PDA

View Full Version : Đấu tranh cho nền văn hóa sự sống


admin
05-12-2009, 11:45 AM
Đấu tranh cho nền văn hóa sự sống
Bài suy tư của Đức Tổng Giám Mục (TGM) Raymond L. Burke, D.D., J.C.D., Chánh Án Toà Án Tối Cao

Bài suy tư này được phát biểu ngày 18 tháng 9 năm 2009, trong Bữa Tối nhân kỷ niệm 14 năm thành lập ‘InsideCatholic,’ một nhóm chủ trương gióng lên tiếng nói Công giáo chân chính về đức tin, văn hoá lẫn chính trị giữa dòng đời hôm nay tại đất nước này ( Xem http://insidecatholic.com, ngày 26 tháng 9 năm 2009 (http://insidecatholic.com,%20ngày%2026%20tháng%209%20năm%202009/))

Chúng ta đang trải qua một thời kỳ đấu tranh căng thẳng và có tính quyết định trong việc đẩy mạnh nền văn hóa sự sống tại đất nước này. Chính quyền liên bang đang công khai và hùng hổ theo đuổi một nghị trình duy thế tục. Cho dù họ vẫn sử dụng ngôn từ tôn giáo, kể cả việc kêu cầu danh thánh Chúa, họ vẫn đề xướng các chương trình và chính sách cho toàn dân mà không hề tỏ dấu kiêng nể Thiên Chúa và Luật lệ của Ngài. Nói theo ngôn ngữ của Tôi tớ Chúa, Đức Giáo Hoàng (ĐGH) Gioan-Phaolô II, thì họ cứ thẳng tiến “y như thể Thiên Chúa không hề hiện hữu” (xem Tông Huấn ‘Christifideles Laici’--Về Ơn Gọi và Sứ Mệnh của Giáo Dân trong Giáo Hội và thế giới,” ngày 30 tháng 12 năm 1988, số 34).

Cùng lúc ấy, lại thấy thiếu sự hợp nhất giữa những người đang hiến thân đẩy mạnh một nền văn hóa hoàn toàn trân quý món quà sự sống và tôn trọng nguồn gốc của nó là sự sinh sản, nghĩa là trong sự hợp tác của người nam và người nữ với Thiên Chúa qua sự kết hợp vợ chồng cũng như qua việc giáo dục tại gia, thành quả hôn nhân của họ. Những xôn xao mới đây, khởi đi từ tang lễ cố Thượng Nghị Sĩ Edward M. Kennedy, đã cho thấy mối bất đồng sâu xa, kể cả những phê phán gay gắt, ngay giữa những người công khai dấn thân cho Tin Mừng Sự Sống.

Vì cùng chia sẻ sự cam kết nuôi dưỡng lòng tôn trọng sự sống con người và sự toàn vẹn của hôn nhân và gia đình, tôi xin cống hiến một vài suy tư nền tảng về phương cách đẩy mạnh nền văn hóa sự sống trong đất nước chúng ta. Những suy tư này không hề bao quát tất cả. Tôi chỉ hy vọng rằng, tuy nhỏ bé và khiêm tốn, những suy tư này có thể giúp chúng ta vừa gửi được Tin Mừng Sự Sống một cách hữu hiệu đến cho giới lãnh đạo chính trị của chúng ta, lại vừa gây được tình hợp nhất với tất cả những ai đang thực sự hiến thân nhằm thăng tiến lòng tôn trọng sự sống con người và sự toàn vẹn của hôn nhân cùng với hoa trái của nó là đời sống gia đình.

