất”. Mối liên hệ giữa Phép Rửa và Chúa Thánh Thần thuộc truyền thống Kinh Thánh, ví dụ ở Ga 7: 38-39: “Hôm ấy là ngày bế mạc tuần lễ Lều, và là ngày long trọng nhất. Đức Giê-su đứng trong Đền Thờ và lớn tiếng nói rằng: ‘Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào tôi, hãy đến mà uống! Như Kinh Thánh đã nói: Từ lòng Người, sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống’. Đức Giê-su muốn nói về Thần Khí mà những kẻ tin vào Người sẽ lãnh nhận”.
3. Tính đa dạng các sứ vụ trong Giáo Hội:
Sau khi đã khai triển chi li về mối liên kết mật thiết của mỗi bộ phận trong cùng một thân thể, thánh Phao-lô áp dụng vào tính đa dạng các sứ vụ trong Giáo Hội. Ba sứ vụ được nêu tên đầu tiên theo trật tự phẩm trật: các Tông Đồ, các ngôn sứ, thầy dạy, tương ứng với những sứ vụ cao trọng hơn những sứ vụ khác mà sau này tùy dịp thánh nhân kể ra. Danh xưng “Tông Đồ” phải được hiểu theo nghĩa rộng: không chỉ Nhóm Mười Hai hay thánh Phao-lô, những người đã lãnh nhận sứ vụ của mình từ chính Đức Ki tô, nhưng còn những ai mà họ đã ủy quyền. Danh xưng “các ngôn sứ” bao gồm những nhà rao giảng, những nhà truyền giáo, những người mà chúng ta có thể nói rằng họ đã lãnh nhận sứ vụ từ Chúa Thánh Thần. Thánh Phao-lô khai triển vai trò của họ cho đến chương tiếp theo sau. “Người nói tiên tri thì phải nói với người ta để xây dựng, để khích lệ và an ủi” (14: 3). Danh xưng “thầy dạy” là những người Ki tô hữu có học thức đảm nhận trách nhiệm đào tạo các tín hữu.
Những sứ vụ hay những đặc sủng phải được thi hành mà không tìm cách xé lẽ hay gây nên sự đố kỵ. Nếu mỗi người chu toàn ơn đặc sủng mà mình lãnh nhận thì sự hiệp nhất của cộng đồng sẽ ngự trị; vì các bộ phận không đơn giản là cái thêm vào Thân Thể của Đức Ki tô: “Như thế, không có sự chia rẽ trong thân thể, trái lại các bộ phận đều lo lắng cho nhau. Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau. Nếu một bộ phần nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung”. Sau này thánh Phao-lô sẽ nói rằng Đức Giê-su là đầu, thủ lãnh của Giáo Hội: Ngài là nguyên lý hợp nhất của toàn thân thể mầu nhiệm của Ngài.
Thần học của thánh Phao-lô về mối liên hệ mầu nhiệm hiệp nhất người Ki tô hữu với Đức Ki tô có nền tảng của nó ở nơi giá trị của bí tích Rửa Tội và bí tích Thánh Thể, nhưng chắc chắn trực giác đầu tiên đến từ biến cố trên đường Đa-mát, từ một tiếng nói gây choáng váng: “Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta?” (Cv 9: 4).
TIN MỪNG (Lc 1: 1-4; 4: 14-21)
Bản văn này được kết hợp bởi hai phân đoạn rất riêng biệt, cách xa nhau trong Tin Mừng Lu-ca. Trước hết là Lời Tựa sách Tin Mừng này (1: 1-4), tiếp đó là khởi đầu sứ vụ của Đức Giê-su ở miền Ga-li-lê (4: 14-21), trong khi bỏ qua những chương về thời thơ ấu của Đức Giê-su và thánh Gioan Tẩy Giả, vân vân, mà chúng ta đã đọc những đoạn trích vào Mùa Vọng và Lễ Giáng Sinh.
1. Lời Tựa:
Lời Tựa này chuẩn bị một cách tuyệt vời lời công bố của Đức Giê-su ở hội đường Na-da-rét: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa mới nghe”. Nói một cách chính xác, lời công bố này là khởi đầu Tin Mừng.
Như các văn nhân thời Hy lạp, thánh Lu-ca dẫn nhập tác phẩm của mình với một lời tựa, ở đó thánh ký giải thích lý do công việc của mình: thông tri một cách chính xác cho ông Thê-ô-phi-lô nào đó, chắc chắn một nhân vật quan trọng, chính cũng cho nhân vật này tác giả sẽ đề tặng sách Công Vụ Tông Đồ; tuy nhiên, chúng ta không biết một chút gì về nhân vật này.
Thánh Lu-ca thổ lộ nổi bận lòng của một sử gia: “Tôi cũng vậy, sau khi cẩn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự”. Quả thật, thánh ký không là một Tông Đồ, cũng không là một môn đệ trực tiếp của Đức Giê-su, cũng không là một người đã thấy tận mắt Đức Giê-su, đã nghe tận tai những lời Ngài nói; nói cho cùng, thánh ký đã không sống những biến cố mà ông tường thuật; ông làm việc trên những chứng liệu. Ông chỉ ra rằng ông đã có những vị tiền nhiệm, trong số đó phải kể đến thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu (Tin Mừng Lu-ca thường theo rất sát Tin Mừng Mác-cô). Ngoài ra, dựa trên những truyền thống “được truyền đạt bởi những chứng nhân mắt thấy tai nghe”, thánh ký đã tự mình tra cứu; chắc chắn ông đã tiếp xúc với thánh Gioan, vì có những điểm tương đồng giữa Tin Mừng thứ ba và Tin Mừng thứ tư.
2. Đức Giê-su viếng thăm Na-da-rét:
Từ Lời Tựa này chúng ta đi thẳng sang khởi đầu sứ vụ của Đức Giê-su ở miền Ga-li-lê và cuộc viếng thăm Na-da-rét của Ngài.
Tình tiết của cuộc viếng thăm Na-da-rét cũng được thánh Mác-cô (Mc 6: 1-6) và thánh Mát-thêu (Mt 13: 53-58) tường thuật. Thánh Lu-ca tường thuật dài hơn; vì thế, câu chuyện này được phân chia thành hai phần và được công bố vào hai Chúa Nhật liên tiếp. Việc phân chia thành hai phần này càng được biện minh hơn nữa vì xem ra có hai đoạn văn về việc Đức Giê-su viếng thăm Na-da-rét. Vào cuộc viếng thăm thứ nhất, Đức Giê-su được mọi người hân hoan chào đón và ngưỡng mộ; những người đồng hương của Ngài hảnh diện về danh tiếng của một người trong họ và thán phục về cách giải thích Kinh Thánh của Ngài. Trái lại cuộc viếng thăm thứ hai là một cuộc thất bại và gây nên làn sóng giận dữ của dân làng Na-da-rét (chính cuộc viếng thăm lần thứ hai này mà hai Tin Mừng nhất lãm khác tường thuật).
Nhưng thánh Lu-ca đã ráp nối những lời chứng liên quan đến hai cuộc viếng thăm thành một câu chuyện duy nhất, như vậy tăng cường hơn nữa bài tường thuật của mình: thánh ký làm cho câu chuyện của mình thành biểu tượng hai thái độ của dân Ít-ra-en: trước hết, hoan hĩ tiếp đón Đức Giê-su, đoạn loại bỏ và tìm cách giết Ngài. Ngoài ra, Đức Giê-su loan báo rằng sứ điệp của Ngài cũng được dành cho lương dân (phần thứ hai của câu chuyện này được trích dẫn vào Chúa Nhật tới). Như vậy câu chuyện về sự khởi đầu sứ vụ của Đức Giê-su ở miền Ga-li-lê mang tính ngôn sứ: những biến cố tương lai được ghi khắc ở nơi những tình tiết khởi đầu này.
3. Phụng vụ hội đường vào ngày sa-bát:
“Người giảng dạy trong các hội đường và được mọi người tôn vinh”. Chính ở nơi lời này mà Thánh Lu-ca tóm tắt giai đoạn vinh quang của sứ vụ Đức Giê-su ở miền Ga-li-lê, vì danh tiếng của Ngài đồn ra khắp vùng. Vào một ngày sa-bát, Ngài đến hội đường Na-da-rét, nơi Ngài đã từng theo thánh Giu-se và bà Ma-ri-a đến tham dự phụng vụ ngày sa-bát.
Đối với người Do thái, ngày sa-bát là ngày thánh để kính Đức Chúa, ngày nghỉ ngơi và kinh nguyện, như Chúa đã truyền (Xh 20: 8-11; Đnl 5: 12-15). Vào ngày đó dân chúng cùng nhau tụ họp lại để lắng nghe Lời Chúa. Vào lúc bắt đầu phụng vụ sa-bát này, họ xướng kinh “Shêma”, và kinh “mười tám lời chúc phúc”; kinh “Shêma” được xem như kinh tin kính của người Do thái, kinh này lập lại Đnl 6: 4-5 với lời mở đầu: “Nghe đây (Shêma) hỡi Ít-ra-en”, và được phụ thêm với Đnl 11: 13-21. Sau đó, người ta lắng nghe Lời Chúa được trích từ Sách Luật (Ngũ Thư) hay từ các sách Ngôn Sứ. Mọi tín hữu đều có quyền đọc Kinh Thánh, hoặc tự nguyện hay được viên trưởng hội đường chỉ định. Vị này thường mời một người trong số những người hiện diện, thông thạo Kinh Thánh lên công bố và giảng giải Lời Chúa cho cộng đoàn. Vào dịp này, chắc chắn Đức Giê-su được mời. Đức Giê-su thường lợi dụng dịp này để rao giảng đạo lý của Ngài (x. Lc 4: 16tt.), và sau này các Tông Đồ của Ngài cũng sẽ noi gương Ngài như vậy (x. Cv 13: 5, 14, 42, 44; 14: 1; vân vân). Phụng vụ ngày sa-bát kết thúc với công thức chúc lành tư tế, được vị chủ trì hay một tư tế nếu có mặt ở đó, xướng, và dân chúng đáp “A-men” (x. Ds 6: 22tt.).
4. “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”:
Đức Giê-su gặp thấy đoạn văn Is 61: 1-2, ở đó ngôn sứ I-sai-a biện minh sứ mạng của mình: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa”. Lu-ca là vị thánh ký duy nhất trích dẫn đoạn văn I-sai-a này. Đây cốt là một trong những đoạn văn của ngôn sứ I-sai-a đệ tam được gởi đến cho những người hồi hương trở về từ cảnh lưu đày ở Ba-by-lon; họ bị bầm dập, nghèo khổ, thất vọng trước những khó khăn; họ thuộc vào số những người nghèo của Đức Chúa.
Sau khi đã đọc xong, Đức Giê-su không giải thích bản văn nhưng công bố: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”. Đức Giê-su không ngần ngại hiện tại hóa sấm ngôn của Is 61: 1-2 vào con người và sứ mạng của mình: chính Ngài là Đấng mà bản văn I-sai-a loan báo. “Theo thánh Lu-ca, các câu trên là tuyên ngôn cứu thế đầu tiên của Đức Ki tô, nó sẽ được nối tiếp bằng những việc làm và lời nói mà Tin Mừng cho chúng ta biết. Bằng những việc làm và lời nói này, Đức Ki tô làm cho Chúa Cha hiện diện giữa loài người” (Gioan Phao-lô II, Thiên Chúa giàu lòng xót thương, Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin, 2008, tr. 13-14).
5. Năm Hồng Ân của Chúa:
“Một năm hồng ân của Chúa” ám chỉ đến Năm Toàn Xá được cử hành cứ năm mươi năm một lần (x. Lv 25: 8-17). Năm Toàn Xá là hình thức mở rộng của Năm Sa-bát được cử hành cứ bảy năm một lần (Đnl 15: 1-11). Năm này tiêu biểu lý tưởng công bình xã hội mà người ta nhắm đến một cách thiết thực và cụ thể. Đây là Tin Vui, Tin Mừng, Tin Giải Thoát cho những người nghèo, những kẻ cô thân cố thế bị chèn ép áp bức, dưới bất kỳ hình thức nào, đến nỗi phải mất nhà cửa đất đai, trở nên nghèo khổ và đem thân làm tôi đòi cho những kẻ giàu có và có quyền có thế. Đó cũng là năm mời gọi hết mọi người hãy ăn năn sám hối, vì hoặc đã góp phần vào sự bất công hay đã nhắm mắt làm ngơ trước những đau khổ của anh em đồng loại của mình. “Cũng thế, Giáo Hội trìu mến và ấp ủ tất cả những ai đau khổ vì sự yếu hèn của con người, nhất là nhận biết nơi những người nghèo khó và đau khổ hình ảnh Đấng Sáng Lập khó nghèo và đau khổ, ra sức giảm bớt nỗi cơ cực của họ và nhằm phụng sự Chúa Ki tô trong họ” (Vatican II, Lumen gentium, 8).
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
24-01-2010, 10:17 AM
CHÚA NHẬT IV THƯỜNG NIÊNPhụng Vụ Lời Chúa của Chúa Nhật này mời gọi chúng ta suy gẫm về sứ mạng đầy gian nan của Đức Giê-su. Để loan báo Tin Vui, Tin Giải Thoát của Thiên Chúa cho những người khốn khổ, bị áp bức…cho hết mọi dân mọi nước, Chúa Giê-su gặp phải sự chống đối và phẫn nộ đến mức tìm cách giết Ngài từ phía những người đồng hương của mình.
Gr 1: 4-5, 17-19
Mẫu gương đầu tiên được đưa ra cho chúng ta là ngôn sứ Giê-rê-mi-a. Ông vốn bản tính nhút nhát, với con tim nhạy cảm và tấm lòng nhân hậu, nhưng Thiên Chúa đã chọn ông thi hành sứ mạng đầy thách đố. Vì trung thành với sứ mạng, ông phải đương đầu không chút khoan nhượng trước mọi thế lực “từ các vua Giu-đa đến các thủ lãnh, các tư tế và toàn dân trong xứ”. Ở giữa lòng của những thù nghịch ngút ngàn này, vị ngôn sứ không thể chu toàn sứ mạng nếu không nương tựa vào chính Thiên Chúa.
Lc 4: 21-30
Tin Mừng Lu-ca tiếp tục kể cho chúng ta câu chuyện Đức Giê-su viếng thăm Na-da-rét. Trong phần thứ hai này, những người đồng hương của Ngài thay đổi thái độ của họ, từ thiện cảm sang ác cảm.
1Cr 12: 13-13: 13
Chúng ta tiếp tục đọc thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô. Đoạn trích hôm nay chứa đựng bài thánh thi nổi tiếng ca ngợi đức mến cao trọng trên mọi nhân đức.
BÀI ĐỌC I (Gr 1: 4-5, 17-19)
Trong lịch sử trào lưu ngôn sứ Kinh Thánh, ngôn sứ Giê-rê-mi-a chiếm một chỗ đặc biệt. Hơn bất kỳ tác phẩm ngôn sứ nào, tác phẩm của Giê-rê-mi-a chứa đựng những lời tâm sự bộc phát rất tự nhiên, những tiếng kêu tận đáy lòng, để lộ một đời sống nội tâm rất phong phú.
1. Con người và sứ mạng:
Những lời phàn nàn của ông Gióp trong những cuộc đối thoại của ông với Chúa chỉ là thuần túy tưởng tượng. Những lời phàn nàn của Giê-rê-mi-a trong những cuộc đối thoại thường hằng của ông với Thiên Chúa xuất phát từ chính cuộc đời thật của ông. Vốn bản tính nhút nhát, với trái tim đa cảm và một tâm hồn nhân ái, Giê-rê-mi-a không muốn làm phật lòng với bất kỳ ai; ấy vậy, Thiên Chúa ủy thác cho ông một sứ mạng đầy thách đố mà ông không thể thoái thác được. Có một lần ông đã tâm sự: “Lạy Đức Chúa, Ngài đã quyến rũ con, và con đã để cho Ngài quyến rũ. Ngài mạnh hơn con, và Ngài đã thắng. Suốt ngày con nên trò cười cho thiên hạ, để họ nhạo báng con” (Gr 20: 7). Chính ở nơi lời tâm sự này chúng ta gặp thấy sự khác biệt giữa sứ vụ ngôn sứ và con người của vị ngôn sứ: “Có lần con tự nhủ: ‘Tôi sẽ không nghĩ đến Người, cũng chẳng nhân danh Người mà nói nữa. Nhưng lời Ngài cứ như ngọn lửa bừng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt. Con nén chịu đến phải hao mòn, nhưng làm sao nén được” (Gr 20: 9).
Vào đầu tác phẩm của mình, ông kể lại câu chuyện ơn gọi của ông. Ơn gọi này đã xảy đến vào “năm thứ mười ba triều vua Giô-si-gia-hu”, tức là vào năm 626 trước Công Nguyên. Giê-rê-mi-a xuất thân từ một gia đình tư tế ở A-na-thốt, nơi có đền thánh xưa, cách kinh thành Giê-ru-sa-lem khoảng năm cây số về hướng bắc.
2. Ơn gọi ngay từ trong lòng mẹ:
Giê-rê-mi-a để cho Thiên Chúa nói ở ngôi thứ nhất: “Ta”, biểu thức thông thường của các sấm ngôn. Ông mặc lấy ở đây một cung giọng xác thực hơn bao giờ, vì mối thân tình đặc biệt giữa Thiên Chúa và vị ngôn sứ của Ngài; ít nhất chúng ta có thể nghĩ rằng đối với Giê-rê-mi-a, tiếng gọi này là mặc khải nội tâm của ông.
Sáng kiến của Thiên Chúa là đầu tiên và nhưng không; tất cả ơn gọi phục vụ cho kế hoạch của Thiên Chúa đều là như vậy cả, như Đức Giê-su nhắc lại cho các môn đệ Ngài: “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em” (Ga 15: 16).
Thiên Chúa đã chọn Giê-rê-mi-a ngay từ trong lòng mẹ: “Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hiến ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân”. Cho đến lúc đó, diễn ngữ này đã được sử dụng trong Kinh Thánh chỉ cho ông Sam-son (Tl 13: 5). Ngôn sứ I-sai-a đệ nhị sẽ lấy lại diễn ngữ này và áp dụng cho “Người Tôi Trung” mầu nhiệm: “Đức Chúa đã gọi tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ” (Is 49: 1). Thánh Phao-lô sẽ định nghĩa ơn gọi của mình cũng một cách như vậy: “Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng me, và đã gọi tôi nhờ ân sủng của Người…” (Gl 1: 15-16). Và thánh Lu-ca cũng sẽ sử dụng biểu thức này cho thánh Gioan Tẩy Giả (Lc 1: 15) cũng như cho Đức Giê-su trong chuyện tích Truyền Tin.
“Ta đã biết ngươi”. Động từ “biết” của tiếng Do thái diễn tả một sự hiểu biết tròn đầy tình yêu; đây là một sự biệt phân trước của tâm hồn người được tuyển chọn, ở nơi người ấy Chúa Đức Chúa sẽ đặt trọn tấm lòng ưu ái của Ngài.
“Ta đã thánh hiến ngươi”: Cốt là một cuộc xức dầu tấn phong, nhưng như các ngôn sứ khác, đây là một cuộc xức dầu thiêng liêng, dưới tác động của Chúa Thánh; tuy nhiên, từ “Thánh Thần” không bao giờ được Giê-rê-mi-a kể ra.
Khi Giê-rê-mi-a nghe tiếng gọi của Thiên Chúa, tuổi đời của ông còn quá trẻ: “Ôi! Lạy Đức Chúa là Chúa Thượng, con đây còn quá trẻ, con không biết ăn nói!” (Gr 1: 6). Chúng ta không biết chính xác ông bao nhiêu tuổi vào lúc đó, có lẽ độ tuổi thanh xuân chưa từng trải nhiều kinh nghiệm.
3. Một sứ mạng đầy thách đố:
Chính chàng thanh niên với tính tình đầy nhút nhát và tấm lòng nhạy cảm này mà Đức Chúa đòi hỏi ông phải đương đầu không chút khoan nhượng trước mọi thế lực “từ các vua Giu-đa đến các thủ lãnh, các tư tế và toàn dân trong xứ”. Vị ngôn sứ sẽ đơn độc một mình, không chỉ gặp thấy thù nghịch từ phía thế quyền nhưng cũng không gặp thấy sự cảm thông từ phía giáo quyền nữa: “Trước mặt chúng, ngươi đừng run sợ…Chúng giao chiến với ngươi”. Giê-rê-mi-a được ủy thác kêu gọi toàn dân hoán cải và loan báo án phạt sắp tới: vương quốc sẽ bị họa diệt vong, thành đô Giê-ru-sa-lem sẽ bị tàn phá, Đền Thờ sẽ bị tiêu hủy. Với con người đa cảm, ông sẽ khóc thương thảm họa của đất nước ông, nhưng với tư cách ngôn sứ, ông sẽ giữ cho tâm trí mình sáng suốt đến ngạc nhiên và nuôi dưỡng một niềm hy vọng bất khả chuyển lay vào một “Giao Ước Mới”.
4. Thiên Chúa là nơi ông nương tựa:
Bị kết tội là một sứ giả của tai họa, Giê-rê-mi-a bị chế nhạo, ngược đãi và bách hại, nhưng ông sẽ chứng tỏ lòng can đảm không ai bì trong sứ mạng đầy gian truân này. Ngày từ tiếng gọi đầu tiên, Đức Chúa hứa với ông Ngài sẽ phù trợ ông: “Có Ta ở với ngươi để giải thoát ngươi”. Đó là sự bảo đảm độc nhất mà vị ngôn sứ bám chặc vào đây như ông Mô-sê trong câu chuyện về tiếng gọi đầu tiên của mình: “Ta sẽ ở với ngươi” (Xh 3: 12).
Trong các ngôn sứ, số phận của ngôn sứ Giê-rê-mi-a giống với số phận của Chúa Ki tô hơn ai hết.
BÀI ĐỌC II (1Cr 12: 31-13: 13)
Đây là “bài thánh thi ca ngợi đức mến” một cách nồng nàn say đắm. Bài thánh thi này hấp dẫn chúng ta bởi nhịp điệu của nó, những điệp ngữ của nó, cách thức kết luận của nó: đức mến là ân huệ trổi vượt trên tất cả mọi ân huệ khác. Tuy nhiên, xin đừng xem “bài thánh thi ca ngợi đức mến” này chỉ như một khúc ca trữ tình trào dâng một cách tự phát từ ngọn bút của thánh Phao-lô trong một niềm hưng phấn tột cùng. Nó chứa đựng những bài học chính xác, vừa vượt lên trên mọi thời gian vừa được định vi vào một hoàn cảnh rõ ràng; nó liên kết một cách chặc chẽ với những lời khuyên bảo trước đó.
1. Đức mến trổi vượt trên mọi ân huệ khác:
Thánh nhân vừa mới nêu lên sự phong phú của những ân huệ tinh thần mà Chúa Thánh Thần ban tặng một cách hào phóng cho Giáo Đoàn Cô-rin-tô; tuy nhiên, những ân huệ này gây nên những đố kỵ, ghen tuông. Thánh Phao-lô đã nhận ra một trong những khiếm điểm cốt yếu của các tín hữu này: “chủ nghĩa cá nhân”. Thánh nhân đã khẩn khoản nài xin họ phải hiệp nhất với nhau, bởi vì họ làm thành một thân thể duy nhất, Thân Thể của Đức Ki tô (bản văn của Chúa Nhật trước).
Phương thuốc thật sự chữa trị cho chủ nghĩa cá nhân này là đức mến, tức là, “mến Chúa và yêu người”, đó là ân huệ trổi vượt trên mọi ân huệ khác. Trong cộng đồng Cô-rin-tô, mọi người đều muốn mình có ân ban ngôn sứ, mọi người đều muốn mình có ân ban nói các tiếng lạ. Thánh Phao-lô đáp lại: “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm chọe xoang xoảng. Giả như tôi có được ơn nói tiên tri…”.
Trước đây, trong cùng bức thư này, thánh Phao-lô đã vạch cho cộng đoàn này thấy một khuyết điểm khác mang đậm nét văn hóa Hy lạp: khao khát được hiểu biết về những khía cạnh khác nhau của đức tin, tìm kiếm sự khôn ngoan. Vì thế, thánh nhân tấn công trực diện: dù được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu mà không có đức mến thì cũng chẳng bằng không.Thánh nhân nhấn mạnh sự hiểu biết này chỉ là phiến diện, có thể được sánh ví với sự hiểu biết của một trẻ con. Chúng ta sẽ trưởng thành trong sự hiểu biết Thiên Chúa chỉ khi nào “chúng ta được gặp Ngài diện đối diện”.
Thánh Phao-lô không nghi ngờ đức tin, lòng hào hiệp của các tín hữu Cô-rin-tô này, nhưng nếu họ không có đức mến thì cũng bằng không: “Giả như tôi…có được một đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì cũng chẳng là gì. Giả như tôi có đem đến gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi”.
2. Đức mến đối với đức tin và đức cậy:
Nếu phần tranh luận chiếm một chỗ lớn trong lời khuyên bảo nồng cháy này của thánh Phao-lô, thì đó không phải là tất cả. Những phẩm chất của đức mến được kể ra vô vàn cho đến tận câu kết của bài thánh thi tuyệt vời này: “Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến”.
Viễn cảnh đều hướng đến “yêu người”, nhưng “mến Chúa” cũng hàm chứa ở đây. Tư tưởng của thánh Phao-lô rất trong sáng. Trong tất cả những bức thư của mình, thánh nhân không ngừng lập đi lập lại rằng “đức mến” là “mến Chúa” đang hoạt động trong chúng ta để “yêu người” được đâm bông kết trái.
Sau này, thánh Phao-lô sẽ chứng tỏ cho thấy rằng những công việc chúng ta làm nếu không có đức tin, thì chẳng có giá trị gì cả. Trong bản văn hôm nay, những công việc yêu người, thậm chí hiến thân mình cho đến chết, vân vân, chẳng có giá trị gì, nếu không xuất phát từ đức mến. Đức tin gợi nguồn cảm hứng cho đức mến; đức cậy hổ trợ đức mến. Cả ba nhân đức này đều là bản chất của sự thánh thiện, nhưng cao trọng hơn cả vẫn là đức mến.
TIN MỪNG (Lc 4: 21-30)
Chúng ta tiếp tục câu chuyện Đức Giê-su viếng thăm Na-da-rét theo Tin Mừng Lu-ca. Khác với Mác-cô và Mát-thêu, thánh Lu-ca định vị biến cố này vào lúc khởi đầu sứ vụ của Đức Giê-su ở miền Ga-li-lê, tiên báo những bước thăng trầm về sứ mạng tương lai của Ngài.
1. Thái độ của những người đồng hương của Ngài:
Trong phần đầu của câu chuyện, thái độ của dân Na-da-rét đối với Chúa Giê-su được tóm gọn như sau: “Mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt lên từ miệng Người”. Nhưng rồi những người đồng hương nẩy sinh những mối nghi ngờ về Ngài bởi vì Ngài xuất thân từ một gia đình tầm thường: “Ông này không phải là con ông Giu-se đó sao?”.
Chính vì gia thế tầm thường của Ngài ở giữa họ mà họ không nhận ra ở nơi Ngài, Đấng được sai đến để thực hiện những điều mà ngôn sứ I-sai-a đã loan báo. Vì thế, những người đồng hương của Ngài muốn Ngài thực hiện những dấu lạ ở tại quê nhà của Ngài như Ngài đã thực hiện ở thành Ca-phác-na-um, để chứng thực sứ mạng của Ngài.
2. Câu trả lời của Đức Giê-su:
Hiểu được những ý nghĩ trong lòng họ, Đức Giê-su trả lời, trước hết bằng cách trích dẫn hai câu ngạn ngữ. Câu ngạn ngữ thứ nhất: “Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình”, tiên báo hoàn hảo về những lời thách đố được lập lại đến ba lần ở dưới chân thập giá: “Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Ki tô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn” (23: 35, 37, 39). Câu ngạn ngữ thứ hai: “Không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương của mình”, phác họa số phận chung của các ngôn sứ thời xưa, họ đã không được hiểu và bị bách hại bởi chính những người đồng hương của mình, tiêu biểu số phận của ngôn Giê-rê-mi-a trong bài đọc I, đồng thời tiên báo về số phận của chính Ngài.
Tiếp đó, Ngài còn trích dẫn hai ví dụ về ngôn sứ Ê-li-a và ngôn sứ Ê-li-sê được trích từ sách 1V 17 và sách 2V 5. Qua hai ví dụ này, Chúa Giê-su muốn ám chỉ đến sứ vụ phổ quát của Ngài. Ngài đến để thực hiện sấm ngôn Is 61: 1-2, nhưng không chỉ đóng khung cho những người đồng hương của Ngài: dân Na-da-rét hay toàn thể dân Ít-ra-en, mà mở rộng ra đến hết mọi dân mọi nước khác nữa. Việc Ngài chọn Ca-phác-na-um làm cứ điểm truyền giáo của mình theo cùng một ý nghĩa như vậy. Thành này, được gọi là “Ngã Tư của các dân tộc”, là nơi giao du thường hằng của những dân ngoại chung quanh. Chiều kích hoàn vũ của sứ điệp được phác họa rồi. Đó là toàn bộ chương trình mà Giáo Hội, tiếp nối sứ mạng của Ngài, sẽ thực hiện như được miêu tả trong sách Công Vụ Tông Đồ, cũng là công trình biên soạn của chính thánh Lu-ca. Chính vì sứ mạng này mà Đức Giê-su được Chúa Cha sai đến để thực hiện bằng cả mạng sống mình và cũng vì sứ mạng này mà Giáo Hội hiện diện giữa nhân loại cho đến ngày Ngài trở lại trong vinh quang.
3. Tiên báo tương lai:
Việc Chúa Giê-su từ chối thực hiện những dấu lạ, ám chỉ đến việc hủy bỏ mọi ranh giới trong việc thi ân giáng phúc của Ngài, gây nên làn sóng giận dữ của những người đồng hương đối với Ngài.
“Nghe vậy, mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ”: “Mọi người trong hội đường” ở đây ám chỉ đến những người mộ đạo, những lãnh tụ tôn giáo, những người lắng nghe lời nói của Đức Giê-su khiến họ phẫn nộ.
“Sư phẫn nộ” của họ tiên trưng sự phẫn nộ của Thượng Hội Đồng…Như những thành viên Thượng Hội Đồng sau này, hành động của dân Na-da-rét: “Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành…kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực”, tiên báo cuộc Tử Nạn của Ngài; nhưng việc Đức Giê-su “băng qua giữa họ mà đi”, tiên báo cuộc Phục Sinh tương lai của Ngài.
Theo thánh Lu-ca, câu chuyện Đức Giê-su viếng thăm Na-da-rét mang tính ngôn sứ: câu chuyện này quy tụ mọi yếu tố tiên trưng về tiến trình sứ mạng Đức Giê-su. Để hiểu một cách xác đáng những tương hợp lịch sử giữa cuộc viếng thăm Na-da-rét của Ngài và cuộc đời cứu độ của Ngài, chúng ta đọc liên tục: lòng nhiệt thành của đám đông dân chúng, đoạn sự từ chối của dân Ít-ra-en, sứ điệp được hứa cho lương dân, viễn cảnh Tử Nạn, và cuối cùng, sự tự do tối thượng của Đức Giê-su, chủ tể của sự sống và cái chết của Ngài.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
31-01-2010, 05:36 PM
CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN
Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật này, cả ba bài đọc, đều tập trung vào một chủ đề duy nhất: ƠN GỌI.
Is 6: 1-2a, 3-8
Trong bài đọc I, ngôn sứ I-sai-a thuật lại ơn gọi của mình từ một thị kiến uy nghi hùng vĩ xảy ra trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, vào năm 740 trước Công Nguyên.
1Cr 15: 1-11
Trong đoạn trích thư thứ hai của thánh Phao-lô gởi tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô nhắc lại ơn gọi đặc biệt mà thánh nhân đã lãnh nhận từ chính Chúa Ki tô Phục Sinh. Ngài đã biến đổi thánh nhân từ một kẻ bách đạo cuồng tín trở thành một Tông Đồ nhiệt thành loan báo Tin Mừng.
Lc 5: 1-11
Thánh Lu-ca thuật lại câu chuyện mẽ cá kỳ diệu; ngay liền sau đó, thánh Phê-rô, thánh Gia-cô-bê và thánh Gioan đáp trả lời mời gọi của Chúa Giê-su, họ từ bỏ mọi sự mà cất bước đi theo Ngài.
BÀI ĐỌC I (Is 6: 1-2a, 3-8)
Chúa Nhật vừa qua chúng ta đã đọc bài tường thuật về ơn gọi của ngôn sứ Giê-rê-mi-a; Chúa Nhật này, chúng ta đọc ơn gọi của ngôn sứ I-sai-a. Hai bài tường thuật được viết theo văn phong rất khác nhau và hai phản ứng của hai vị ngôn sứ này cũng đối lập với nhau. Nét đặc trưng của ơn gọi ngôn sứ Giê-rê-mi-a là bầu khí thân tình lòng bên lòng với Thiên Chúa, trong khi ơn gọi của ngôn sứ I-sai-a được định vị vào trong một thị kiến uy nghiêm hùng vĩ của một cuộc thần hiện. Ngôn sứ Giê-rê-mi-a không hề run sợ trước Thiên Chúa, nhưng lại sợ hãi khi phải đối đầu với con người. Trái lại, ngôn sứ I-sai-a run sợ trước vẻ uy nghi cao cả của Thiên Chúa và tự nguyện xin Chúa sai mình đi thi hành sứ vụ của Ngài cho con người.
Xem ra ngôn sứ I-sai-a xuất thân từ một gia đình ở Giê-ru-sa-lem và có mối quan hệ gần gũi với giai cấp lãnh đạo. Những người mà ông có sứ mạng chuyển giao sứ điệp là vua và các triều thần ở chốn triều đình.
Ngôn sứ I-sai-a cho chúng ta niên biểu ơn gọi của ông: “Năm vua Út-di-gia-hu băng hà”. Vua Út-di-gia-hu là vị vua bất hạnh thuộc vương quốc Giu-đa; vào cuối triều đại hạnh phúc và thịnh vượng, vua bị bệnh cùi và qua đời năm 740 trước Công Nguyên.
1. Thị kiến khai mạc:
I-sai-a sinh vào năm 765 trước Công Nguyên; vì thế vào khoảng năm 25 tuổi, ông đón nhận thị kiến ở Đền Thánh Giê-ru-sa-lem, trong một giấc mộng hay trong một buổi phụng vụ. Dù thế nào, ông vẫn có một mặc khải về sự siêu việt và thánh thiện của Thiên Chúa đến nổi làm xáo động tâm trí của ông. Ngay liền sau đó, ông trở thành vị ngôn sứ của Thiên Chúa ngàn trùng chí thánh.
Cuộc thần hiện được diễn tả theo hình tượng truyền thống: đất rung chuyển, khói tỏa mù mịt, như ở trên núi Xi-nai hay như ở Nhà Tiệc Ly vào ngày lễ Ngũ Tuần. Đền Thờ Giê-ru-sa-lem đã là nơi Thiên Chúa ngự giữa cõi thế.
Đức Chúa tỏ mình ra cho ông I-sai-a như một vị vua quyền năng mà sự uy nghi cao cả của Ngài bao phủ đền thánh, có các thần Xê-ra-phim hộ giá. Các thần này tung hô: “Thánh! Thánh! Chí Thánh! Đức Chúa các đạo binh là Đấng Thánh! Cả mặt đất rạng ngời vinh quang Chúa!”. Đây là lời tung hô “ba lần thánh”, nghĩa là, cực thánh hay ngàn trùng chí thánh, xem ra được dùng trong phụng vụ rồi. I-sai-a hiểu lời tung hô này và sẽ đặt nó vào trọng tâm sứ điệp của mình. Ông sẽ gọi Đức Chúa là “Đấng Thánh của Ít-ra-en”.
2. Sự khiêm hạ của con người và lòng xót thương của Thiên Chúa:
I-sai-a nhận ra ngay sự bất xứng của mình nên thốt lên: “Khốn thân tôi, tôi chết mất! Vì tôi là một người môi miệng ô uế, tôi ở giữa một dân môi miệng ô uế, thế mà mắt tôi đã thấy Đức Vua là Đức Chúa các đạo binh!”.
Với lời thú nhận đầy khiêm tốn này, Đức Chúa đáp trả bằng lòng xót thương; Ngài sai một trong các thần Xê-ra-phim, tay cầm một hòn than hồng trên bàn Hương Án và thanh tẩy môi miệng ô uế của vị ngôn sứ tương lai: “Đây, cái này đã chạm vào đến môi ngươi, ngươi đã được tha tội và xá tội”, để ông có thể xứng đáng là sứ giả của Ngài, người được Chúa sai đi truyền đạt Lời Chúa cho con người.
3. Ơn gọi:
Đức Chúa đã bày tỏ sự siêu việt của Ngài nhưng cũng sự hào hiệp của Ngài. Trước tiếng gọi của Thiên Chúa: “Ta sẽ sai ai đây? Ai sẽ đi cho chúng ta?”, chàng thanh niên I-sai-a mới 25 tuổi đời mau mắn đáp trả không một chút đắn đo suy nghĩ: “Dạ, con đây, xin sai con đi”. Chàng cảm thấy mình có liên đới với dân này, “một dân môi miệng ô uế”; chàng sẽ là sứ giả của Thiên Chúa cho họ.
Thánh Phao-lô sau thị kiến về Đấng Phục Sinh trên đường đi Đa-mát, thánh Phê-rô, thánh Gia-cô-bê và thánh Gioan sau mẽ cá kỳ diệu, đã không thể nào cưỡng kháng lại trước tiếng gọi của Chúa Ki tô.
BÀI ĐỌC II (1Cr 15: 1-11)
Chúng ta tiếp đọc thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi các tín hữu Cô-rin-tô.
1. Hai điều lợi ích:
Đoạn trích hôm nay cho chúng ta hai điều lợi ích. Điều lợi ích thứ nhất đó là thánh Phao-lô biện minh phẩm chất Tông Đồ của mình, vì thánh nhân đã lãnh nhận ơn gọi của mình từ chính Chúa Ki tô. Lời ích thứ hai rất nổi tiếng: bản văn này là lời tuyên xưng đức tin về giá trị cứu độ của cái chết của Đức Ki tô và một lời khẳng định quý báu về cuộc Phục Sinh, kèm theo danh sách của tất cả những chứng nhân đã thấy Đấng Phục Sinh, danh sách mà chỉ một mình thánh Phao-lô cho đầy đủ nhất. Các tác giả Tin Mừng không nói đến việc Chúa Ki tô hiện ra cho năm trăm người, cũng không nói đến việc Ngài hiện ra cho ông Gia-cô-bê, người anh em họ của Chúa Giê-su, người đảm nhận trách nhiệm của Cộng Đoàn Giê-ru-sa-lem. Trong danh sách này, thánh Phao-lô cũng kể ra việc Chúa Giê-su hiện ra cho tất cả các Tông Đồ. Thuật ngữ “Tông Đồ” ở đây rõ ràng phải được hiểu theo nghĩa rất rộng, bởi vì Nhóm Mười Hai được trích dẫn trước đó.
Chúng ta ghi nhận rằng thánh Phao-lô đặt cuộc xuất hiện mà thánh nhân đã được thụ hưởng trên đường đi Đa-mát trên cùng một bình diện với những lần xuất hiện của Chúa Ki tô giữa biến cố Phục Sinh và biến cố Thăng Thiên.
Ở đây chúng ta chỉ dừng lại ở nơi ơn gọi của thánh Phao-lô mà chủ đề phụng vụ Lời Chúa hôm nay muốn hướng đến.
2. Ơn gọi của thánh Phao-lô:
Như ngôn sứ I-sai-a, thánh Phao-lô đã bị Thiên Chúa nắm bắt. Thánh nhân đã có một thị kiến về Đức Ki tô Phục Sinh, Ngài tỏ mình ra trong một luồng ánh sáng rực rỡ và thánh nhân ngã xuống đất. Kẻ trước đây đã điên cuồng bắt hại các người Ki tô hữu, bây giờ thú nhận là mình bất xứng: “Tôi là kẻ hèn mọn nhất trong số các Tông Đồ, tôi không đáng được gọi là Tông Đồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa”.
Nhưng giống như I-sai-a, thánh Phao-lô đã được tha thứ và được gọi đích thân: “Nhưng tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Người ban cho tôi đã không vô hiệu”. Chúng ta nhận ra thái độ tâm hồn của vị Tông Đồ này: một sự trộn lẫn thường hằng giữa sự khiêm tốn và sự tự hào hãnh diện.
3. Thánh Phao-lô biện minh ơn gọi Tông Đồ của mình:
Thánh Phao-lô có nhiều lý do để mà biện minh ơn gọi của mình. Trong số những tín hữu Cô-rin-tô, vài người bác bỏ tước hiệu Tông Đồ của thánh nhân và buộc tội ngài là huênh hoang tự đắc.
Ở đầu thư, thánh Phao-lô tự giới thiệu mình: “Tôi là Phao-lô, bởi ý Thiên Chúa được gọi làm Tông Đồ của Đức Giê-su Ki tô” (1Cr 1: 1). Như vậy, ngay từ đầu thư, các tín hữu Cô-rin-tô được báo trước rằng vị rao giảng của họ đòi hỏi tính chính truyền ơn gọi Tông Đồ của mình. Sự đòi hỏi này được lập lại xa hơn một chút: “Tôi không phải là tông đồ ư? Tôi đã không thấy Đức Giê-su, Chúa chúng ta sao? Anh em không phải là công trình của tôi trong Chúa sao? Nếu đối với những người khác tôi không phải là tông đồ, thì ít ra đối với anh em tôi là tông đồ, vì ấn tín chứng thực chức vụ tông đồ của tôi trong Chúa chính là anh em” (9: 1-2).
Đoạn văn mà chúng ta đọc hôm nay được định vị vào cuối thư, vì thế, đây là lời thánh Phao-lô nhắc lại lần thứ ba về tính chất đặc thù của ơn gọi mình: chính Đức Ki tô đã đích thân ủy thác sứ vụ tông đồ cho thánh nhân, chứ không có bất kỳ trung gian phàm nhân nào.
TIN MỪNG (Lc 5: 1-11)
Xem ra khi viết đoạn Tin Mừng này, thánh Lu-ca vận dụng cùng một phương pháp văn chương mà thánh ký đã sử dụng rồi trong bài tường thuật “Chúa Giê-su viếng thăm Na-da-rét”: tập hợp lại những sự kiện nối tiếp nhau thành một bài tường thuật duy nhất trong cùng một khung cảnh, để tránh những lập lại và để câu chuyện trở nên sống động hơn, thậm chí kịch tính hơn.
Như vậy, thánh Lu-ca trình bày “một bức tranh có ba cảnh” nối tiếp nhau:
- Chúa Giê-su rao giảng trên bờ hồ Ghen-nê-xa-rét (5: 1-3).
- Mẽ cá kỳ diệu (5: 4-7).
- Ơn gọi của các môn đệ đầu tiên (5: 8-11).
1. Chúa Giê-su rao giảng bên bờ hồ (5: 1-3).
Trong Tin Mừng Lu-ca, trước đây Đức Giê-su chọn các hội đường để truyền đạt đạo lý của Ngài cho dân chúng, bây giờ Ngài chọn bờ hồ Ghen-nê-xa-rét làm khung cảnh cho lời rao giảng của Ngài. Thánh Mác-cô cho chúng ta nhiều bằng chứng về điểm này, xin trích dẫn một bản văn rất gần với Lu-ca: “Đức Giê-su lại bắt đầu giảng dạy ở ven Biển Hồ. Một đám đông người rất đông tụ họp lại chung quanh Người, nên Người phải xuống thuyền mà ngồi dưới biển, còn toàn thể đám đông thì ở trên bờ” (Mc 4: 1-2).
Đây là khúc quanh sứ vụ của Chúa Giê-su, tiên báo khúc quanh sứ vụ của Giáo Hội sau này, như W. Barclay nhận xét : “Tại đây chúng ta đối diện một khúc quanh trong sứ vụ Chúa Giê-su. Lần trước Chúa giảng trong hội đường, bây giờ Ngài ở tại bờ biển. Rồi Ngài sẽ còn trở lại hội đường nữa, nhưng sẽ đến một ngày, cửa hội đường đóng lại trước mặt Ngài thì Hội Thánh của Ngài sẽ ở nơi bờ hồ, sẽ ở ngoài đường cái, và tòa giảng của Ngài sẽ là chiếc thuyền. Ngài sẽ tới bất cứ nơi nào người ta muốn nghe Ngài giảng” (Tin Mừng theo thánh Lu-ca, Nhà XB Tôn Giáo, 2008, tr. 53).
1.1. Lời Thiên Chúa:
Dân chúng đến để lắng nghe “Lời Thiên Chúa”; cách nói này thay thế cách nói “Tin Mừng” mà cho đến lúc đó thánh Lu-ca thường dùng. Thánh Lu-ca sẽ lấy lại cách nói “Lời Thiên Chúa” này nhiều lần (8: 11, 21; 11: 28). Chắc chắn trong lời rao giảng của các Tông Đồ, cả hai cách nói này: “Lời Thiên Chúa” và “Tin Mừng” đều thông dụng và có thể được thay thế cho nhau như chính thánh Lu-ca làm chứng trong Công Vụ (Cv 6: 7; 8: 14; 11: 1; 13: 44, 46; 15: 35; 18: 11, vân vân). Ở đây sắc thái xem ra gần với tư tưởng mà thánh Gioan sẽ diễn tả trong Tựa Ngôn Tin Mừng của mình: Đức Giê-su được nhận dạng với Lời Thiên Chúa, Ngài là Ngôi Lời Thiên Chúa.
1.2. Thuyền của ông Si-mon:
Việc Chúa Giê-su chọn thuyền của ông Si-mon trong hai chiếc thuyền đậu ở đó không phải là một sự tình cờ. Chính “từ trên thuyền này Người giảng dạy đám đông”. Trong câu chuyện này, Chúa Giê-su chưa cho ông Si-mon một tên mới là Phê-rô; Ngài sẽ cho ông tên mới này vào lúc Ngài chọn Nhóm Mười Hai (Mc 6: 14). Nhưng ngay trong câu chuyện này thánh Lu-ca chỉ định trước người ngư phủ miền Ga-li-lê này một tên kép “ông Si-mon Phê-rô”. Hình ảnh con thuyền Giáo Hội được lèo lái bởi thánh Phê-rô đã trở thành kinh điển kể từ Tertullien và thánh Ausgustine; hình ảnh này xem ra tiềm ẩn ở nơi đoạn Tin Mừng này rồi. Các Giáo Phụ đã thấy ở nơi con thuyền được lèo lái bởi ông Si-mon Phê-rô một biểu tượng kinh điển về Giáo Hội lữ hành trên trần thế. “Đây là con thuyền mà theo thánh Mát-thêu đang có nguy cơ bị chìm và theo thánh Lu-ca thì đầy cá. Ở đây chúng ta có thể thấy những bước khởi đầu đầy khó khăn của Giáo Hội và những thành quả sau này của nó” (St Ambrose, Expositio evangelii sec. Lucam, in loc.). Đức Ki tô bước vào thuyền để dạy đám đông dân chúng – và từ con thuyền của ông Phê-rô, tức Giáo Hội, Ngài tiếp tục dạy toàn thể thế giới.
2. Mẽ cá kỳ diệu (5: 4-7).
Thánh Lu-ca liên kết việc Chúa Giê-su rao giảng bên bờ hồ với mẽ cá kỳ diệu. Thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu không biết tình tiết này. Chúng ta cũng gặp thấy mẽ cá kỳ diệu này ở trong phần phụ chương của Tin Mừng Gioan (ch. 21), nhưng được đinh vị sau biến cố Phục Sinh. Có thể chỉ có một biến cố duy nhất, nhưng chúng ta không còn biết rõ biến cố này được định vị vào lúc nào. Điều này cho thấy mỗi tác giả Tin Mừng có quan điểm thần học khác nhau về cùng một biến cố này.
Chúa Giê-su đòi hỏi thánh Phê-rô một hành vi đức tin. Theo kinh nghiệm của một ngư phủ, đêm là thời gian thuận tiện để ra khơi thả lưới bắt cá, chứ ban ngày không phải là thời gian thích hợp cho việc đánh cá. Ấy vậy, Chúa Giê-su lại bảo ông Si-mon: “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá”. Dựa trên kinh nghiệm nghề nghiệp của mình, ông Si-mon nhấn mạnh sự phi lý của sự đòi hỏi này: “Thưa Thầy, chúng tôi vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả”; tuy nhiên, đức tin của ông mách bảo ông chấp nhận sự thách đố này: “Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới”. Đối với đức tin, điều không thể lại có thể. Một mẽ lưới đầy cá đến nổi họ phải ra hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền khác, là Gia-cô-bê và Gioan, đến giúp.
Chúng ta ghi nhận rằng ông An-rê, anh của ông Si-mon không được kể ra. Tuy nhiên thánh Lu-ca dùng số nhiều: “họ” bắt được nhiều cá khi nói về những người đồng nghiệp cùng ở với ông Si-mon. Trước hết, thánh Luca nghĩ đến bộ ba bất khả phân: thánh Phê-rô, thánh Gia-cô-bê và thánh Gioan, bộ ba này sẽ được liên kết với Chúa Giê-su một cách đặc biệt hơn các Tông Đồ khác: họ sẽ là chứng nhân về cuộc phục sinh của con gái của ông trưởng hội đường (Lc 8: 51), về biến cố Biến Hình trên núi (Lc 9: 28), và về cơn hấp hối trong vườn Ô-liu (Mc 14: 33). Thật đáng ghi nhận rằng Chúa Giê-su đã không tách tình bạn của những người bạn đồng nghiệp: Ngài tôn trọng tình bạn này trong suốt cuộc đời thi hành sứ vụ của Ngài, tuy nhiên ba người môn đệ này sẽ là cột trụ của Giáo Hội tiên khởi. Sự cộng tác của tất cả họ vào mẽ cá kỳ diệu này phác họa sứ vụ của Giáo Hội trong tương lai rồi.
3. Ơn gọi của các môn đệ đầu tiên (5: 8-11).
“Ơn gọi của các môn đệ đầu tiên” của thánh Lu-ca cũng được thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu thuật lại: trong cùng một khung cảnh: bên bờ hồ, trong khi thánh Phê-rô và thánh An-rê đang quăng lưới đánh cá, còn thánh Gioan và thánh Gia-cô-bê đang vá lưới ở trong thuyền, Chúa Giê-su gọi họ: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá” và họ mau mắn đáp trả bằng cách bỏ lại tất cả mà bước đi theo Ngài. Hoạt cảnh thật giản dị nhưng thật cảm động.
Thánh Lu-ca liên kết ơn gọi này với tình tiết mẽ cá kỳ diệu, điều này làm cho câu chuyện thêm phần kịch tính hơn. Các môn đệ tương lai xem ra không cưỡng được trước một nhà phép thuật thần thông hơn trước sứ giả Tin Mừng, cho dù họ không tách biệt quá rõ nét hai khía cạnh hấp dẫn này ở nơi con người Đức Giê-su.
Phản ứng của thánh Phê-rô tương tự với phản ứng của ngôn sứ I-sai-a, bày tỏ cũng một thứ tình cảm ngăn cách giữa con người tội lỗi và Thiên Chúa thánh thiện: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!”.
Như trong câu chuyện ơn gọi của vị ngôn sứ ở đó lòng xót thương của Thiên Chúa đáp trả sự khiêm tốn của vị ngôn sứ, Chúa Giê-su cũng làm yên lòng thánh Phê-rô: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta”. Chính con người mà thánh nhân có sứ mạng thu phục. Những bờ hồ Ghen-nê-xa-rét mờ nhạt đi để trở thành những biên giới của thế giới.
Một bức tranh ba cảnh của thánh Lu-ca có một sự duy nhất thấm thía: trên phong nền của toàn cảnh nổi bật một viễn cảnh Giáo Hội.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
14-02-2010, 05:57 PM
CHÚA NHẬT I MÙA CHAY
Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật I Mùa Chay năm C này tập trung vào một chủ đề: ĐỨC TIN.
Đnl 26: 4-10
Sách Đệ Nhị Luật mời gọi dân Do thái khi dâng của lễ đầu mùa lên cho Đức Chúa phải kèm theo lời tuyên xưng đức tin ngỏ hầu họ biết nhận ra rằng Đức Chúa không chỉ là Chủ Tể Lịch Sử, Đấng đã hướng dẫn vận mệnh của họ và đã dẫn dắt họ đến tận miền đất phì nhiêu này; nhưng cũng chính một mình Ngài chứ không một vị thần Ba-an nào, đã ban cho họ sản phẩm thiên nhiên một cách quảng đại.
Rm 10: 8-13
Trong thư gởi cho các tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô công bố rằng người ta không thể tin vào Thiên Chúa mà không tin vào Đức Ki-tô, bởi vì Thiên Chúa là tác giả ơn cứu độ được thực hiện ở nơi Đức Giê-su Ki-tô; Kinh Thánh đã loan báo ơn cứu độ phổ quát này: mọi người, người Do thái cũng như lương dân, đều được mời gọi dự phần vào ơn cứu độ này.
Lc 4: 1-13
Tin Mừng Lu-ca thuật lại câu chuyện Chúa Giê-su chịu các chước cám dỗ trong hoang địa. Chúa Giê-su, trung thành với kế hoạch của Chúa Cha, đẩy lùi tên quyến rũ, bằng cách trích Kinh Thánh: “Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi”.
BÀI ĐỌC I (Đnl 26: 4-10)
Sách Đệ Nhị Luật là cuốn sách thứ năm và cuốn sách sau cùng của bộ Ngũ Thư. Tên sách có nghĩa “luật thứ hai” (từ ngữ căn Hy ngữ: “deuteros”: thứ hai, và “nomos”: luật). Quả thật, sách này lập lại luật Mô-sê, nhưng được thích ứng vào hoàn cảnh dân chúng định cư lập nghiệp ở đất Ca-na-an. Về phương diện văn chương cũng như thần học, qua hư cấu, tác giả để cho ông Mô-sê nói thay cho mình.
1. Của lễ đầu mùa:
Của lễ đầu mùa là một nghĩa vụ được ghi nhận nhiều lần trong luật Mô-sê: “Của đầu mùa tốt nhất của đất đai ngươi, ngươi phải đem đến nhà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi” (Xh 23: 19; 34: 22-26). “Khi các ngươi vào đất Ta ban cho các ngươi, và gặt lúa ở đó, thì phải đem đến cho tư tế một bó lúa, sản phẩm đầu mùa gặt hái của các ngươi” (Lv 23: 10).
Cử chỉ cảm tạ tri ân Thiên Chúa này rất phổ biến. Nhiều bức tượng liên quan đến các tôn giáo miền Cận Đông cho chúng ta biết nhiều nghi lễ tiến dâng như vậy. Người ta phân biệt những chiếc giỏ đựng nông sản với nghi thức rưới rượu trên những chiếc giỏ này, và với bữa ăn thánh quy tụ những người dâng lễ.
2. Những thử thách dân Do thái đã kinh qua:
Ấy vậy, dân Ít-ra-en bị thử thách bắt chước dân bản địa, dân Ca-na-an, tiến dâng của lễ của mình lên thần Ba-an, vị thần ban phì nhiều của dân bản địa, trên những nơi cao, và ca ngợi tấm lòng quảng đại của thần.
Ngôn sứ Hô-sê (thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên) lên án những thực hành này mà ngôn sứ sánh ví với tội ngoại tình của dân Chúa chọn: “Mẹ chúng quả thật đã làm điếm, kẻ mang thai chúng đã thất tiết rồi, vì nó đã nói: ‘Tôi đi theo các tình nhân của tôi, chính họ cho tôi bánh và nước, cho len, cho vải, cho dầu ăn, cho thức uống” (Hs 2: 7). Và vị ngôn sứ để cho Đức Chúa nói lên những lời trách cứ: “Nó đâu biết rằng chính Ta đã ban cho nó lúa mì, rượu mới và dầu tươi, cũng chính Ta đã tặng cho nó bạc vàng nhiều vô kể, vậy mà chúng đem chế tạo đồ dâng cúng thần Ba-an” (Hs 2: 10).
3. Lời tuyên tín:
Sách Đệ Nhị Luật thường vang dội giáo huấn của các ngôn sứ, nhất là các ngôn sứ, đã chiến đấu chống lại những tội bội giáo của vương quốc phương Bắc như ngôn sứ Hô-sê. Vì thế, tác giả đòi hỏi dân Ít-ra-en phải đưa vào trong nghi lễ dâng của đầu mùa của mình lời tuyên xưng đức tin; dân phải biết nhận ra rằng Đức Chúa không chỉ là Chủ Tể Lịch Sử, Ngài đã biến đổi số phận của họ; nhưng cũng chính Ngài, Chúa của thiên nhiên, đã ban tặng cho dân nguồn phú túc.
BÀI ĐỌC II (Rm 10: 8-13)
Thánh Phao-lô viết thư này gởi cho các tín hữu Rô-ma vào những ngày sau cùng của thánh nhân ở thành Cô-rin-tô vào mùa đông năm 56-57; vào lúc đó, thánh nhân nghĩ đến cuộc hành trình đến thành đô Rô-ma để viếng thăm cộng đoàn Ki tô hữu Rô-ma trước khi đi loan báo Tin Mừng ở Tây Ban Nha. Dự định của ngài sẽ được thực hiện ngoài dự liệu của thánh nhân: ngài sẽ đến Rô-ma trong cảnh tù đày.
1. Định vị đoạn văn:
Thư gởi cho các tín hữu Rô-ma là bức thư dài nhất trong các thư của thánh Phao-lô và quan trọng nhất về phương diện đạo lý. Chủ đề trọng tâm là vai trò đức tin trong đời sống Ki tô hữu. Đoạn văn mà chúng ta đọc được trích từ phân đoạn thống thiết ở đó thánh Phao-lô buồn bã gợi lên sự cứng tin của dân Ít-ra-en, đồng bào của ngài (từ ch. 9 đến ch. 11).
Làm thế nào dẫn đưa đồng bào huyết thống của mình đến đức tin, ngoài việc chỉ cho họ thấy rằng sứ điệp Tin Mừng đã được Kinh Thánh loan báo? Vì thế, thánh nhân sẽ dựa lời kêu gọi của mình trên một loạt những lời trích dẫn Kinh Thánh.
2. Ngôi vị hóa Lời Thiên Chúa:
Trước hết thánh Phao-lô trích dẫn một bản văn Đệ Nhị Luật: “Lời Thiên Chúa ở gần bạn, ngay trên miệng, ngay trong lòng” (Đnl 30: 14).
Bản văn này nhằm chứng thực rằng bổn phận của người tín hữu là phải “yêu mến Thiên Chúa hết lòng hết tâm hồn của mình” và thực thi mọi huấn lệnh Lề Luật. Lề Luật này không vượt quá sức mình; chính Thiên Chúa đến trợ giúp bằng cách nội tâm hóa Lời của Ngài, tức là, ghi khắc Lời Ngài vào trong tâm khảm của người tín hữu.
Đối với thánh Phao-lô, việc ngôi vị hóa Lời này xem ra như một linh cảm về Ngôi Lời nhập thể. Bản văn này thực sự sẽ cấu thành một trong những điểm tựa thần học về Ngôi Lời, cùng với vài đoạn văn của các sách minh triết Cựu Ước. Lời Thiên Chúa này được tiếp tục ở nơi sứ điệp Tin Mừng; đó cũng là một Lời; Lời hiện diện trong “lòng” người Ki tô hữu, được bày tỏ ở nơi toàn bộ tâm tư tình cảm và luân lý. Người Ki tô hữu phải công bố Lời hết sức mình, bằng cách tuyên xưng trên môi miệng mình Đức Giê-su là Chúa, cùng chung một tước hiệu với Đức Chúa, và quyền tối thượng của Ngài được bày tỏ một cách rực rỡ qua cuộc sống lại của Ngài. Đó là niềm tin vào sự sống lại, đó là lời tuyên tín cốt yếu.
3. Đặt trọn niềm tin vào chỉ một mình Thiên Chúa:
Thánh Phao-lô tiếp tục chứng minh của mình bằng cách trích dẫn một bản văn I-sai-a: “Mọi kẻ tin vào Người sẽ không phải thất vọng” (Is 9: 33); vị ngôn sứ ngỏ lời với các vị thủ lãnh vương quốc Giu-đa, vào thời điểm Giê-ru-sa-lem lâm vào cơn nguy khốn cùng cực nhất. Những vị lãnh tụ này chỉ còn biết nghĩ đến việc tìm kiếm sự trợ giúp từ phía quyền lực dân ngoại. Ngôn sứ I-sai-a cho họ hiểu rằng họ phải đặt trọn niềm tin vào chỉ một mình Đức Chúa.
4. Ơn cứu độ được ban cho hết mọi người:
Không có bất kỳ một khác biệt nào giữa người Do thái và lương dân: ơn cứu độ được ban cho hết mọi người. Dân Ít-ra-en phải biết chấp nhận tính phổ quát của ơn cứu độ này, vốn đã được Kinh Thánh loan báo rồi. Thánh Phao-lô tiếp tục trích dẫn lời ngôn sứ Giô-en: “Tất cả những ai kêu cầu danh Đức Chúa sẽ được cứu thoát” (Ge 2: 32).
Bản văn này gần với viễn cảnh cánh chung. Viễn cảnh này xem ra chỉ liên quan đến các tín hữu Ít-ra-en; nhưng nó toan tính ban cho những câu này một tầm mức phổ quát. Thánh Phao-lô không là người duy nhất bày tỏ điều này. Thánh Lu-ca trong sách Công vụ Tông Đồ đặt trên môi miệng thánh Phê-rô cùng một sấm ngôn này, ngay từ ngày lễ Ngũ Tuần (Cv 2: 17-21).
Chúng ta ghi nhận rằng thánh Phao-lô bắt đầu thời đại của mình khi gợi lên tước hiệu “Chúa” (“kurios”) được ban cho Đức Giê-su: “Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giê-su là Chúa, và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ” (10: 9) và thánh nhân kết thúc thời đại này với cùng một tước hiệu xưa kia được dành riêng cho một mình Đức Chúa: “Tất cả những ai kêu cầu danh Đức Chúa sẽ được cứu thoát” (10: 13). Đây là phương pháp văn chương “đóng khung” hay “bao hàm” rất quen thuộc đối với thánh Phao-lô, qua phương pháp này thánh nhân công bố rằng người ta không còn có thể tin vào Thiên Chúa mà không tin vào Đức Ki tô. Nét đặc trưng của Ki tô giáo là liên kết mật thiết với con người của Chúa Ki-tô khi tuyên xưng Thần Tính của Ngài.
Lời tuyên tín này chắc chắn gây khó khăn cho những anh em đồng đạo của thánh nhân, thánh Phao-lô biết rất rõ điều này. Nhưng Kinh Thánh loan báo điều này rất rõ đến mức dân Ít-ra-en phải sáng suốt mà nhận ra. Đây là tất cả niềm hy vọng của thánh nhân.
TIN MỪNG (Lc 4: 1-13)
Câu chuyện Chúa Giê-su chịu cám dỗ trong hoang địa được cả ba Tin Mừng Nhất Lãm thuật lại, thánh Mác-cô tường thuật ngắn nhất, trong khi thánh Mát-thêu và thánh Lu-ca tường thuật dài hơn. Hai bài tường thuật của Mát-thêu và Lu-ca có thể được đặt song song, nhờ đó nêu bật vài điểm khác biệt. Vào năm phụng vụ này, Năm C, chúng ta đọc câu chuyện theo Tin Mừng Lu-ca.
Câu chuyện Chúa Giê-su chịu cám dỗ được liên kết với câu chuyện Chúa Giê-su rút lui vào hoang địa, biến cố mà chúng ta phải khảo sát trước tiên.
1. Chúa Giê-su rút lui vào hoang địa:
Sau khi Chúa Giê-su đón nhận phép rửa bởi Gioan Tẩy Giả, Ngài rời bỏ bờ sông Gio-đan để đi sâu vào hoang địa, đây là hoang địa Giu-đê, gần Biển Chết, nơi dòng sông Gio-đan đổ vào. Đây cốt yếu là tác động của Chúa Thánh Thần: “Đức Giê-su được đầy Thánh Thần”. Thánh Mát-thêu và thánh Mác-cô cũng nhận ra Chúa Thánh Thần là tác nhân tích cực của quyết định này, tuy nhiên thánh Lu-ca còn tinh tế hơn khi nói thêm: “Người được Chúa Thánh Thần dẫn đi trong hoang địa”, tức là, Đức Giê-su tuân theo ý muốn của Chúa Thánh Thần, Đấng hằng ở trong Ngài. Chúng ta biết rằng thánh Lu-ca là thánh ký duy nhất quan tâm nhất đến sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, cả trong sách Tin Mừng của mình lẫn trong sách Công Vụ Tông Đồ; ở đây thánh ký biết nêu lên điều này một cách tinh tế.
2. A-đam mới:
Một nét đặc trưng khác của Tin Mừng Lu-ca: thánh ký đặt vào giữa câu chuyện phép rửa và câu chuyện cám dỗ gia phả của Chúa Ki-tô mà thánh nhân không chỉ lên đến vua Đa-vít và tổ phụ Áp-ra-ham như thánh Mát-thêu, nhưng đến tận nguyên tổ “A-đam là con Thiên Chúa” (Lc 3: 38). Như vậy, ngay sau khi nêu lên nguyên tổ A-đam, câu chuyện cám dỗ mới bắt đầu. Điều này muốn nói rằng Chúa Giê-su là A-đam mới; khi chiến thắng Ác Thần, Ngài trở thành thủ lãnh của nhân loại tái sinh.
3. Mô-sê mới:
Chúa Giê-su chuẩn bị sứ mạng của mình trong chiêm niệm, cầu nguyện và chay tịnh, những phương tiện mà những ai mong ước được kết hiệp với Thiên Chúa luôn luôn sử dụng. Ngài chuẩn bị suốt bốn mươi ngày đêm, như ông Mô-sê trong sa mạc Xi-nai, trước khi đón nhận hai bảng Thập Giới (Xh 24: 18 và Đnl 9: 9), cũng như ngôn sứ Ê-li-a, sau khi đã được bồi dưỡng bởi thần lương, đi suốt bốn mươi ngày đêm tới núi Khô-rếp để gặp gỡ Thiên Chúa (1V 19: 8).
Quả thật, trong tình tiết này Đức Giê-su xuất hiện như một Mô-sê mới. Như xưa kia, ông Mô-sê xuống núi với những lời Giao Ước, nền tảng của dân Ít-ra-en là dân Chúa chọn, Chúa Giê-su sẽ rời hoang địa để thiết lập một Giao Ước mới và hình thành nên một dân Thiên Chúa mới.
4. Dân Ít-ra-en mới:
Con số “bốn mươi” cũng gợi lên bốn mươi năm dân Do thái lữ hành trong hoang địa, trong suốt những năm tháng đó họ đã kinh qua những chước cám dỗ, điều này gợi nhớ những chước cám dỗ của Chúa Giê-su. Nhưng trong khi dân Ít-ra-en thất bại, thì Chúa Giê-su lại chiến thắng.
Cuối cùng, giai đoạn hoang địa đối với Chúa Giê-su là một cách thức khẳng định sự liên đới của Ngài với dân Ngài; cũng vậy, việc Hài Nhi Giê-su phải lánh nạn sang Ai-cập được tường thuật trong Tin Mừng Thơ Ấu theo thánh Mát-thêu đã cho Ngài sống lại cuộc xuất hành của dân Ngài. Chúa Giê-su tóm gọn ở nơi con người của Ngài lịch sử dân tộc Ngài; Ngài là dân Ít-ra-en mới.
admin
14-02-2010, 05:57 PM
5. Ý nghĩa của những chước cám dỗ:
Sự kiện Chúa Giê-su chịu cám dỗ được truyền thống chứng thực rất mạnh mẽ; tuy nhiên, không có ai được diễm phúc chứng kiến biến cố này. Vì thế, người ta phải giả sử rằng Chúa Giê-su đã kể lại sự kiện này cho các môn đệ Ngài. Người ta muốn định vị lời tâm sự này sau lời tuyên tín của thánh Phê-rô ở Xe-da-rê, khi Chúa Giê-su nhận ra rằng các Tông Đồ, thánh Phê-rô là người đầu tiên, vẫn cứ bám chặc vào một quan niệm sai lạc về Đấng Mê-si-a, vì thế Ngài trách cứ nặng lời với thánh Phê-rô mà chúng ta nghe như âm vang câu chuyện cám dỗ này: “Xa-tan! Lui lại đàng sau Thầy! Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mc 8: 33). Mặt khác, Chúa Giê-su rõ ràng ám chỉ đến cuộc chiến thắng của Ngài trên Xa-tan trong dụ ngôn về một người mạnh được trang bị đầy đủ: “Nếu tôi dựa vào Thần Khi của Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là triều đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông. Làm sao người ta có thể vào nhà một kẻ mạnh và cướp của được, nếu không trói kẻ mạnh ấy trước đã, rồi mới cướp sạch nhà nó” (Mt 12: 28-29; Mc 3: 26; Lc 11: 21).
6. Liên đới với con người:
Bài học đầu tiên của việc Chúa Giê-su chịu các chước cám dỗ chắc chắn là bài học về sự liên đới của Ngài với nhân loại. Chúa Giê-su, khi chấp nhận sống kiếp người, đã muốn đảm nhận những cảnh đời nô lệ, yếu đuối, đau khổ về phương diện luân lý cũng như thể chất. Vào lúc chịu phép rửa, tiếng phán từ trời đã nhắc nhở Ngài, không chỉ địa vị Con Thiên Chúa, nhưng còn ơn gọi làm Người Tôi Trung của Ngài. Chúa Giê-su biết Kinh Thánh đã loan báo những gì liên quan đến dung mạo người tôi trung này; Ngài biết con đường nào Ngài phải đi qua; Ngài chấp nhận, nhưng về phương diện phàm nhân, Ngài cảm thấy xao xuyến. Trước khi bắt đầu sứ mạng của mình, Đức Giê-su bị tác động mạnh bởi nỗi sợ hãi và xao xuyến, và xuất hiện trước mắt Ngài những hình ảnh quyến rủ hơn, đó là chuyện thường tình.
Tình tiết hoang địa sóng đôi với tình tiết vườn Ô-liu (thánh Lu-ca đã nhận ra điều này). Nỗi cô độc của hoang địa tương ứng với nỗi cô độc của vườn Ô-liu; viễn cảnh về một sứ mạng gian nan tương ứng với viễn cảnh bi thảm hơn của cuộc Tử Nạn gần kề. Cơn cám dỗ đã có thể mặc lấy hình thức của cuộc tranh luận nội tâm, diễn ra suốt cuộc rút lui vào hoang địa này, như thánh Mác-cô và thánh Lu-ca gợi lên – điều này không có gì là không thật cả - đoạn đạt đến cực điểm, vì thể chất yếu nhược của Đức Giê-su sau khi đã chay tịnh lâu ngày.
Chính cực điểm này mà các thánh ký muốn mô tả, khi trình bày sự đối đầu mầu nhiệm của Ngài. Hình thức văn chương của bài tường thuật rất gần với loại chú giải kinh sư (“midrash”) và văn chương khải huyền Do thái.
Ba chước cám dỗ nêu bật những thái độ mà Chúa Giê-su đã từ chối và đồng thời cũng là những chọn lựa mà Ngài đã tự nguyện thực hiện trong sự vâng phục ý định của Chúa Cha.
- Đấng Cứu Thế trần tục:
Sau những ngày chay tịnh, Chúa Giê-su cảm thấy đói. Quỷ gợi lên cho Ngài biến đá hoang địa thành bánh; quỷ muốn thử thách quyền năng của Đấng có thể là “Con Thiên Chúa”, tước hiệu đã được công bố vào lúc Ngài chịu phép rửa bởi Gioan Tẩy Giả; nó muốn hướng quyền năng này về những của cải thuộc trật tự vật chất.
Trong cảnh thiếu thốn của hoang địa, tư tưởng đã có thể đến với Chúa Giê-su là sử dụng quyền năng của mình trên những sự vật vào những mục đích vị kỷ. Ngài đã bác bỏ điều đó; Ngài sẽ không bao giờ sử dụng quyền năng này ngoại trừ vì tha nhân và còn các phép lạ sẽ là những dấu chỉ của những của cải tinh thần mà Ngài đem đến cho con người một cách phong phú.
Xưa kia dân Do thái, vì phải đói trong hoang địa, đã nhận được ân ban bánh man-na; ông Mô-sê đã cảnh giác họ coi chừng thói tham lam của cải vật chất: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh” (Đnl 8: 3). Chúa Giê-su đáp trả Xa-tan với cùng một lời này. Chúng ta lưu ý rằng trong câu trả lời này, Chúa Giê-su không chỉ không vén mở căn tính của Ngài, nhưng còn tự đồng hóa mình với loài người.
Một ngày kia, Ngài cũng lâm vào cảnh đói. Các môn đệ đem thức ăn đến cho Ngài. Ngài sẽ trả lời: “Thầy phải dùng một thứ lương thực mà anh em không biết…Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy” (Ga 4: 32-33).
- Đấng Cứu Thế thống trị:
Thánh Lu-ca đặt cơn thử thách về quyền thống trị vào chước cám dỗ thứ hai, trong khi thánh Mát-thêu lại đặt vào chước cám dỗ thứ ba. Việc đảo lộn trật tự này sẽ cho phép thánh Lu-ca kết thúc bài tường thuật của mình với việc kể ra Giê-ru-sa-lem và Đền Thờ, tiêu điểm sách Tin Mừng của mình.
Ngoài ra, việc đảo lộn trật tự này nêu bật lập luận bất khả chuyển lay của Xa-tan. Quỷ quy chiếu đến tiếng phán từ trời vào lúc Đức Giê-su chịu phép rửa: “Con là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con”. Đây là câu trích dẫn từ Thánh Vịnh 2, ấy vậy, thánh vịnh này tiếp tục với những lời như sau: “Con cứ xin, rồi Cha ban tặng muôn dân nước làm sản nghiệp riêng, toàn cõi đất làm phần lãnh địa” (Tv 2: 8).
Quỷ đề nghị dâng hiến muôn dân nước cho Ngài nếu Ngài bái lạy quỷ. Quỷ đưa Ngài “lên cao”, chắc chắn đây là một trong những nơi siêu phàm, như trong các thị kiến của các sách khải huyền. Hơn nữa, bản văn gợi ra một bước phát triển của những chước cám dỗ, không còn cám dỗ về của cải vật chất, nhưng về quyền lực thống trị: “Tôi sẽ cho ông quyền cai trị cùng với vinh hoa lợi lộc của các nước này…”.
Chúa Giê-su biết rõ rằng dân Ngài đang sống trong niềm hy vọng về một Đấng Cứu Thế, Đấng ấy sẽ dành lại nền độc lập chính trị cho họ, phục hưng vị thế và quyền lực của họ. Trong những lúc trầm tư một mình, Chúa Giê-su đã có thể ước tính lợi ích hấp dẫn ở nơi Đấng Mê-si-a giải phóng đáp ứng những ước vọng của dân Ít-ra-en. Như vậy, việc mở rộng triều đại Thiên Chúa thật là thuận lợi biết bao! Tuy nhiên, chủ nghĩa cứu thế này, Chúa Giê-su đã luôn luôn từ chối, Ngài lẫn tránh những ước nguyện của đám đông, khi giải thích rằng vương quốc của Ngài thuộc trật tự tinh thần.
Việc Xa-tan đề nghị quyền thống trị thế giới phù hợp với não trạng của thời đại. Việc đồng hóa những quyền lực chính trị với những thế lực Ác Thần càng dể dàng hơn, vì những quốc gia thống trị là những quốc gia thuộc thế giới ngoại giáo.
Về việc quỷ đề nghị thờ ngẫu tượng, Chúa Giê-su đáp trả bằng những lời mà ông Mô-sê đã ngỏ lời với dân Do thái vào bối cảnh dân bị thử thách cúng tế các thần Ba-an của dân Ca-na-an: “Chính Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, là Đấng anh em phải kính sợ; chính Người là Đấng anh em phải phụng thờ” (Đnl 6: 13).
Chỉ sau khi đã trải qua Tử Nạn và Phục Sinh, Chúa Giê-su sẽ lãnh nhận quyền Chủ Tể hoàn vũ; Ngài sẽ nắm trọn chủ quyền này từ Cha Ngài chứ không từ ai khác.
- Đấng Cứu Thế siêu phàm:
Theo nhịp độ tăng dần của thánh Lu-ca, chước cám dỗ mạnh nhất mà Chúa Giê-su phải chế ngự, đó là muốn nâng đỡ công việc cứu thế của Ngài bằng những hành động phi thường.
Quỷ đặt Chúa Giê-su trên nóc Đền Thờ. Từ nóc Đền Thờ đến bức tường thành xung quanh khoảng bốn mươi mét. Quỷ nói với Ngài: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì đứng dậy mà gieo mình xuống đi”.
Xa-tan khôn khéo trích dẫn Tv 91: 11-12. Thánh Vịnh mang chiều kích Mê-si-a này gợi lên người công chính trung thành được Đức Chúa cho các thiên sứ của Ngài đến phù trợ; quỷ bóp méo ý nghĩa của Thánh Vịnh này khi đề nghị với Chúa Giê-su một hành động khêu khích buộc Thiên Chúa phải can thiệp.
Chúa Giê-su đáp lại rằng Ngài sẽ không xin Thiên Chúa bảo vệ che chỡ Ngài một cách ngông cuồng đến mức làm cho Ngài khác với mọi người; kể từ lúc đó Ngài làm cho hiểu rằng Ngài sẽ không tìm cách thoát khỏi cái chết.
Dân Ít-ra-en trong hoang địa đã phạm tội trọng vì đã dám thử thách Thiên Chúa, khi đòi hỏi Thiên Chúa ban cho dân Ngài nước uống thức ăn, những cuộc chiến thắng, vân vân, bằng cách can thiệp một cách diệu kỳ. Chúa Giê-su trích dẫn lời trách cứ của ông Mô-sê trong sách Đệ Nhị Luật: “Anh em đừng thử thách Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em” (Đnl 6: 16).
7. Quỷ bỏ đi, chờ đợi thời cơ:
Qua việc lướt thắng mọi chước cám dỗ, Đức Giê-su chỉ cho chúng ta làm thế nào đối phó với những mưu mô xảo quyệt của quỷ dữ. Với tư cách là một con người, Ngài bị cám dỗ, và cũng với tư cách một con người, Ngài kháng cự: “Ngài đã không hành xử như Thiên Chúa, khi phát huy quyền năng của Ngài; giả như Ngài đã làm như vậy, làm thế nào chúng ta có thể noi gương Ngài được? Đúng hơn, như một con người, Ngài đã tận dụng những nguồn lực mà Ngài có chung với chúng ta” (St Ambrose, Expositio Evangelii sec. Lucam, in loc.).
Ngài đã muốn chỉ cho chúng ta những phương pháp sử dụng để đánh bại quỷ dữ - cầu nguyện, chay tịnh, tỉnh thức, đọc những Lời Chúa trên môi miệng và đặt trọn niềm tín thác vào Chúa.
Sau khi đã xoay hết cách để cám dỗ Người, quỷ bỏ đi,“Chờ đợi thời cơ”, nghĩa là, chờ đợi lúc Đức Giê-su trải qua cuộc thương khó của Ngài. Quỷ thường xuất hiện trong suốt cuộc đời công khai của Chúa chúng ta (x. ví dụ như Mc 12: 28), nhưng thời cơ thuận tiện nhất là cuộc Thương Khó – “Đây là giờ của các ông, là thời của quyền lực tối tăm” (Lc 22: 53) – giờ mà quỷ sẽ được thấy rõ ràng nhất trong vai trò của nó như tên cám dỗ. Đức Giê-su sẽ báo trước cho các môn đệ Ngài về điều này và nhiều lần đảm bảo với họ là Ngài sẽ chiến thắng (x. Ga 12: 31; 14: 30). Ở nơi cuộc thương khó, tử nạn và phục sinh của Đức Ki tô, quỷ sẽ dốc toàn lực một lần sau cùng. Vì thế, nhờ vào sự chiến thắng của Đức Ki tô chúng ta có thể lướt thắng mọi chước cám dỗ.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
21-02-2010, 12:34 PM
admin
21-02-2010, 12:35 PM
3. Trời và Đất:
Dù thế nào, thánh Phao-lô đối lập những công dân Nước Trời với những người mà Chúa của họ là cái bụng.
Dường như thánh nhân đã chọn cách nói này khi quy chiếu đến thể chế chính trị đặc biệt của thành phố Phi-líp-phê. Thành phố này là thuộc địa của Rô-ma, dân cư của nó có “quyền công dân”; vì thế họ là công dân Rô-ma. Thánh nhân nói cho họ biết rằng quê hương đích thật của người Ki tô hữu là Nước Trời.
Chính ở nơi tước vị công dân Nước Trời này mà chúng ta mong đợi sự thay hình đổi dạng của chúng ta: “Còn chúng ta, quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giê-su Ki-tô từ trời đến cứu chúng ta”. Thánh Phao-lô dùng cùng những ngôn từ như khi thánh nhân nói về Đức Ki-tô trong bài thánh thi ở đầu thư gởi cho các tín hữu Phi-líp-phê này. Như vậy, sau khi tự hạ mình và chịu chết, Đức Ki-tô được tôn vinh để đảm bảo sự thay hình đổi dạng của chúng ta.
TIN MỪNG (Lc 9: 28-36)
Câu chuyện Biến Hình được cả ba sách Tin Mừng nhất lãm trình thuật. Mỗi năm trong ba năm phụng vụ trình bày một trong ba bài trình thuật này vào Chúa Nhật II Mùa Chay. Vào Phụng Vụ Năm C này, chúng ta đọc bài trình thuật theo thánh Lu-ca.
1. Nhưng nét đặc trưng của bài trình thuật theo thánh Lu-ca:
Xét về cơ bản, cả ba bài trình thuật khá giống nhau. Tuy nhiên, những sắc thái làm cho chúng khác nhau. Thánh Lu-ca đem đến những xác định riêng của mình; thêm nữa, thánh ký gợi lên khoa thần học về vinh quang được liên kết với viễn cảnh của cuộc Tử Nạn, sắc thái này ban cho bài trình thuật của mình một cung giọng Tin Mừng Gioan. Người ta đã nghĩ rằng nguồn thông tin của thánh ký đã có thể là Gioan, một trong ba nhân chứng trực tiếp của biến cố Biến Hình này.
Như thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu, thánh Lu-ca định vị biến cố Biến Hình chỉ vài ngày sau lời tuyên xưng đức tin của thánh Phê-rô và lời loan báo đầu tiên của Chúa Giê-su về cuộc Tử Nạn của Ngài. Tuy nhiên, thánh Lu-ca đặt lời tuyên xưng của thánh Phê-rô ngay liền biến cố Bánh Hóa Nhiều, như thánh Gioan, chứ không sau này như thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu.
Thánh Lu-ca cũng khác biệt hai Tin Mừng nhất lãm kia về một điểm có ý nghĩa khác, ngay từ trước bài trình thuật của mình về cuộc Biến Hình. Khi Chúa Giê-su loan báo cho các môn đệ của Ngài cuộc Tử Nạn sắp tới của Ngài, Ngài liên kết lời loan báo của Ngài với hai thị kiến để làm yên lòng các môn đệ: thị kiến “Con Người từ cõi chết sống lại” và thị kiến “Con Người ngự đến trong vinh quang”. Thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu viết: “Con Người ngự đến trong vinh quang của Cha Người” (Mc 8: 38; Mt 16: 27); thánh Lu-ca đính chính: “Người ngự đến trong vinh quang của mình và vinh quang của Chúa Cha” (Lc 9: 26). Vinh quang của chính Chúa Giê-su sẽ là một nét đặc trưng đối với thánh ký trong bức tranh về biến cố Biến Hình.
Biến cố này phải được khảo sát dưới hai khía cạnh của nó: cuộc Biến Hình được sống bởi Chúa Giê-su, cuộc Biến Hình được sống bởi các nhân chứng.
2. Biến cố Biến Hình đối với Chúa Giê-su:
“Đức Giê-su lên núi cầu nguyện”. Địa danh của Núi không được nêu tên, có lẽ một ngọn đồi miền Ga-li-lê mà Đức Giê-su có thói quen rút lui một mình. Nhưng trong Kinh Thánh, núi được liên kết với mặc khải của Thiên Chúa. Vả lại, núi này sắp mặc lấy một dáng dấp núi Xi-nai trong vài giây phút.
Chúa Giê-su lên núi cầu nguyện. Thánh Lu-ca luôn luôn chú ý nhấn mạnh thái độ này của Đức Giê-su; chỉ một mình thánh ký kể ra việc Chúa Giê-su cầu nguyện vào giây phút này, cũng như chỉ một mình thánh ký đã chỉ ra việc Chúa Giê-su cầu nguyện khi Ngài chịu phép rửa bởi ông Gioan Tầy Giả. Trong cả hai trường hợp, “Trời” đã đáp trả bằng những ngôn từ hầu như giống nhau.
Trong khi Chúa Giê-su cầu nguyện, “dung mạo của Ngài bổng đổi khác, y phục Người trở nên trắng tinh chói lòa”. Thánh Lu-ca mô tả những thay đổi như vậy để tránh cách nói: “biến đổi hình dạng” được dùng bởi thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu, vì đối với thánh Lu-ca, cách nói: “biến đổi hình dạng” âm vang ngôn từ ngoại giáo.
Như vậy, thánh ký định vị biến cố Biến Hình ở lòng cuộc sống nội tâm của Chúa Giê-su, như một thực tại thần bí xuất phát từ chính Chúa Giê-su; Ngài không đón nhận biến cố này từ bên ngoài; vào lúc đó, nhân cách thực sự của Ngài được bày tỏ ra một cách tỏ tường.
3. Ông Mô-sê và ông Ê-li-a:
“Và kìa, có hai nhân vật đàm đạo với Người, đó là ông Mô-sê và ông Ê-li-a”. Rõ ràng, thánh ký ám chỉ đến luật Mô-sê, theo đó tính xác thực của một sự kiện chỉ được chấp nhận nếu ít nhất có hai nhân chứng (Đnl 19: 15).
Cả hai nhân vật này: ông Mô-sê và ông Ê-li-a, đều đã gặp gỡ Thiên Chúa trên núi thánh; và cả hai, theo truyền thống, đều được đưa lên trời bên cạnh Thiên Chúa một cách mầu nhiệm: ông Ê-li-a được đưa lên trời trên một chiếc xe lửa, trước mắt của người môn đệ mình là ông Ê-li-sê (2V 11-12); còn ông Mô-sê, không ai đã thấy ngôi mộ của ông (Đnl 34: 5-6). Chắc chắn ông Mô-sê tiêu biểu Lề Luật, còn ông Ê-li-a đại diện trào lưu ngôn sứ, nhưng trên hết, không ai xứng đáng hơn hai nhân vật này làm chứng về Đấng Mê-si-a.
“Hai vị hiện ra, rạng ngời vinh hiển”. Đây là điểm ghi chú riêng của thánh Lu-ca, ông Mô-sê và ông Ê-li-a được dự phần vào ánh vinh quang của Thiên Chúa.
“Họ nói về cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giê-ru-sa-lem”. Chỉ một mình thánh Lu-ca xác định điều này. Từ “xuất hành” gợi lên rằng Chúa Giê-su là Mô-sê mới, Đấng sắp giải phóng con người khỏi cảnh nô lệ và hướng dẫn dân Ít-ra-en mới về vương quốc Thiên Chúa, qua việc Ngài vượt qua từ cuộc Tử Nạn đến Phục Sinh.
Như vậy, biến cố Biến Hình nhằm củng cố niềm tin của chúng ta: hậu cảnh của cuộc quy tụ ở trên núi Biến Hình này là đồi Gôn-gô-tha và vinh quang sau này của Ngài. Vào lúc Chúa Giê-su khởi sự phần khó khăn nhất của sứ mạng Ngài, Ngài nhận được niềm an ủi đặc biệt. Chúa Giê-su được đảm bảo rằng con đường đau khổ mà Ngài sắp đi qua, sẽ dẫn Ngài đến vinh quang, vinh quang mà Ngài đã sở hữu trước khi nhập thể, và vào lúc này Ngài lấy lại một thoáng ánh vinh quang này. Biến cố Biến Hình là sự nâng đỡ tâm lý và tinh thần quan trọng bậc nhất mà Chúa Giê-su đã đón nhận trong suốt sứ vụ của Ngài, ít ra trong chừng mực mà chúng ta có thể biết.
4. Biến cố Biến Hình đối với ba nhân chứng:
Đức Giê-su “đem theo các ông Phê-rô, Gioan và Gia-cô-bê”. Đây cũng là ba vị Tông Đồ mà Chúa Giê-su cũng đã chọn làm nhân chứng về cuộc phục sinh bé gái của viên trưởng hội đường, ngỏ hầu họ hiểu một cách chính xác mối liên hệ giữa Biến Hình và Phục Sinh. Cũng chính ba người môn đệ này mà Chúa Giê-su đem theo riêng với Ngài vào vườn Ô-liu ở đó họ sẽ là nhân chứng về cơn hấp hối của Ngài; một cách nào đó trước hết Ngài muốn trấn an họ.
Trong khi Chúa Giê-su cầu nguyện, các môn đệ “ngủ mê mệt”. Sự kiện chính xác sẽ được tái diễn ở vườn Ô-liu và chũng chính ba môn đệ này ngủ mê mệt. Chắc chắn là giấc ngủ tự nhiên, trừ phi là một trong trong những giấc ngủ này đánh dấu khoảng cách giữa con người và mầu nhiệm Thiên Chúa, như giấc ngủ của tổ phụ Áp-ra-ham trong bài đọc I, hay giấc ngủ của ông A-đam trong sách Sáng Thế.
“Khi tỉnh hẳn, các ông nhìn thấy vinh quang của Chúa Giê-su và hai nhân vật đứng bên Người”. Việc kể ra vinh quang của Chúa Giê-su ở trung tâm bài trình thuật của Lu-ca khiến người ta nghĩ đến Tựa Ngôn của Gioan: “Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật” (Ga 1: 14). Sau này, thánh Phê-rô và các bạn đồng môn của ông sẽ phải đảm nhận một công việc khó khăn là rao giảng một Đức Ki-tô bị đóng đinh giữa hai tên trộm cướp, vào giây phút này lại chiêm ngưỡng cũng một Đức Giê-su vinh quang giữa hai nhân vật nổi danh của lịch sử Ít-ra-en. Núi Biến Hình là phản đề của đồi Gôn-gô-tha.
Thánh Phê-rô, bốc đồng và nhiệt thành, muốn dừng thời gian lại, cố định thị kiến này mãi mãi. Thánh nhân đề nghị dựng ba cái lều, một cho Đức Giê-su, một cho ông Mô-sê và một cho ông Ê-li-a; thánh nhân không nghĩ đến mình, cũng như các bạn đồng môn của mình. Có thể thánh nhân nghĩ đến Lễ Lều, biểu tượng sự chờ đợi Đấng Mê-si-a…Nhưng “ông không biết mình đang nói gì”; biến cố vượt quá khả năng hiểu biết của thánh nhân.
“Ông còn đang nói, thì bổng có một đám mây bao phủ các ông”, như quyền năng của Chúa Thánh Thần đã bao phủ Đức Ma-ri-a, và như Đám Mây trong Cựu Ước biết bao lần vừa bày tỏ vừa che phủ sự hiện diện của Thiên Chúa, đó cũng là đám mây trên đó Con Người sẽ ngự xuống vào ngày cánh chung…
“Khi thấy mình vào trong đám mây, các ông hoảng sợ”. Đám mây này bao phủ các ông, như vậy hiệp nhất các ông với Đức Giê-su và liên kết các ông với mầu nhiệm của Ngài, vào trong bí mật của một mặc khải mà các ông sẽ không dám thuật lại cho bất kỳ ai về những điều mình đã chứng kiến.
Một tiếng nói vang lên ngỏ lời với các ông, một tiếng nói công bố Đức Giê-su là Con Thiên Chúa, Đấng mà Chúa Cha đã chọn, như vào lúc Chúa Giê-su chịu phép rửa, nhưng thêm vào một mệnh lệnh khẩn thiết: “Hãy vâng nghe lời Người”. Mệnh lệnh này chắc chắn ám chỉ đến kinh “Shema Israen” , kinh bắt đầu với “Hãy nghe, hỡi Ít-ra-en”. Thánh Phê-rô và các bạn đồng môn đại diện dân Ít-ra-en mới.
[font=Times New Roman][size=3]“Hãy vâng nghe lời Người!”: mọi điều Thiên Chúa muốn nói cho nhân loại Ngài đã nói qua Đức Ki tô, thời gian viên mãn đã đến (x. Dt 1: 1). Thánh Gioan Thánh Giá giải thích: “Hãy chăm chú nhìn vào một mình Ngài, vì ở nơi Ngài Ta đã nói và mặc khải cho con mọi điều, và ở nơi Ngài con sẽ gặp thấy thậm chí nhiều hơn điều con xin và ước muốn…Hãy lắng nghe Ngài, vì Ta không có thêm niềm tin để mặc khải, cũng không có thêm những điều gì để tuyên bố” (Ascent o f Mount Carmel, book 2, chap. 22, 5).
5. Bài học của cuộc Biến Hình:
Qua cuộc Biến Hình, Đức Giê-su tăng cường đức tin của các môn đệ Ngài, mặc khải thân thể vinh quang của Ngài sau khi Ngài sống lại. Ngài muốn họ nhận ra rằng cuộc Tử Nạn của Ngài sẽ không là dấu chấm hết nhưng đúng hơn con đường Ngài phải đi qua để đạt đến vinh quang của Ngài. “Đối với một người đi liền một mạch trên đường, người ấy phải có một sự hiểu biết nào đó về cùng đích – giống như một cung thủ sẽ không bắn liền ngay mũi tên trừ khi trước hết người ấy thấy mục tiêu…Điều này đặc biệt cần thiết nếu con đường thì cam go hay gập ghềnh, cuộc ra đi nặng nhọc, thì cùng đích lại thú vị” (St Thomas Aquinas, Summa theologiae, III, q. 45, a. 1).
Qua biến cố Biến Hình, Đức Giê-su vén mở một trong những phẩm chất của thân thể được tôn vinh, thân thể của các thánh sẽ rạng ngời vinh hiển như lời của Chúa Giê-su được ghi lại trong Tin Mừng Mát-thêu: “Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời, trong Nước của Cha họ” (Mt 13: 43). Về phẩm chất thân xác được tôn vinh này, thánh Phao-lô khi thì gọi vinh quang: “Gieo xuống thì hèn hạ, mà chỗi dậy thì vinh quang” (1Cr 15: 43), khi khác thì gọi vinh hiển: “Người có quyền năng…mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3: 21). Về vinh quang này dân Ít-ra-en đã chiêm ngắm hình ảnh nào đó trong sa mạc, khi gương mặt của ông Mô-sê, sau cuộc gặp gỡ và trò chuyện với Thiên Chúa trên núi Xi-nai, đã chói sáng rạng rỡ đến mức họ không thể nhìn vào gương mặt của ông (Xh 34: 29; 2Cr 3: 7). Tất cả mọi thân thể của các thánh sẽ không bị hư nát, nhưng dự phần vào hạnh phúc trọn vẹn bên cạnh Thiên Chúa.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
28-02-2010, 04:28 PM
CHÚA NHẬT III MÙA CHAY
Tin Mừng hôm nay nêu lên hai đề tài hướng sự chọn lựa của bài đọc I và bài đọc II. Một mặt, đề tài về sự ân cần chăm sóc của Thiên Chúa đối với dân Ngài (bản văn của sách Xuất Hành và dụ ngôn về cây vả không sinh trái trong Tin Mừng Lu-ca); và mặt khác, đề tài về tính tự phụ của những ai tin rằng mình công chính không có bất kỳ yếu nhược nào (những lời khuyên của thánh Phao-lô và lời cảnh giác của Chúa Giê-su).
Xh 3: 1-8a, 13-15
Thiên Chúa siêu việt mặc khải tên mình, Ngài là Hữu Thể tuyệt đối, đồng thời cũng là Đấng động lòng trắc ẩn trước cảnh cùng khốn của dân Ngài và sai ông Mô-sê ra đi giải phóng dân Ngài khỏi cảnh đời tôi mọi.
1Cr 10: 1-6, 10-12
Thánh Phao-lô nhắc các tín hữu Cô-rin-tô nhớ lại đức khiêm tốn. Thâm chí những ai được ban cho những ơn trợ lực dồi dào hơn những người khác, như dân Do thái trong hoang địa và những Ki tô hữu nhờ các bí tích, hãy coi chừng đừng để mình quỵ ngã vào tội lỗi.
Lc 13: 1-9
Tin Mừng Lu-ca thuật lại hai sự cố nghiêm trọng: cuộc thảm sát của những người Ga-li-lê và một tai nạn thảm khóc gây nên cái chết của mười tám người Giu-đê. Từ đó, Chúa Giê-su rút ra một bài học: Ngài tách biệt tai họa và tội lỗi, nhưng đối với những ai tin mình công chính, Ngài nhắc nhở rằng họ là những tội nhân, vì thế cái chết cũng đe dọa họ; tuy nhiên Thiên Chúa đang ra công làm việc trước khi chặt cái cây không đơm hoa kết trái.
BÀI ĐỌC I (Xh 3: 1-8a, 13-15)
Sách Xuất Hành được gọi là “sách Tin Mừng Cựu Ước”. “Tin Mừng” mà sách thuật là Tin Mừng về việc Thiên Chúa can thiệp vào trong lịch sử của dân Do thái để giải phóng dân khỏi đất nô lệ và dẫn dân về một xứ sở tốt đẹp hơn, tiên trưng một cuộc giải phóng khác và cuộc hành trình khác về Nước Trời.
Sách Xuất Hành không chỉ là câu chuyện về “cuộc xuất hành” ra khỏi đất Ai-cập, nhưng còn câu chuyện về lộ trình tâm linh. Những chặng móc đầu tiên của lộ trình này là ơn gọi của ông Mô-sê và mặc khải về mầu nhiệm của Thiên Chúa.
1. Ơn gọi của ông Mô-sê:
Có nhiều dị bản về ơn gọi của ông Mô-sê. Bản văn chúng ta đọc hôm nay là một trong những dị bản đó, những dị bản khác muộn thời hơn được gặp thấy ở Xh 6: 2-13 và 6: 28-7: 7. Hai dị bản này thuộc chứng liệu Tư Tế, được gọi như thế vì chúng được soạn thảo bởi các tư tế Đền Thờ Giê-ru-sa-lem trong thời kỳ lưu đày ở Ba-by-lon vào thế kỷ thứ tư trước Công Nguyên.
Theo những truyền thống cổ xưa nhất, khi ông Mô-sê nhận được tiếng gọi của Thiên Chúa, thì ông đã rời bỏ đất Ai-cập từ nhiều năm rồi. Sau khi đã lớn lên trong cung đình Pha-ra-on và đã nhận được một nền giáo dục ưu việt, ông đã ý thức về những điều kiện sống khổ cực mà đồng bào ông phải chịu. Một ngày kia thấy một người Ai-cập đánh đập một người Do thái, ông Mô-sê đã xông vào người Ai-cập, giết chết và vùi thây người ấy trong cát. Sự việc đã bị bại lộ, ông Mô-sê sợ bị trả thù nên chạy trốn và lánh nạn tại dân Ma-đi-an, dân du mục và sống nghề chăn nuôi. Ở đó ông đã cưới một trong bảy cô con gái của thầy tư tế Ma-đi-am, tên là Git-rô.
Như vậy, ông Mô-sê đã sống lại cuộc sống du mục của các tổ phụ. Đối với ông Mô-sê, thời gian tha phương cầu thực này là một chuẩn bị tâm lý cho cuộc gặp gỡ của ông với vị Thiên Chúa của cha ông mình.
Bấy giờ, ông đang chăn chiên cho bố vợ của mình. Khi mùa hè tới, ông đi tìm những đồng cỏ miền núi xanh tươi hơn. Vì thế, ông dẫn đàn chiên qua bên kia sa mạc, đến “núi của Thiên Chúa” được gọi núi Khô-rếp. Chính ở nơi đó mà Thiên Chúa sẽ đòi hỏi ông trở thành mục tử của dân Ngài.
Chuyện tích về ơn gọi của ông Mô-sê này trộn lẫn và hiệp nhất hai truyền thống. Hai truyền thống này xuất xứ từ những chân trời khác nhau và cách biệt nhau đến khoảng hai thế kỷ. Mỗi truyền thống đem đến cho câu chuyện sứ điệp độc đáo của riêng mình.
Truyền thống cổ xưa nhất xuất xứ từ các bộ tộc phương Nam, được gọi là chứng liệu Gia-vít, vì Thiên Chúa được gọi là Gia-vê. Truyền thống Do thái kính trọng tên Thiên Chúa nên khi gặp tên này thì đọc “A-đô-nai”, nghĩa là “Chúa của tôi” và địch dịch “Đức Chúa”. Chứng liệu này thuộc thế kỷ thứ mười trước Công Nguyên. Truyền thống thứ hai xuất phát từ các bộ tộc phương Bắc, được gọi là chứng liệu Ê-lô-hít, vì Thiên Chúa được gọi Ê-lô-him. Ê-lô-him khác với Gia-vê không là tên riêng của Thiên Chúa, nhưng một thuật ngữ hay một khái niệm chung để nói về Thiên Chúa hay Thượng Đế, như chúng ta thường gặp thấy trong cách nói: “Ta là Đức Chúa (Gia-vê), Thiên Chúa (Ê-lô-him) của ngươi”, hay “Đức Chúa (Gia-vê), Thiên Chúa (Ê-lô-him) của anh em”. Vì thế, từ “Ê-lô-him” được dịch là “Thiên Chúa”. Chứng liệu này thuộc thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên.
Không đi vào trong những chi tiết quá chi li và bác học của khoa phê bình văn hình sử này, chúng ta chỉ cần xác định rằng chuyện tích bụi gai cháy đỏ thuộc về truyền thống Gia-vít và chuyện tích mặc khải danh Thiên Chúa thuộc về truyền thống Ê-lô-hít.
2. Bụi gai cháy đỏ:
“Thiên sứ của Đức Chúa hiện ra với ông trong đám lửa từ giữa bụi cây”.
Trong Cựu Ước, diễn ngữ “thiên sứ của Thiên Chúa” được dùng để chỉ chính Thiên Chúa (x. St 16: 7). Như vậy, đây thật sự là một cuộc thần hiện: Thiên Chúa đích thân tỏ mình ra.
Thiên Chúa tỏ mình ra trong môi trường “cây cao bóng cả” là một nét đặc trưng rất kinh điển ở miền Cận Đông, ở Ấn Độ, cũng như ở Hy-lạp cổ xưa. Vì cây cối thay cành đổi lá theo mùa là biểu tượng sự sống, nhưng nhất là, cây cao bóng cả tạo nên bầu khí uy nghi, thánh thiêng. Tác giả kinh thánh đã loại bỏ hình tượng này nhờ đến lửa. Thiên Chúa Ít-ra-en không ủng hộ bất kỳ hình tượng vật chất nào, Ngài chấp nhận tỏ mình ra bởi ánh sáng (hay đám mây chiếu sáng) và bởi lửa, ngọn lửa cháy bừng nhưng không thiêu hủy bụi cây. Chúng ta ghi nhận rằng từ “bụi cây” theo ngôn ngữ Hy-bá là “sinesh”, âm thanh tương tự với địa danh núi “Xi-nai”. Chắc hẳn, tác giả Gia-vít, vốn thích lối chơi chữ đồng âm dị nghĩa, đã muốn gợi lên ở nơi từ ở nơi từ “sinesh” (“bụi cây”) núi “Xi-nai”. Như vậy, qua từ “sinesh” này, ông muốn chuẩn bị cuộc thần hiện hùng vĩ trong ngọn lửa bừng bừng cháy trên núi Xi-nai mà không chỉ ông Mô-sê nhưng toàn thể dân chúng đều là những chứng nhân.
Hoạt cảnh tiếp theo cho thấy nét đặc trưng của tác giả Gia-vít: Thiên Chúa là Đấng rất gần gũi với con người: Ngài chuyện trò rất thân tình với ông Mô-sê, nhưng đồng thời Ngài là Đấng siêu việt: có một khoảng cách bất khả vượt qua giữa Thiên Chúa và con người: “Chớ lại gần! Cởi dép ở chân ra, vì nơi đang đứng là đất thánh”.
Thiên Chúa lại còn thổ lộ tấm lòng từ bi nhân ái của Ngài: “Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta…Ta đã nghe tiếng rên siết của chúng…Ta cũng đã thấy cảnh áp bức chúng phải chịu…”. Vì thế, Thiên Chúa trao gởi cho ông Mô-sê sứ mạng giải phóng dân Ngài.
3. Mặc khải Danh Thiên Chúa:
Chuyện kể Ê-lô-hít thì đạm bạc hơn; nó không có cảnh trí nào khác ngoài bụi gai cháy đỏ. Sách Đệ Nhị Luật vốn chuyển tải những truyền thống phương Bắc cũng gọi Thiên Chúa: “Đấng ngự giữa bụi gai” (Đnl 33: 16).
Thiên Chúa nói trực tiếp với ông Mô-sê: Ngài tự giới thiệu mình. Ngài không là một vị thần xa lạ: “Ta là Thiên Chúa của tổ tiên ngươi, Thiên của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, Thiên Chúa của Gia-cóp. Giờ đây, tiếng rên siết của con cái Ít-ra-en đã thấu tới Ta…Bây giờ, ngươi hãy đi! Ta sai ngươi đến với Pha-ra-ô để đưa dân Ta là con cái Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập”.
Ông Mô-sê chấp nhận sứ mạng được giao phó cho ông, nhưng nài xin Thiên Chúa mặc khải danh của Đấng sai ông.
Lúc đó, Thiên Chúa mặc khải danh Ngài cho ông Mô-sê. Danh Thiên Chúa này được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Theo cấu trúc của ngôn ngữ Hy bá, danh Thiên Chúa được dịch theo sát từ, hoặc ở thì hiện tại: “Ta là Đấng Ta là”, hay ở thì tương lai: “Ta là Đấng Ta sẽ là”. Dù ở hiện tại hay tương lai, điều cốt yếu ở nơi danh Thiên Chúa là động từ “là”, như câu tiếp theo chứng thực điều đó: “Ngươi nói với con cái Ít-ra-en thế này: ‘Đấng là sai tôi đến với anh em”: “Đấng là” đóng chức năng chủ từ của câu.
Chính vì thế, thánh Tô-ma A-qui-nô đã giải thích danh Thiên Chúa này theo nghĩa Hữu Thể của triết gia Hy lạp, Aristos, “Ta là Hữu Thể”, nghĩa là, Thiên Chúa là Đấng thường hằng, bất biến. Trong các bản dịch Kinh Thánh Việt Nam, mỗi dịch giả đề nghị hiểu và dịch theo cách riêng của mình như cha Nguyễn Thế Thuấn: “Ta có sao Ta có vậy!”, hay bản dịch của Ban Phụng Vụ Giờ Kinh: “Ta là Đấng Hiện Hữu”, hay Bản Dịch dùng trong Phụng Vụ: “Ta là Đấng Hằng Hữu”. Dù những cách dịch khác nhau này, chúng ta vẫn gặp thấy âm hưởng của cách hiểu tên Thiên Chúa theo Hữu Thể của thánh Tô-ma A-qui-nô. Việc hiểu tên Thiên Chúa theo triết học Hy lạp này đem đến một sự hiểu biết phong phú về tên Thiên Chúa. Tuy nhiên, các nhà chú giải hiện đại bác bỏ cách giải thích này vì hai lý do: Trước hết, động từ “là” ở thể “chưa hoàn thành” nên không diễn tả một hành động hoàn thành, nhưng một hành động đang tiếp diễn, chưa chấm dứt. Thứ nữa, tính chất niềm tin của dân Ít-ra-en thì thực tiển, tích cực và năng động. Vì thế, quan niệm siêu hình về một Hữu Thể tuyệt đối, bất biến, tự hữu thì hoàn toàn xa lạ với niềm tin của dân Ít-ra-en. Từ những nhận xét trên, các nhà chú giải hiện đại đề nghị cách hiểu tên Thiên Chúa như sau:
- Câu trả lời có chủ ý thoái thác:
Lời mặc khải “Ta là Đấng Ta là” hay “Ta là Đấng Ta sẽ là” thì bí ẩn đủ để người ta có thể kết luận rằng Thiên Chúa không thật sự muốn trao ban tên của Ngài, vì theo tư tưởng sê-mít, biết tên của một vị thần linh nào đó, chính là có quyền làm chủ vị thần ấy, có quyền điều khiển sai khiến vị thần ấy, như tên của vị thần phải được đưa vào trong các câu thần chú, như vậy, câu thần chú mới hiệu nghiệm. Chúng ta cũng gặp thấy quan niệm này ở nơi câu chuyện A-li-ba-ba và bốn mươi tên cướp: biết được tên của thần giữ cửa động là có quyền sai khiến thần mở hay đóng cửa động, hay câu chuyện A-la-đen và thần đèn: biết tên của thần đèn là có thể làm chủ và sai khiến thần đèn thực hiện những gì mình muốn.
Vì thế, trong câu chuyện của chúng ta, Thiên Chúa không phải giao phó tên mình vào tay của con người để con người có quyền điều khiển sai khiến Ngài; hơn nữa, Ngài là một mầu nhiệm không thể tát cạn được, không ai có thể hiểu được bản chất của Thiên Chúa. Cách giải thích này được ủng hộ bởi các chuyện tích Kinh Thánh, như chuyện tổ phụ Gia-cóp nài xin Thiên Chúa cho ông biết tên của Ngài: “Xin cho tôi biết tên Ngài” (St 32: 30), nhưng bị từ chối; hay như chuyện ông Ma-nô-ác nài xin cho biết tên vị sứ giả của Thiên Chúa, thì được trả lời: “Sao ông lại hỏi tên tôi? Đó là một điều bí nhiệm” (Tl 13: 17-18). Vì thế, theo văn mạch của câu chuyện chúng ta, khi Thiên Chúa nói: “Ta là Đấng Ta là”, có nghĩa, “chuyện ấy có liên quan gì đến ngươi” hay “đó không phải nỗi bận lòng của ngươi”.
- Câu trả lời là một mặc khải tiệm tiến: Câu giải thích trên gặp phải một sự khó khăn. Theo văn mạch, rõ ràng Thiên Chúa chấp nhận mặc khải tên của Ngài. Việc Thiên Chúa mặc khải tên mình trong nền văn hóa mà tên đồng nghĩa với người mang tên ấy, thì không thể cho rằng Thiên Chúa cố ý thoái thác được, như lời nhận xét của A. B. Davidson: “Mặc khải mà Thiên Chúa ban cho về chính mình là mặc khải về chính Ngài như Ngài thật sự là như vậy, dù Ngài không thể mặc khải chính mình cho con người một cách tròn đầy được” (God in the OT; in: Dictionary of the Bible, vol. 2, 197). Hơn nữa, ở cuối câu chuyện, Thiên Chúa còn căn dặn: “Đó là danh Ta cho đến muôn thuở, đó là danh hiệu các ngươi sẽ dùng mà kêu cầu Ta từ đời nọ đến đời kia”.
Vì thế, Davidson mời gọi chúng ta chú ý đến hai đặc tính của động từ “là” liên quan đến tên Thiên Chúa được ban cho trong câu chuyện bụi gai cháy đỏ này. Trước hết, động từ này không có nghĩa “là” về phương diện hữu thể, nhưng về phương diện hiện tượng. Thứ nữa, hình thức chưa hoàn thành của động từ này không có nghĩa ở thì hiện tại nhưng ở thì tương lai. Từ nhận xét này, ông giải thích ý nghĩa của tên Thiên Chúa như sau: “Xem ra rõ ràng trong quan điểm của người viết, ‘Ta sẽ là’ và ‘Đấng sẽ là’ thì như nhau: ‘Ta sẽ là’ khi Thiên Chúa nói về chính mình, và ‘Đấng sẽ là’ khi Thiên Chúa được những người khác nói về Ngài. Điều Ngài sẽ là để lại không được diễn tả - Ngài sẽ ở (“là”) với dân Ngài như Đấng Trợ Giúp, Đấng Quyền Năng và Đấng Giải Thoát” (God in the OT, 199).
Như vậy, khi Thiên Chúa mặc khải tên Ngài cho ông Mô-sê, Ngài nói về chính mình: “Ta là Đấng Ta sẽ là”; nhưng khi Ngài bảo cho ông Mô-sê nói cho dân Ít-ra-en về Ngài, Ngài nói ở ngôi thứ ba: “Đấng sẽ là”. Đối với ông Mô-sê, người mà Thiên Chúa trực tiếp mặc khải tên Ngài, tên này có nghĩa: “Ta sẽ ở với ngươi” (3: 12). Và đối với dân Ít-ra-en, mà ông Mô-sê có sứ mạng truyền đạt mặc khải này, tên Ngài có nghĩa “Đấng sẽ ở với họ”. Trong cả hai trường hợp, động từ “là” hay “ở” đặt dấu nhấn không trên sự hiện hữu nhưng trên sự hiện diện của Thiên Chúa với ông Mô-sê và với dân Ít-ra-en. Lúc đó, “Ta là Đấng Ta sẽ là” là một lời khẳng định về sự hiện diện của Thiên Chúa: “Ta thật sự là Đấng hiện diện”, nghĩa là “Ta thật sự là Đấng ở cùng”.
Đồng thời, tên Thiên Chúa “Ta là Đấng Ta sẽ là” được đọc như “điều chưa xác định”. Điều chưa xác định này chứa đựng những khả thể vô hạn về sự thích nghi vào hoàn cảnh. Tên Thiên Chúa được mặc khải trong câu chuyện này đã không thể được bất kỳ thế hệ nào của Ít-ra-en hiểu tròn đầy, vì thế Thiên Chúa vẫn cứ tiếp tục bày tỏ tất cả những gì Ngài sẽ là đối với dân Ngài: “Thiên Chúa sẽ là điều mà Ngài sẽ chứng tỏ là cho thế hệ này đến thế hệ khác; mỗi một thời đại sẽ khám phá những phẩm tính mới về Sự Hiện Diện của Ngài” (C. Westminster, The book of Exodus, London: 1908, 22). Chúng ta gặp thấy tên Thiên Chúa như một sự hiện diện ở nơi lời giải thích mang tính hiện sinh của Is 52: 6: “Vì vậy, trong ngày ấy, dân Ta sẽ nhận biết danh Ta, nhận biết rằng: chính Ta là Đấng đã phán: ‘Này Ta đây!’”.
Nói tóm lại, tên Thiên Chúa thật sự được mặc khải nhưng đồng thời được phủ che. Hai chiều kích của việc mặc khải tên Thiên Chúa chỉ cho thấy một chuyển động tích cực và năng động không chỉ về phía Thiên Chúa, nhưng cả về phía dân của Ngài. Về phần mình, Thiên Chúa sẽ vẫn tiếp tục chứng tỏ cho thấy Ngài hiện diện cùng với dân Ngài bằng những hành động: Đấng Giải Thoát ở bên Ai-cập, Đấng Bảo Vệ trong hoang địa…Còn về phía dân Ngài, “kinh nghiệm từng trải của dân Ít-ra-en với Thiên Chúa trong lịch sử của mình sẽ khẳng định ý nghĩa của tên Thiên Chúa này. Dân Ít-ra-en hiểu lịch sử của mình từ tên Thiên Chúa này, cũng như hiểu tên Thiên Chúa từ lịch sử của mình. Tên Thiên Chúa tạo nên vóc dáng cho câu chuyện của dân Ít-ra-en, và câu chuyện ban cho tên Thiên Chúa kết cấu vĩ đại hơn” (W. Johnstone, Exodus, Old Testament Guide, 104).
Trong Tin Mừng Gioan, khi Chúa Giê-su công bố: “Tôi là”, Ngài ngầm quy chiếu đến mặc khải của núi Khô-rếp, bằng cách áp dụng tên Thiên Chúa vào chính mình: “Thật, tôi bảo thật các ông: trước khi có ông Áp-ra-ham, thì tôi, Tôi Là” (Ga 8: 58), hay “Nếu các ông không tin là Tôi Là, các ông sẽ mang tội mình mà chết” (Ga 8: 24). Trong Tin Mừng Mát-thêu, ngay từ đầu Tin Mừng, Hài Nhi Giê-su sẽ được gọi là “Em-ma-nu-en”, nghĩa là, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, và cuối Tin Mừng: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”.
4. Hai sứ điệp:
Qua hai chuyện kể này, dù hiệp nhất thành một, chúng ta phân biệt hai sứ điệp.
Tác giả Gia-vít viết chuyện tích của mình dưới triều đại vua Sa-lô-mon, nghĩa vào thời hoàng kim của quốc gia Ít-ra-en: nó đã chiến thắng tất cả mọi quân thù của mình; nó đã chinh phục toàn xứ Ca-na-an. Thiên Chúa trung thành với những lời hứa của Ngài: từ tổ phụ Áp-ra-ham, xuất thân từ thành Ua, kiều cư trên đất Ca-na-an, đến vua Sa-lô-mon trong vinh quang của mình, có một tuyến phát triển: kế hoạch của Thiên Chúa.
Tác giả Ê-lô-hít viết chuyện tích của mình, giữa lòng cuộc khủng hoảng tôn giáo của thế kỷ thứ tám trước Công Nguyên, trong vương quốc phương Bắc. Uy thế các thần linh của dân Ca-na-an, dân bản địa, đã tác động đến niềm tin của dân Ít-ra-en; có những bỏ đạo, những bội giáo. Ngôn sứ Ê-li-a (thế kỷ thứ chín) tiếp đó ngôn sứ A-mốt và ngôn sứ Hô-sê (thế kỷ thứ tám) đã nhắc nhở dân Chúa chọn phải trung thành với Thiên Chúa của mình. Tác giả định vị mình vào trong hàng giáo huấn của các ngôn sứ nầy. Thiên Chúa của Ít-ra-en, xưng mình là Gia-vê, là “Đấng hiện diện ở giữa dân Ngài”. Đối diện với Ngài, các thần Ba-an chỉ là ngẫu tượng. Thiên Chúa của Ít-ra-en là Đấng Hằng Sống, Ngài không để cho mình sống bên ngoài hay bên trên lịch sử thăng trầm của con người. “Ngài là Đấng dự phần vào lịch sử của dân Ngài”.
Khi hiệp nhất hai chuyện kể này, nhà biên soạn chung cuộc của sách Xuất Hành đã nêu bật vừa tính siêu việt của Thiên Chúa vừa lòng nhân ái của Ngài, Đấng đã đoái nhìn đến nỗi khốn khổ của con người và “đã hạ cố để cứu họ”. Đoạn Kinh Thánh này là một trong những đỉnh cao của Cựu Ước.
admin
28-02-2010, 04:29 PM
BÀI ĐỌC II (1Cr 10: 1-6, 10-12)
Thánh Phao-lô đã viết thư thứ nhất gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô này từ Ê-phê-sô có lẽ vào mùa xuân năm 55, vào dịp những xáo trộn và chia rẽ làm rối loạn Giáo Đoàn non trẻ này (được thiết lập vào năm 50-52). Mặt khác, các tín hữu Cô-rin-tô đã nêu lên cho thánh nhân một loạt câu hỏi tinh tế, thuộc lãnh vực luân lý hay đụng chạm đến cuộc sống thường ngày khi sống giữa môi trường ngoại giáo.
1. Bối cảnh:
Thánh nhân vừa mới trả lời một trong những câu hỏi mà họ nêu lên cho ngài. Những tín hữu này đã ăn thịt cúng tại nhà của bạn bè thân thuộc ngoại giáo hay tại nhà của mình khi mua thịt cúng bán ngoài chợ. Thánh Phao-lô đã gợi lên sự tự do của người Ki tô hữu: người Ki tô hữu có quyền ăn bất kỳ đồ cúng nào, vì mọi vật đều được Thiên Chúa tạo dựng và ban cho con người hưởng dùng; hơn nữa, các thần linh chỉ là ngẫu tượng. Tuy nhiên, sự tự do này gặp thấy những giới hạn ở nơi việc tôn trọng tha nhân và đức ái huynh đệ. Như vậy, “những người mạnh” phải tránh cách hành xử có thể làm thương tổn hay gây gương xấu cho “những kẻ yếu”.
Đối với “những người mạnh”, thánh Phao-lô nhắc nhở rằng cuộc sống Ki tô hữu là một cuộc chiến đấu không ngừng; ngay cả những người mạnh nhất khó tránh khỏi những yếu nhược. Lịch sử cứu độ minh chứng điều này.
2. Ôn cố:
Xưa kia dân Do thái trong hoang địa đã được hưởng những trợ giúp linh thiêng tuyệt vời khôn sánh, tiên trưng các bí tích của Ki tô giáo; ấy vậy họ đã không đương đầu nổi trước những thử thách thờ ngẫu tượng và ham muốn của cải trần thế. Họ đã ngã quỵ trong hoang địa và không được vào Đất Hứa (x. Ds 14: 22). Những sự việc ấy xảy ra để làm bài học răn dạy chúng ta.
Thánh Phao-lô sánh ví cuộc vượt qua Biển Đỏ, dưới cột mây che chỡ, với phép rửa Ki tô giáo. Ông Mô-sê tiên trưng Đức Ki-tô. Toàn dân Do thái “cùng được chịu phép rửa dưới đám mây và trong lòng biển, để theo ông Mô-sê”, như dân Ki tô giáo cùng được chịu phép rửa trong nước và Thánh Thần, để theo Đức Ki-tô.
Tiếp đó, thánh nhân đồng hóa bánh man-na, dù thánh nhân không nêu đích danh, với thức ăn thần thiêng, tiên trưng bàn tiệc Thánh Thể, được gợi lên nhưng thánh nhân cũng không nêu tên. Vả lại, bánh man-na đã được truyền thống Do thái lý tưởng hóa rồi. Sách Xuất Hành nói rằng Đức Chúa cho bánh từ trời mưa xuống (Xh 16: 4). Thánh Vịnh 78 gợi lên bánh man-na là “bánh kẻ mạnh” (Tv 78: 25) mà Bản Bảy Mươi đã có chủ ý dịch “bánh thiên thần”, vân vân.
Một đặc quyền khác mà dân Do thái đã được hưởng: “Tất cả cùng uống một thức uống thần thiêng, vì họ cùng uống nước chảy ra từ tảng đá linh thiêng vẫn đi theo họ. Tảng đá ấy chính là Đức Ki-tô”. Thánh Phao-lô ám chỉ đến một huyền thoại nổi tiếng theo đó tảng đá, từ đó ông Mô-sê đã làm cho nước trường sinh (nước trường sinh là diễn ngữ Kinh Thánh để chỉ nước mát trong chảy ra tận nguồn) phun vọt ra, đã đồng hành với dân Do thái trong suốt cuộc hành trình băng qua hoang địa.
Nước trường sinh phun trào từ tảng đá này không gì khác hơn là dấu chỉ về Đức Ki-tô tiền hữu, hiện diện ở giữa dân Ngài. Việc đối chiếu bạo dạn này chắc chắn được gợi hứng từ hình tượng truyền thống, đặc biệt được các Thánh Vịnh chuyển tải, theo đó Đức Chúa thường được công bố là “tảng đá của Ít-ra-en”.
3. Tri tân:
Thánh Phao-lô rút ra từ những hình ảnh tiên trưng này một lời cảnh báo nghiêm khắc lên án tính tự hào tự phụ. Các Ki tô hữu có những nguồn trợ lực còn cao cả hơn những nguồn trợ lực mà dân Do thái đã được hưởng. “Những sự việc này xảy ra cho họ để làm bài học, và đã được chép lại để răn dạy chúng ta, là những người đang sống trong thời sau hết này”, những người đang tiến gần đến Đất Hứa đích thật. Nếu muốn được vào trong Đất Hứa, thì hãy cảnh giác, những ai cứ tưởng mình đứng vững, thì hãy coi chừng kẻo ngã.
TIN MỪNG (Lc 13: 1-9)
Đoạn Tin Mừng hôm nay được trích từ một phân đoạn dài được gọi là “cuộc hành trình lên Giê-ru-sa-lem của Chúa Giê-su” (9: 51-18: 14). Phân đoạn này được đặt trong bối cảnh Chúa Giê-su đang trên đường tiến đến Cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Ngài; lời dạy của Ngài càng trở nên nghiêm trọng và khẩn thiết hơn. Giờ đã đến để biết đọc “các dấu chỉ thời đại” (12: 54-56), hãy mau ăn năn sám hối kẻo không còn kịp nữa (12: 57-58). Những sự kiện mang tính thời sự tự chúng có thể dâng hiến một cơ hội thuận lợi để mà trầm tư nghĩ ngợi.
1. Không có mối liên hệ trực tiếp giữa tai họa và tội lỗi:
Vài người đến thuật lại cho Chúa Giê-su một sự cố bi thảm: những người Ga-li-lê đến dâng hy lễ ở Đền Thờ Giê-ru-sa-lem đã bị thảm sát theo lệnh tổng trấn Phi-la-tô.
Sự kiện này không được thuật lại ở nơi khác, nhưng phù hợp với những gì mà sử gia Do thái, F. Josephus, nói về nhiều vụ trả thù đẩm máu theo lệnh quan tổng trấn Rô-ma này (Antiquités juives, 18, 3, 2 và 4: 1). Như chúng ta biết, người Ga-li-lê rất dể hưởng ứng những cuộc bạo động chính trị, bời vì họ là dân dễ bị kích động. Nhưng chúng ta cũng có thể nghĩ ngay đến nhóm Nhiệt Thành, một đảng phái tôn giáo có xu hướng chính trị, họ giải thích trào lưu Mê-si-a theo ý nghĩa chính trị và sẵn sàng giành lại nền độc lập cho dân tộc mình, ngay cả bằng bạo động. Nhóm này tự ý chiêu mộ thành viên của mình ở Ga-li-lê nên thường được gọi là “những người Ga-li-lê”. Sự hiện diện của họ ở Giê-ru-sa-lem khích động thái độ bài chính quyền chiếm đóng.
Những người thuật lại cho Chúa Giê-su sự cố này, chắc chắn muốn được nghe từ miệng Ngài sự công phẩn chống lại chính quyền chiếm đóng. Nhưng Chúa Giê-su tức khắc đặt mình trên lãnh vực khác.
Theo quan niệm phổ biến vào thời đó, tai họa hay bệnh tật là những án phạt của tội lỗi (x. Ga 9: 2). Vì thế, những ai thoát khỏi cuộc thảm sát này xác tín rằng mình vô tội, là “công chính”. Chúa Giê-su cực lực tố cáo thái độ này. Chắc chắn những người bị thảm sát không phải là không có tội, nhưng đừng nghĩ rằng họ tội lỗi hơn những người Ga-li-lê khác. Đối với những người đối thoại này, Ngài tuyên bố rằng họ có tội như những người Ga-li-lê xấu số kia; đoạn trong một kết luận xem ra có vẻ mâu thuẫn, Ngài nói: “Nếu các ông không sám hối, thì các ông sẽ chết hết như vậy”.
Để khuyến khích ăn năn sám hối, Chúa Giê-su đưa ra thêm một ví dụ nữa, lần này liên quan đến những người Giu-đê. Mười tám người Giu-đê bị tháp Si-lô-ác đổ xuống đè chết. Biến cố này chắc hẳn vừa mới xảy ra đây. Chúa Giê-su quả quyết không phải những người Giu-đê xấu số này tội lỗi hơn những người Giu-đê tội lỗi khác, vì thế Ngài lập lại lời kêu gọi: “Nếu các ông không sám hối, thì các ông sẽ chết y hệt như vậy”.
2. Lời kêu gọi ăn năn sám hối:
Làm thế nào giải thích rằng Chúa Giê-su vừa mới từ chối ý tưởng theo đó có những mối liên hệ trực tiếp giữa tai họa và tội lỗi, lại ngay tức khắc đe dọa thính giả của Ngài về tội lỗi? Viễn cảnh chung của các chương 12 và 13 này là viễn cảnh của ngày chung thẩm: phải sám hối nếu muốn thoát khỏi án phạt. Thế nên, người ta nghĩ rằng cái chết thảm hại mà Chúa Giê-su cảnh giác những người đối thoại của Ngài, thì thuộc trật tự tinh thần: đánh mất sự sống trong Nước Trời.
Tuy nhiên, trong suốt cuộc hành trình lên Giê-ru-sa-lem, Chúa Giê-su nhiều lần nghĩ đến dân của Ngài, đa số trong họ đã không thể nhận ra Ngài; Ngài than trách thành thánh Giê-ru-sa-lem vì “đã giết các ngôn sứ và ném đá những kẻ được sai đến với họ” (Lc 13: 34). Trong lời kêu gọi khẩn thiết hãy sám hối trước khi đã quá muộn, không phải chúng ta cũng được mời gọi gẫm suy lời tiên báo của Chúa Giê-su về sự sụp đổ thành thánh Giê-ru-sa-lem vào năm 70 sao? “Nếu các ngươi không chịu hối cải, tất cả các ngươi sẽ bị chết y như vậy”.
3. Lòng nhẫn nại của Thiên Chúa:
Thánh Lu-ca là thánh ký về lòng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa. Ngay sau những lời nghiêm khắc của Chúa Giê-su, thánh ký đặt dụ ngôn cây vả không sinh trái, dụ ngôn này khác với dụ ngôn cây vả bị nguyền khô héo mà thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu tường thuật, theo đó, dân Ít-ra-en đã không sinh hoa kết trái như lòng Chúa mong ước; vì thế dân này chẳng còn gì hơn là cái cây khô héo (Mc 11: 12-14, 20-25; Mt 21: 18-22).
Trái lại, dụ ngôn cây vả không sinh trái của thánh Lu-ca gợi lên lòng nhẫn nại của Thiên Chúa. Chắc chắn dân Ít-ra-en vẫn còn ẩn hiện ở nơi dụ ngôn này. Cựu Ước đã thường sánh ví dân Chúa chọn với một cây mà Chúa chọn và ân cần chăm sóc.
Nông dân miền Pha-lệ-tinh thường trồng những cây ăn trái trong vườn nho của mình, nhất là những cây vả, vì đất trồng nho rất thích hợp với loại cây này. Trong dụ ngôn của thánh Lu-ca, ông chủ vườn nói với người làm vườn: “Anh coi, đã ba năm nay tôi ra cây vả này tìm trái, mà không thấy. Vậy anh chặt nó đi, để làm gì cho hại đất?”. Người làm vườn xin một thời hạn cuối cùng để mình có thể ra công vun xới và bón phân cho nó. May ra sang năm nó sẽ sinh hoa kết trái, nếu không thì chặt nó đi cũng không muộn.
Ai cũng thấy ở nơi việc kể ra “ba năm không sinh trái” này một ám chỉ đến ba năm thi hành sứ vụ của Đức Giê-su mà lòng dân Ít-ra-en vẫn trơ như đá. Nhưng tất cả những người tội lỗi không liên quan đến dụ ngôn này sao? Bên kia dân Ít-ra-en cứng tin, chắc chắn thánh ký nghĩ đến dân mới của Chúa Ki-tô, dân mà Chúa Con là Đấng Trung Gian, Ngài không ngớt cầu bầu cho dân mình bên cạnh Chúa Cha, Ngài phân phát muôn vàn ân sủng, Ngài làm hết sức mình để dẫn đưa tội nhân đến ơn cứu độ.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
08-03-2010, 05:43 AM
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAYTheo truyền thống phụng vụ, Chúa Nhật IV Mùa Chay là Chúa Nhật của niềm vui. Chúa Nhật này đặt một tạm nghỉ trong thời gian chay tịnh và tham dự trước niềm hân hoan Phục Sinh.
Gs 5: 9-12
Hãy vui lên vì Thiên Chúa đã giữ lời hứa. Dân Do thái đã tiến vào Đất Hứa và cử hành lễ Vượt Qua ở đây. Một kỷ nguyên mới bắt đầu đối với họ.
2Cr 5: 17-21
Hãy vui lên vì nhờ Đức Ki-tô, con người đã đạt được ơn hòa giải với Thiên Chúa; nhờ đó người Ki tô hữu trở nên những con người được đổi mới.
Lc 15: 1-3, 11-32
Hãy vui lên với Chúa Cha, Ngài đón tiếp đứa con hoang đàng trở về trong niềm vui vỡ tràn.
BÀI ĐỌC I (Gs 5: 9-12)
Sách Giô-suê, được đặt nhan đề theo tên nhân vật chính của sách, kể việc dân Do thái vào đất hứa và chinh phục dần dần miền đất này của dân bản địa Ca-na-an.
1. Bối cảnh:
Sách Đệ Nhị Luật đã được hoàn tất trên chuyện tích về cái chết của ông Mô-sê, sách Giô-suê tường thuật các biến cố tiếp theo sau. Ông Mô-sê đã trao phó sự nghiệp của mình cho ông Giô-suê tiếp nối. Thời kỳ hoang địa được tiếp nối với thời kỳ chinh phục. Thời nô lệ bên Ai-cập và thời túng thiếu trong hoang địa được tiếp nối với kỷ nguyên của cuộc đời tự do và an cư lạc nghiệp. Lịch sử đã sang trang.
Việc dân Do thái vào xứ sở Ca-na-an được định vị vào cuối thế kỷ thứ mười ba trước Công Nguyên. Cuộc chinh phục thật sự chỉ được hoàn tất dưới triều đại vua Đa-vít, hai thế kỷ sau đó.
Chuyện tích này được viết theo thể loại sử thi, bao gồm những yếu tố kỳ diệu. Ngoài ra, lịch sử của dân Ít-ra-en là lịch sử của dân Thiên Chúa, một kỳ tích lịch sử thường được nối kết với một kỳ tích phụng vụ. Sự kiện này hiển hiện rất rõ nét trong chuyện tích chúng ta đọc hôm nay.
2. Lễ Vượt Qua ở Ghin-gan:
Dân Do thái đã vượt qua sông Gio-đan vào lúc nước sông dâng cao, vì thế họ đã không thể vượt qua sông nếu Thiên Chúa đã không can thiệp bằng cách ngăn dòng nước thành chỗ khô cạn cho dân băng qua (Gs 3:14-17), như thế, tái diễn lại phép lạ Biển Đỏ (Xh 14:21-22). Rõ ràng tác giả đã muốn đối chiếu cuộc xuất hành ra khỏi đất Ai-cập và cuộc xuất hành ra khỏi hoang địa; cuộc vượt qua sông Gio-đan họa lại cuộc vượt qua Biển Đỏ; lễ Vượt Qua tiến vào Đất Hứa đối xứng với lễ Vượt Qua giải phóng khỏi cảnh đời nô lệ bên Ai-cập.
Tuy nhiên, nhiều yếu tố cổ xưa chứng thực nền tảng lịch sử của câu chuyện. Về phương diện truyền thống, lễ Vượt Qua ở Ghin-gan được kể ra trong văn chương Do thái; tuy nhiên, việc cử hành lễ Vượt Qua được xác định vào ngày mười bốn trong tháng là phần thêm vào sau khi lịch phụng vụ được quy định. Ghin-gan được định vị không xa thành Giê-ri-cô. Địa danh Ghin-gan theo tiếng Hy-bá có nghĩa “vòng tròn”. Truyền thống nối kết địa danh này với cử chỉ của ông Gio-suê: để tưởng niệm mãi mãi cuộc tiến vào Đất Hứa, ông Gio-suê truyền lệnh dựng đứng mười hai tảng đá thành một vòng tròn, đại diện mười hai chi tộc của dân Ít-ra-en (Gs 4: 1-9). Vào thiên niên kỷ thứ hai, người ta vẫn còn ở trong nền văn minh đồ đá. Miền Pha-lệ-tinh còn lưu lại nhiều dấu vết của nơi cúng tế được xếp bởi những tảng đá dựng đứng.
3. Một giai đoạn mới:
“Hôm sau lễ Vượt Qua, họ đã dùng thổ sản trong xứ, tức là bánh không men và hạt lúa rang”.
Đây là lần đầu tiên kể ra mối liên hệ giữa lễ Vượt Qua và lễ Bánh Không Men, hai ngày lễ tự nguồn gốc vốn biệt phân. Nhưng nhà biên soạn không nhằm nhấn mạnh mối liên hệ này; khi kể thêm “hạt lúa rang”, ông muốn đọc giả lưu ý đến lương thực được thay đổi tận căn, điều này đối với dân Do thái đánh dấu việc tiến vào Đất Hứa, vì miền Giê-ri-cô vốn nổi tiếng về thổ sản của mình, nhờ thời tiết thuận tiện.
“Không còn man-na nữa”. Man-na, thức ăn rất đạm bạc giúp dân Do thái sống còn trong hoang địa, từ nay không còn cần thiết nữa. Dân Do thái đã đặt chân lên xứ sở của các tổ phụ, mà lòng nhân ái của Đức Chúa đã cho họ gặp lại khi “cất khỏi họ cái ô nhục của người Ai-cập”.
Tin Mừng hôm nay nói với chúng ta về đứa con hoang đàng. Chán ngấy cơm thừa canh cặn, cậu trở về nhà cha, ở đó cậu nhận được mọi ân huệ đổi mới cuộc đời của cậu; vì thế, cậu cũng được “cất khỏi cái ô nhục” của quá khứ.
BÀI ĐỌC II (2Cr 5:17-21)
Giáo Đoàn Cô-rin-tô, mà thánh Phao-lô đã sáng lập vào những năm 50-52, bị chao đảo bởi nhiều cuộc khủng hoảng giữa những năm 54 và 57. Do những khủng hoảng này mà thánh Phao-lô đã viết ít nhất bốn bức thơ gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô này. Thư thứ nhất và thư thứ ba đã bị thất lạc; bức thư mà chúng ta gọi “thư thứ nhất”, thực ra, là thư thứ hai và bức thư mà chúng ta gọi “thư thứ hai”, thực ra, là thư thứ tư.
Thư thứ hai này gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô được viết trong tâm trạng bình an; nhưng để hiệu chính mọi sự việc và trả lời dứt khoát cho những tấn công mà thánh nhân đã là đối tượng, thánh Phao-lô bị thúc bách biện giải sứ vụ của mình mà ngài nâng lên cho đến mức thánh nhân định nghĩa sứ vụ của mình là sứ vụ Tông Đồ hoàn toàn đích thật.
1. Tông Đồ và cộng tác viên của Chúa Ki-tô:
Tâm tình sâu kín nâng đỡ vị tông đồ: xác tín mình là cộng tác viên của Chúa Ki-tô, có sứ mạng “hòa giải” giữa Thiên Chúa và loài người, sứ mạng mà Đức Ki-tô đã thiết lập theo ý định của Chúa Cha.
Vì chính ở nơi Chúa Cha mà công trình cứu độ loài người phải được quy về, tức là một “cuộc tạo dựng mới”: “Cái cũ đã qua, và cái mới đã có đây rồi”. Người Ki tô hữu là một “thọ tạo mới”, vì họ đã được tha thứ mọi tội lỗi của mình.
Thánh Phao-lô bị xúc động bởi sự cao cả của sứ mạng hòa giải này, nhờ đó mà các cộng tác viên của ngài và chính ngài trở thành những “sứ giả thay mặt Đức Ki-tô”. Thánh nhân lập lại cùng một diễn ngữ này trong thư gởi cho các tín hữu Ê-phê-sô: “Anh em cũng hãy cầu nguyện cho tôi nữa, để khi tôi mở miệng nói, thì Thiên Chúa ban lời cho tôi, hầu tôi mạnh dạn loan báo mầu nhiệm của Tin Mừng; tôi là sứ giả của Tin Mừng này cả khi tôi đang bị xiềng xích” (Ep 6:19-20).
2. Hãy hòa giải với Thiên Chúa:
“Thiên Chúa đã cho thế gian được hòa giải với Người”. Qua câu này, thánh Phao-lô nhấn mạnh rằng sáng kiến đến từ Thiên Chúa; nhưng con người phải đáp trả sáng kiến này, đó là mở lòng mình ra để đón tiếp lời đề nghị này. Cũng như người con hoang đàng quyết định trở về nhà cha, nhưng chính người cha đề xướng hòa giải với anh, tức là tha thứ cho anh.
Mầu nhiệm của Thiên Chúa là tình yêu của Ngài dành cho nhân loại được thể hiện ở nơi Đức Ki-tô, “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta”. Điều mà thánh Phao-lô muốn nêu bật, chính là một sự trao đổi hai phía: Đức Ki-tô tự đồng hóa mình một cách nào đó với tội nhân; còn tội nhân, nếu hòa giải, có thể dự phần vào sự thánh thiện của Thiên Chúa.
TIN MỪNG (Lc 15:1-3,11-32)
Dụ ngôn “đứa con hoang đàng” là một tập hợp bao gồm ba dụ ngôn: con chiên lạc, đồng bạc bị đánh mất và đứa con hoang đàng, chúng hình thành nên câu trả lời của Đức Giê-su cho những người Pha-ri-sêu và các kinh sư, họ bất bình vì thấy Ngài đón tiếp niềm nở những người tội lỗi (Lc 15:1-3).
1. Bối cảnh:
Trước đây, Đức Giê-su đã gặp phải phản ứng bất bình như thế và đã trả lời ngắn gọn và đanh thép: “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn” (Lc 5:31-32).
Ở đây Đức Giê-su phát biểu ý kiến của mình theo cách khác, gợi hình và cụ thể: Ngài sánh ví thái độ của Ngài với thái độ của người chăn chiên, trèo non lặn suối, quyết tìm cho bằng được một con chiên lạc; hoặc với thái độ của người đàn bà, thắp đèn quét nhà, moi móc mọi xó xỉnh quyết tìm cho kỳ được một đồng bị đánh mất; hay còn với thái độ của một người cha mở tiệc ăn mừng vì “đứa con hoang đàng” trở về sau năm tháng phiêu bạt.
Hai dụ ngôn “con chiên lạc” và “đồng bạc bị đánh mất”, thánh Lu-ca có chung với thánh Mát-thêu, chỉ duy dụ ngôn “đứa con hoang đàng” là riêng một mình của thánh Lu-ca.
1. Người con thứ:
Bức tranh về cách hành xử của người con thứ cố ý tô cho thật đen. Cậu nài nỉ xin cha chia phần gia tài mà mình được hưởng, một thái độ như thế không bao giờ được xem là lễ độ cả. Rồi cậu bỏ nhà ra đi và hoang phí tất cả gia sản của mình vào một cuộc sống chơi bời trác táng; lúc đó cậu lâm vào cảnh túng thiếu đến mức đành phải chấp nhận làm tôi đến nỗi phải đi chăn heo, mà đối với người Do thái là những con vật ô uế. Như vậy cậu đã xuống cho đến tận cùng cảnh cùng khốn của mình, không chỉ về phương diện vật chất mà còn cả về phương diện phẩm giá, cho đến mức: “Anh ta ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho”.
Trong cảnh bần cùng tận mức này, bị cái đói giày vò, cậu mới nghĩ đến việc trở về nhà cha mình; lý do thúc đẩy cậu cất bước trở về chẳng có gì là cao thượng cả, chẳng qua chỉ vì tình thế bắt buộc thôi: “Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói!”. Để đạt được mục đích của mình, cậu sẵn sàng hạ mình thú tội và cầu xin cha tha thứ. Những điều cậu suy tính trong lòng chẳng qua chỉ là vụ lợi thôi, nhưng đây là bước khởi đầu của một cuộc hoán cải, một cuộc đổi đời, một cuộc trở về cùng cha mình.
Trong Thông Điệp của mình, Đức Thánh Cha Gioan Phao-lô II phân tích một cách tinh tế tiến trình này: “Bên dưới bề mặt của những lời nói, còn ẩn khuất bi kịch phẩm giá đã mất, ý thức về tư cách làm con đã hỏng...Khi hắn quyết định trở về nhà cha, xin cha nhận hắn không phải vì hắn có quyền làm con mà như một người làm công, thì bề ngoài xem ra hắn chỉ do nạn đói và cảnh cùng cực thúc đẩy mà hành động, dầu vậy lý do này lại được thâm nhập bởi ý thức về một sự mất mát sâu xa hơn: là một người làm thuê trong nhà của chính cha mình chắc chắn là điều rất nhục nhã và rất đáng xấu hổ. Tuy nhiên, người con hoang đàng sẵn sàng đón chịu điều nhục nhã và xấu hổ ấy, hắn nhận thấy rằng hắn không còn một quyền nào ngoài cái quyền là người làm thuê trong nhà cha hắn. Nó lấy quyết định trong ý thức đầy đủ về những gì nó đã đáng chịu và về những gì nó còn có thể có quyền được theo các tiêu chuẩn của công bình. Cách suy luận kia chứng tỏ rằng, ở trong tâm thức người con hoang đàng, đã xuất hiện nhận thức về phẩm giá bị mất, về phẩm giá phát xuất từ tương quan giữa người con và cha mình. Và chính sau khi lấy quyết định kia mà hắn lên đường” (trích từ bản dịch của Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin, 2008, tr. 28-29).
2. Tấm lòng của người cha:
Tấm lòng của người cha được phác họa bằng những ý tứ rất súc tích.
Thái độ của người cha đối với cậu con thứ này khiến chúng ta phải ngạc nhiên. Ông tôn trọng sự tự do của cậu và đáp ứng mọi yêu cầu của cậu, thậm chí khác với thái độ của người chăn chiên và người phụ nữ nội trợ, ông không lặn lội đi tìm cậu. Chính thái độ vồn vả ân cần đón tiếp cậu khi trở về mới là điều dụ ngôn này quan tâm.
Từ khi nhìn thấy bóng dáng thất thiểu của đứa con mình từ xa, ông “chạnh lòng thương” (động từ Hy ngữ này có một nghĩa rất mạnh: một mối cảm xúc sâu xa dâng lên tận đáy lòng), và “chạy ra ôm cổ con và hôn lấy hôn để” (cách đón tiếp vồn vả khác thường này vượt quá khuôn phép uy nghiêm của một người cha mà tập tục Đông Phương quy định). Như vậy, vì tình cha, ông đã tha thứ cho cậu trước khi cậu ngỏ lời xin tha thứ.
Quả thật, trong câu chuyện, ông cắt ngang không để cho cậu nói hết những lời xưng thú và xin cha tha thứ, để tránh cho cậu đi đến tận cùng của sự nhục nhã, nhưng cũng để cho thấy lòng tha thứ vô điều kiện của ông đối với con mình. Còn tế nhị hơn nữa, ông không ngỏ lời trực tiếp với cậu, nhưng truyền lệnh cho các đầy tớ: “Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng!”: áo đẹp nhất để thay thế bộ quần áo rách tả tơi của kẻ bần cùng, chiếc nhẫn xỏ vào tay để chỉ địa vị cao quý trong xã hội, đôi dép xỏ vào chân để chỉ cậu không còn là người làm thuê hay kẻ nô lệ nữa, bởi vì từ nay đứa con trở về không chỉ được phục hồi nhân phẩm của mình, nhưng cũng được kính trọng như xưa kia; lại còn tổ chức một bữa tiệc để cả nhà cùng chia sẻ niềm vui đoàn tụ.
Lý do mà người cha đưa ra để vui mừng, đó là: “Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy”. Đối với ông, việc con vắng mặt trong gia đình được xem như đã chết, nhưng nhất là sự tha thứ của ông làm cho người con trở thành một con người mới.
Tất cả mọi chú ý của câu chuyện đều hướng đến tình cha cao vời gây xúc động này, chứ không tấm lòng hoán cải của đứa con hoang đàng. Dụ ngôn muốn minh họa thái độ của Thiên Chúa đối với tội nhân. Thiên Chúa yêu thương họ như người cha yêu thương đứa con của mình. Việc Chúa Giê-su mở rộng vòng tay đón tiếp những người tội lỗi là mặc khải tấm lòng yêu thương vô bờ của Chúa Cha. Dụ ngôn này chỉ cho thấy rằng Thiên Chúa đã đến gặp gỡ nhân loại để cứu thoát họ khỏi cảnh nô lệ của tội lỗi. Ơn tha thứ của Thiên Chúa phục hồi con người trong phẩm giá của mình. Ở nơi hậu cảnh của dụ ngôn này, người ta đọc thấy bí tích Hòa Giải, bí tích Giao Hòa của Thiên Chúa với con người.
3. Người con cả:
Thái độ của người con cả phản chiếu thái độ của những người Pha-ri-sêu và các kinh sư, họ đại diện cho những giá trị đạo đức của Cựu Ước, phân biệt rạch ròi sự công chính và tội lỗi. Lời trách cứ của người con cả ngỏ lời với cha cậu tương tự như sự bất bình của giai cấp lãnh đạo này về cách hành xử của Chúa Giê-su đối với những người tội lỗi. Người con cả phẩn uất trách cứ cha mình: “Ông coi, đã bao nhiêu năm trời tôi hầu hạ ông, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ ông cho tôi lấy được một con dê để tôi ăn mừng với bạn bè”. Rõ ràng, những lời trách cứ này minh họa sống động cung cách sống đạo đức của những người Pha-ri-sêu, họ tự hào tự phụ tuân giữ nghiêm nhặt Lề Luật, kiêu hãnh mình là người công chính mà khinh chê lên án những người khác.
Phần thứ hai của dụ ngôn này là lời mời gọi vượt qua thái độ duy luật để mở rộng tấm lòng trước tình thương yêu. Vả lại, người cha nói với người con cả với một cung giọng nhất mực trìu mến thương yêu. Một người cha yêu thương hai đứa con mình như nhau; ông muốn giúp cậu khám phá chiều kích tình yêu này. Tình phụ tử không làm tổn thương đến sự công bình nhưng vượt qua.
Qua lời trách cứ của cậu cho thấy rằng đã bao năm cậu sống trong nhà cha mình, nhưng cậu cư xử với cha mình như một người đầy tớ chỉ biết hầu hạ ông chủ mà không hề trái lệnh ông. Câu trả lời của người cha như một lời nhắc khéo cho người con hiểu: điều mà người cha cần là tình cha con chứ không phải là nghĩa chủ tớ: “Con à, lúc nào con cũng ở với cha”; và để đáp lại lời trách cứ của cậu về một con dê con để ăn mừng với chúng bạn chỉ là niềm ước mơ, người cha trả lời: “Tất cả những gì của cha đều là của con”. Để đáp lại thái độ dứt tình đoạn nghĩa của người con cả đối với người em hoang đàng của mình: “Còn thằng con của ông đó, sau khi đã nuốt hết của cải của ông với bọn điếm, nay trở về, thì ông lại giết bê béo ăn mừng”, người cha trả lời: “Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy”.
Như vậy, dụ ngôn này trước đây thường được đặt nhan đề là “đứa con hoang đàng”, nhưng phải được gọi “tấm lòng nhân hậu của người cha” mới đúng, bởi vì nhân vật chính trong câu chuyện không phải là đứa con hoang đàng cũng không phải người con cả bất khoan dung mà là người cha. Phải nói rằng đứa con thứ hoang đàng trở về nhà cha cũng như người con cả bất khoan dung chẳng qua chỉ để mình họa tấm lòng nhân hậu của người cha mà thôi. Vì thế, câu chuyện này được đọc trong Mùa Chay Thánh này không chỉ mời gọi những tội nhân mà cả những người tự cho mình công chính hoán cải, vì điều Thiên Chúa cần ở nơi mỗi người chúng ta là tấm lòng của người con đối với Cha trên trời của mình và tình nghĩa anh em trong một tình yêu của Cha.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
14-03-2010, 09:37 AM
CHÚA NHẬT V MÙA CHAY
Ba bài đọc hôm nay thích ứng với ý hướng Phụng Vụ Chúa Nhật V Mùa Chay: vào đêm Phục Sinh, những tân tòng sắp gia nhập vào cộng đoàn Ki tô hữu qua bí tích Rửa Tội, và những hối nhân sắp được phục hồi vào cộng đoàn Ki tô hữu qua bí tích Hòa Giải. Các bản văn đều gợi lên quyền năng giải thoát của ơn tha thứ: đoạn tuyệt với quá khứ để mà hướng đến một cuộc sống mới.
Is 43: 16-21
Qua ngôn sứ của mình, ngôn sứ I-sai-a đệ nhị, Đức Chúa loan báo rằng Ngài sẽ thực hiện những điềm thiêng dấu lạ để giải thoát dân Ngài khỏi cảnh giam cầm ở Ba-by-lon: quên đi quá khứ ô nhục; nước hằng sống sẽ tuôn trào lên trong miền đất khô cằn.
Pl 3: 8-14
Từ kinh nghiệm cá nhân của mình, thánh Phao-lô rút ra cho chúng ta một bài học vĩ đại: đoạn tuyệt với quá khứ gắn bó với luật Mô-sê để kết hợp với chỉ một mình Đức Ki-tô.
Ga 8: 1-11
Tin Mừng thuật câu chuyện người phụ nữ ngoại tình có nguy cơ bị ném đá. Khi ban cho chị ơn tha thứ của Thiên Chúa, Đức Giê-su giải phóng chị khỏi tội lỗi và sự nhục nhã, và mở ra cho chị một cuộc sống mới.
BÀI ĐỌC I (Is 43: 16-21)
Đoạn văn này được trích từ “Sách An Ủi” của ngôn sứ I-sai-a đệ nhị, vị ngôn sứ ở giữa những người lưu đày thời Ba-by-lon. Ông an ủi họ khi loan báo rằng họ sắp được giải phóng và hồi hương trở về Giê-ru-sa-lem.
Những người lưu đày bất hạnh này nghi nan ngờ vực. Một biến cố như thế làm thế nào có thể xảy đến được? Họ đã mõi mòn ngóng trông chờ đợi suốt năm mươi năm rồi. Vị ngôn sứ cũng nhắc họ nhớ đến những điều kỳ diệu Đức Chúa đã thực hiện để giải phóng cha ông họ khỏi cảnh đời nô lệ bên Ai-cập: Đấng đã mở lối đi giữa sóng nước oai hùng để cho dân Do thái vượt qua Biển Đỏ và đã chôn vùi chiến mã với kỵ binh hùng mạnh của Pha-ra-ô trong lòng biển cả, lại không thể đánh bại đế quốc Ba-by-lon với binh hùng tướng mạnh sao?
Cuộc xuất hành ra khỏi Ai-cập được ghi khắc trong tâm trí của dân Ít-ra-en như biến cố tiêu biểu, bảo chứng cho những lần Thiên Chúa can thiệp tương lai để ra tay cứu giúp dân Ngài, đó là nền tảng đức tin và đức cậy của họ. Đó là những ý tưởng mà vị ngôn sứ gợi mở cho đồng bào của mình: Đức Chúa sẽ ra cứu độ họ. Không có lý do gì phải thất vọng cả.
1. Một thế giới mới:
Bởi vì quá khứ đảm bảo tương lai: “Đừng nhớ lại những chuyện ngày xưa, chớ quan tâm về những việc thuở trước. Nay Ta sắp làm một việc mới, việc đó manh nha rồi, các ngươi không nhận thấy hay sao?”.
Ngôn sứ I-sai-a đặt mọi niềm hy vọng của mình vào vua Ba tư: vua tiến quân như vũ bảo và chắc chắn sẽ sớm đánh bại Ba-by-lon.
Bằng những biểu tượng, vị ngôn sứ gợi lên giờ hồi hương trở về trong vinh quang, những giây phút lạ lùng đến mức sa mạc sẽ không còn vùng đất hoang vu khô cằn nữa, những loài dã thú sẽ không còn hung tợn nữa. Đó sẽ là như một cuộc tạo dựng mới.
2. Biểu tượng của nước:
Thế giới mới này sẽ sinh ra dưới dấu hiệu của nước: “Vì Ta cho nước chảy ngay giữa sa mạc, khơi những dòng sống tại vùng đất khô cằn, cho dân Ta được tuyển chọn được giải khát”.
Vị ngôn sứ biết rất rõ rằng trên đường hồi hương trở về Giê-ru-sa-lem, một trong những khó khăn sẽ là băng qua sa mạc Sy-ri Pha-lệ-tinh. Chẳng sao cả, Thiên Chúa sẽ cho nước tuôn tràn. Trong Kinh Thánh, đề tài nước không chỉ gợi lên yếu tố tự nhiên đem lại sự sống cho thiên nhiên, nhưng còn là biểu tượng sức sống thần thiêng. Đề tài này chạy xuyên suốt Cựu Ước; chúng ta có thể trích dẫn biết bao là ví dụ. Mối liên hệ giữa nước và thần khí được gặp thấy trong Cựu Ước (Ed 47: 9) và sẽ được được lấy lại trong Tin Mừng (Ga 7: 37-39).
3. Cuộc trở về cùng Thiên Chúa:
Linh đạo mà vị ngôn sứ gợi lên ở đây là cuộc trở về cùng Thiên Chúa, Ngài sẽ tha thứ và đổ tràn muôn phúc lộc của Ngài. “Ta đã gầy dựng cho Ta dân này, chúng sẽ lên tiếng ngợi khen Ta”.
Vào Chúa Nhật V Mùa Chay này, phụng vụ mời gọi chúng ta nghe lời kêu gọi của ngôn sứ, và qua những hình ảnh tiên trưng, hiểu cuộc sống phong phú của các bí tích, đặc biệt bí tích Rửa Tội.
BÀI ĐỌC II (Pl 3: 8-14)
Đoạn thư thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Phi-líp-phê này được trích từ chương 3, là chương thánh nhân cảnh giác những người Ki tô hữu gốc Do thái, đừng gắn bó với luật Mô-sê và tìm cách áp đặt vài đòi hỏi luật này trên những Ki tô hữu gốc lương dân.
Từ kinh nghiệm cá nhân của mình, thánh nhân trình bày cho họ làm thế nào ngài đã được hướng dẫn để đoạn tuyệt với lề luật. Giọng điệu vừa tâm sự vừa xác tín là nét đặc trưng của bức thư gởi cho các tín hữu Phi-líp-phê này, vì thánh nhân đã kinh qua những dằn vặt đau đớn mới có thể đoạn tuyệt với luật Mô-sê.
1. Đoạn tuyệt với quá khứ:
Thánh Phao-lô vừa mới kể ra tất cả những tước hiệu mà xưa kia thánh nhân đã tự hào tự phụ: “Tôi chịu cắt bì ngày thứ tám, thuộc dòng dõi Ít-ra-en, họ Ben-gia-min, là người Híp-ri, con của người Híp-ri; giữ luật thì đúng như một người Pha-ri-sêu; nhiệt thành đến mức ngược đãi Hội Thánh; còn sống công chính theo Lề Luật, thì chẳng ai trách được tôi” (3: 5-7). Cũng vào thời kỳ này, thánh nhân viết cho các tín hữu Ga-lát-ta: “Trong việc giữ đạo Do thái, tôi đã vượt xa nhiều đồng bào cùng lứa tuổi với tôi: hơn ai hết, tôi đã tỏ ra nhiệt thành với các truyền thống của cha ông” (Pl 1: 14). Thánh nhân gợi nhớ lại cuộc sống xưa kia của mình đã khiến đồng bào của Ngài phải nể phục.
Tất cả những mối lợi này cho phép thánh nhân được liệt vào hàng công chính, thì nay thánh nhân công bố với các tín hữu Phi-líp-phê ngài xem như đồ bỏ đi, như đồ rác rưởi kể từ khi được biết Đức Ki-tô.
Cuộc gặp gỡ với Đấng Phục Sinh trên đường Đa-mát (thánh nhân ám chỉ một cách kín đáo) đã khiến cho niềm kiêu hãnh trước đây của thánh nhân bổng chốc tan thành mây khói. Thánh Phao-lô quả quyết rằng được như vậy, không phải do công trạng của thánh nhân trong việc tuân giữ Luật Mô-sê, nhưng nhờ niềm tin vào Đức Ki-tô, đó là sự công chính nhưng không do Thiên Chúa ban. Một lời tự thú huy hoàng nhưng biết bao đớn đau.
2. Sự công chính là một thiên ân:
Chúng ta có ở đây đề tài cốt yếu về sự công chính do lòng tin chứ không do việc tuân giữ Lề Luật, đề tài mà thánh Phao-lô sẽ khai triển rộng lớn trong thư của ngài gởi cho các tín hữu Rô-ma. Thư gởi cho các tín hữu Phi-líp-phê mô tả cho chúng ta nguồn gốc tâm lý và hiện sinh về đề tài này, nhờ đó tránh mọi lời giải thích sai lầm.
Đức tin mà thánh nhân đề cao là một đức tin huy động toàn thể con người. Người Ki tô hữu được sánh ví như một lực sĩ chạy đua trên thao trường, nhất quyết dồn hết mọi sức lực của mình, lao mình về phía trước, chạy thẳng tới đích để mong chiếm lấy phần thưởng.
Thay vì tuân giữ nghiêm nhặt những huấn thị nghi thức của Lề Luật, người Ki tô hữu nhắm một điều thiện tuyệt mức: được biết Đức Ki-tô.
3. Biết Đức Ki-tô:
Thuật ngữ “biết” phải được hiểu theo nghĩa Kinh Thánh mà thánh Gioan sẽ thường hằng sử dụng: một chuyển động của cả trí tuệ lẫn tình cảm; một sự kết hợp của cả con tim lẫn khối óc, một sự hiểu biết không suy luận nhưng dẫn đến mối tâm giao: “Vấn đề là được biết Đức Ki-tô, nhất là biết Người quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh, cùng được thông phần những đau khổ của Người”.
Tiến trình hiểu biết này là tiến trình mà thánh Phao-lô theo đuổi. Lộ trình thông thường của người Ki tô hữu thì đi ngược lại. Thánh Phao-lô cũng định nghĩa lộ trình ngay liền: “nhờ đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người, với hy vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cõi chết”. Vả lại, đây là điều mà thánh nhân miệt mài sống trong sứ mạng của mình, khi theo đuổi cuộc đua vẫn chưa đến đích, nhưng “đang cố gắng chạy tới, mong chiếm đoạt”.
4. Bài học:
Bài học mà thánh Phao-lô muốn rút ra từ kinh nghiệm cá nhân của ngài, gởi đến các Ki tô hữu Phi-líp-phê gốc Do thái này nhằm khai mở cho họ hiểu vấn đề đức tin của họ: đức tin là kết hợp với Đức Ki-tô chứ không gắn bó với những hình thức bên ngoài. Nguồn mạch và nguyên lý của sự tự do người Ki tô là ở đó. Về sự tự do tối thượng này, thánh nhân có thể nói ở nơi khác, khi nhắc nhở rằng điều cốt yếu của Lề Luật từ nay được chứa đựng ở nơi nguyên lý duy nhất: mến Chúa và yêu người. Về vấn đề này, lời nhận xét trong sách “Mỗi Ngày Một Tin Vui” thật thích đáng: “Ki tô giáo thiết yếu không chỉ là một hệ thống luân lý gồm những điều phải giữ hay phải tránh. Quan niệm Ki tô giáo như thế dể đưa người tín hữu đến thái độ tính toán so đo, tự phụ; sống đạo dể trở thành một thứ biểu dương bên ngoài. Chúa Giê-su đưa chúng ta vào cốt lõi của đạo: đạo thiết yếu là tình yêu nhưng không của Thiên Chúa đối với con người; sống đạo là đón nhận tình yêu ấy và đáp trả với tất cả lòng tín thác và quảng đại” (trích từ: Mỗi Ngày Một Tin Vui: Mùa Vọng-Giáng Sinh, Mùa Chay-Phục Sinh, tr. 158).
TIN MỪNG (Ga 8: 1-11)
Câu chuyện “Người phụ nữ ngoại tình” này là một trong những câu chuyện rất rất cảm động về tấm lòng từ bi nhân hậu của Đức Giê-su; tuy nhiên, đề tài này là đề tài rất tâm đắc của thánh Lu-ca chứ không của thánh Gioan. Xét về phương diện văn phong, ngôn từ câu chuyện này gần với Tin Mừng Lu-ca hơn Tin Mừng Gioan. Ngoài ra, câu chuyện này không được gặp thấy trong các bản sao cổ nhất của Tin Mừng Gioan. Hơn nữa, các Giáo Phụ Hy-lạp dường như đã không biết đến đoạn văn này, ngoại trừ thánh Giê-rôm (thế kỷ thứ tư) biết và chú giải câu chuyện này và trong bản dịch La-tin của thánh nhân, nó được đưa vào Tin Mừng thứ tư như hiện nay.
1. Lời mào đầu:
“Sau đó, ai nấy trở về nhà mình. Còn Đức Giê-su thì đến núi Ô-liu. Vừa tảng sáng, Người trở lại Đền Thờ. Toàn dân đến với Người. Người ngồi xuống và giảng dạy họ”.
Bài trình thuật bắt đầu từ buổi chiều sau một ngày thuyết giáo trong Đền Thờ: “ai nấy trở về nhà mình” (7: 53). Còn Chúa Giê-su lên núi Ô-liu qua đêm một mình, và sáng sớm Người trở lại Đền Thờ tiếp tục giảng dạy cho dân chúng như thói quen của Người theo Tin Mừng Lu-ca: “Ban ngày, Đức Giê-su giảng dạy trong Đền Thờ; nhưng đến tối, Người đi ra và qua đêm tại núi gọi là núi Ô-liu. Sáng sớm, toàn dân đến với Người trong Đền Thờ để nghe Người giảng dạy” (Lc 21: 37-38). Ngoài ra, các nhà chú giải lưu ý rằng Tin Mừng Gioan chưa bao giờ nói “Chúa Giê-su ngồi xuống và giảng dạy”.
Nếu câu chuyện người phụ nữ ngoại tình này thuộc về Tin Mừng Lu-ca, nó được định vị vào những ngày cuối cùng Đức Giê-su giảng dạy ở Đền Thờ, trước cuộc Tử Nạn của Ngài, và báo cho biết những cạm bẫy mà những đối thủ của Ngài giăng ra cho Ngài: nguồn gốc về quyền bính của Ngài, nộp thuế cho Xê-da, kẻ chết sống lại (Lc 20: 1-47).
2. Tiến thoái lưỡng nan:
“Lúc đó, các kinh sư và người Pha-ri-sêu dẫn đến trước mặt Đức Giê-su một phụ nữ ngoại tình bị bắt quả tang”.
Chúng ta ghi nhận rằng việc liên kết kinh sư và Pha-ri-sêu là nét đặc trưng của các Tin Mừng Nhất Lãm hơn của thánh Gioan.
Luật Mô-sê rất nghiêm khắc đối với tội ngoại tình, được đặt vào số những hành vi gây thiệt hại đến người thân cận. Người thân cận bị thiệt hại ở đây là người chồng. Tội không chung thủy của người chồng chỉ bị trừng phạt trong trường hợp gian díu với một người phụ nữ đã lập gia đình, vì làm thiệt hại đến người chồng của người phụ nữ này. Theo Luật Mô-sê, người phụ nữ ngoại tình, cũng như người tòng phạm, bị kết án ném đá (Đnl 22: 22-23). Tuy nhiên, vào thời Chúa Giê-su, không có bằng chứng nào cho thấy hình phạt nghiêm khắc này được thi hành phổ biến. Người chồng có những cách khác để từ bỏ người vợ không chung thủy, thường là trao “chứng thư ly hôn”.
Cạm bẩy mà các kinh sư và người Pha-ri-sêu giăng ra cho Chúa Giê-su tương tự với vấn đề nộp thuế cho Xê-da (Lc 20: 21-25). Nếu Ngài khuyên nên khoan dung tha thứ, thì Ngài vị phạm luật Mô-sê. Nhưng nếu Ngài tán thành việc ném đá người phụ nữ ngoại tình này, thì Ngài vi phạm luật Rô-ma theo đó người Do thái không được phép thi hành án tử (Ga 18: 31). Ngoài ra, nếu Ngài chấp nhận ném đá người phụ nữ ngoại tình này, thì Ngài mâu thuẫn với chính mình: tiếp đón những người tội lỗi và rao giảng tấm lòng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa. Như vậy, “Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?” đặt Chúa Giê-su vào thế “tiến thối lưỡng nan”.
3. Thái độ của Chúa Giê-su:
“Nhưng Đức Giê-su cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất”.
Việc Chúa Giê-su giữ thái độ thinh lặng gợi lên biết bao điều. Trước hết, xem ra Ngài không quan tâm đến vấn đề này, vì có những quan tòa ở Giê-ru-sa-lem, Ngài không phải thay thế họ; đó không là vai trò của Ngài. Tuy nhiên, lập luận này không thể đứng vững, vì trái với cách hành xử thông thường của Ngài: làm thế nào Ngài không thể khoanh tay đứng nhìn để cho người ta hành động ngược lại tấm lòng từ bi nhân ái của Ngài.
Người phụ nữ ngoại tình bị bắt quả tang và bị dẫn đến vào tảng sáng; đám người đến nghe Chúa Giê-su trong lòng Đền Thờ đã đông rồi. Mọi ánh mắt, chất chứa những điều đê hèn, giả tâm, nhìn chòng chọc vào người phụ nữ. Đối với người phụ nữ này, ánh mắt đã là lời nói rồi, còn hơn cả lời nói nữa; vì thế, việc Chúa Giê-su im lặng cúi xuống viết trên đất là để tránh cho người phụ nữ đáng thương này thêm một ánh mắt xét đoán nữa. Tuy nhiên, Chúa Giê-su có sứ điệp phải truyền đạt cho chị; nhưng trước tiên, Ngài phải có việc cần tính sổ với những kẻ đòi lên án chị. Cái thinh lặng của Ngài là cái thinh lặng hùng hồn của các bậc thánh hiền. Các kinh sư và những người Pha-ri-sêu đắc chí, cố nài ép Ngài trả lời.
4. Đặt mỗi người đối diện với tiếng lương tâm của mình:
“Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi”.
Câu trả của Đức Giê-su là câu trả lời bất ngờ nhất, nằm ngoài mọi dự đoán của mọi người. Chúa Giê-su không phải không thừa nhận Lề Luật; thậm chí Ngài dựa trên các bản văn của sách Đệ Nhị Luật, khi bày tỏ ý kiến của mình: “Các nhân chứng phải là người đầu tiên phải tra tay giết nó, rồi toàn dân tiếp theo sau” (x. Đnl 13: 10 và 17: 7). Nhưng đồng thời, Ngài đặt mỗi người đối diện với tiếng lương tâm của mình. Thái độ này hoàn toàn phù hợp với giáo huấn của Ngài: nội tâm hóa luật luân lý.
Đoạn, tiếp tục từ chối ánh mắt phán xét của quan tòa, Đức Giê-su lại cúi xuống viết trên đất, để cho tâm trí mình chìm sâu trong cõi xa xăm nào đó như thử chẳng quan tâm những gì đang diễn ra chung quanh Ngài. Ở đây nữa, Ngài không muốn đưa ánh mắt nhìn những người mà Ngài mời gọi họ hãy tự mình phán xét chính mình; Ngài không muốn gây áp lực trên sự tự do của bất kỳ ai.
5. Chỉ còn lại một người đáng xót thương và một Đấng đầy lòng xót thương:
Thánh Âu-tinh định nghĩa như vậy: “Chỉ còn lại hai người: một người đáng xót thương và một Đấng đầy lòng xót thương”.
Mọi người đều đã bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi nhất, sáng suốt nhất hay tiếng lương tâm đè nặng nhất.
Cuộc đối thoại ngắn gọn sau cùng giữa Chúa Giê-su và tội nhân thật cảm động, không bút mực nào diễn tả được:
- “Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao?”
- “Thưa Ngài, không có ai cả”.
- “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa”.
Chỉ mình Ngài là Đấng sạch tội mới có thể ném đá người phụ nữ ngoại tình này; ấy vậy, Ngài đem đến cho chị sự tha thứ của Thiên Chúa. Sự tha thứ đem đến sự giải phóng. Một cái nhìn đầy yêu thương cho phép một khởi điểm mới. Đó là thế quân bình tế nhị giữa hai nhân đức gần như mâu thuẫn nhau. Đức công bình không cho phép Chúa Giê-su dung thứ tội lỗi; nhưng lòng từ bi nhân ái bắt buộc Ngài tha thứ tội nhân. Luật không bị loại bỏ như vài người lo sợ, nhưng trở nên “nhân đạo” hơn, mở ra con đường sống và cứu độ.
admin
23-03-2010, 01:17 PM
CHÚA NHẬT LỄ LÁ
Phụng Vụ Chúa Nhật Lễ Lá này tập trung vào một chủ đề duy nhất: “tưởng niệm cuộc Thương Khó của Đức Giê-su”.
Is 50: 4-7
Bài đọc I được trích từ tác phẩm của ngôn sứ I-sai-a đệ nhị. Vị ngôn sứ cho chúng ta thoáng thấy dung mạo người tôi trung của Đức Chúa chịu đau khổ, nhạo báng, sĩ nhục, nhưng không một lời oán than, trái lại đặt trọn niềm tin tưởng vào một mình Thiên Chúa.
Pl 2: 6-11
Tiếp đó, chúng ta tiếp tục suy niệm mầu nhiệm hạ mình và tôn vinh của Đức Giê-su, được thánh Phao-lô họa lại trong thư gởi tín hữu Phi-líp-phê, dưới dạng một bài thánh thi ca ngợi Đức Ki-tô, đây là một lời chứng đáng chú ý về niềm tin Giáo Hội tiên khởi.
Lc 22: 14-23: 56
Sau cùng, chúng ta sống lại cuộc Thương Khó của Đức Giê-su theo thánh Lu-ca, nhắc cho chúng ta nhớ rằng bằng con đường Thương Khó và Tử Nạn Đức Giê-su dẫn chúng ta đến sự sống.
BÀI ĐỌC I (Is 50: 4-7)
Bản văn này nói cho chúng ta về những xác tín của vị ngôn sứ. Vì luôn lắng nghe Thiên Chúa, chuyên tâm suy gẫm lời của Ngài, ông đã không tránh né sứ mạng của mình và biết lựa lời mà nâng đỡ những người bất hạnh. Ông đã không đón nhận bất kỳ lòng biết ơn nào, nhưng trái lại, đã phải hứng chịu muôn vàn ê chề nhục mạ: bị đánh đòn, chịu những lời mắng nhiếc phỉ nhổ.
1. Dung mạo người tôi trung:
Nhưng người tôi trung này đã đặt trọn niềm tin tưởng vào Đức Chúa; ông “trơ mặt ra như đá”, nghĩa là “nhất quyết, không hề nao núng, vững như bàn thạch”. Thánh Lu-ca nói với chúng ta rằng “Chúa Giê-su trơ mặt ra như đá”, nghĩa là, Ngài nhất quyết lên Giê-ru-sa-lem để chịu cuộc khổ nạn của Ngài, tức là Ngài thu hết can đảm và khẳng định ý muốn của mình (Lc 9: 51).
Bài ca này là bài ca thứ ba trong bốn bài ca được gọi “bài ca về Người Tôi Trung của Đức Chúa” trong tác phẩm của ngôn sứ I-sai-a đệ nhị, vị ngôn sứ thời lưu đày Ba-by-lon, vào giữa thế kỷ thứ sáu trước Công Nguyên.
“Người Tôi Trung” này được quy chiếu đến hoặc dân Ít-ra-en (vị ngôn sứ thường gọi họ là “người tôi trung của Đức Chúa”), hay một nhân vật biệt phân và đón nhận sứ mạng đặc thù. Vả lại, lời giải thích tập thể và lời giải thích cá nhân không loại trừ nhau; chúng chồng chéo lên nhau ở nhiều đoạn văn.
Người tôi trung này hành xử một cách khiêm nhu (bài ca thứ nhất); ông được trao phó cho việc giải thoát dân Ít-ra-en và hoán cải muôn dân (bài ca thứ hai), ông phải hứng chịu những bách hại và nhục mạ (bài ca thứ ba), ông bằng lòng chịu chết một cách ô nhục, đoạn được tôn vinh (bài ca thứ tư).
Đây là một khúc quanh của Mặc Khải. Cho đến lúc đó những viễn cảnh Mê-si-a nhắm đến một dung mạo một vị vua vinh quang thuộc dòng dõi vua Đa-vít, Ngài sẽ thiết lập nền hòa bình và công lý. Ấy vậy, vào lúc này, dân Ít-ra-en không còn có vua, vương quyền Đa-vít đã bị tiêu tan trong cơn bảo táp; Đền Thờ Sa-lô-mon bị phá hủy, Giê-ru-sa-lem phải làm tôi và phần lớn dân cư bị lưu đày. Đây là giờ thuận tiện để loan báo một sứ điệp mới. Qua những linh tính của vị ngôn sứ, khoa sư phạm của Thiên Chúa tiến một bước tiến vĩ đại. Không phải những sấm ngôn thuở xưa về Đấng Mê-si-a thuộc dòng dõi vua Đa-vít bị hủy bỏ, nhưng điều mà những viễn cảnh mới cho thấy, chính là sự can thiệp của “một người được Thiên Chúa tuyển chọn”, “một người được Đức Chúa xức dầu tấn phong”, Đấng này sẽ hành động không ồn ào nháo nhiệt, bên ngoài có vẻ thất bại: đau khổ và chết, trước khi được tôn vinh.
2. Vị ngôn sứ chịu sĩ nhục:
Ở nơi nhân vật chịu nhiều nỗi truân chuyên này chúng ta dể dàng nhận ra chính vị ngôn sứ. Lãnh nhận sứ mạng an ủi những người lưu đày bất hạnh mệt mõi chán chường, ông đã không thể tránh khỏi thái độ vô ơn bạc nghĩa này. Ông đã cố giúp họ hiểu ý nghĩa của cuộc thử thách của họ, kêu gọi họ hoán cải, hứa với họ sự giải thoát; tuy nhiên, ông đã vấp phải thái độ không hiểu, ngờ vực và hung hăng của những người mà cuộc lưu đày dài lâu đã khiến họ nên chua chát đắng cay.
3. Người công chính chịu đau khổ:
Qua dung mạo của vị ngôn sứ, ẩn hiện dung mạo người công chính thập toàn. Bản văn có cung giọng Mê-si-a. Chúa Giê-su sẽ thực hiện sứ mạng được giao phó cho Ngài trong sự vâng phục hoàn hảo; Ngài sẽ mang Tin Mừng đến cho những người nghèo khổ và phiền muộn. Như vị ngôn sứ vô tội, Ngài sẽ đón nhận, thay vì những lời cám ơn, những đòn vọt, lăng mạ, nhục hình mà Ngài sẽ gánh chịu không hề nao núng “vì biết mình sẽ chẳng phải thẹn thùng hổ ngươi bẽ mặt”.
BÀI ĐỌC II (Pl 2: 6-11)
Đoạn thư của thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Phi-líp-phê này là một bài thơ, bằng văn xuôi có nhịp điệu, gồm sáu khổ thơ. Ba khổ thơ đầu vạch lại ba giai đoạn tự nguyện hạ mình của Đức Ki-tô, và ba khổ thơ còn lại, trái lại, ba giai đoạn được Chúa Cha tôn vinh.
Người ta không khỏi ngạc nhiên khi gặp thấy ở nơi cung giọng nồng nàn nhưng thân quen, những dòng thơ khôn sánh này, như tuôn trào từ ngọn bút. Người ta không biết phải chăng thánh Phao-lô là tác giả chỉ là người trích dẫn bài thơ này. Bài thơ này, bằng Hy ngữ, được phô diễn rất văn chương. Tuy nhiên, các nhà chuyên môn phát hiện ở đây những ảnh hưởng của ngôn ngữ A-ram. Phải chăng có một bản văn bằng tiếng A-ram trước bản văn Hy ngữ này? Nếu vậy, chúng ta đang đứng trước một bài thánh thi phụng vụ của Giáo Hội tiên khởi. Dù sao chúng ta có ở đây một chứng liệu đáng chú ý, một trong những bản văn xưa về thần học Đức Ki-tô; nhất là nó mang đến một lời chứng có giá trị đầu tiên về đức tin tiên khởi vào cuộc sống tiền hữu của Chúa Giê-su, trước cả Tựa Ngôn của thánh Gioan.
1. Ba giai đoạn hạ mình:
1- Đức Giê-su, vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng không nhất quyết đòi cho mình được ngang hàng Thiên Chúa.
2- Ngài tự hủy mình ra hư không và mặc lấy thân phận thấp hèn, nên giống phàm nhân, nghĩa là chia sẻ tất cả mọi yếu đuối của chúng ta, ngoại trừ tội lỗi.
3- Ngài lại còn hạ mình đến nỗi bằng lòng chịu chết ô nhục trên thập giá.
2. Ba giai đoạn tôn vinh:
1- Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài và ban tặng cho Ngài danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu.
Chữ “danh hiệu” được hiểu theo nghĩa tuyệt đối: “Danh khả danh phi thường Danh”, nghĩa là danh hiệu này chỉ dành riêng cho một mình Ngài, đây là danh của “Đức Chúa”, mà theo truyền thống Do thái dành riêng để chỉ tên khôn tả của Thiên Chúa.
Danh hiệu “trổi vượt trên muôn vàn danh hiệu”, vì danh này trổi vượt, thậm chí trên muôn loài muôn vật trên trời dưới đất.
2- Muôn loài muôn vật phải phụng thờ Ngài.
“Để vừa nghe danh thánh Giê-su, cả trên trời dưới đất, và trong cõi âm ty, muôn vật phải bái quỳ”. Không phải chỉ vì danh Giê-su, vì tên này khá phổ biến, đó là lý do tại sao tên này thường được đám đông xác định: “ông Giê-su thành Na-da-rét”; nhưng vì danh Giê-su đồng nhất với danh Đức Chúa như khổ thơ trước chỉ cho thấy.
“Cả trên trời dưới đất, và trong cõi âm ty”: chỉ toàn thể vũ trụ. Điều này muốn nói rằng, không chỉ nhân loại phải tôn thờ Ngài, nhưng còn muôn loài thọ tạo nữa. Đây là đề tài chúng ta sẽ gặp lại ở sách Khải Huyền: “Tôi lại nghe mọi loài thụ tạo trên trời, dưới đất, trong lòng đất, ngoài biển khơi và vạn vật ở các nơi đó, tất cả đều tung hô: “Xin kính dâng Đấng ngự trên ngai và Con Chiên lời chức tụng cùng danh dự, vinh quang và quyền năng đến muôn thuở muôn đời!” (Kh 5: 13).
3- Sau cùng, Thiên Chúa ban cho Đức Giê-su quyền tối thượng hoàn vũ, nghĩa là tước vị “Chúa”. Vì những người Ki tô hữu tiên khởi đã không ngần ngại ban tặng cho Đức Giê-su tước vị này mà Cựu Ước dành riêng cho Đức Chúa. Đây là lời tuyên tín đặc trưng tiên khởi; thánh Phao-lô nhấn mạnh nhiều lần, cũng như thánh Lu-ca trong sách Công Vụ, Thiên Tính của Ngài.
Câu cuối của bài thánh thi định rõ “để tôn vinh Chúa Cha”. Đây cũng là một nét thần học xứng đáng nhấn mạnh: siêu tôn Đức Giê-su đồng nghĩa tôn vinh Chúa Cha. Phụng Vụ Ki tô giáo sẽ theo đường hướng này: mọi lời chúc tụng dâng lên Đức Ki-tô đều là tôn vinh Chúa Cha.
3. Mẫu gương:
Thánh Phao-lô rất yêu quý các tin hữu Phi-líp-phê mà thánh nhân đã sáng lập vào năm 49-50 và là cộng đoàn Ki tô giáo đầu tiên trên đất Châu Âu. Phi-líp-phê là một thành phố quan trọng thuộc miền Ma-xê-đoan; thành phố này được đặt tên theo vua Phi-líp-phê, cha của đại đế A-lệ-xan.
Khi thánh nhân viết cho các tín hữu Phi-líp-phê, thánh nhân đang sống trong cảnh xiềng xích. Thánh nhân ước mong các tín hữu Phi-líp-phê thân yêu của ngài biết đồng tâm nhất trí với nhau, nhất là khiêm tốn tận đáy lòng. Vì thế, thánh nhân đưa ra cho họ mẫu gương của Đức Ki-tô.
TIN MỪNG (Lc 22: 14-23: 56)
BÀI THƯƠNG KHÓ ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ THEO THÁNH LU-CA
Như tất cả các thánh ký khác, thánh Lu-ca dành một phần lớn tác phẩm của mình cho bài Thương Khó Đức Giê-su Ki-tô. Vì thế chúng ta có bằng chứng theo đó Giáo Hội tiên khởi đã hiểu biến cố đồi Can-vê, không là một giai đoạn hổ ngươi bẽ mặt mà biến cố Phục Sinh xóa đi, nhưng rõ ràng là đỉnh cao công trình yêu thương của Thiên Chúa cho nhân loại. Sự thánh đố của thập giá đã được những Ki-tô hữu tiên khởi đảm nhận, bất chất sự kỳ chướng gây ra cho người Do thái lẫn lương dân.
Bài tường thuật của thánh Lu-ca bộc lộ một cảm xúc mãnh liệt, tuy nhiên thánh ký tránh đề cập những chi tiết quá tàn bạo, nhưng chỉ gợi ý; kho đọc bài tường thuật của ông, người ta có thể không biết rằng Đức Giê-su đã bị đánh đòn và bị đội mảo gai. Mặt khác, chân dung mà thánh ký phác họa về Đức Giê-su hoàn toàn phù hợp với những gì ông đã mô tả về Ngài trước đó. Suốt lộ trình đau thương của Ngài, Đức Giê-su gieo rắc sự tha thứ, hòa giải và lòng xót thương. Sau cùng, người ta nhận ra rằng thánh ký, tác giả của sách Công Vụ sau này, rất quan tâm đến Giáo Hội: thánh ký muốn rằng bài Thương Khó của ông phải giúp cho người Ki tô hữu gặp thấy ở nơi Đức Giê-su một mẫu gương noi theo cho đến phúc tử đạo.
ĐỨC GIÊ-SU LẬP PHÉP THÁNH THỂ (22: 14-20)
Chúng ta bắt đầu bài tường thuật của thánh Lu-ca với việc Chúa Giê-su lập phép Thánh Thể. Hai tình tiết đi trước việc thiết lập phép Thánh Thể:
- Các thượng tế âm mưu và thông đồng với ông Giu-đa, tên phản bội.
- Chúa Giê-su sai hai môn đệ, thánh Phê-rô và thánh Gioan, chuẩn bị bữa ăn Vượt Qua.
Thánh Lu-ca là một trong các thánh ký đã khôi phục tốt nhất việc thiết lập bàn tiệc Thánh Thể trong bối cảnh của bữa ăn Vượt Qua Do thái.
1. Lễ Vượt Qua Mới:
“Khi giờ đã đến”, tức là vào lúc mặt trời lặn, Chúa Giê-su và các Tông Đồ “ngồi vào bàn”. Từ lâu bữa ăn Vượt Qua không còn theo cách thức cựu trào nữa, nghĩa là “lưng thắt gọn, chân đi dép, tay cầm gậy” (Xh 12: 11), nhưng theo cách thức Hy-La, nằm duổi dày trên trường kỷ.
Bữa ăn Vượt Qua Do thái được người cha hay vị thủ lãnh của nhóm chủ trì, như cộng đồng nhỏ bé của Đức Giê-su cùng các môn đệ của Ngài. Người cha hay vị thủ lãnh có nhiệm vụ giải thích diễn tiến và ý nghĩa của các nghi thức, trả lời các câu hỏi. Vì thế Chúa Giê-su lên tiếng trước, trong và sau bữa ăn. Ngài xác định ý nghĩa các cử chỉ của Ngài; Ngài sắp biến đổi lễ Vượt Qua truyền thống thành lễ Vượt Qua Mới; vừa đoạn tuyệt vừa nối tiếp, vừa đối chiếu sâu xa vừa có tính cách mới tận căn.
Ngay lập tức, Đức Giê-su đem lại cho nghi lễ sắc điệu của Ngài: lễ Vượt Qua này thể hiện một trong những ước muốn nồng nàn nhất tấm lòng của Ngài và nó mang một ý nghĩa cánh chung.
2. “Thầy những khát khao mong mỏi ăn lễ Vượt Qua này với anh em trước khi chịu khổ hình”:
Chúa Giê-su đã bày tỏ mong ước này rồi: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bừng lên! Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất!” (Lc 12: 49-50). Đó là ngọn lửa tình yêu mà Ngài sẽ tỏ cho nhân loại thấy Thiên Chúa yêu thương họ đến độ nào.
3. Ý nghĩa cánh chung:
Lễ Vượt Qua Do thái tưởng niệm việc dân Do thái được giải thoát khỏi cảnh đời nô lệ bên Ai-cập, biến cố quyết định của lịch sử dân Ít-ra-en. Cuộc tưởng niệm này được hiểu như đảm bảo những lần Đức Chúa can thiệp trong tương lai, việc Đấng Mê-si-a ngự đến (ở bữa ăn Vượt Qua, một chỗ tượng trưng được dành riêng cho ngôn sứ Ê-li-a), cũng như ơn cứu độ vĩnh viễn (người ta nghĩ rằng ơn cứu độ này bất chợt đến vào đêm Vượt Qua). Như vậy, bữa ăn Vượt Qua Do thái là một trong những tiên trưng của bữa tiệc cánh chung mà Thánh Kinh mô tả để diễn tả niềm vui của những người công chính trong thế giới hậu lai như: “Ngày ấy, trên núi này, Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc…Trên núi này, Người sẽ xé bỏ chiếc khăn tang che phủ mọi dân, và tấm màn trùm lên muôn nước. Người sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần. Đức Chúa là Chúa Thượng sẽ lau khô dòng lệ trên khuôn mặt mọi người” (I s 25: 6-8; 55: 1-3; Cn 9: 1-6).
Lễ Vượt Qua mà Chúa Giê-su chuẩn bị thiết lập mặc lấy dấu chỉ cứu độ “cho đến khi lễ này được nên trọn vẹn trong Nước Thiên Chúa”. Thánh Thể là lương thực cánh chung, bảo chứng cuộc sống đời đời.
4. Chén rượu thứ nhất:
Đức Giê-su đổi mới viễn cảnh này khi cầm chén rượu người ta đưa cho Ngài. Quả thật, bản văn viết: “Rồi Người nhận lấy chén”. Đức Giê-su chủ trì bữa ăn Vượt Qua. Chỉ một mình thánh Lu-ca kể ra chén rượu thứ nhất này.
Trong suốt bữa ăn Vượt Qua Do thái, có đến bốn chén rượu. Lời tạ ơn được đọc trên chén rượu thứ nhất, trước khi bữa ăn khởi sự, nhằm mục đích thánh hiến nghi lễ: Đức Giê-su dâng lời tạ ơn thứ nhất trên chén rượu này.
Tiếp đó, người ta ăn “rau diếp đắng”, đoạn đọc lời tạ ơn và cùng ăn bánh không men.
5. Đọc lời tạ ơn trên bánh:
Lúc đó, Đức Giê-su dâng lời tạ ơn trên bánh, nhưng Ngài biến đổi nghi thức: “Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy”. Bản văn của thánh Lu-ca rất gần với bản văn của thánh Phao-lô. Chỉ hai người kể ra “Anh em hãy làm như Thầy vừa làm mà tưởng nhớ đến Thầy” (1Cr 11: 24).
6. Chén rượu cuối bữa ăn:
“Và tới tuần rượu cuối bữa ăn, Người cũng làm như vậy”. Những lời theo sau ở đây vẫn còn tương tự với những lời mà thánh Phao-lô trích dẫn (1Cr 11: 25). Chén rượu mà Chúa Giê-su dâng lời tạ ơn có thể là chén thứ tư, chén mà người ta uống ngay khi bữa ăn được hoàn tất, trước khi đọc các Thánh Vịnh 113-118, để nói lên Giao Ước Mới và phân biệt rõ nét Chén Máu của Ngài với các chén khác.
Chúa Giê-su loan báo cho các môn đệ Ngài cái chết dữ dội của Ngài, Ngài chết như một hiến lễ: “Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em”.
admin
23-03-2010, 01:18 PM
DIỄN TỪ TỪ BIỆT (22: 21-38)
Trái với thánh Mát-thêu và thánh Mác-cô, nhưng như thánh Gioan, thánh Lu-ca tường thuật bài diễn từ của Chúa Giê-su như diễn từ từ biệt, dưới hình thức của những lời loan báo, dặn dò và hứa hẹn.
1. Loan báo Giu-đa phản bội:
Trước tiên, Đức Giê-su loan báo rằng một người trong họ sẽ phản bội Ngài. Đây là nét chung cho cả bốn sách Tin Mừng: thánh Lu-ca đặt lời loan báo này sau bữa ăn, thánh Gioan thì trong bữa ăn, còn thánh Mát-thêu và thánh Mác-cô thì trên đường đến vườn Cây Dầu. Chỉ mình thánh Gioan trích dẫn Tv 41: 10: “Kẻ đã cùng chia cơm sẻ bánh lại giơ gót đạp con” (Ga 13: 18). Thánh Lu-ca chỉ dành cho lời loan báo này chỉ ba dòng mà không đưa ra bất kỳ sự xác định nào, vì thánh ký không thích trì hoãn trên những cử chỉ ô nhục. Lời than thở: “Khốn cho kẻ nào nộp Con Người” không là lời kết án, càng không là lời nguyền rủa. Đó chỉ là một ánh nhìn đượm buồn trên người bạn lầm đường lạc lối này.
“Đã hẳn Con Người ra đi như đã ấn định”, nghĩa là cuộc Thương Khó của Đức Giê-su đã được ấn định bởi kế hoạch của Chúa Cha. Chúng ta không gặp thấy bản văn Kinh Thánh nào mà Chúa Giê-su có thể ám chỉ đến, nhưng phải nhớ rằng Đức Giê-su đã thường liên kết mật thiết dung mạo Con Người với dung mạo Người Tôi Trung. Vả lại, bài học phục vụ đến rất đúng lúc như một lời quở trách gởi đến các môn đệ Ngài.
2. Lý tưởng phục vụ:
Sau một thoáng xúc động vì lời loan báo một người trong họ sẽ phản bội Thầy, các ông, vẫn chứng nào tật nấy, tranh cãi sôi nổi với nhau xem ai trong Nhóm được coi là người lớn nhất.
Đức Giê-su nhắc lại cho họ giáo huấn mà Ngài không ngừng nhắc đi nhắc lại: kẻ rốt hết sẽ là người làm đầu, ai trở thành bé mọn như con trẻ sẽ đi vào Nước Trời, vân vân. Kẻ lớn nhất phải nên như người phục vụ: “Thầy đây, Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ”. Người ta nghĩ rằng thánh Gioan đặt việc rửa chân vào bữa ăn này, Đức Giê-su mặc lấy y phục người nô lệ, khăn thắt ngang lưng, để cúi xuống trước mỗi vị Tông Đồ.
3. Xa-tan trở lại:
Sự phản bội của Giu-đa không là cuộc tấn công duy nhất của các thế lực sự dữ. Chúng ta gặp thấy ở đây một trong những tuyến phát triển của Tin Mừng Lu-ca, cuộc tấn công này xuất hiện ngay từ câu chuyện Cám Dỗ trong hoang địa: ở đó Đức Giê-su chiến thắng Xa-tan và cuộc chiến thắng khởi đầu này bao quát toàn bộ sứ mạng của Ngài; nhưng Xa-tan chờ đợi giờ của nó (Lc 4: 13). “Xa-tan đã nhập vào Giu-đa” (Lc 22: 3). Ngoài ra “Xa-tan đã xin được sàng các Tông Đồ như người ta sàng gạo” (Lc 22: 31), tức là đưa các ông vào một cuộc thử thách cam go đối với đức tin của các ông. Chính thánh Phê-rô sẽ vấp ngã.
4. Lòng nhân từ của Thiên Chúa:
Chúng ta lưu ý đến lòng nhân từ của Đức Giê-su; Ngài gợi lên cuộc tấn công của Xa-tan này chỉ sau khi đã làm yên lòng các Tông Đồ của Ngài; Ngài nói với họ về cuộc thử thách này, khi nhấn mạnh rằng rốt cuộc họ sẽ chiến thắng: “Còn anh em, anh em vẫn một lòng gắn bó với Thầy, giữa những lúc Thầy gặp thử thách gian nan. Vì thế, Thầy sẽ trao vương quốc này cho anh em, như Cha Thầy đã trao cho Thầy, để anh em được dồng bàn ăn uống với Thầy trong Vương Quốc của Thầy, và ngự tòa xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en”, tức là dân Thiên Chúa.
Đối với thánh Phê-rô cũng thế, để thánh nhân khỏi phải quá buồn phiền, Đức Giê-su công bố cho ông, trước khi tiên báo ông sẽ chối Thầy: “Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho anh em của anh nên vững mạnh”.
Chỉ một mình thánh Lu-ca gợi lên ngay từ giây phút này uy quyền mà Đức Giê-su ban cho thánh Phê-rô trên Nhóm Mười Hai, và đảm bảo rằng lời cầu nguyện của Ngài sẽ phù trợ đức tin của Giáo Hội.
Thánh Phê-rô cực lực biện bác, nhưng Chúa Giê-su nói trước cho thánh nhân biết nội trong đêm nay ba lần ông sẽ chối Thầy, nhưng Ngài cũng giúp cho thánh nhân hiểu trước rằng Ngài sẽ bỏ qua cho ông. Đây là một trong những trang Tin Mừng ghi đậm nét lòng nhân từ của Thiên Chúa.
5. Giờ chiến đấu quyết liệt:
Đoạn Chúa Giê-su với một nghị lực đáng kinh ngạc cho các môn đệ mình hiểu rằng giờ chiến đấu quyết liệt đã đến. Không còn ra đi không hành trang như trước đây Ngài đã truyền lệnh cho họ, nhưng phải trang bị vũ khí chống lại sự thù hận khủng khiếp. Chúa Giê-su nói bằng ngôn ngữ biểu tượng về khí giới thiêng liêng.
Bây giờ sấm ngôn Is 53: 12 sắp được ứng nghiệm: “Người bị liệt vào hàng phạm pháp. Thật vậy, những gì đã chép về Thầy sắp được hoàn tất”. Thánh Lu-ca là thánh ký duy nhất áp dụng bản văn ngôn sứ I-sai-a đệ nhị về người tôi trung chịu đau khổ vào cuộc Thương Khó của Chúa Ki-tô. Chúa Giê-su bước đi trong khi hoàn toàn ý thức rằng mình bị bêu xấu cho đến mức bị liệt vào hàng những kẻ phạm pháp và phải chịu chết một cách ô nhục. Ngài thử truyền đạt điều này cho các môn đệ, nhưng các ông lại hiểu theo nghĩa vật chất, vì thế họ trình cho Ngài hai thanh gươm. Chúa Giê-su, thất vọng, cắt ngang: “Đủ rồi!”.
CƠN HẤP HỐI TẠI NÚI Ô-LIU (22: 39-46)
Bài tường thuật của thánh Lu-ca thì ngắn gọn: thánh ký bỏ qua nhiều chi tiết được thánh Mát-thêu và thánh Mác-cô cung cấp, chỉ để tâm đến lời cầu nguyện, lời cầu nguyện căng thẳng của Chúa Giê-su, lời cầu nguyện mà Ngài khuyên bảo các môn đệ ngay từ đầu và được lập lại ở phần cuối; một kỷ thuật đóng khung có ý nghĩa.
Chẳng có gì phải ngạc nhiên: thánh Lu-ca là thánh ký của lời cầu nguyện; chính thánh nhân ghi nhận thái độ thường hằng này của Chúa Giê-su: “Ban ngày, Đức Giê-su giảng dạy trong Đền Thờ; nhưng đến tối, Người đi ra và qua đêm tại núi gọi là núi Ô-liu” (21: 37). Chúa Giê-su không thay đổi thói quen của mình; hơn nữa, Ngài biết rõ rằng Ngài đang đối mặt với nguy hiểm. Vào chiều hôm đó, các môn đệ theo Ngài; Ngài bận lòng trước hết về họ; họ đã thật sự không ý thức về cơn kỳ chướng kinh khiếp đang chờ đợi họ. Ngài bảo các ông: “Anh em hãy cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ”. Chính Ngài tách riêng một mình mà cầu nguyện.
1. Chúa Giê-su cầu nguyện:
Thánh Lu-ca viết: “Chúa Giê-su quỳ gối cầu nguyện”. Thái độ này không thông thường: dân Do thái cũng như dân Hy-lạp và dân Rô-ma đứng cầu nguyện; tuy nhiên, Cựu Ước nhiều lần kể ra thái độ quỳ cầu nguyện này (2Sb 6: 13; Đn 6: 11). Đây cũng là thái độ cầu nguyện Ki tô hữu được nhiều lần ghi nhận trong sách Công Vụ Tông Đồ (Cv 9: 40; 20: 36; 21: 5).
Trong suốt buổi cầu nguyện dài lâu này, Chúa Giê-su đã có thể thay đổi tư thế. Tuy nhiên, thánh Lu-ca thích kể việc Chúa Giê-su quỳ cầu nguyện hơn “sấp mình xuống mà cầu nguyện” như Mát-thêu hay Mác-cô.
Lời cầu nguyện của Đức Giê-su ở vườn Ô-liu nhắc nhớ Kinh Lạy Cha mà Ngài đã dạy cho các Tông Đồ. Đức Giê-su thân thưa với Cha Ngài với trọn niềm tin tưởng của người con thảo; nhưng thân phận con người khiến Ngài xao xuyến: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con”. “Chén” là hình ảnh Kinh Thánh chung chung được liên kết với ý tưởng trừng phạt, “chén cơn thịnh nộ của Thiên Chúa”, chén dành cho số phận của những người tội lỗi. Khi chấp nhận uống chén này, thay cho những người tội lỗi, Chúa Giê-su sẽ cho phép họ được uống chén cứu độ: chén máu Thánh Thể, tức là máu Ngài đổ ra cho họ.
2. Thiên sứ:
“Bấy giờ có thiên sứ tự trời hiện đến tăng sức cho Người”. Đây là nét riêng của thánh Lu-ca.
Đây là câu trả lời của Chúa Cha cho tấm lòng hiếu thảo của Đức Giê-su. Điểm nhấn này rất gần với Tin Mừng Gioan; quả thật, theo Tin Mừng Gioan, Chúa Cha đã chưa bao giờ yêu mến Chúa Con cho bằng khi Chúa Con chịu cuộc Tử Nạn của mình. Một tình tiết song đối được gặp thấy chính xác trong Tin Mừng Gioan. Chúng ta biết rằng thánh Gioan không tường thuật cơn hấp hối của Chúa Giê-su ở vườn Ô-liu, nhưng phải nói là thánh nhân cho một sự tham dự trước cơn hấp hối này: khi những người Hy-lạp bày tỏ ước muốn được gặp Chúa Giê-su, thái độ của họ làm Ngài xao động. Lương dân đến với Ngài; Ngài sắp chết cho tất cả họ: “Tâm hồn Thầy xao xuyến…Lạy Cha xin cứu con khỏi giờ này…Bây giờ có tiếng từ trời vọng xuống: ‘Ta đã tôn vinh Danh Ta, Ta sẽ còn tôn vinh nữa!’. Dân chúng đứng ở đó nghe vậy liền nói: ‘Tiếng một thiên thần nói với ông ta đấy!’” (Ga 12: 27-28).
3. Mồ hôi lẫn với máu:
“Mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất”. Chi tiết này gây chú ý cho thánh Lu-ca, thầy thuốc. Nó chỉ cho thấy nỗi đau cùng cực của Chúa Giê-su. Mỗi Ki tô hữu tự hỏi chính mình: phải chăng việc thấu hiểu nỗi đau khổ kinh khiếp và cái chết là nguyên nhân duy nhất gây nên nỗi phiền muộn bao la của Đức Giê-su, hay còn có nỗi đau đớn lớn lao do tội lỗi của con người? Ở đây chúng ta đi vào trong mầu nhiệm.
4. Cầu nguyện không ngừng:
Sau khi cầu nguyện, Chúa Giê-su trở lại các môn đệ và Ngài gặp thấy họ đang ngủ. Thánh Lu-ca viết một cách độ lượng: “họ ngủ vì buồn phiền”. Chúa Giê-su lại khuyên họ cầu nguyện, “kẻo sa chước cám dỗ”.
Họ đã không cầu nguyện đủ; họ khó mà cưỡng nỗi chước cám dỗ, và chẳng mấy chốc nữa, tất cả họ sẽ trốn chạy mà bỏ rơi Đức Giê-su. Bên kia các môn đệ, thánh Lu-ca nghĩ đến tất cả những Ki tô hữu.
ĐỨC GIÊ-SU BỊ BẮT (22: 47-53)
Bài tường thuật của thánh Lu-ca không khác mấy với các bài tường thuật khác, ngoại trừ vài sắc thái.
1. Nụ hôn của Giu-đa:
Thánh Lu-ca từ chối ghi lại nụ hôn của Giu-đa bằng những ngôn từ thô thiển; thánh ký chỉ gợi ý: “Hắn lại gần Đức Giê-su để hôn Người”; tiếp liền ngay sau đó là lời của Đức Giê-su: “Giu-đa ơi, anh dùng cái hôn mà nộp Con Người sao?”. Trong khi đó thánh Mát-thêu và thánh Mác-cô viết: “Rồi hắn hôn Người”; còn thánh Gioan không kể ra nụ hôn của Giu-đa.
Chúa Giê-su gọi đích danh người môn đệ phản bội này nhằm cố ý giúp hắn ý thức về cử chỉ bỉ ổi của hắn; Đức Giê-su xưng mình “Con Người”, tước hiệu mà Ngài đã luôn luôn sử dụng khi tiên báo cuộc Thương Khó của mình, nhằm lay động, nếu có thể, những tâm tư tình cảm của tên phản bội.
2. Chém đứt tai tên đầy tớ của thượng tế:
Tình tiết chém đứt tai tên đầy tớ thượng tế đều được cả bốn Tin Mừng tường thuật. Thánh Lu-ca xác định tai bị chém đứt là tai bên phải. Những phần thân thể bên phải được xem là cao cả hơn bên trái. Nhưng chỉ mình thánh Lu-ca tường thuật Chúa Giê-su chữa lành tai của hắn. Đức Giê-su đã cư xử kẻ thù của Ngài như thế đó…Thánh Lu-ca là thầy thuốc, vì thế ông có một tấm lòng nhạy cảm.
3. Các thượng tế và kỳ mục:
Thánh Lu-ca không kể đám đông cầm gậy gộc và gươm giáo. Trái lại, ông lưu ý đến sự hiện diện của các thượng tế, lãnh binh Đền Thờ cũng như kỳ mục. Việc lãnh binh Đền Thờ có mặt ở đây là chuyện thường tình để điều hành việc bắt giữ. Nhưng những nhân vật vị vọng, như các thượng tế và kỳ mục, đêm hôm lặn lội đi bắt Ngài thì đáng ngạc nhiên. Thánh ký muốn vạch mặt chỉ tên những người chịu trách nhiệm về cái chết của Chúa Ki-tô ngay từ giây phút bắt giữ Ngài.
Đức Giê-su vạch ra cho thấy việc ra tay Ngài vào ban đêm là hành động không quang minh chính đại, bởi vì hằng ngày Ngài công khai giảng dạy cho dân chúng trong Đền Thờ; nếu muốn bắt Ngài thì quá dể dàng, cần gì phải lén lút bắt Ngài như vậy. Nhưng cách thức bắt Ngài như thế rõ ràng cho thấy có một sự thông đồng với Giu-đa: “Giu-đa ưng thuận và tìm dịp thuận tiện để nộp Đức Giê-su cho họ, lúc không có đám đông” (Lc 22: 6), trong khi các thượng tế và kỳ mục muốn hoản cuộc bắt giữ cho đến sau ngày lễ, kẻo gây náo loạn trong dân (Mt 26: 5). Thánh Lu-ca còn kể thêm: “Nhưng đây là giờ của các ông, là thời của quyền lực tối tăm”. Chúng ta gặp lại bóng tối của Xa-tan.
THÁNH PHÊ-RÔ CHỐI THẦY (22: 54-62)
“Họ bắt Đức Giê-su”. Chỉ vào lúc này thánh Lu-ca mới kể việc bắt giữ Đức Giê-su, trong khi thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu đặt việc bắt giữ liền ngay sau Giu-đa ôm hôn Ngài. Thánh Lu-ca muốn chứng tỏ rằng cho đến lúc đó Đức Giê-su tự do, làm chủ biến cố, vạch cho thấy những sai trái của tên phản bội và của những kẻ đến bắt Ngài, ra lệnh cho các môn đệ và chữa lành kẻ bị thương. Tin Mừng Gioan cũng đưa ra một quan điểm như thế, nhưng chỉ cho thấy Đức Giê-su bị trói. Thánh Lu-ca không bao giờ nói việc Đức Giê-su bị trói.
“Họ điệu Người đến nhà vị thượng tế”. Vị thượng tế này không được nêu tên, chắc hẳn là Cai-pha, vị thượng tế đương nhiệm. Chỉ một mình thánh Gioan kể ra việc Chúa Giê-su bị điệu ra trước Kha-nan, vị thượng tế mãn nhiệm, bố vợ của Cai-pha. “Còn thánh Phê-rô thì theo xa xa”; thánh Phê-rô cẩn trọng giữ một khoảng cách nào đó. Tuy nhiên, vào đêm xuân, khí trời thì lạnh. Thánh Phê-rô thấy những người canh gác đã nhóm một bếp lửa giữa sân nên đến gần để sưởi ấm. Dưới ánh lửa bập bùng, thánh nhận dể bị nhận dạng và vì thế ông bị tra hỏi đến ba lần.
Bài tường thuật Lu-ca về việc thánh Phê-rô chối Thầy không khác mấy với các bài tường thuật của các thánh ký khác, tuy nhiên thánh Lu-ca không diễn tả mức độ tăng dần của việc thánh Phê-rô ba lần chối Thầy liên tiếp, nhưng nêu lên cường độ kịch tính một cách đặc biệt bởi cái nhìn gây xúc động của Chúa Giê-su trên vị Tông Đồ, cái nhìn của Ngài khiến thánh Phê-rô xao động. Tiếng gà gáy nhắc cho thánh nhân nhớ lại lời của Chúa Giê-su. Thánh nhân ra ngoài, khóc lóc thảm thiết.
ĐỨC GIÊ-SU BỊ ĐÁNH ĐẬP (22: 63-65)
Trong khi chờ đợi, Đức Giê-su bị giao lại vào tay những kẻ canh giữ, chúng nhục mạ Ngài và đánh đập Ngài; chúng chế nhạo Đấng đã xưng mình là “ngôn sứ”. Thánh Lu-ca không nhấn mạnh những chi tiết của màn bỉ ổi và đau buồn này; thánh ký tránh kể ra những cái tát tai và những khạt nhổ vào mặt.
PHIÊN TÒA DO THÁI (22: 66-71)
Đức Giê-su cần phải ra trước tòa án Do thái. Giả như Ngài bị giao nộp trực tiếp vào chính quyền Rô-ma, Ngài sẽ bị đồng hóa với những người ái quốc và được hưởng triều thiên tử đạo. Điều quan trọng trước tiên là làm mất uy tín của Ngài trước mắt toàn dân Ít-ra-en.
1. Thượng Hội Đồng:
Thượng Hội Đồng Giê-ru-sa-lem là tòa án tối cao của người Do thái. Giới học giả tranh luận về thẩm quyền của Thượng Hội Đồng này; dù thế nào đi nữa về lãnh vực tôn giáo, ba trường hợp chính buộc phải xét xử ở Thượng Hội Đồng này: thờ ngẫu tượng, một ngôn sứ giả, hay một vị thượng tế phạm một tội danh nào đó. Tước hiệu “ngôn sứ” sẽ là trung tâm của phiên tòa xét xử Đức Giê-su trước Thượng Hội Đồng, trong khi tước hiệu “vua” sẽ là trung tâm của phiên tòa Rô-ma trước quan tổng trấn Phi-la-tô.
Thượng Hội Đồng gồm có bảy mươi thành viên không tính vị thượng tế, người chủ trì Thượng Hội Đồng này; lời tuyên án của Thượng Hội Đồng chỉ có giá trị nếu hội đủ ít nhất hai mươi ba thành viên. Xem ra có nhiều hơn khi Chúa Giê-su bị điều ra trước Thượng Hội Đồng.
admin
23-03-2010, 01:19 PM
2. Hai tước vị của Ngài:
Thánh Lu-ca chỉ tường thuật một phiên tòa Thượng Hội Đồng, phiên tòa xảy ra vào ban ngày. Thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu gợi lên một phiên tòa trước, phiên tòa xảy ra vào ban đêm. Theo luật, trong trường hợp nghiêm trọng, Thượng Hội Đồng phải nhóm họp hai lần cách nhau khoảng hai mươi bốn tiếng, ngỏ hầu những người xét xử có đủ thời gian để suy nghĩ. Phiên tòa thứ hai phải khẳng định hay hủy bỏ quyết định của phiên tòa thứ nhất chứ không có quyền tăng thêm bản án. Thánh ký không trì hoãn ở nơi những hình thức nực cười của phiên tòa mà bản án đã được định sẵn trước rồi; ông muốn hướng sự chú ý đến con người của Đức Giê-su, nơi hai tước vị của Ngài: Đấng Mê-si-a và Con Thiên Chúa. Khác với thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu, thánh Lu-ca phân biệt rất rõ hai tước vị này, như thánh ký đã làm lần đầu tiên, vào biến cố Truyền Tin. Sự phân biệt này nói lên nỗi bận lòng của một sử gia. Tác giả sách Công Vụ sau này biết rằng khi Giáo Hội được phát triển, nhất là ở môi trường lương dân, tước vị Do thái: “Mê-si-a” được bảo tồn ở nơi tước hiệu Hy-lạp: “Ki-tô”, nhưng điểm nhấn chính được đặt trên tước vị “Con Thiên Chúa” của Đức Giê-su, tức là nhận ra Thần Tính của Ngài.
Đối với câu hỏi về tước vị Mê-si-a của Ngài, Đức Giê-su trả lời bằng cách làm cho những người xét xử Ngài hiểu rằng tước vị này không tương hợp chút nào với những gì họ nghĩ: nó không thuộc trần thế, nhưng siêu việt vì “Từ nay, Con Người sẽ ngự bên hữu Thiên Chúa toàn năng”. Cũng như thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu, thánh Lu-ca liên kết sấm ngôn Đa-ni-en và Thánh Vịnh 110, cả hai đều loan báo việc con vua Đa-vít sẽ được tôn vinh bên hữu Đức Chúa.
Đối với câu hỏi về tước vị Con Thiên Chúa của Ngài, Đức Giê-su trả lời bằng cách biến đối thủ của Ngài thành người công bố chân lý: “Đúng như các ông nói, chính tôi đây”. Tại thánh Mác-cô, Đức Giê-su trả lời rõ ràng: “Phải, chính thế”.
3. Bản án:
Thượng Hội Đồng chỉ có thể tuyên án khi dựa vào tối thiểu hai lời chứng ăn khớp với nhau. Thánh Lu-ca để cho hiểu rằng điều kiện này không hội đủ. Sau lời công bố của Đức Giê-su, các thành viên Thượng Hội Đồng gào lên: “Chúng ta cần gì lời chứng nữa? Chính chúng ta vừa nghe miệng hắn nói!”. Thánh Lu-ca không nói về việc kết án, ông cũng không kể ra lời tuyên án: “Hắn đáng chết!”; thánh ký sẽ không nói ở bất cứ nơi nào rằng Đức Giê-su đã bị kết án, bởi vì lời tuyên án của Thượng Hội Đồng thì bế tắt. Tòa án này đã mất đi quyền thi hành án tử. Chính quyền Rô-ma đã lấy đi quyền này khỏi người Do thái. Vì thế, để có thể giết Ngài, phải tìm thấy một lý do không là tôn giáo nhưng chính trị, vì thế phải cậy nhờ đến quan tổng trấn Rô-ma.
PHIÊN TÒA RÔ-MA (23: 1-5)
Thánh Lu-ca nêu bật việc chuyển biến từ lãnh vực tôn giáo sang lãnh vực chính trị; thánh ký trích dẫn những lời buộc tội mà các thành viên Thượng Hội Đồng nêu lên để ép buộc Phi-la-tô phải can dự: tên Giê-su này sách động quần chúng phá rối trị an; hắn chống đối việc nộp thuế cho hoàng đế, hơn nữa, hắn còn xưng mình là Đấng Mê-si-a, là Vua nữa.
Phiên tòa tôn giáo dựa trên một nền tảng xác thực nào đó: Đức Giê-su công bố mình vừa là Đấng Mê-si-a vừa là Con Thiên Chúa, đó là những lời phạm thượng dưới quan điểm của những người xét xử Ngài. Phiên tòa chính trị sẽ dựa trên những lời chứng gian. Phi-la-tô khó mà khỏi nghi ngờ, ông sẽ khẳng định sự vô tội của Đức Giê-su đến ba lần (như trong Tin Mừng Gioan).
Quan tổng trấn đặt câu hỏi chủ chốt liền ngay với Đức Giê-su: “Ông là Vua dân Do thái sao?”. Chỉ tham vọng này thôi cũng đủ chính quyền Rô-ma trừng trị nghiêm khắc. Đức Giê-su tránh trả lời trực tiếp; tuy nhiên, câu trả lời của Ngài rõ ràng mang sắc thái khẳng định: “Chính ngài nói đó”, ngầm hiểu: “Tôi là vua, nhưng không theo như cách ngài nghĩ”.
Thánh Lu-ca tóm tắt rất ngắn gọn phiên tòa của Đức Giê-su trước Phi-la-tô; vả lại, thánh ký chia phiên tòa này ra làm hai phần, bởi việc áp giải Đức Giê-su đến trước mặt vua Hê-rô-đê.
Ngay từ cuộc nói chuyện đầu tiên, Phi-la-tô tin rằng những lời buộc tội là vô căn cứ. Các thượng tế liền đáp lại: “Hắn đã xúi dân nổi loạn, đi giảng dạy khắp vùng Giu-đê, bắt đầu từ Ga-li-lê cho đến đây”. Địa danh “Ga-li-lê” gợi cho quan tổng trấn một lối thoát. Bởi vì Đức Giê-su là người Ga-li-lê, ông giao lại cho Hê-rô-đê, tiểu vương miền Ga-li-lê. Vào lúc đó, Hê-rô-đê có mặt ở Giê-ru-sa-lem để tham dự lễ Vượt Qua.
ĐỨC GIÊ-SU RA TRƯỚC MẶT VUA HÊ-RÔ-ĐÊ (23: 6-12)
Việc Đức Giê-su ra trước mặt vua Hê-rô-đê là một tình tiết riêng của thánh Lu-ca. Lập luận pháp lý mà Phi-la-tô viện dẫn được các bản văn khẳng định. Chúng ta biết rằng miền Ga-li-lê không có cùng quy chế chính trị như miền Giu-đê. Chính quyền Rô-ma đã để cho miền Ga-li-lê một tiểu vương cai trị, lúc đó là Hê-rô-đê An-ti-pát, một trong những người con của Hê-rô-đê đại đế.
Động cơ duy nhất của Phi-la-tô là làm tròn những yêu sách của luật thì đáng nghi ngờ; vả lại luật không đòi buộc như thế; nhưng chắc chắn ông bằng lòng chia sẻ trách nhiệm về một công việc tinh tế với chính quyền Do thái. Phi-la-tô nắm bắt cơ hội để xoa dịu vị tiểu vương mà quan hệ giữa hai người vốn rất hiềm thù. Thêm nữa, Phi-la-tô hy vọng vị tiểu vương này tìm ra một giải pháp, vì Hê-rô-đê nổi tiếng là một nhân vật xảo quyệt (Đức Giê-su đã gọi vị tiểu vương này là “con cáo già”: Lc 13: 32).
Hê-rô-đê bày tỏ một sự hiếu kỳ không đúng chỗ và hỏi Ngài dồn dập. Với thái độ như thế, Đức Giê-su không thèm trả lời. Bị thương tổn, Hê-rô-đê khinh dể Ngài ra mặt nên ra lệnh cho thị vệ khoác cho Ngài một chiếc áo rực rỡ để chế giễu tham vọng vương quyền của Ngài. Chi tiết này phù hợp với thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu khi miêu tả bọn lính tráng khoác cho Đức Giê-su một tấm áo điều mà chế giễu Ngài. Hê-rô-đê không tuyên án, rồi cho giải Ngài lại cho tổng trấn Phi-la-tô. “Ngày hôm ấy, vua Hê-rô-đê và tổng trấn Phi-la-tô bắt đầu thân thiện với nhau”. Phải chăng thánh ký thấy ở đây lời tiên báo về sự hòa giải giữa người Do thái và dân ngoại trong những cộng đoàn Ki tô hữu tiên khởi?
ĐỨC GIÊ-SU LẠI RA TRƯỚC PHI-LA-TÔ (23: 13-25)
Đức Giê-su lại bị điệu ra trước Phi-la-tô nhưng không còn có đối thoại nữa giữa tổng trấn và Đức Giê-su. Lối thoát của tấn thảm kịch được diễn ra giữa chính quyền Rô-ma và giai cấp lãnh đạo Do thái; chính ở nơi giai cấp lãnh đạo này mà thánh ký sắp quy những trách nhiệm nặng nề nhất.
Phi-la-tô triệu tập các thượng tế và các thủ lãnh dân chúng; ông cao giọng công bố Đức Giê-su vô tội và tố cáo những lời buộc tội gian trá chống lại Đức Giê-su. Bài tường thuật Lu-ca rất gần với bài tường thuật Gioan. Tuy nhiên, để xoa dịu giai cấp lãnh đạo Do thái, vị tổng trấn loan báo một cách đê hèn rằng ông sẽ ra lệnh trừng trị Ngài cho dù ông vừa mới công bố Ngài vô tội và hứa sẽ thả Ngài. Thánh Lu-ca chỉ kể ra sự nhục hình đòn vọt một cách gợi ý chứ không miêu tả chi tiết. Như thánh Gioan, thánh Lu-ca tách riêng việc đánh đòn mà ý định của nó chỉ nhằm ngăn ngừa, chứ không như thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu xem việc đánh đòn như điều kiện tiên quyết của việc đóng đinh trên thập giá.
Nhưng các giai cấp lãnh đạo nhất quyết đòi hỏi án tử của Ngài cho bằng được: “Giết nó đi, thả Ba-ra-ba cho chúng tôi”. Thánh Lu-ca không cung cấp bất kỳ lời giải thích nào về yêu sách này; ông giả sử rằng tập tục này ai cũng biết cả, theo đó vào dịp lễ Vượt Qua, người Do thái yêu cầu phóng thích một tù nhân, chắc chắn để tưởng niệm ngày giải thoát khỏi Ai-cập. Chính quyền Rô-ma thuận theo truyền thống Ít-ra-en.
Trái với thánh Mác-cô (15: 11) và thánh Mát-thêu (27: 20), thánh Lu-ca không kể ra tiếng gào thét của đám đông, cũng như áp lực của các thượng tế trên đám đông, bởi vì thánh ký không làm loãng đi trách nhiệm của dân Ít-ra-en. Còn Phi-la-tô, ông luôn luôn cho rằng những lời buộc tội là bất công, cuối cùng đành phải nhượng bộ, thả Ba-ra-ba, kẻ bạo động và sát nhân, và trao nộp Đức Giê-su, người vô tội, “theo ý họ muốn”. Thánh Lu-ca không muốn nói rằng Phi-la-tô giao cho các thượng tế tế và các thủ lãnh dân chúng việc hành hình Đức Giê-su, vì đối với người Do thái cuộc hành hình phải là ném đá chứ không đóng đinh vào thập giá, nhưng thánh ký muốn nói rằng cuối cùng, ý muốn của họ đã thắng.
ĐƯỜNG LÊN “ĐỒI SỌ” (23: 26-31)
Bốn bài tường thuật về phần cuối của tấn thảm kịch này rất phù hợp với nhau, ngoài trừ vài tiểu tiết. Cả bốn bài tường thuật đều mực thước, thậm chí ngắn gọn. Đặc biệt thánh Lu-ca theo đuổi ý muốn của mình là không nhấn mạnh những khía cạnh quá bi thương; thánh ký thổi vào những trang Tin Mừng của mình một hơi mát thanh bình như thử để quét sạch mọi điều ghê tởm. Lòng xót thương của Thiên Chúa thống trị trên sự thù hận của con người, lòng sám hối của kẻ gian phi phát xuất từ cái nhìn của anh trên Đức Ki-tô hấp hối, đám đông đến xem thay đổi từ thái độ bàng quang đến đấm ngực ăn năn; Đức Giê-su hơi tàn lực tận cầu xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ gây nên cái chết của Ngài, hứa cõi đời đời cho tên gian phi hối cải, phó dâng linh hồn trong tay Chúa Cha.
1. Ông Si-mon thành Ky-rê-nê:
“Khi điệu Đức Giê-su đi, họ bắt một người từ miền quê lên, tên là Si-mon, thành Ky-rê-nê, đặt thập giá trên vai cho ông vác theo sau Đức Giê-su”.
Thánh Lu-ca không xác định ai trưng dụng người qua đường này, nhưng cách diễn tả rất gợi ý: “họ đặt thập giá trên vai cho ông vác theo sau Đức Giê-su”. Thánh ký rõ ràng ám chỉ đến những lời của Đức Giê-su: “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14: 27). Ông Si-mon thành Ky-rê-nê chắc chắn là một người Ki tô hữu hiện đang sống giữa cộng đoàn Ki tô hữu; dù thế nào, thánh Mác-cô trích dẫn tên của các con ông như những nhân vật rất quen thuộc trong Giáo Hội tiên khởi.
2. Khóc thương thành Giê-ru-sa-em:
“Dân chúng đi theo Người đông lắm”.Chúng ta gặp lại cũng một từ vựng được dùng để chỉ dân chúng thiện cảm này. “Trong số đó có nhiều phụ nữ vừa đấm ngực vừa than khóc”. Những người phụ nữ này làm chứng về sự vô tội của Đức Giê-su theo cách của họ. Thánh Lu-ca là thánh ký nêu lên nhiều nhất những gương mặt phụ nữ.
“Đức Giê-su quay lại”, tại thánh Lu-ca, cử chỉ này loan báo một sứ điệp quan trọng hay một giây phút quyết định (Lc 14: 25). Lúc đó, Đức Giê-su tiên báo cho các bà cuộc sụp đổ thành thánh Giê-ru-sa-lem sắp đến: “Đừng khóc thương tôi làm gì. Có khóc thì khóc cho phận mình và cho con cháu…”. Tình tiết này, riêng của Lu-ca, song đối với tình tiết mà thánh ký đã đặt vào giây phút Chúa Giê-su chuẩn bị vào thành thánh Giê-ru-sa-lem: khi đến gần Giê-ru-sa-lem và trông thấy thành, Đức Giê-su khóc thương thành khi nghĩ đến việc thành bị tàn phá thành bình địa, vì thành đã không nhận biết thời giờ nó được Thiên Chúa viếng thăm (Lc 19: 41-44). Khi ra khỏi thành thánh, Đức Giê-su cũng có những cảm xúc như vậy.
Thánh Lu-ca đặt trên môi miệng Chúa Giê-su ngôn từ của các ngôn sứ: “Hỡi thiếu nữ Giê-ru-sa-lem” gợi nhớ những hô ngữ của ngôn sứ I-sai-a và ngôn sứ Da-ca-ri-a; “Vì này đây sẽ tới những ngày” là cách nói rất tâm đắc của ngôn sứ A-mốt và được ngôn sứ Giê-rê-mi-a lấy lại; cách nói này báo trước những tai ương hoạn nạn. “Phúc thay đàn bà hiếm hoi”: Đức Giê-su đã diễn tả cùng tư tưởng với lời tiên báo khác về cuộc sụp đổ thành Giê-ru-sa-lem (Lc 21: 23).
Sau cùng, lời trích dẫn này mượn của ngôn sứ Hô-sê: “Bấy giờ người ta sẽ bắt đầu nói với núi non: Đổ xuống chúng tôi đi!, và với gò nổng: Phủ lấp chúng tôi đi!”, lời cầu nguyện khốn cùng này được lấy lại trong sách Khải Huyền để diễn tả sự khủng khiếp của ngày Chung Thẩm.
Chúa Giê-su hoàn tất lời tiên báo của Ngài khi nhắc lại câu cách ngôn: “Cây xanh tươi mà người ta còn đối xử như thế (cây không phải bị đốt cháy, ám chỉ đến cái chết bất công của Ngài), thì cây khô héo sẽ ra sao?”. Nói cách khác, nếu người công chính bị đày đọa cho đến chết, thì người ta sẽ cư xử với những tội nhân như thế nào?
KHỔ HÌNH THẬP GIÁ (23: 32-33)
“Khi đến nơi gọi là “Đồi Sọ”, họ đóng đinh Người vào thập giá”. Địa danh này gợi lên một đồi trọc, không cây cối. Nơi hành hình được định vị ngoài thánh thánh. Vùng đất thành thánh, được bao bọc chung quanh, là một khu vực thánh không được xác nạn nhân làm ô uế. Nhưng nơi hành hình này gần cửa thành Giê-ru-sa-lem, vì chính quyền muốn những khách bộ hành trông thấy những nạn nhân hấp hối để răn đe.
Trên đồi hành hình, Chúa Giê-su bị đóng đinh giữa hai tên gian phi. Sự kiện được cả bốn Tin Mừng tường thuật. Sự nhục nhã càng tăng thêm đối với Đức Giê-su, nhưng đó là số phận mà Thiên Chúa dành cho người tôi trung thập toàn của Ngài “bị liệt vào hàng tội nhân” (Is 53: 12). Trên đường từ Bữa Tiệc Ly đến vườn Ô-liu, Đức Giê-su đã nhắc lại sấm ngôn này cho các môn đệ Ngài: “Cần phải ứng nghiệm nơi bản thân Thầy lời Kinh Thánh này” (Lc 22: 37).
LÒNG XÓT THƯƠNG CỦA THIÊN CHÚA (23: 34-43)
“Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”.
Thánh Lu-ca là vị thánh ký duy nhất truyền đạt cho chúng ta lời khẩn nguyện của Đức Giê-su cho các lý hình, và cho tất cả những ai đã nhúng tay vào cái chết của Ngài.
1. Lời khẩn nguyện:
Toàn bộ Tin Mừng Lu-ca chuẩn bị cho lời cầu nguyện cao cả về sự tha thứ này. Thánh Lu-ca đã không giữ lại tiếng kêu thống thiết của Đức Giê-su: “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?”, tiếng kêu bi thương xuất phát từ nỗi cô độc cùng cực. Thánh ký chuộng nêu lên lời khẩn cầu đầy lòng xót thương. Đức Giê-su đã dạy hãy yêu thương kẻ thù và Ngài bảo chúng ta đọc trong Kinh Lạy Cha: “Xin tha nợ cho chúng con, như chúng con cùng tha kẻ có nợ chúng con”. Đức Giê-su dâng hiến một mẫu gương cho các người Ki tô hữu và đặc biệt cho Các Thánh Tử Đạo (x. Cv 7: 60).
Đối diện với tình yêu và sự tha thứ, thánh Lu-ca phác họa sự thù hận và lòng căm thù. Những chi tiết mà họ phô bày không là giai thoại; chúng ta đọc thấy ẩn hiện ở nơi những bản văn ngôn sứ : Dcr 12: 10: “Chúng sẽ khóc than Đấng chúng đã đâm thâu”, và Tv 22, lời cầu nguyện dài của người công chính chịu đau khổ trong đó chúng ta đọc thấy: “Bọn ác đó trong ngoài vây bủa, chúng đâm con thủng cả chân tay, xương con đếm được vắn dài; chúng đưa cặp mắt cứ hoài ngó xem. Áo mặc ngoài chúng đem chia chác, còn áo trong cũng bắt thăm luôn” (Tv 22: 17-19).
2. Dân chúng đứng nhìn:
Thánh Lu-ca đã không nói đến dân chúng vào lúc xét xử Chúa Giê-su; bây giờ thánh ký giới thiệu họ trên Đồi Sọ, trong thái độ tôn kính và trung thành. Thánh Lu-ca không nói đám đông (plethos), nhưng dân chúng (laos); có một dị biệt tinh tế giữa hai từ vựng này. Qua từ vựng “dân chúng” thường có hậu ý Giáo Hội, thánh ký mời gọi dân Thiên Chúa chiêm ngắm mầu nhiệm thập giá.
Thánh Lu-ca đối lập thái độ dân chúng với thái độ của những giai cấp lãnh đạo, họ cười nhạo và đắc thắng (thánh Mát-thêu và thánh Mác-cô còn thêm những người qua đương).
3. Binh lính cũng chế nhạo Người:
Lần đầu tiên thánh Lu-ca nói về binh lính Rô-ma và những lời chế giễu của họ; thánh ký đã không gợi lên mũ gai và trò bỉ ổi của họ. Những binh lính đưa giấm cho Đức Giê-su uống; sự kiện được cả bốn Tin Mừng tường thuật, đặc biệt ở Tin Mừng Gioan cử chỉ này được giải thích rõ hơn: Đức Giê-su vừa nói: “Ta khát”.
Bọn lính làm như vậy một cách vô tình mà không biết bản văn ngôn sứ. Quả thật, người ta đọc thấy ở thánh vịnh 69 lời phàn nàn của một người công chính, nạn nhân vì lòng nhiệt thành đối với Đức Chúa: “Lời thóa mạ làm tim này tan vỡ, con héo hắt rã rời. Nỗi sầu riêng, mong người chia sớt, luống công chờ, không được một ai; đợi người an ủi đôi lời, trông mãi trông hoài mà chẳng thấy đâu! Thay vì đồ ăn , chúng trao mật đắng, con khát nước, lại cho uống giấm chua” (Tv 69: 21-22).
admin
23-03-2010, 01:19 PM
4. Vua dân Do thái:
Một tấm bảng viết “vua dân Do thái” được treo trên đỉnh thập giá. Sự kiện được cả bốn thánh ký ghi nhận. Thánh Gioan xác định rằng nó đã được Phi-la-tô ra lệnh viết. Quan tổng trấn Rô-ma biết rõ rằng tước hiệu này chỉ là cái cớ; nhưng để biện minh cho bản án tử hình, trong bản báo cáo của ông trình lên hoàng đế, tội khi quân rõ ràng phải đặt lên hàng đầu.
5. Người gian phi sám hối:
Tình tiết này riêng của thánh Lu-ca. Đức Giê-su thực hiện sứ mạng đầy lòng xót thương của Ngài cho đến giây phút sau cùng. Tấm lòng khiêm hạ của hối nhân được đáp trả bởi ân ban soi sáng. Người gian phi nhận ra ở nơi Đức Giê-su tước vị Mê-si-a vương đế của Ngài. Lời khẩn cầu của hối nhân này: “Xin nhớ đến tôi” là lời mở đầu kinh nguyện Do thái của những người hấp hối: “Lạy Đức Chúa, xin nhớ đến tôi”.
Đức Giê-su trả lời cho anh ta: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng”. Lời khẳng định của Đức Giê-su rất trang trọng: “Tôi bảo thật anh” thánh Lu-ca hiếm khi sử dùng cách nói này.. Từ ngữ “hôm nay” tại Tin Mừng Lu-ca luôn luôn được liên kết với ý tưởng cứu độ.
Trong niềm tin Do thái giáo, “Thiên Đàng” gợi lên một chốn bồng lai cực lạc ở đó những người công chính sau khi qua đời chờ đợi sự phục sinh; từ này được hoán chuyển với cách nói: “vào lòng ông Áp-ra-ham” mà thánh Lu-ca gợi lên trong dụ ngôn người giàu có và anh La-da-rô nghèo khổ: “Thế rồi người nghèo này chết, và được thiên thần đem vào lòng ông Áp-ra-ham” (Lc 16: 22).
Đức Giê-su cho người gian phi sám hối hiểu rằng từ nay chính Ngài đón tiếp nhũng người công chính và đưa họ vào “Thiên Đàng”. Thánh Lu-ca không tìm cách xác định giây phút Đức Giê-su phục sinh, khi định vị biến cố này ngay sau cái chết của Đức Giê-su. Không ai biết chính xác giây phút Đức Giê-su phục Sinh, đừng nhầm lẫn với giây phút khám phá ngôi mộ trống (giữa cái chết của Đức Giê-su và việc các người phụ nữ đến viếng mộ, ngày sa-bát đã trôi qua).
Nhưng thánh Lu-ca ghi lại bài tường thuật của mình theo những viễn cảnh Ki tô giáo. Đừng quên rằng thánh ký vừa là môn đệ vừa là bạn đồng hành của thánh Phao-lô. Đoạn Tin Mừng này gặp lại tư tưởng của vị Tông Đồ, được diễn tả trong thư gởi cho các tín hữu Phi-líp-phê (Pl 1: 21-23), cũng như trong thư thứ hai gởi cho ông Ti-mô-thê (2Tm 4: 8): người Ki tô hữu qua đời được đoàn tụ với Đức Ki-tô. Trong sách Công Vụ, thánh ký sẽ cho thấy rằng thánh Tê-pha-nô, ngay từ trước khi bị ném đá, “thấy trời mở ra” (Cv 7: 56).
CÁI CHẾT CỦA ĐỨC GIÊ-SU (23: 44-49)
“Bây giờ đã gần tới giờ thứ sáu (tức mười hai giờ trưa), thế mà bóng tối bao phủ khắp mặt đất”. Không loại trừ bầu trời thường trở nên âm u vào mùa xuân, nhưng việc gợi lên trước tiên là Kinh Thánh: những dấu chỉ vũ trụ loan báo hay thường đi theo những cuộc can thiệp của Thiên Chúa vào Lịch Sử (x. Xh 10: 22; vân vân). Các ngôn sứ đã biến các dấu chỉ này thành nét đặc trưng của ngày tận thế, ví dụ như Am 8: 9-10: “Trong ngày ấy, Ta sẽ truyền cho mặt trời lặn giữa trưa, và khiến cho mặt đất tối sầm giữa lúc ngày đang sáng….Ta sẽ làm cho đất này chịu tang như người ta chịu tang đứa con một”. Cái chết của Đức Giê-su khai mở kỷ nguyên cánh chung, nghĩa là kỷ nguyên phán xét; từ nay kỷ nguyên này sẽ được đặt dưới dấu chỉ trung gian của Ngài.
1. Bức màn trướng trong Đền Thờ:
Thánh Lu-ca là thánh ký duy nhất đặt việc “bức màn trướng trong Đền Thờ bị xé ngay chính giữa” trước cái chết của Đức Giê-su. Bức màn trướng này, hoặc bức màn người ta giăng trước tiền đường để che phần bên trong Đền Thờ khỏi những người ở trên sân tiền đình, hay bức màn trướng phân cách phần còn lại của Đền Thờ với Nơi Cực Thánh ở đó chỉ vị thượng tế mới có thể đi vào, mỗi năm một lần, để thực hiện nghi thức xóa tội. Xem ra bức màn trướng này mà thánh Lu-ca nghĩ đến, khi nối tiếp tác giả thư gởi cho các tín hữu Do thái: nhờ máu Ngài đã đổ ra, Đức Giê-su khai mở cho nhân loại lối vào bên Thiên Chúa trong cung thánh trên trời (Dt 10: 19-20).
Dù thế nào, biểu tượng thì rõ ràng. Đền Thờ Giê-ru-sa-lem đã không còn đóng vai trò của mình; việc Thiên Chúa tuyển chọn không còn ưu tiên cho dân Ít-ra-en; nó được dâng hiến cho hết mọi người. Đền Thờ đích thật của Thiên Chúa sẽ là thân thể của Đức Giê-su Phục Sinh, như chính Ngài đã loan báo.
2. Lời cầu nguyện cuối cùng:
“Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha”.
Tại thánh Lu-ca, cuộc đời của Đức Giê-su được hoàn tất trên lời cầu nguyện, trong khi thánh Mát-thêu và thánh Mác-cô ghi nhận “một tiếng kêu lớn” của Đức Giê-su hấp hối; còn thánh Gioan đặt trên môi miệng của Đức Giê-su như những lời sau cùng: “Thế là đã hoàn tất!”, nhưng thánh Gioan nói thêm khi nối kết với thánh Lu-ca: “Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí”.
Lời cầu nguyện này được trích từ Tv 31 ở trong số kinh nguyện truyền thống ban chiều. Chúa Giê-su thân thưa với Cha Ngài, nhưng lời cầu nguyện hấp hối của Ngài cũng định vị Ngài vào trong sự hiệp nhất với dân Ngài.
3. Lời chứng của viên bách quản:
Viên bách quản Rô-ma, đứng canh dưới chân thập giá, “cất tiếng tung vinh Thiên Chúa” : “Người này đích thật là người công chính”.
Lời chứng của viên bách quản được cả ba Tin Mừng Nhất Lãm kể lại, với vài biến thể; cách diễn tả của Lu-ca xem ra gần với sự thật nhất; viên bách quản nhận ra sự vô tội của Đức Giê-su. Tiếng reo vui của viên bách quản là lời tôn kính đầu tiên mà lương dân tỏ bày cho Đức Ki-tô; lời này loan báo chiều kích ơn cứu độ phổ quát, đồng nghĩa với việc tấm màn trướng trong Đền Thờ bị xé ra làm hai.
4. Thái độ dân chúng:
“Toàn thể dân chúng đã đến xem cảnh tượng ấy, khi thấy sự việc đã xảy ra, đều đấm ngực trở về”. Đây là cử chỉ tang chế, nhưng cũng là nghi thức ăn năn, dấu chỉ sám hối. Chỉ một mình thánh Lu-ca cho dân chúng thái độ này.
5. Những người thân quen:
Thánh Lu-ca cũng là thánh ký duy nhất kể ra sự hiện diện của những người thân quen: “Đứng đằng xa, có những người quen biết Đức Giê-su”. Thật ra, thánh ký nhạy bén trước tất cả những gì có thể làm giảm bớt những đau khổ của Đức Giê-su.
“Đứng đàng xa”: ngôn từ có âm hưởng Kinh Thánh khiến chúng ta nghĩ đến Tv 38, thánh vịnh này gợi lên nỗi cô độc của người tôi trung trong cảnh khốn cùng: “Con bị tai ương, người thân kẻ nghĩa chẳng tới gần, bà con ruột thịt cũng đứng xa” (Tv 38: 12).
6. Những phụ nữ xứ Ga-li-lê:
Thánh Lu-ca không quên kể ra sự hiện diện của những người phụ nữ xứ Ga-li-lê trên Đồi Sọ. Những người phụ nữ này đã luôn luôn đồng hành với Đức Giê-su, đã lấy của cải của mình mà giúp đỡ Ngài (Lc 8: 2-3).
MAI TÁNG ĐỨC GIÊ-SU (23: 50-56)
Theo phong tục tập quán Rô-ma, để việc răn đe có tác dụng, phải phơi bày thi thể của nạn nhân trong nhiều ngày. Luật Do thái thì hoàn toàn khác: không được để mặt trời lận trên xác chết của nạn nhân, nhưng phải chôn cất trước khi đêm xuống (Đnl 21: 22). Ngoài ra, buổi chiều hôm đó lại là ngày sa-bát, ngày người ta phải kiêng cử mọi công việc. Vì thế, phải vội vả chôn cất ngay kẻo không kịp.
1. Ông Giô-xếp thành A-ri-ma-thê:
“Khi ấy có một người tên là Giô-xếp, thành viên của Thượng Hội Đồng”. Thánh Mát-thêu nói với chúng ta, “ông là một người giàu sang”; còn thánh Mác-cô nói ông là “thành viên có thế giá của hội đồng”; trong khi Lu-ca lại nói ông là “một người lương thiện, công chính”, thánh ký thích đặt ưu tiên những giá trị luân lý. Với tư cách thành viên của Thượng Hội Đồng, “ông đã không tán thành quyết định và hành động của Thượng Hội Đồng”. Đây là điều chỉ dẫn quý báu: vì thế việc kết án Đức Giê-su không được mọi thành viên đồng thuận. Ông xuất thân từ A-ri-ma-thê, một thành phố duyên hải xứ Giu-đê. Ông định cư ở Giê-ru-sa-lem và đã cho đục ngôi mộ trong núi đá, ở một thuở vườn (Ga 19: 40) bên cạnh Đồi Sọ.
2. Cuộc mai táng Đức Giê-su:
Người môn đệ kín đáo này can đảm đến xin Phi-la-tô cho phép hạ thi hài Đức Giê-su xuống khỏi thập giá để mai táng. Phi-la-tô chấp thuận theo luật Do thái, có lẽ vì ông quan niệm rằng nhập gia tùy tục; hơn nữa ông tin rằng Đức Giê-su vô tội.
Như vậy, Đức Giê-su, khi còn ấu thơ, đã được ẳm trong tay cụ già Si-mê-ôn, “một người công chính và sùng đạo”, “ông những mong chờ niềm an ủi của dân Ít-ra-en” (Lc 2: 25); bây giờ, khi chết, được ẳm trong tay ông Giô-xếp, “một người lương thiện công chính”, “ông vẫn mong chờ Nước Thiên Chúa”.
“Ông hạ xác Người xuống, lấy tấm vải gai mà liệm, rồi đặt Người vào trong ngôi mộ đục sẵn trong núi đá, nơi chưa chôn cất ai bao giờ”. Hoa trái đầu mùa không phải thuộc về Thiên Chúa sao?
3. Ánh sáng Giê-ru-sa-lem:
“Hôm ấy là áp lễ, và ngày sa-bát bắt đầu ló rạng”.
Trong Tin Mừng Lu-ca, có những yếu tố khó lường mà tác giả giải thích với một độ nhạy bén gần với độ nhạy bén của thánh Gioan. Vào lúc Đức Giê-su được đặt vào ngôi mộ, mọi nhà trong thành thánh Giê-ru-sa-lem bắt đầu lên đèn. Nét đặc trưng này nêu bật tính xác thực lịch sử hơn cái ý nhị của lời văn, nhưng nhất là nó có giá trị dấu chỉ. Khi Đức Giê-su bị bắt, Ngài tuyên bố: “Đây là giờ của các ông, là thời của quyền lực tối tăm” (Lc 22: 53). Khi Đức Giê-su chết, bây giờ là những tia sáng đầu tiên, tia sáng của ơn cứu độ, tia sáng hy vọng, những điềm báo cho vầng sáng phục sinh.
4. Những người phụ nữ ân cần:
Phận sự của các bà là chuẩn bị dầu và thuốc thơm để chăm lo thân xác của Ngài. Vì thế, những người phụ nữ xứ Ga-li-lê theo chân Đức Giê-su này để ý đến nơi đặt thi thể Ngài trong ngôi mộ; họ sẽ trở lại sau ngày sa-bát, thực hiện công việc đạo đức của họ. Trong khi chờ đợi, họ tuân giữ ngày hưu lễ.
5. Ngày sa-bát, ngày hưu lễ:
Thánh Lu-ca chấm dứt bài tường thuật của mình trên viễn cảnh của ngày hưu lễ. Chắc chắn mọi công việc phải ngừng lại đó là lý do giải thích tại sao những nghi thức tang chế còn dang dỡ, và vì thế các bà vội vả đến mồ khi trời vừa tảng sáng. Nhưng thánh Lu-ca kín đáo gợi ý rằng Đức Giê-su đã bước vào nơi an nghỉ, vì thế việc mai táng Ngài vào lúc sắp bắt đầu ngày sa-bát mặc một ý nghĩa. Ngay từ đầu, sau khi hoàn tất công trình sáng tạo của Ngài, Thiên Chúa nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy. Công trình của Đức Giê-su không phải là một cuộc tạo dựng mới sao? Công trình này được hoàn tất. Chúa Giê-su vào nơi an nghỉ của Thiên Chúa, giai đoạn mầu nhiệm trước khi Ngài phục sinh.
BA TẤN THẢM KỊCH
Ba tấn thảm kịch chồng chéo lên nhau trong cuộc Thương Khó của Đức Giê-su: trước hết, tấn thảm kịch của việc dân Ít-ra-en từ chối, rồi đến tấn thảm kịch của vị Thiên Chúa làm người, sau cùng tấn thảm kịch của tội lỗi.
1. Dân Ít-ra-en từ chối:
Đức Giê-su đã không ngừng công bố một sứ điệp khó khăn; Ngài đã phá đổ những thành kiến, lên án chủ nghĩa duy luật và thói giả hình. Sự ghen tuông, đoạn sự thù hận đã liên kết với nhau chống lại Ngài. Những người lãnh đạo tôn giáo đã không chấp nhận nhận ra ở nơi Ngài Đấng Mê-si-a, vì Ngài không đáp ứng hình ảnh mà họ tự mình tưởng nghĩ ra. Việc họ kiên tâm tiêu diệt Ngài đã dẫn đến cái chết, nhưng không đến cái chết như họ suy tính: Đức Giê-su đã chiến thắng sự chết, nhưng do việc làm của họ, dân Ít-ra-en, dân được ký thác Lời Hứa, đã thôi không còn nữa.
2. Tấn thảm kịch của vị Thiên Chúa làm người:
Khi đón nhận kiếp phàm nhân như chúng ta, Đức Giê-su đã chấp nhận thân phận tử biệt sinh ly của chúng ta. Ngài đã đảm nhận vận mệnh con người trong mọi chiều kích đau khổ khủng khiếp. Những hoàn cảnh lịch sử đã khiến Ngài phải hứng chịu khổ hình tàn bạo nhất được sử dụng vào thời Ngài sống. Số phận này ở trong kế hoạch của Thiên Chúa: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy. Đó là mệnh lệnh của Cha tôi mà tôi đã nhận được” (Ga 10: 18-19). Đây là cử chỉ yêu thương tận mức, Đức Giê-su đã muốn thuộc vào số những người bị tra tấn, những người bị hành hình, những người tử đạo, ngỏ hầu những ai phải chết trong những đau đớn cùng cực nhất, và những ai phải chịu đau khổ về thể lý cũng như luân lý, đều gặp thấy ở nơi cuộc Thương Khó của Ngài niềm an ủi tuyệt vời. Cũng phải ghi nhận rằng ở đâu có sự hiện diện của Thiên Chúa ở đó có muôn vàn ân phúc. Ở đâu có những đau khổ được liên kết với Ngài, ở đó Ngài sẽ ban muôn vàn ân sủng.
3. Tấn thảm kịch của tội lỗi:
“Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em. Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội”. Đức Giê-su cho cái chết của Ngài ý nghĩa này.
Tuy nhiên, lời này đưa chúng ta vào mầu nhiệm: “Mầu Nhiệm Cứu Chuộc”. “Người cứu chuộc” (goel) là người phục hồi phẩm giá cho một thành viên trong gia tộc phải lâm vào cảnh bần cùng, và chuộc lại nếu người ấy phải sa vào vòng nô lệ vì nợ nần. Đây là ý nghĩa đặc biệt của từ Hy-bá mà chúng ta dịch “Đấng Cứu Chuộc”.
Dù được Kinh Thánh soi sáng, biết bao vấn đề gợi lên trong tâm trí chúng ta. Tội lỗi là gì? Một sự xúc phạm đến Thiên Chúa rất mục tốt lành, Thiên Chúa-Tình Yêu, Ngài đã không muốn nhân loại một mình phải gánh chịu mọi hậu quả tội lỗi của mình. Ngài đã sai Con Ngài đến để chia sẻ gánh nặng tội lỗi và xóa đi mọi vết nhơ của tội. Đó là lý do tại sao Thánh Giá là “vinh quang” của Thiên Chúa, như thánh Gioan nói.
admin
29-03-2010, 08:40 AM
CHÚA NHẬT PHỤC SINH (A, B, C)
Vào ngày lễ Phục Sinh nầy, phụng vụ Lời Chúa đặt trọng tâm vào biến cố Phục Sinh của Đức Ki-tô, vì thế bỏ qua bài đọc Cựu Ước quen thuộc để nhường chỗ cho Tân Ước. Sau khi Đức Giê-su đã hoàn tất Kinh Thánh, Giáo Hội không còn lý do gì quan tâm đến các bản văn tiên báo nữa. Khởi đi từ lễ Phục Sinh đến lễ Ngũ Tuần, Bài Đọc I được trích từ sách Công Vụ Tông Đồ như truyền thống xa xưa lên đến thể kỷ thứ tư.
Cv 10: 34, 37-43
Bài Đọc I nhắc nhở cho chúng ta rằng niềm tin của chúng ta vào Đức Kitô Phục Sinh dựa trên lời chứng của các Tông Đồ. Chính lời chứng của thánh Phê-rô, vị lãnh tụ Giáo Hội, được nhấn mạnh trong đoạn văn sách Công Vụ mà chúng ta đọc hôm nay.
Cl 3: 1-4
Bài Đọc II, trích từ thư thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Cô-lô-sê, mời gọi chúng ta suy niệm mầu nhiệm vượt qua, bằng cách mở ra cho chúng ta những chiều kích thần học về biến cố Phục Sinh.
Ga 20: 1-9
Cuối cùng, Tin Mừng Gioan thường thuật cho chúng ta một câu chuyện sống động nhất và chính xác nhất về cuộc khám phá ngôi mộ trống, bước khởi đầu niềm tin của các Tông Đồ vào biến cố Phục Sinh.
BÀI ĐỌC I (Cv 10: 34, 37-43)
Sách Công vụ được trình bày như phần tiếp theo Tin Mừng thứ ba: cùng một tác giả: thánh Lu-ca, cùng một người nhận: một Thê-ô-phi-lô nào đó, nhân vật vô danh.
1. Mối bận tâm của thánh Lu-ca:
Thánh Lu-ca bận tâm đến tính lịch sử: nghiên cứu cho đến ngọn nguồn những gì mình viết ra. Trong Tin Mừng của mình, thánh ký quan tâm đến cuộc đời thơ ấu của Đức Giê-su. Trong sách Công Vụ của mình, tác giả phác họa lại những bước khởi đầu của Giáo Hội. Trong phần thứ nhất của sách Công vụ, thánh Lu-ca nêu bật nhân cách của thánh Phê-rô, trong phần thứ hai, dung mạo của thánh Phao-lô.
2. Cuộc thăm viếng mục vụ của thánh Phê-rô:
Nhiều lần thánh ký nhấn mạnh các tông đồ làm chứng về biến cố Phục Sinh. Lời chứng của thánh Phê-rô tại tư gia của ông Co-nê-li-ô, viên bách quản Rô-ma, cung cấp một trong những vị ví dụ như vậy. Đó là lý do chọn bài đọc nầy vào Chúa Nhật Phục Sinh.
Vị lãnh tụ Giáo Hội đang thực hiện một cuộc “thăm viếng mục vụ.” Sau cuộc bách hại đã giáng xuống trên cộng đoàn Kitô hữu non trẻ vào năm 36 (vào thời gian đó, thánh Tê-pha-nô tử vì đạo), thời kỳ yên tĩnh trở lại. Thánh Phê-rô lợi dụng cơ hội nầy để thăm viếng những Giáo Đoàn vừa mới được thiết lập. Sách Công vụ nói với chúng ta: “Bấy giờ ông Phê-rô rảo khắp nơi” (Cv 9: 32). Chính như vậy mà vị Tông Đồ đến miền duyên hãi, miền mà trước đây thầy phó tế Phi-lip-phê đã đem Tin Mừng đến.
3. Cuộc trở lại của viên bách quản ngoại giáo:
Trong khi thánh Phê-rô có mặt ở Gia-phô, hiện nay là Jaffa, một viên bách quản Rô-ma, đồn trú ở Xê-da-rê Duyên Hải (cách Gia-phô khoảng 50 cây số), sai người mời thánh nhân đến tư gia của ông.
Viên bách quản Co-nê-li-ô là một cảm tình viên Do thái giáo, thuộc những người được gọi là “những kẻ kính sợ Chúa”, họ là lương dân, nhưng tôn kính Thiên Chúa Ít-ra-en, tuy nhiên, họ không tuân giữ luật Mô-sê và không chịu phép cắt bì. Ông là một người đạo hạnh và rộng tay bố thí như sách Công vụ nói với chúng ta.
Thánh Phê-rô đến tại nhà ông. Đây là lần đầu tiên thánh nhân đem sứ điệp tin mừng đến cho một lương dân và toàn thể thân bằng quyến thuộc của ông, một kinh nghiệm làm đảo lộn quan niệm trước đây của thánh nhân: “Quả thật, tôi biết rõ Thiên Chúa không thiện vị người nào. Nhưng hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng đều được Người tiếp nhận”.
4. Diễn từ của thánh Phê-rô:
Bài diễn từ của thánh Phê-rô là một bản tóm tắt Tin Mừng, nhưng không có cùng những điểm nhấn với những bài diễn văn mà thánh nhân đã công bố ở Giê-ru-sa-lem, vào lúc đó thánh nhân minh chứng cho những người Do thái rằng Đức Giê-su đã thực hiện những lời hứa Kinh Thánh và Ngài là Đấng Mê-si-a. Ở Xê-da-rê, vào lúc này, ngỏ lời với cử tọa lương dân, thánh Phê-rô nhấn mạnh đến phẩm chất nhân chứng của mình: thánh nhân và các Tông Đồ khác đã chứng kiến những việc làm của Đức Giê-su Na-da-rét, cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Ngài, nhất là, biến cố Phục Sinh của Ngài. Thánh Phê-rô là một trong những chứng nhân Thiên Chúa đã chọn từ trước để sống trong mối thân tình với Đức Kitô: “cùng ăn cùng uống với Ngài.” Đấng Phục Sinh đã trao cho họ một sứ mạng, đó là làm chứng rằng Thiên Chúa đã tôn phong Ngài làm Thẩm Phán để xét xử kẻ sống và kẻ chết. Hướng đến những người sắp gia nhập Giáo Hội và lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, thánh Phê-rô tinh tế thêm vào ngay sau đó rằng vị Thẩm Phán nầy cũng là Đấng từ bi, nhân hậu và hay tha thứ. Thánh nhân trích dẫn Kinh Thánh để nhấn mạnh rằng các ngôn sứ đều đã loan báo như vậy: tha thứ tội lỗi cho những ai tin vào Ngài.
Giáo Hội xây dựng niềm tin của mình vào biến cố Phục Sinh trên lời chứng của các Tông Đồ. Giáo Hội xem lời chứng nầy có tính quyết định đến độ không giờ cảm thấy cần phải đặt biến cố Phục Sinh thành một tín điều. Tính minh nhiên của sự kiện đòi buộc. Nền tảng thật vững chắc: những người “đã thấy” và “đã sống” với Đức Kitô Phục Sinh làm chứng.
BÀI ĐỌC II (Cl 3: 1-4)
Thánh Phao-lô viết thư gởi cho các tín hữu Cô-lô-sê này trong khi bị giam cầm ở Rô-ma vào những năm 61-62. Trong đoạn trích thư này, thánh nhân đưa ra cho chúng ta chiều kích thần học về sự Phục Sinh một cách sâu xa.
1. Lập luận của thánh Phao-lô:
Thánh Phao-lô là nhân chứng của Đức Kitô Phục Sinh. Đấng Phục Sinh đã nắm bắt thánh nhân trên đường Đa-mát, đã tỏ mình ra cho thánh nhân trong ánh sáng chói lòa, đã cho thánh nhân những lời dạy của Ngài và trao phó sứ mạng cho thánh nhân.
Lập luận của thánh Phao-lô xem ra có vẻ mâu thuẫn: trước hết, thánh nhân nói: “Anh em đã được phục sinh cùng với Đức Kitô,” đoạn tiếp đó: “Anh em đã chết cùng với Đức Kitô” (tức là chết cho tội lỗi). Thật ra, đây là một trong những phương thức của thánh Phao-lô: trước tiên thánh nhân đề cao thực tại tinh thần; từ đó, cho thấy những hậu quả “luân lý” đòi buộc cách ăn nếp ở của chúng ta; tiếp đến, những hậu quả “hữu thể”, tức là những hậu quả ghi dấu ấn trên bản thân của chúng ta.
2. Người Ki-tô hữu:
Như trường hợp ở đây. Thánh Phao-lô định nghĩa người Kitô hữu là người, nhờ bí tích Thánh Tẩy và cuộc sống bí tích, dự phần vào sự Phục Sinh của Đức Kitô, vì thế, họ được sống lại rồi. Trong thư gởi cho các tín hữu Ê-phê-sô, thánh nhân diễn tả thực tại nầy còn bạo dạn hơn nữa, khi thánh nhân dùng thì quá khứ: “Người đã cho chúng ta được cùng sống lại và cùng ngự trị với Đức Kitô Giê-su trên cõi trời.” (Ep 2: 6).
Vì thế, từ hoàn cảnh tinh thần này của người Kitô hữu, thánh Phao-lô nhấn mạnh trước tiên những hậu quả luân lý: cần thiết phải nghĩ đến những gì thuộc thượng giới. Tiếp đó, thánh nhân nói đến những hậu quả hữu thể: được sống lại rồi, tức là đã chết cho tội lỗi; đó là được biến đổi tận bên trong. Bên ngoài không có gì thay đổi, nhưng một năng lực thần linh ẩn kín ở bên trong người Kitô hữu, mà ánh sáng rực rỡ của nó sẽ chỉ được tỏ rạng một cách viên mãn vào ngày chung cuộc. Ý tưởng rất thân thiết đối với thánh Phao-lô: sống theo Đức Kitô đảm bảo vinh quang tương lai của chúng ta; chúng ta chắc chắn có được những bảo chứng về vinh quang của chúng ta rồi.
TIN MỪNG (Ga 20: 1-9)
Niềm xác tín của các Tông Đồ vào sự Phục Sinh của Đức Kitô dựa trên hai kinh nghiệm; có thể nói là chúng hình thành nên “hai giai đoạn”.
Trước tiên, việc khám phá ngôi mộ trống là mặc khải gây choáng váng đầu tiên, phải nói là kinh nghiệm về sự “trống rỗng” ; kinh nghiệm này đã mở đôi mắt của họ và khai lòng mở trí họ để hiểu Kinh Thánh.
Tiếp đó, ngay từ cùng ngày hôm đó, “những lần hiện ra” của Đức Giê-su mang đến bằng chứng khả giác về một con người thực sự đang sống, tuy nhiên, các môn đệ không thể nào thấu hiểu mầu nhiệm tôn vinh của Ngài. Nhưng thân xác của Đấng Phục Sinh rõ ràng là thân xác đã biến mất khỏi ngôi mộ, thân xác mang lấy những dấu đinh cuộc tử nạn của Ngài. Vì thế, không cốt là một bóng ma, không là một hình hài giả tạo. Hai kinh nghiệm tăng cường cho nhau, bổ túc cho nhau. Các Tông Đồ làm chứng về niềm xác tín tuyệt đối của mình cho đến phải hy sinh tính mạng của mình.
1. Ngày thứ nhất trong tuần:
Từ cuộc khám phá ngôi mộ trống, Tin Mừng thứ tư tường thuật cho chúng ta một câu chuyện sống động, chính xác, câu chuyện của nhân chứng nhãn tiền. Và như luôn luôn trong Tin Mừng Gioan, những chi tiết mặc khải những ý nghĩa thâm sâu.
Ngày sa-bát đã chấm dứt vào buổi chiều hôm qua, vì thế, ngày thứ nhất trong tuần đã bắt đầu, ngày thứ nhất nầy sẽ trở thành ngày Chúa Nhật của chúng ta, “Ngày của Chúa,” nói chính xác vì đó là ngày Chúa Phục Sinh. Thánh Gioan nói: “Sáng sớm, lúc trời còn tối, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ”. Bà Ma-ri-a Mác-đa-la là một trong các người phụ nữ đã lấy của cải của mình mà giúp Đức Giê-su và các môn đệ Ngài trong những cuộc hành trình của Ngài (Lc 8: 1-3); cùng với Đức Trinh Nữ, bà can đảm đứng bên thập giá vào những giây phút sau cùng của Đức Giê-su (Ga 19: 25), và bà đã đế ý nhìn ngôi mộ và xem xác Ngài được đặt như thế nào (Lc 23: 55). Bây giờ, sau ngày hưu lễ, bà đi viếng mộ. Tin Mừng chỉ cho thấy rằng bà ra đi đến mộ sáng sớm “lúc trời còn tối”: tình yêu và niềm tôn kính của bà khiến bà ra đi không trì hoãn để được ở bên cạnh thi thể của Chúa chúng ta.
2. Bà Ma-ri-a Mác-đa-la:
Thánh Gioan chỉ nêu tên một mình bà Ma-ri-a Mác-đa-la, tuy nhiên, tự văn bản, xem ra còn có các bà khác cùng đồng hành với người phụ nữ nầy, vì bà Ma-ri-a Mác-đa-la nói : “Chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu” . Quả thật, thánh Mát-thêu kể ra hai người : bà Ma-ri-a Mác-đa-la và một bà khác cùng tên là Ma-ri-a (Mt 28 : 1), còn thánh Mác-cô kể ra ba : bà Ma-ri-a Mác-đa-la, bà Ma-ri-a, mẹ của ông Gia-cô-bê, và bà Sa-lô-mê (Mc 16 : 1), theo thánh Lu-ca, còn có nhiều hơn nữa (Lc 24 : 1) ; nhưng bà Ma-ri-a Mác-đa-la luôn luôn được trưng dẫn.
Tại sao bà Ma-ri-a Mác-đa-la được nêu tên duy nhất? Chắc chắn vì trong số các bà trung thành nầy, kỷ niệm của người phụ nữ nầy đặc biệt nhất (thánh Gioan viết Tin Mừng của mình với một hoài niệm nào đó) ; và vì chính bà là người được ân ban đón nhận lần hiện ra đầu tiên trong số các lần hiện ra của Đấng Phục Sinh mà các sách Tin Mừng kể ra.
3. Thánh Phê-rô và thánh Gioan :
Khi bà Ma-ri-a Mác-đa-la loan báo cho hai ông Phê-rô và Gioan, hai ông có thể cư ngụ dưới cùng một mái nhà. Cả hai ông thường được nêu tên cùng nhau và hoạt động cùng nhau (Cv 3 : 1-11 ; 4 : 1-22). Họ đã là hai nhân chứng về cuộc Biến Hình, chắc chắn kinh nghiệm nầy giúp họ hiểu biến cố mà họ trải qua vào sáng nay.
Thánh Phê-rô thì lớn tuổi hơn, vì thế ông không thể chạy theo kịp thánh Gioan. Thánh Gioan đến mộ trước nhưng chỉ đứng ngoài mà liếc nhìn vào bên trong ngôi mộ. Để tỏ lòng kính trọng người lớn tuổi, thánh Gioan đứng đợi và nhường cho thánh Phê-rô vào mộ đầu tiên ; thánh nhân nhận ra ở nơi thánh Phê-rô địa vị cao hơn. Quyền lãnh đạo của thánh Phê-rô đối với các Tông Đồ sẽ được khẳng định chỉ sau khi gặp gỡ Đấng Phục Sinh bên bờ hồ Ti-bê-ri-a (Phê-rô, con có yêu mến Thầy ?), nhưng được hàm chứa rồi ở nơi việc đổi tên mà Đức Giê-su đã ban cho thánh Phê-rô: “Trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy… ».
Tin Mừng thứ tư làm rõ ra rằng dù các người phụ nữ, đặc biệt bà Ma-ri-a Mác-đa-la, đến mộ trước tiên, các Tông Đồ là những người đầu tiên đi vào trong ngôi mộ và chứng kiến ngôi mộ trống, bằng chứng đầu tiên về việc Đức Giê-su phục sinh. Điều này rất quan trọng, vì theo luật Do thái, một sự kiện chỉ được chứng thực nếu có tối thiểu hai nhân chứng. Một ngày kia, Đức Giê-su đã nhắc lại luật này cho những người Pha-ri-sêu : “Trong Lề Luật của các ông, có chép rằng lời chứng của hai người là chứng thật » (Ga 8 : 17). Ngoài ra, theo Luật, lời chứng của các người phụ nữ thì không có giá trị.
4. Khăn và vải liệm được xếp đặt ngăn nắp :
Không chỉ chứng kiến ngôi mộ trống, cảnh tượng băng vải còn ở đó và khăn che đầu được cuốn lại, xếp riêng ra một nơi càng đánh động sâu xa các tông đồ. Nếu thi thể bị đánh cắp, băng vải liệm có lẽ đã bị vất bừa bãi hổn độn rồi. Thế mà, mọi sự vật đều được xếp gọn gàng ngăn nắp.
Mặt khác, làm thế nào không nghĩ đến ông La-za-rô, thi thể được sống lại ra khỏi mồ, chân tay còn quấn vải và mặt còn phủ khăn ? Ông La-za-rô được sống lại để rồi một ngày kia lại chết. Đức Giê-su thì tự do, thoát khỏi mọi ràng buộc của cái chết nầy, nghĩa là tử thần không còn có quyền gì trên Ngài nữa. Chắc chắn hai vị tông đồ đã hiểu dấu chỉ nầy và bị chấn động đến mức mà thánh Gioan « đã thấy và đã tin » : rõ ràng dụng ngữ này diễn đạt quá trình từ “thấy » đến sự gắn bó trọn vẹn với Đấng Phục Sinh.
Ánh sáng bừng lên ở nơi người môn đệ nầy trước ngôi mộ trống và vải liệm được xếp gọn gàng ngăn nắp. Nếu niềm tin của ông đã có thể bị lung lay ít nhiều bởi những biến cố đau thương, thì tình yêu của ông đã không hề suy giảm, như ông đã bày tỏ cho đến mức theo bước chân Thầy cho đến nhũng giây phút cuối cùng của Thầy bên cạnh thập giá. Cường độ của tình yêu dẫn ông đến niềm tin ngay tức khắc. Chính cũng độ nhạy bén của tình yêu này mà vài ngày sau đó ông có thể nhận ra Thầy mình trên bờ hồ trong sương sớm trong khi những người khác không nhận ra (Ga 21 : 4, 7). Người môn đệ được yêu và đang yêu này chỉ thấy cái tối thiểu, tuy nhiên ông tin tối đa. Độ nhạy bén của con tim giúp ông hiểu biết con người và sự vật.
5. Theo Kinh Thánh :
Nếu đức tin có thể trước hết đến từ độ nhạy bén của con tim : “quen hơi bén tiếng », tuy nhiên nó cần được tâm trí soi sáng. “Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu hiểu rằng : theo Kinh Thánh, Đức Ki-tô phải chỗi dậy từ cõi chết » ám chỉ đến tiến trình các môn đệ hậu phục sinh giải thích cuộc Phục Sinh của Đức Ki-tô nhờ ánh sáng Cựu Ước (Ga 2 : 17, 22 ; 12 : 16) ; hơn nữa, Chúa Thánh Thần, Đấng soi sáng tâm trí của họ để hiểu nội dung Kinh Thánh, chưa được ban cho (Ga 14 : 26 ; Lc 24 : 45).
Các bản văn Kinh Thánh lại hiện ra trong tâm trí các ông…Người ta có thể phỏng đoán rằng họ nghĩ đến Tv 16, vì, vài tuần sau đó, chính Thánh vịnh nầy mà thánh Phê-rô sẽ trích dẫn cho đám đông ở Giê-ru-sa-lem để đưa ra những khẳng định của mình liên quan đến biến cố Phục Sinh (Cv 2 : 24-31).
Quả thật, chúng ta đọc trong Tv 16 những hàng nầy : “Thân xác con cũng nghĩ ngơi an toàn. Vì Chúa chẳng đành để mặc con trong cõi âm ty, không để kẻ hiếu trung nầy hư nát trong phần mộ”. Ấy vậy, truyền thống đã áp dụng Thánh Vịnh này vào Đấng Mê-si-a.
admin
03-04-2010, 10:42 PM
CHÚA NHẬT II PHỤC SINH
Chúa Nhật II Phục Sinh tiếp tục tưởng niệm sự Phục Sinh và những hoa trái vô tận của nó. Trong cả ba năm phụng vụ, Chúa Nhật II Phục Sinh này là một Chúa Nhật của Đức Tin.
Cv 5: 12-16
Đức tin của các tín hữu tiên khởi được thể hiện ở nơi sự đồng tâm nhất trí của họ gây nên một sự thán phục và lôi kéo những người theo đạo mỗi ngày một đông hơn. Đức tin của các Tông Đồ mà những việc lạ lùng họ thực hiện làm chứng rằng Đấng Phục Sinh khải hoàn đang hoạt động.
Kh 1: 9-11a, 12-13, 17-19
Đức tin của nhà thấu thị Pát-mô, được soi sáng bởi thị kiến vinh quang về Đức Ki-tô Phục Sinh, thật sự là bảo chứng của niềm hy vọng và an ủi cho các Ki-tô hữu bị bách hại.
Ga 20: 19-31
Đức tin của thánh Tô-ma Tông Đồ đã trải qua từ nghi nan ngờ vực đến bằng chứng tỏ tường về sự Phục Sinh. Chúa Giê-su công bố: “Phúc thay những người không thấy mà tin!”.
BÀI ĐỌC I (Cv 5: 12-16)
Trong những chương đầu tiên sách Công Vụ Tông Đồ, thánh Lu-ca nhiều lần phác họa cuộc sống của cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi, cộng đoàn Giê-ru-sa-lem. Mỗi năm trong ba năm phụng vụ dâng hiến cho chúng ta một trong những bức phác họa này. Vào năm A, chúng ta đọc bức phác họa đầu tiên: xoay quanh cộng đoàn huynh đệ và đời sống cầu nguyện (Cv 2: 42-47); vào năm B, bức phác họa thứ hai: tập trung vào cộng đồng mọi sự đều là của chung (4: 32-35). Vào năm C này, chúng ta đọc bức phác họa thứ ba: nêu bật những việc lạ lùng mà các Tông Đồ thực hiện.
1. Một cộng đoàn mẫu mực:
Cộng đoàn Ki tô hữu ở giữa lòng cộng đoàn Do thái hình thành nên một khuôn mẫu đạo đức, nhiệt thành và một lòng một ý với nhau: “Mọi tín hữu đều đồng tâm nhất trí, thường hội họp tại hành lang Sa-lô-mon”.
Hành lang Sa-lô-mon là hành lang rộng nhất và chứa nhiều người nhất trong số các hành lang bên trong Đền Thờ; hành lang này chạy dài suốt bức tường phía đông của sân dành cho dân ngoại. Ấy vậy, Hê-rô-đê đại đế tái thiết không chỉ Đền Thờ nhưng còn những bức tường thành, vì thế, sân trước được mở rộng gấp hai lần, cũng như những hành lang đã được xây dựng lại rộng rãi theo kiến trúc Hy-lạp. Những người Ki-tô hữu tiên khởi có thể tụ họp đông đúc ở đây, vì hành lang này dành cho dân ngoại. Thánh Phê-rô thường ngỏ lời với đám đông ở đây.
Những Ki-tô hữu tiên khởi, xuất thân từ Do thái giáo, tiếp tục tham dự đời sống tôn giáo của dân Ít-ra-en: “Họ đồng tâm nhất trí, ngày ngày chuyên cần đến Đền Thờ” (Cv 2: 46); họ ý thức rằng niềm tin vào Chúa Ki-tô không đoạn tuyệt nhưng kiện thành niềm tin Do thái giáo; niềm tin Do Thái giáo của họ nhường chỗ cho Chúa Ki-tô Phục Sinh. Đó là lý do tại sao thánh Lu-ca gọi họ là “tín hữu”. Họ muốn làm chứng niềm tin của mình vào Đấng Phục Sinh ở giữa lòng Thành Thánh, bất chấp những nguy hiểm mà họ có nguy cơ gặp phải và điều này sẽ được xác minh rất nhanh. Sự đoạn giao sẽ đến từ phía giai cấp lãnh đạo Do thái giáo, chứ không từ phía dân chúng, dân chúng “ca tụng họ”. Trước đây, thánh Lu-ca cũng đã nói rằng các Ki tô hữu “ca tụng Thiên Chúa, và được toàn dân thương mến” (Cv 2: 47). Số tín hữu mỗi ngày mỗi thêm đông: “Càng ngày càng có thêm nhiều người tin vào Chúa: cả đàn ông đàn bà rất đông”. Qua biểu thức tuyệt vời này, thánh Lu-ca nêu bật rằng những người mới theo đạo không kết nạp mình vào một nhóm, nhưng gắn bó với con người của Chúa Ki-tô.
2. Nối tiếp sứ mạng của Đức Giê-su:
“Nhiều dấu lạ điềm thiêng được thực hiện trong dân, nhờ bàn tay các Tông Đồ”.
Đây là cách diễn tả rất khái quát mà thánh Lu-ca đã sử dụng rồi và thánh nhân sẽ còn sử dụng nữa (x. 2: 43; 6: 8); thánh nhân cho những chi tiết chỉ trong vài trường hợp xác định: việc chữa lành một người què bên Cửa Đẹp (3: 1-9), hay chữa một người tê bại ở Lốt (9: 32-35), hoặc cho một người chết sống lại ở Gia-phô (9: 36-42). Ở đây chỉ hai điều ghi nhận đặc biệt: việc đám đông hâm mộ thánh Phê-rô chứng nhận rằng họ nhận ra ở nơi thánh nhân “vị lãnh tụ của các tín hữu”; và danh tiếng của các Tông Đồ vượt ra bên ngoài thành thánh Giê-ru-sa-lem.
Những việc lạ lùng mà các Tông Đồ thực hiện được định vị vào trong cùng một bối cảnh với những việc lạ lùng mà Chúa Giê-su đã thực hiện; chúng nhằm nâng đỡ sứ điệp. Nói một cách chính xác, những việc lạ lùng này cho thấy rằng sứ điệp của các Tông Đồ đồng nhất với sứ điệp của Chúa Giê-su, và đồng thời Đấng Phục Sinh đang hiện diện và hoạt động qua các môn đệ của Ngài.
Chúng ta nên lưu ý rằng thánh Lu-ca cho rằng niềm tin được lan tràn không do những việc lạ lùng của các Tông Đồ, nhưng do cách ăn nếp ở của các tín hữu khiến dân chúng thán phục.
BÀI ĐỌC II (Kh 1: 9-11a, 12-13, 17-19)
Nhà giảng thuyết lừng danh, Giám Mục Bossuet, đã định nghĩa sách Khải Huyền của thánh Gioan là “Tin Mừng về Đấng Phục Sinh”. Quả thật, toàn bộ tác phẩm này, với muôn vàn hình ảnh, ca ngợi vinh quang của Chúa Ki-tô khải hoàn, Con Chiên sát tế đã trải qua từ sự yếu đuối đến quyền năng, cùng ngự trị với Thiên Chúa và khai mở một cuộc chiến vĩ đại chống lại những thế lực sự ác. Ngài diệt trừ triệt để thế lực sự ác, trong khi lại ban muôn vàn ân phúc cho những người được tuyển chọn ở thành thánh Giê-ru-sa-lem thiên quốc.
Vào Mùa Phục Sinh này, phụng vụ giới thiệu cho chúng ta những đoạn trích sách Khải Huyền trong sáu tuần lễ liên tiếp. Hôm nay chúng ta đọc thị kiến khai mạc, thị kiến này giới thiệu toàn bộ sách, nhưng đặc biệt hơn, giới thiệu phần thứ nhất từ chương 1 đến chương 4.
1. Khải Huyền:
Từ “Khải Huyền” được phiên dịch từ từ Hy-lạp: “apocakalupto” (“apo”: tách riêng ra, và “kulupto”: che dấu) để chỉ “những điều bí nhiệm được vén mở ra”, đồng nghĩa với từ “mặc khải”, từ đầu tiên của sách Khải Huyền: “Mặc khải của Đức Giê-su, mặc khải mà Thiên Chúa đã ban cho Người, để Người tỏ cho các tôi tớ Người biết những việc sắp phải xảy đến”.
Văn chương Khải Huyền phát sinh vào thế kỷ thứ hai trước Công Nguyên, để tiếp tục sự nghiệp của trào lưu ngôn sứ vào lúc đó đã biến mất. Văn chương Khải Huyền này rất gần với văn chương bói toán Đông Phương: vén mở những bí nhiệm, giải thích những giấc mộng, vân vân; văn chương này cốt yếu dùng ngôn ngữ biểu tượng. Những hình ảnh, màu sắc, con số, sự vật hay con vật, những điều huyền hoặc là những lối nói phóng dụ, không dể giải mã ý nghĩa của chúng.
Sách Khải Huyền đầu tiên là sách Đa-ni-en (đầu thế kỷ thứ hai trước Công Nguyên); văn thể này đã được vài bản văn Giô-en, Ê-dê-ki-en, Da-ca-ri-a dọn đường. Sách Khải Huyền của thánh Gioan mượn rất nhiều ở nơi các vị tiền nhiệm này.
Sách Đa-ni-en đã được viết khi dân Do thái phải chịu cuộc bách hại dưới thời thống trị của vua Sy-ri, An-ti-ô-khô Ê-pi-pha-nê, giữa những năm 167 và 164 trước Công Nguyên. Mục đích của tác giả là an ủi các tín hữu trung thành, phải đối mặt với những hành động tàn bạo và cái chết, đồng thời cho họ nghe tiếng nói tràn đầy hy vọng. Đó cũng là ý định của thánh Gioan khi viết tác phẩm Khải Huyền này vào thời kỳ bách hại dữ dội, chính thánh nhân cũng bị lưu đày ở đảo Pát-mô. Chắc chắn đây là cuộc bách hại của hoàng đế Đô-mi-xiên vào những năm 93-96, sau Công Nguyên, tuy nhiên, vài đoạn văn có thể đặt niên biểu vào cuộc bách hại của vua Nê-ron (năm 64 sau Công Nguyên). Tác giả nhằm nâng đỡ những người Ki-tô hữu “kiên trì chịu đựng” (diễn ngữ này được lập đi lập lại nhiều lần) trong cảnh đời gian truân thừ thách, đặc biệt khi phải đối mặt với cuộc tử đạo, đồng thời cho họ thoáng thấy vinh quang tương lai bên cạnh Chúa Ki-tô khải hoàn.
Cái khung văn chương này dâng hiến hai lợi ích: trước hết, những hình tượng cho phép thiết lập ngôn ngữ mật mã, một sự cẩn trọng cần thiết trước thế lực bách hại. Vì thế, Rô-ma không được nêu tên ; nó được chỉ dưới những ngôn từ khác nhau: Ba-by-lon, Con Vật, con điếm, con số 666. Thứ nữa, những sách khải huyền có mối liên hệ gần gũi với thể loại ngôn sứ, vì thế, nhà thấu thị Pát-mô muốn truyền đạt một sứ điệp với tư cách ngôn sứ.
2. Tôi là Gioan…
Những sách khải huyền Do thái có một nét đặc trưng chung là vô danh. Tác giả không nêu tên mình; họ cẩn trọng đặt nhan đề tác phẩm của mình theo tên một nhân vật quá khứ lừng danh, như tác giả sách Đa-ni-en đã làm (ông Đa-ni-en đã sống vào thế kỷ thứ tư trước Công Nguyên trong khi tác giả sách Đa-ni-en sống vào thế kỷ thứ hai trước Công Nguyên). Cũng một cách như vậy, sách Ê-nốt (tên của một tổ phụ), sách Quy Thiên của ông Mô-sê, sách thứ tư của ông Ét-ra, sách Khải Huyền của ông Ba-rúc..
Trái lại, các sách ngôn sứ đều nêu tên chính vị ngôn sứ ấy: “Có Lời của Đức Chúa phán với…” ông A-mốt, ông Hô-sê, ông I-sai-a, ông Giê-rê-mi-a, ông Ê-dê-ki-en, vân vân. Tức khắc, thánh Gioan phá vỡ tập quán của các sách khải huyền Do thái: ông tự nêu tên mình và tự định vị mình vào hàng ngũ các ngôn sứ. Các sách khải huyền Do thái xoay quanh sự đăng quang của thời cánh chung, trong khi sách Khải Huyền của thánh Gioan đem đến câu trả lời Ki tô giáo: sự đăng quang này sẽ là sự đăng quang của Chúa Ki-tô, Con Chiên bị sát tế khải hoàn.
Gioan là ai? Truyền thống xa xưa nhất nhận dạng ông với vị Tông Đồ, con ông Dê-bê-đê, tác giả Tin Mừng Thứ Tư. Lúc ấy, thánh nhân bị lưu đày ở đảo Pát-mô “vì đã rao giảng Lời Thiên Chúa và làm chứng cho Đức Giê-su”. Theo thánh Victorien, giám mục Pettau, ở Styrie, tử đạo dưới thời hoàng đế Dioclétien, thánh Gioan đã bị kết án khổ sai tại các hầm mỏ. Các nhà chú giải hiện đại đã nêu lên nhiều vấn đề trong đó vấn đề ngôn ngữ của sách Khải Huyền khác với ngôn ngữ của sách Tin Mừng Gioan. Tuy nhiên đề tài trung tâm: Con Chiên, con chiên bị sát tế, Đấng cứu chuộc, nguồn ơn cứu độ, Đấng khải hoàn, là đề tài của Tin Mừng Gioan. Dù thế nào, chắc chắn tác giả đang sống trong cảnh gian truân, và thấy mình liên đới với những người Ki-tô hữu bị bách hại, “tôi cùng chia sẻ nỗi gian truân, cùng hưởng vương quốc và cùng kiên trì chịu đựng với anh em trong Đức Ki-tô”. Chúng ta đã nói rồi, từ “kiên trì chịu đựng” là một trong những từ then chốt của sách Khải Huyền. Còn về từ “vương quốc”, từ này được nhiều lần minh giải. Đức Ki-tô “đã lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, làm cho chúng ta trở thành vương quốc” và cho chúng ta cùng ngự trị với Ngài (Kh 1: 5-6; 5: 10; 20: 6). Thánh Gioan muốn cho hiểu rằng việc kiên trì chịu đựng những nỗi gian truân cho chúng ta dự phần vào những đau khổ của Đức Ki-tô và cho phép chúng ta cùng ngự trị với Ngài.
3. Thị Kiến khai mạc:
Trong khi xuất thần, thánh Gioan thấy xuất hiện “Con Người”, nhân vật sách Đa-ni-en này, mà Đức Ki tô đã tự đồng hóa mình và Ngài đã nhận lấy tên này cho mình, như một tước hiệu Mê-si-a. Ngôn sứ loan báo rằng “Con Người” này lãnh nhận “quyền thống trị, vinh quang và vương vị” (Đn 7: 13-14). Khi kỳ hạn đến, Con Người là lãnh tụ của Giáo Hội, Chủ Tể vũ trụ, Thiên Chúa Hằng Sống, Đấng Phục Sinh chiến thắng tử thần và Chủ Tể Lịch Sử.
4. Ngày của Chúa:
Trong toàn bộ Tân Ước, diễn ngữ: “Ngày của Chúa” chỉ được gặp thấy ở đây. Quả thật, cho đến lúc đó chúng ta đọc thấy: “ngày thứ nhất trong tuần”. Đây là lần đầu tiên “ngày của Chúa” Ki tô giáo, tức là ngày Chúa Nhật, được kể ra rõ ràng. Trong Cựu Ước, “Ngày của Chúa” có nghĩa “Ngày của Đức Chúa”, ngày phán xét vào thời cánh chung. Ấy vậy, đối với người Ki tô hữu, sự Phục Sinh của Đức Ki-tô đã khai mạc thời kỳ cánh chung; đó là lý do tại sao những cử hành ngày Chúa Nhật của chúng ta có một ý nghĩa vừa phục sinh vừa cánh chung.
Cung giọng nỗi bật của sách Khải Huyền là cung giọng phụng vụ. Việc gợi lên “có một tiếng lớn như tiếng kèn”, kèn là dụng cụ tế tự truyền thống của phụng vụ Do thái, rõ ràng nhấn mạnh cung giọng phụng vụ: “Tôi xuất thần vào ngày của Chúa và nghe đằng sau tôi có một tiếng lớn như thể tiếng kèn”.
admin
03-04-2010, 10:43 PM
5. Đấng Phục Sinh, Thủ Lãnh Giáo Hội:
Như các ngôn sứ, thánh Gioan thấy và nghe; ngoài ra, thánh nhân còn được yêu cầu phải viết và gởi sứ điệp đến cho bảy Hội Thánh của miền Tiểu Á. Quả thật, thư gởi cho bảy Hội Thánh chiếm lấy phần thứ nhất của sách Khải Huyền. Con số bảy là con số chỉ sự viên mãn và chiều kích hoàn vũ; sứ điệp có giá trị đối với toàn thể Giáo Hội. Con số bảy là một trong những con số thường hằng của sách Khải Huyền: bảy Thần Khí Thiên Chúa, bảy ngôi sao, bảy dấu ấn, bảy tiếng kèn, bảy đầu, bảy sừng, bảy con mắt, vân vân.
Cũng con số bảy là “bảy cây đèn bằng vàng”, chính xác biểu thị bảy Hội Thánh, như được xác định rõ phía dưới một chút (Kh 1: 20). Con Người xuất hiện ở giữa bảy cây đèn bằng vàng này, tức là Đức Ki-tô sống giữa Giáo Hội của Ngài; Ngài là Thủ Lãnh. Chúng ta nên ghi nhận rằng thánh Gioan cũng sử dụng cùng cách nói như tác giả sách Đa-ni-en: “Có ai giống như Con Người”. Đây là từ “như” thứ nhất trong nhiều từ “như” của sách Khải Huyền, ví dụ, xuống dưới một chút chúng ta gặp thấy: “Khi thấy Người, tôi năm vật xuống dưới chân Người, như chết vậy”. Tất cả từ “như” này đều nhằm nhấn mạnh những phỏng chừng không thể tránh khỏi của ngôn ngữ phàm nhân toan tính diễn tả mầu nhiệm Thiên Chúa.
Cũng chính trong sách Đa-ni-en (nhưng thị kiến của chương 10 chứ không còn ở chương 7), mà thánh Gioan mượn vài nét đặc trưng của cách kể chuyện như: “Tôi là Đa-ni-en…đang ở ven sông Cả, tức là sông Tích-ra, tôi ngước mắt nhìn lên, thì này: Một người mặc áo vải gai, lưng thắc đai vàng U-phát, thân mình giống kim lục thạch, dung mạo ví như ánh chớp…Tôi nghe tiếng người vang dội. Vừa nghe thấy, tôi liền ngất xỉu, chúi mặt xuống đất…Bấy giờ đấng giống như con người lại đụng đến tôi một lần nữa và làm cho tôi nên can đảm. Người nói: “Hỡi người được quý mến, đừng sợ. Cứ an tâm…Ta sắp báo cho ngươi biết điều đã được ghi chép trong sách sự thật” (Đn 10: 2-21). Trong sách Khải Huyền, Con Người, mình mặc áo chùng và ngang ngực có thắt đai bằng vàng: áo chùng chắc chắn là y phục tư tế, áo bằng vải len và đai bằng vàng chắc chắn là huy hiệu vương đế.
6. Chủ Tể hoàn vũ:
“Ta là khởi nguyên và là cùng tận”.
Ngôn sứ I-sai-a đệ nhị đã sử dụng hai lần biểu thức này cho Đức Chúa: “Ta là khởi nguyên, Ta là cùng tận; chẳng có thần nào hết, ngoại trừ Ta” (Is 44: 6 và 48: 12). Diễn ngữ này cũng được lập lại hai lần trong sách Khải Huyền (Kh 2: 8 và 22: 13).
Như vậy, Chúa Giê-su khẳng định thần tính của Ngài và ngang bằng với Chúa Cha. Ngài là khởi nguyên và cùng đích; Ngài có quyền trên vũ trụ và Lịch Sử; Ngài đã có trước muôn loài muôn vật.
7. Thiên Chúa Hằng Sống:
“Ta là Đấng Hằng Sống” cũng quy chiếu đến thần tính của Ngài. Cựu Ước gọi Đức Chúa là “Thiên Chúa Hằng Sống”, nhất là đối lập Ngài với các thần linh của dân ngoại, chúng chỉ là ngẫu tượng do tay nghệ nhân làm ra; còn Đức Chúa là Đấng Hằng Hữu.
8. Đấng chiến thắng tử thần:
Đấng Phục Sinh cũng là Đấng Hằng Sống vì Ngài đã chiến thắng tử thần: “Ta đã chết, và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời”. “Ta giữ chìa khóa của Tử Thần và Âm Phủ”. Chúng ta có thể thấy ở đây một ám chỉ đến việc Đức Ki-tô xuống Âm Phủ mà thánh Phê-rô gợi lên trong thư thứ nhất của thánh nhân (1Pr 3: 19-21) và thánh Phao-lô dường như ám chỉ đến việc này nhiều lần (Rm 10: 6-10 và Ep 4: 9).
9. Chủ Tể Lịch Sử:
Câu cuối cùng: “Vậy, ngươi hãy viết những gì đã thấy, những gì đang diễn ra và những gì sẽ xảy ra sau này”, xem ra là một lời loan báo khái quát bố cục của sách Khải Huyền; nhưng đó không phải muốn nói rằng Đấng Phục Sinh là chủ tể của quá khứ, hiện tại và tương lai sao?
TIN MỪNG (Ga 20: 19-31)
Đoạn Tin Mừng này là một trong những đoạn Tin Mừng thiết lập niềm xác tín của chúng ta: Đức Giê-su của niềm tin đích thật là Đức Giê-su của lịch sử. Các Tông Đồ chứng thực biến cố Phục Sinh; hơn nữa, nhờ vào sự cứng tin của một trong số họ, các ngài được hưởng một sự kiểm chứng vài ngày sau đó.
Theo truyền thống, đoạn Tin Mừng này được đọc vào Tuần Bát Nhật Phục Sinh, vì thánh ký nói với chúng ta rằng Đức Giê-su hiện ra cho thánh Tô-ma “tám ngày sau đó”. Quả thật, chúng ta đọc bài trình thuật thành hai giai đoạn: Chúa Giê-su hiện ra cho mười Tông Đồ đúng vào chiều Phục Sinh (20: 19-25), và Ngài hiện ra đặc biệt cho thánh Tô-ma một tuần sau đó (20: 26-29).
1. Đức Giê-su phục sinh hiện ra cho mười Tông Đồ:
“Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần”, tức là đúng vào buổi chiều biến cố Phục Sinh.
Việc chỉ rõ thời gian này thì rất quý: “ngày thứ nhất trong tuần”, tức là ngày mà những người Ki tô hữu tiên khởi đã chọn rất sớm cho những buổi hội họp của họ, như vậy nhấn mạnh tính cách Phục Sinh của việc cử hành Thánh Thể. Cũng vậy, việc Chúa Giê-su xuất hiện cho thánh Tô-ma tám ngày sau đó, cũng được định vị vào “ngày thứ nhất trong tuần”.
Các Tông Đồ cùng nhau quy tụ lại, chỉ có mười vị, vì rõ ràng không có mặt thánh Tô-ma, ông xem ra đã không tha thiết gì đến cuộc tụ họp này. Chúng ta có thể phỏng đoán rằng chính thánh Phê-rô đã quy tụ các ông để thông bào cho các ông biết những biến cố vừa mới xảy ra: cuộc khám phá ngôi mộ trống, việc chứng kiến đồ liệm được sắp xếp gọn gàng ngăn nắp, những lời nói của các người phụ nữ, trong số đó bà Ma-ri-a Mác-đa-la nói là mình đã gặp Đức Giê-su và Ngài đã nói với bà.
Chúng ta đoán các Tông Đồ đã gặp nhau trong bầu khí vừa nghi nan vừa hy vọng, thêm nữa là nỗi sợ hãi: “Nơi các môn đệ ở, các cửa đều cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do thái”. “Người Do thái” trong Tin Mừng Thứ Tư, trước tiên chỉ rõ giai cấp lãnh đạo tôn giáo ở Giê-ru-sa-lem. Những người này đã kết án tử Thầy của họ, bây giờ họ sẽ không ra tay bắt các môn đệ của Ngài sao?
Và này Đức Giê-su bất ngờ hiện ra giữa các ông dù cửa vẫn đóng then vẫn cài; Ngài hiện diện ở giữa lòng nỗi sợ hãi và xao xuyến của các ông, như Ngài đã định vị mình ở bên cạnh nỗi buồn phiền của hai môn đệ trên đường Em-mau. Nỗi sợ hãi và buồn phiền sẽ biến thành niềm vui.
- Bình an cho anh em:
Đây là lời chào truyền thống của dân Ít-ra-en, nhưng không bao giờ chỉ là là lời chào hỏi xả giao cả. Đức Giê-su đem đến sự bình an của Ngài, bình an mà Ngài đã hứa, cho những môn đệ này, những người đã bỏ rơi Ngài vì chán nãn và thất vọng; Ngài đem đến sự bình an từ cuộc hiện diện của Ngài và sự tha thứ của Ngài; không một lời quở trách, không một ám chỉ đến những khuyết điểm của họ, ngay cả họ đã bỏ mặc Ngài một mình cô độc.
Để cho họ nhận ra Ngài, Đức Giê-su cho các ông xem những vết thương của Ngài như chiến tích khải hoàn và như chứng thực sự đồng nhất giữa thân thể phục sinh của Ngài và thân thể khổ nạn của Ngài.
Ở đây chúng ta đo lường tầm quan trọng của việc khám phá ngôi mộ trống: một mặt, không có một thân xác bị hư hoại trong mồ, mặt khác, không là một bóng ma hiện ra cho các môn đệ: chỉ là một thân thể duy nhất, đang sống, có thể đụng chạm, mang lấy những vết thương của cuộc khổ hình. Không nghi ngờ gì nữa, “lúc đó, các ông vui mừng”.
Chúng ta ghi nhận rằng thánh Gioan nói “Người cho các ông xem tay và cạnh sườn”, trong khi trong bài tường thuật song song, thánh Lu-ca viết: “Người đưa tay chân cho các ông xem”. Thánh Gioan là người môn đệ duy nhất đã kể tình tiết về một người lính Rô-ma lấy ngọn giáo đâm thủng cạnh sườn của Đức Ki-tô; ông đã chứng kiến máu cùng nước chảy ra, ân ban cuối cùng của Chúa Ki-tô đã chết rồi. Thánh ký đã thấu hiểu ở nơi sự kiện này một dấu chỉ biểu tượng: dấu chỉ về sự sinh hạ Giáo Hội bởi phép Thánh Tẩy và phép Thánh Thể. Ở đây, thánh ký nhấn mạnh thêm một lần nữa. Nói một cách chính xác, Giáo Hội sẽ sinh ra, vào buổi chiều Phục Sinh, dưới hơi thở Thần Khí và qua việc sai các Tông Đồ ra đi thi hành sứ vụ.
- Sai đi thi hành sứ mạng:
“Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em”. Trong Tin Mừng của mình, thánh Gioan nhấn rất mạnh khía cạnh này của con người Đức Giê-su: Ngài là Đấng được Chúa Cha sai đến. Đó là lý do tại sao thánh ký không bao giờ ban cho các môn đệ danh xưng “tông đồ”, vì danh xưng này có nghĩa “người được sai đi”. Chỉ một mình Đức Giê-su là Đấng Được Sai Đi.
Có một mâu thuẫn đáng ngạc nhiên: cho những người này: giam mình giữa bốn bức tường, trong căn phòng cửa đóng then cài, thu mình lại và sợ hãi, Đức Giê-su truyền lệnh ra đi thi hành sứ mạng: gặp gỡ với hết mọi người không trừ một ai, như Ngài đã hứa.
Việc sai đi thi hành sứ mạng tại thánh Gioan còn long trọng hơn tại thánh Mát-thêu. Thánh Mát-thêu đặt việc sai đi thi hành sứ mạng vào cuối sách Tin Mừng của mình, ở đó Đức Giê-su công bố: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ…” (Mt 28: 19).
- Hơi thở Thần Khí:
“Nói xong, Người thổi hơi vào các ông…”. Trong Tân Ước, diễn ngữ này chỉ được gặp thấy ở đây. Động từ được dùng ở đây được gặp thấy trong đoạn văn của sách Sáng Thế về cuộc sáng tạo con người: Đức Chúa “thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở thành một sinh linh” (St 2: 7, được Kn 15: 11 lấy lại), cũng như trong bản văn Ê-dê-ki-en về sự hồi sinh của các bộ xương khô: “Hỡi thần khí, hãy đến thổi vào những vong nhân này cho chúng được hồi sinh” (Ed 37: 9).
Chúa Giê-su làm cho các môn đệ Ngài trở thành những con người mới và ban cho họ quyền chỉ thuộc về Thiên Chúa: quyền tha thứ tội lỗi.
- Tha thứ tội lỗi:
Thánh ký diễn tả quyền nầy theo cách thức sê-mít: “tha thứ hay cầm giữ”. Thánh Mát-thêu sử dụng một cặp đối nghịch tương tự: “cầm buộc hay tháo cởi”: “Dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy.” (Mt 16: 19; 18: 18).
Tha thứ hay cầm giữ, cầm buộc hay tháo cởi là những biểu thức được Do Thái giáo dùng để cấm hay cho phép. Các biểu thức nầy chỉ ra rằng các vị lãnh đạo tôn giáo được quyền khai trừ hay hội nhập một tín đồ vào cộng đoàn. Đức Giê-su mở rộng vô cùng tận ý nghĩa diễn ngữ này. Cốt yếu là quyền xá tội được trao ban cho Giáo Hội. Chúng ta đừng nhầm lẫn cách phát biểu sê-mít. Văn phong sê-mít chủ ý sử dụng sự cân bằng giữa một khía cạnh khẳng định và một khía cạnh phủ định, khía cạnh thứ hai nhằm mục đích tăng cường khía cạnh thứ nhất. Vì thế, không cốt thiết hạn chế ơn tha thứ của Thiên Chúa. Hơn nữa, Giáo Hội có thể “cầm giữ” một tội nhân trong khi mong chờ sự ăn năn hối cải hữu hiệu hơn.
Tha thứ tội lỗi là thành quả cốt thiết của cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Ki-tô. Chính đó là lý do tại sao thánh Gioan đặt việc Đức Kitô trao ban ơn tha tội ngay từ lần đầu tiên Đấng Phục Sinh hiện ra với các môn đệ Ngài. Tại thánh Lu-ca, Đức Giê-su nhắc lại cho các môn đệ ân huệ này, ngay trước khi lên trời: “Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đức kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại, phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội.” (Lc 24: 45-47).
2. Đức Giê-su phục sinh hiện ra cho thánh Tô-ma cứng lòng tin:
Chắc chắn thánh Tô-ma đã gắn bó mật thiết với Chúa Ki-tô; thánh nhân đã yêu mến Ngài và đã tin vào Ngài. Vào lúc lên Giê-ru-sa-lem lần sau cùng, với cả bầu nhiệt huyết, thánh nhân đã dõng dạc công bố: “Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy” (Ga 11: 16). Nhưng ông đã không mong chờ một cái chết ô nhục trên thập giá; cái chết này đã làm ông vỡ mộng. Nỗi thất vọng, buồn phiền đã khiến ông tách riêng một mình với các bạn đồng môn. Vốn là một con người thực tế, xưa kia ông đã đặt cho Đức Giê-su một câu hỏi thiết thực và thẳng thắn: “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường?” (Ga 14: 5), bây giờ ông từ chối tin vào sự Phục Sinh nếu không có bằng chứng được ông đích thân kiểm chứng. Chúng ta hiểu thánh nhân. Chúng ta nhận ra con người Tô-ma đang ngủ trong chính bản thân mình: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin”.
- Đức tin của thánh Tô-ma:
Đức Giê-su chạnh lòng thương người môn đệ đầy nhiệt huyết đang đắm mình trong nỗi phiền muộn, trong khi các môn đệ khác hoan hĩ mừng vui; vì thế, Ngài sẵn sàng đáp ứng những đòi hỏi của ông.
“Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy…”. Chắc hẳn thánh Tô-ma đã không làm như thế, bởi vì trái với cung giọng của Tin Mừng Gioan. Đúng hơn phải lập lại những gì thánh Gioan đã nói về người môn đệ Chúa yêu khi vừa mới bước chân vào ngôi mộ: “Ông đã thấy và đã tin”. Thánh Tô-ma đã ngộ ngay lập tức trước bằng chứng mà Đấng Phục Sinh đã trưng ra cho ông thấy. Lập tức, ông tuyên xưng đức tin của mình: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”.
- Đức tin của thánh Tô-ma và đức tin của các tín hữu mọi thời:
Trong các sách Tin Mừng, đây là “lần đầu tiên” tước hiệu “Thiên Chúa” được ban cho “Đức Giê-su”. Còn dấu lạ nào bày tỏ Thần Tính của Ngài rực rỡ hơn sự Phục Sinh của Ngài? Lời cảm thán rất riêng tư của Tô-ma diễn tả tâm tình biết ơn của ông vì Đức Ki-tô đã quan tâm đặc biệt đến ông, Ngài không bỏ mặc ông trong nỗi thất vọng và phiền muộn.
Chúa Giê-su nói: “Vì đã thấy Thầy nên anh tin”. Đoạn, nghĩ đến những người đã không bao giờ được diễm phúc như ông, Chúa Giê-su ngỏ lời với đám đông những tín hữu của mọi thời: “Phúc thay những người không thấy mà tin!”.
Nhưng lời chúc phúc này, mối phúc độc nhất của Tin Mừng Gioan, trước hết, rõ ràng dựa trên lời chứng của Nhóm Mười Một, mà lời chứng của thánh Tô-ma là thấm thía nhất.
Lm. Ignatiô Hồ Thông
admin
11-04-2010, 04:58 PM
CHÚA NHẬT III PHỤC SINH
Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật III Phục Sinh hôm nay dâng hiến cho chúng ta những lời chứng mới về biến cố Phục Sinh.
Cv 5: 27b-32, 40b-41
Trong sách Công Vụ Tông Đồ, thánh Lu-ca tường thuật lời chứng của các Tông Đồ trước Thượng Hội Đồng. Các Tông Đồ khẳng định đầy xác tín rằng Đức Giê-su, mà các ông đã đóng đinh, đã phục sinh và được tôn vinh.
Kh 5: 11-14
Trong sách Khải Huyền, thánh Gioan mô tả thị kiến về phụng vụ thiên quốc tôn vinh Con Chiên sát tế, được cả triều thần thánh thiên quốc cũng như muôn loài thọ tạo chúc tụng tôn vinh.
Ga 21: 1-19
Tin Mừng tường thuật Đấng Phục Sinh lại hiện ra với các môn đệ Ngài trên bờ Biển Hồ Ti-bê-ri-a. Đây là giây phút Chúa Giê-su trao gởi con thuyền Giáo Hội của Ngài cho thánh Phê-rô và tấn phong thánh nhân làm vị mục tử của đàn chiên Ngài, căn cứ trên tình yêu của thánh nhân đối với Ngài.
BÀI ĐỌC I (Cv 5: 27b-32, 40b-41)
Sự kiện các Tông Đồ bị điệu ra trước Thượng Hội Đồng, tức là thẩm phán tối cao ở Giê-ru-sa-lem, được đặt vào trong những hoàn cảnh rất đặc thù.
Trước đó, thánh Phê-rô và thánh Gioan đã bị bắt sau khi đã chữa lành một người bất toại ở cửa Đền Thờ và đã ngỏ lời với đám đông tụ tập lại chung quanh các ngài. Sau khi tra hỏi các ngài, các thành viên Thượng Hội Đồng ngăm đe và nghiêm cấm các ông không được rao giảng Đức Giê-su nữa, rồi thả các ông về “vì họ sợ dân chúng” (4: 21).
Thánh Phê-rô, thánh Gioan cũng như các Tông Đồ khác, chẳng những đã không nín lặng, lại càng lớn tiếng rao giảng Đức Giê-su. Thánh Lu-ca xác định: “Nghe vậy, họ giận điên lên và ra lệnh bắt các ông”.
Vào ban đêm, thiên sứ mở cửa ngục, đưa hai ông ra. Ngay từ sáng sớm, các ông lại xuất hiện trong Đền Thờ để giảng dạy đám đông. Các thượng tế càng nổi giận và bắt các ngài một lần nữa. Chính đây là đoạn trích dẫn hôm nay: các Tông Đồ lại bị điệu ra trước Thượng Hội Đồng.
1. Vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời loài người:
Vì thế, vị thượng tế hỏi những kẻ tái phạm ngoan cố này: “Chúng tôi đã nghiêm cấm các ông không được giảng dạy về danh Giê-su, thế mà các ông lại gieo rắc giáo lý của mình khắp cả Giê-ru-sa-lem, và còn muốn quy tội cho chúng tôi là đã làm đổ máu tên đó!”.
Nhân danh nhóm Mười Hai, thánh Phê-rô khôn khéo trả lời. Thánh Phê-rô giải thích cho các tư tế được thánh hiến để phụng sự Thiên Chúa trong Đền Thờ rằng chính “vị Thiên Chúa của cha ông chúng ta” này mà các ngài tin đã cho Đức Giê-su sống lại, nâng Ngài lên và đặt làm Thủ Lãnh và Đấng Cứu Độ. Vì thế, nếu thánh nhân cũng như các bạn đồng môn đã không thể nào nín lặng, vì phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời loài người.
2. Chúng tôi cùng Chúa Thánh Thần xin làm chứng:
Thánh Phê-rô biết rằng lời chứng của mình có thể bị bác bỏ. Luật Do thái đòi hỏi việc xét xử chỉ có giá trị nếu căn cứ ít nhất trên hai nhân chứng (Đnl 17: 6). Chứng nhân thứ hai mà vị Tông Đồ viện dẫn, quả thật bất ngờ: Chúa Thánh Thần:“Về những sự kiện đó, chúng tôi đây xin làm chứng, cùng với Thánh Thần, Đấng mà Thiên Chúa đã ban cho những ai vâng phục Người”.
Cũng vẫn ở nơi Thiên Chúa mà thánh Phê-rô quy giá trị của những lời nói được Thánh Thần linh hứng của mình. Như vậy, thánh nhân kết thúc bài diễn từ của mình với cùng viễn cảnh như thánh nhân đã bắt đầu: vâng phục Thiên Chúa là nguồn mạch của những phong phú tinh thần.
Qua bài diễn từ này và những bài diễn từ khác nữa của thánh Phê-rô (tổng cộng là năm bài diễn từ), thánh Lu-ca cho chúng ta biết những đề tài cốt yếu của giáo lý tiên khởi; lúc đó, giáo lý này chỉ ngỏ lời với các thính giả Do thái.
Thượng Hội Đồng sẽ lại miển cưỡng thả các Tông Đồ. Quả thật, vào gần cuối của đoạn trích này, thánh Lu-ca đặt ông Ga-ma-li-ên, một người Pha-ri-sêu, đồng thời một kinh sư đáng kính có khuynh hướng tự do, lên tiếng bênh vực cho các Tông Đồ. Như vậy, ngay ở giữa lòng Thượng Hội Đồng xảy ra những căng thẳng nội tại. Những đối thủ hung dữ nhất của các Tông Đồ không là những người Pha-ri-sêu (thánh Lu-ca đã không nêu tên họ trong suốt bài tường thuật Thương Khó), nhưng giới giáo sĩ, đặc biệt nhà Kha-nan (“vị thượng tế cùng những người kế cận”).
Tuy nhiên, các Tông Đồ, trước khi được thả ra, phải bị đánh đòn theo luật Mô-sê cho là có tội, và chỉ được phép đánh không quá bốn mươi đòn, “sợ rằng đánh thêm sẽ bị trọng thương, và người anh em của anh em sẽ bị nhục trước mặt anh em” (Đnl 25: 2-3).
3. Niềm vui của những người bị khổ nhục vì danh Đức Giê-su:
“Các Tông Đồ ra khỏi Thượng Hội Đồng, lòng hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Giê-su”.
Chúa Giê-su đã nói trước với các ông: “Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại, vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao” (Mt 5: 11-12). Thánh Phê-rô, khi viết cho các cộng đoàn Ki tô hữu bị bách hại, cũng phát biểu như vậy: “Được chia sẻ những đau khổ của Đức Ki-tô bao nhiêu, anh em hãy vui mừng bấy nhiêu” (1Pr 4: 13).
BÀI ĐỌC II (Kh 5: 11-14)
Sách Khải Huyền được chi phối bởi hai thị kiến khai mạc. Chúng ta đã đọc thị kiến thứ nhất vào Chúa Nhật trước. Thị kiến thứ hai giới thiệu phần chính yếu thứ hai sách Khải Huyền. Thị kiến này bao gồm các chương 4 và 5 và được chia thành hai phân đoạn. Phân đoạn thứ nhất mô tả một lễ nghi hùng vĩ tôn thờ Thiên Chúa cực thánh, Đấng Sáng Tạo muôn loài muôn vật; phân đoạn thứ hai là một phụng vụ trang trọng tôn vinh Con Chiên sát tế. Bản văn của chúng ta được được trích dẫn từ phân đoạn thứ hai này.
1. Đức Ki-tô, Con Chiên sát tế:
Trong sách Khải Huyền, đây là lần đầu tiên Đức Ki-tô được gọi là Con Chiên và Con Chiên sát tế. Danh xưng này từ nay sẽ ngự trị toàn bộ sách Khải Huyền. Tước hiệu này mang đậm nét Gioan. Trong Tin Mừng thứ tư, thánh Gioan Tẩy Giả chứng nhận Đức Giê-su là “Chiên Thiên Chúa”; cũng trong Tin Mừng thứ tư, Đức Giê-su chết trên thập giá vài giờ trước khi cử hành lễ Vượt Qua, thậm chí vào giây phút đó, trong sân Đền Thờ người ta đã sát tế những con chiên dành cho bữa ăn vượt qua vào ban chiều.
Hình ảnh con chiên ẩn hiện trong tư tưởng của ngôn sứ I-sai-a đệ nhị, khi ông gợi lên Người Tôi Trung bị đem đi giết “như chiên bị đem đi làm thịt” (Is 53). Ngược theo dòng lịch sử, sách Xuất Hành tường thuật máu chiên vượt qua đã bảo vệ dân Do thái khỏi chết như thế nào khi họ bôi máu con chiên trên khung cửa nhà mình (Xh 12: 7-13).
Trong thị kiến của mình, thánh Gioan xác định rằng ông thấy “con chiên đã bị sát tế”, nghĩa là được ghi dấu bởi những vết thương hy tế.
Trong vinh quang của mình, Chúa Ki-tô muôn đời mang lấy những dấu tích cuộc Tử Nạn của mình mà giá trị của chúng không bao giờ phai nhạt. Chính ở nơi con chiên này mà muôn vàn thiên thần và muôn vị chư thánh dâng lời tôn vinh chúc tụng.
2. Lời chúc tụng của các thiên thần và con số 7:
Muôn vàn thiên thần đứng chầu chung quanh ngai. Ngai chỉ Thiên Chúa, Đấng không bao giờ được miêu tả, ngoài trừ qua những ám chỉ đến ánh sáng huy hoàng nhiệm mầu của Ngài, được sánh ví với những viên đá quý lung linh rực rỡ. Ấy vậy, ở đây, ngai cũng chỉ Con Chiên, cách thức công bố thần tính của Ngài.
Các thiên thần tán dương Con Chiên qua bảy phẩm tính: “Con Chiên đã bị giết quả xứng đáng lãnh nhận phú quý và quyền năng, khôn ngoan và uy lực, danh dự với vinh quang, cùng muôn lời chúc tụng!”. Bảy là con số chỉ sự viên mãn. Xa hơn một chút, chúng ta gặp lại lời chúc tụng khác cũng về bảy phẩm tính, mà cộng đoàn những người được tuyển chọn dâng lên cho chính Thiên Chúa: “A-men! Xin kính dâng Thiên Chúa chúng ta lời chúc tụng và vinh quang, sự khôn ngoan và lời tạ ơn, danh dự, uy quyền và sức mạnh, đến muôn thuở muôn đời! A-men!” (7: 12). Nếu Con Chiên đón nhận cùng một phụng thờ như thế, đó là một cách thức mới khẳng định thần tính của Ngài.
Cả triều thần thánh trên trời đều tán dương Con Chiên, như thế khẳng định thần học của thánh Phao-lô và thần học của tác giả thư gởi tín hữu Do thái: Chúa Ki-tô đã được đặt trên các thiên thần (cf. Ep 1: 21; Dt 1: 4-14).
3. Lời chúc tụng của các Con Vật và các Kỳ Mục và con số 4:
Chung quanh ngai có các Con Vật và các Kỳ Mục. Các Con Vật và các Kỳ Mục này đã được nêu lên và đã được mô tả trước đây. Các Con Vật được biểu tượng bởi con số bốn, con số có nghĩa vũ trụ (“bốn phương”). Chúng được mô tả có cánh, giống như con vật hay con người (4: 7), gần với bốn con vật có hình thù kỳ lạ nâng đỡ ngai Thiên Chúa trong thị kiến của ngôn sứ Ê-dê-ki-en (Ed 1: 18). Ở đây, chúng đại diện vũ trụ.
Các Kỳ Mục có tất cả là hai mươi bốn vị. Họ biểu thị mười hai chi tộc Ít-ra-en và mười hai Tông Đồ, tức là vừa Giao Ước Cũ vừa Giao Ước Mới; như vậy, hai mươi bốn Kỳ Mục muốn nói lên chỉ một Giao Ước duy nhất. Dù thế nào, họ thuộc về nhân loại và đã đóng vài trò của những người thờ phượng trong phụng vụ trước đó: mình mặc áo trắng, đầu đội triều thiên (4: 10-11). Họ cũng tôn thờ Con Chiên: “Các Kỳ Mục phủ phục xuống thờ lạy”.
4. Lời chúc tụng của muôn loài thọ tạo và con số 4:
Muôn loài thọ tạo trên trời, dưới đất, trong lòng đất và ngoài biển khơi đều tung hô Con Chiên. Vũ trụ được chỉ rõ bởi bốn miền. Bài thánh thi tung hô Con Chiên với bốn phẩm tính: “Xin kính dâng Đấng ngự trên ngai và Con Chiên lời chúc tụng cùng danh dự, vinh quang và quyền năng đến muôn thuở muôn đời!”.
5. Mầu nhiệm vượt qua:
Con Chiên được tôn thờ, tán dương, chúc tụng vì nó đã được sát tế. Tất cả mầu nhiệm vượt qua được tiềm ẩn ở nơi khía cạnh hy tế và cứu chuộc, rồi đến vinh quang, vinh quang mà Chúa Giê-su đã xin Cha Ngài trong lời cầu nguyện hiến tế của Ngài: “Vậy, lạy Cha, giờ đây, xin Cha tôn vinh con bên Cha : xin ban cho Con vinh quang mà con vẫn được hưởng bên Cha trước khi có thế gian” (Ga 17: 5).
6. Sứ điệp:
Ngoài phụng vụ tôn vinh Con Chiên – phản ảnh nào đó cuộc sống phụng vụ Giáo Hội – nổi bật sứ điệp then chốt của sách Khải Huyền: những người Ki tô hữu bị bách hại, dẫn đến cuộc tử đạo, chính họ là những con chiên bị sát tế, “bị đem đi làm thịt”; họ theo bước chân của Chúa Ki-tô; họ dự phần vào vận mệnh và vinh quang của Ngài. Lời hứa đã được ban cho họ một cách long trọng: “Ai thắng, Ta sẽ cho ngự bên Ta trên ngai của Ta, cũng như Ta đã thắng và ngự bên Cha Ta trên ngai của Người” (3: 21).
admin
11-04-2010, 04:59 PM
TIN MỪNG (Ga 21: 1-19)
Chương 21 Tin Mừng Gioan là phần phụ chương. Tác phẩm đã đóng lại rồi ở 20: 30-31: “Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được chép trong sách này. Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người”. Chung chung, người ta nghĩ rằng phần phụ chương này đã được thêm vào, hoặc bởi chính tác giả hay bởi một trong các môn đệ của ông.
Người ta nhận ra ở đây cách thức của Gioan: những thực tại được mô tả chất nặng những dấu chỉ đến mức chúng ban cho câu chuyện nghĩa thứ hai, tròn đầy hơn nghĩa của từ. Hai bài tường thuật theo nhau, nhưng có chung một đề tài: quyền tối thượng của thánh Phê-rô, lãnh tụ của Giáo Hội truyền giáo và mục tử của Giáo Hội được thiết lập trên tình yêu.
1. Cuộc hội ngộ bên biển hồ Ti-bê-ri-a miền Ga-li-lê:
Sau những cuộc gặp gỡ ban đầu với Đấng Phục Sinh ở Giê-ru-sa-lem, các Tông Đồ trở về Ga-li-lê. Về điểm này, thánh Gioan đồng thuận với thánh Mát-thêu. Theo thánh Mát-thêu, Đức Giê-su, vào lúc trên đường đến đồi Ô-liu, sau Bữa Tiệc Ly, đã nói với các môn đệ: “Đêm nay tất cả anh em sẽ vấp ngã vì Thầy. Vì có lời đã chép: Ta sẽ đánh người chăn chiên, và đàn chiên sẽ tan tác. Nhưng sau khi chỗi dậy, Thầy sẽ đến Ga-li-lê trước anh em” (Mt 26: 31-32). Thiên sứ đã lập lại sứ điệp này cho những người phụ nữ đến mồ: “Người đã chỗi dậy từ cõi chết, và Người đi trước các ông” (Mt 28: 6-7).
Không phải tất cả họ đều có mặt ở đó, nhưng những người có mặt là bảy người, con số chỉ sự viên mãn, và tất cả họ đều lên thuyền, thuyền của thánh Phê-rô. Người ta nhận ra rồi ở nơi tình tiết này ý nghĩa Giáo Hội.
Cũng giống như mẻ lưới cá lạ lùng thứ nhất được thánh Lu-ca tường thuật (Lc 5: 1-11), “Đêm ấy không bắt được gì cả”. Ấy vậy, những mẻ lưới ban đêm, theo kinh nghiệm nghề nghiệp, được xem là những mẻ lưới đánh nhiều cá hơn những mẻ lưới ban ngày.
2. Chúa Giê-su ở trên bờ:
“Khi trời đã sáng, Đức Giê-su đứng trên bãi biển”. Như thử Ngài là một khách bộ hành vui miệng hỏi thăm công việc của các ông như thế nào. Họ trả lời là chẳng bắt được gì cả. “Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, thì sẽ bắt được nhiều cá”. Lúc đó, họ đánh bắt được một mẻ lưới đầy những cá. “Người môn đệ Chúa yêu” nhận ra ngay chính Chúa đó. Trong Tin Mừng Gioan, độ nhạy bén và sự sáng suốt của con tim luôn luôn trổi vượt. Tuy nhiên, thánh Phê-rô là người phản ứng trước tiên: ông lao mình xuống nước; cũng vậy khi Đức Giê-su đi trên mặt biển sóng to gió lớn để đến với các ông, thánh nhân đã muốn đến gặp Ngài. “Thánh nhân vội khoắc áo vào vì đang ở trần”, đây là cách nói kinh thánh để chỉ tội lỗi, nỗi khốn cùng và sự xấu hổ.
Ở mẻ lưới cá lạ lùng thứ nhất, Đức Giê-su đã ở trong thuyền với các môn đệ của Ngài, trong khi ở mẻ lưới cá lạ lùng thứ hai, được định vị sau biến cố Phục Sinh, Đức Giê-su không còn ở giữa các môn đệ của Ngài nữa. Ngài ở bên kia bờ cuộc sống đời đời của Ngài rồi. Chỉ một mình các môn đệ của Ngài trên biển, theo truyền thống được xem như nơi trú ngụ của những quyền lực sự dữ. Tuy nhiên, Đức Giê-su hiện diện ở nơi những nỗi lo lắng của họ, Ngài hướng dẫn họ và chính sự can thiệp của Ngài cho công việc của họ đâm hoa kết trái. Biểu tượng Giáo Hội được xác nhận. Chúa Giê-su đã nói với thánh Phê-rô ngay từ mẻ lưới cá lạ lùng đầu tiên, từ ơn gọi đầu tiên của ông: “Từ nay anh sẽ là người chài lưới người” (Lc 5: 10).
3. Riêng một mình thánh Phê-rô:
Thánh Phê-rô một mình bơi vào bờ, trong khi các môn đệ khác chèo thuyền vào bờ kéo theo lưới đầy cá. Khi Chúa Giê-su bảo các ông đem ít cá mới vừa mới đánh bắt được đến đây, thì chỉ mình thánh Phê-rô lại xuống thuyền, rồi kéo lưới đầy cá lớn lên bờ, công việc vượt quá sức của một người, và lưới không bị rách. Chính nơi thánh Phê-rô mà Chúa Giê-su trao phó trách nhiệm hàng đầu đối với Giáo Hội của Ngài; chính thánh nhân phải dẫn đến với Chúa những ai mà sứ mạng truyền giáo đã thu phục được. Những ai đến với Đức Giê-su, thánh nhân có bổn phận ân cần săn sóc để không có bất kỳ một ai phải bị mất đi. Chính nhờ nhờ ân sủng mà lưới của Giáo Hội không bị rách. Ấy vậy, thời điểm được xác định ngay từ đầu câu chuyện: “trời đã sáng”, hình ảnh rất tâm đắc của thánh Gioan; đây là giờ ánh sáng, giờ cứu độ.
Còn con số “một trăm năm mươi ba con” vẫn còn bí ẩn. Thánh Giê-rôm giải thích con số này vào thời của thánh nhân, các nhà động vật học liệt kê được một trăm năm mươi ba loài cá. Như vậy, qua con số biểu tượng này, tác giả ám chỉ đến công việc truyền giáo các tông đồ sẽ thực hiện theo lệnh của Đức Ki-tô dưới sự hướng dẫn của thánh Phê-rô, đồng thời tác giả cũng tiên báo công trình ấy sẽ đem muôn dân muôn nước về với Đức Ki-tô.
4. Bữa ăn của Chúa:
Biết các môn đệ vất vả suốt đêm trong cái lạnh của nước và gió, Đức Giê-su chuẩn bị sẵn cho các ông một bếp than hồng để sưởi ấm và một bữa ăn để no lòng. Tất cả đã sẵn sàng : « Anh em đến mà ăn ». Bữa ăn gồm bánh và cá, hai yếu tố này xem ra không phù hợp với bàn tiệc Thánh Thể, tuy nhiên biểu thức : « Đức Giê-su cầm lấy bánh và trao cho các môn đệ ăn » rõ ràng là biểu thức của bàn tiệc Thánh Thể. Hơn nữa vào thời Giáo Hội tiên khởi « bánh » và « cá » biểu tượng Thánh Thể.
« Mẻ cá lạ lùng » và « bữa ăn của Chúa » diễn tả hai khía cạnh bất khả phân của thực tại Giáo Hội : hoạt động truyền giáo và bàn tiệc Thánh Thể. Giáo Hội được mời gọi nối tiếp sứ mạng của Đức Giê-su, loan báo Tin Mừng cứu độ cho muôn dân. Đây là một công việc đòi hỏi nhiều nổi gian nan vất vả như cuộc đời của Đức Giê-su đã cho thấy. Chính vì thế Chúa Giê-su đã dọn sẵn cho các môn đệ của Ngài bữa ăn của Ngài để sưởi ấm lòng mến của các ông và nuôi dưỡng ý chí kiên vững của các ông trong sứ mạng.
Những người khác nhận ra ở nơi bữa ăn của Chúa trên bờ biển này dấu chỉ bàn tiệc cánh chung mà Thiên Chúa sẽ thiết đãi những tôi trung của Ngài. Các ngôn sứ đã loan báo rồi. Chúa Giê-su cũng đã hứa với các môn đệ Ngài: “Thầy sẽ trao Vương Quốc cho anh em, như Cha Thầy đã trao cho Thầy, để anh em được đồng bàn ăn uống với Thầy trong Vương Quốc của Thầy…” (Lc 22: 30), và Ngài đã xác định rằng chủ sẽ đích thân phục vụ những tôi trung của mình: “Thầy bảo thật anh em: chủ sẽ thắt lưng, đưa họ vào bàn ăn, và đến bên từng người mà phục vụ” (Lc 12: 37). Bàn tiệc cánh chung là hình ảnh của niềm hoan lạc, đồng thời diễn tả mối tâm giao với Chúa.
5. Cuộc Tấn Phong của thánh Phê-rô:
Sau đó diễn ra một cuộc đối thoại thật cảm động giữa Chúa Giê-su và thánh Phê-rô. Chúa Giê-su long trọng hỏi thánh Phê-rô ba lần cùng một câu hỏi: “Này “anh Si-mon, con ông Gioan, anh có yêu mến Thầy hơn các anh em này không?”, và cả ba lần thánh nhân đều khẳng định là mình yêu mến Thầy. Như vậy, thánh nhân ba lần được tấn phong, và đồng thời ba lần thánh nhân được khôi phục lại vì trước đây thánh nhân đã chối Thầy cũng ba lần.
Hơn nữa, có một sắc thái ngữ nghĩa giữa hai động từ Hy lạp: “agapao”: diễn tả một tình yêu cho đến mức sẵn sàng chết cho người mình yêu, và “phileo”: diễn tả tình bằng hữu. Hai lần đầu, Chúa Giê-su hỏi thánh nhân với động từ “agapao”, nghĩa là Ngài đòi hỏi thánh nhân yêu mến Ngài đến mức dám chết cho Ngài. Tuy nhiên, cả ba lần thánh nhân điều trả lời cho Thầy với cùng một động từ “phileo”, nghĩa là, từ kinh nghiệm mình đã chối Thầy ba lần, thánh nhân không dám hứa với Thầy rằng thánh nhân yêu mến với động từ “agapao”, nhưng chỉ với động từ “phileo”. Vì thế, đến lần thứ ba, một cách tế nhị, Chúa Giê-su hạ mức độ đòi hỏi lòng yêu mến của thánh nhân đối với Ngài xuống cho ngang tầm với yêu cầu của thánh nhân khi hỏi thánh nhân với động từ “phileo”. Chính với câu hỏi lần thứ ba này, thánh nhân buồn vì mình không thể đáp trả lòng mến của mình đối với Thầy trên cùng mức độ “agapao” như Chúa muốn.
6. Cuộc tấn phong được thiết lập trên niềm tin:
Trước đây, Đức Giê-su đã long trọng tấn phong thánh Phê-rô làm lãnh tụ Giáo Hội Ngài; nhưng Ngài đã thiết lập cuộc tấn phong này trên niềm tin của thánh Tông Đồ. Sau lời tuyên xưng của thánh Phê-rô ở Xe-da-rê, Chúa Giê-su đã hứa với ông là trao cho cho ông “chìa khóa Nước Trời” (Mt 16: 19). Trước khi tiên báo việc ông chối Thầy, Chúa Giê-su đã nói với thánh Phê-rô: “Thầy cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho anh em mình nên vững mạnh” (Lc 22: 32). Hơn ai hết, thánh Phê-rô ý thức sự yếu đuối ngay chính trong bản thân mình: đã ba lần mình đã chối Thầy; vì thế ông phải có thái độ bao dung, nhân ái và độ lượng với những yếu đuối của anh em mình, như Đức Giê-su cư xử bao dung, nhân ái và độ lượng với thánh nhân. Chính lần thứ ba, với cung giọng buồn buồn, thánh nhân trả lời: “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự, Thầy biết con yêu mến Thầy”, nghĩa là, “Lạy Thầy, con đã chối Thầy; nhưng ngay cả khi vì yếu đuối mà con chối Thầy đi nữa, thì Thầy cũng biết rõ tự thâm tâm con không bao giờ ngừng yêu mến Thầy”.
7. Cuộc tấn phong được thiết lập trên tình yêu:
Đức Giê-su Phục Sinh tấn phong thánh Phê-rô căn cứ trên “tình yêu”. Cho đến lúc đó, Ngài đã cho ông thấy rằng Ngài đã yêu mến Giáo Hội Ngài và toàn thể nhân loại đến mức hy sinh mạng sống mình. Chính một tình yêu tương tự mà Ngài đòi hỏi thánh Phê-rô khi đặt ông lên làm “mục tử đàn chiên của Ngài”. Một tình y