Sau cùng, như một lời giới thiệu, tôi muốn liên kết những suy tư này lại với Thông Điệp ‘Caritas in Veritate’—“Về Sự Phát Triển Con Người Toàn Diện trong Bác Ái và Chân Lý--BACL”--của ĐGH Bênêđictô XVI, gửi ra ngày 29 tháng Sáu năm 2009. Tôi cho rằng việc phát triển mà Chúa nhắm đến khi tạo dựng con người đã được thành tựu trong sự thiết lập nền văn hóa sự sống. Đây là lời của chính ĐGH Bênêđictô XVI: “Vì thế, bác ái và chân lý đặt chúng ta trước một trách nhiệm hoàn toàn mới và đầy sức sáng tạo, chắc chắn sẽ rộng lớn và phức tạp. Đó là phải khai triển lý trí và giúp lý trí có khả năng nhận ra và hướng dẫn những năng động mới đầy ấn tượng, bằng cách linh động hóa những sức mạnh này từ bên trong theo viễn tượng nền “văn minh tình thương” mà Thiên Chúa đã gieo trong mỗi dân tộc và trong mỗi nền văn hóa.” (BACL số 33--Bản dịch của: UB Giáo Lý Đức Tin & TT Mục Vụ TGP Saigon)

Nỗ lực không mỏi mệt của chúng ta để cổ súy nền văn hóa sự sống phải thực sự đáp lại đúng nguyện vọng sâu xa nhất nơi mỗi người, và nơi mỗi xã hội. Nó khai mở và chuẩn bị “một trời mới và đất mới” mà Chúa Giêsu Kitô sẽ khai mạc khi Ngài lại đến (Khải Huyền 21:1).

HOÀN CẢNH GỢI SUY TƯ

Hoàn cảnh khơi gợi những suy tư này là sự thật (cho rằng) cuộc đấu tranh chống lại sự tục hóa toàn diện của quốc gia này thì hoàn toàn vô ích, chẳng có cách gì thành công được. Tại đất nước này, bất chấp tình huống bi thảm của việc tấn công vào những trẻ thơ vô tội, phá hủy đời sống của những kẻ không thể tự vệ được cũng như trực tiếp đánh thẳng vào sự toàn vẹn của hôn nhân xét như sự kết hợp của người nam và người nữ trong mối dây tình yêu trọn đời, thủy chung và tạo sinh, vẫn còn đó một tiếng nói vững mạnh vang lên nhằm bảo vệ những người anh chị em nhỏ bé nhất và dễ tổn thương nhất của chúng ta—không ranh giới, không luật trừ--cũng như bảo vệ chân lý về sự kết hợp phu thê như đã được Thiên Chúa tạo dựng ngay từ đầu. Tiếng nói Kitô giáo, tiếng nói của Chúa Kitô, nhờ các Tông Đồ thông truyền, vẫn còn vang vọng mãnh liệt tại đất nước này. Đó cũng là tiếng nói của những người có lòng thiện tâm—nam cũng như nữ--những người biết nhìn nhận và tuân thủ luật lệ của Thiên Chúa vốn đã được ghi khắc vào tâm khảm của mỗi chúng ta.

Là một người đang sống tại Âu Châu, bên ngoài đất nước Hoa Kỳ, tôi có thể tuyên bố không một chút do dự rằng: khi nhận ra vụ phá sản nhân bản của nền văn hóa duy thế tục, nhiều người đang đặt kỳ vọng vào quốc gia Hoa Kỳ, với hy vọng rằng dân tộc chúng ta sẽ tái lập và canh tân những nền móng dân chủ mang đầy chất Kitô giáo và đầy niềm kính úy đối với Thiên Chúa. Thiên Chúa đã tạo dựng nên ta để ta chọn lựa sự sống; Chúa Con Nhập Thể đã mang lại cuộc chiến thắng của sự sống, cuộc chiến thắng trên tội lỗi và nỗi chết đời đời (x. Dt 30:19; Jn 10:10). Do đó, chúng ta không bao giờ đầu hàng cuộc đấu tranh nhằm đẩy mạnh nền văn hóa chọn lựa sự sống, điều Thiên Chúa đã khắc ghi vào tâm khảm ta, cũng như đấu tranh dành chiến thắng cho sự sống, điều Chúa Kitô đã đắc thủ nơi bản tính con người. Quả vậy, hàng ngày chúng ta đều chứng kiến những người Hoa Kỳ có lòng kính sợ Chúa biết dấn thân vào công cuộc thăng tiến lý tưởng về sự sống và gia đình ngay trong gia đình mình, hoặc nơi cộng đoàn địa phương cũng như trong toàn thể quốc gia này.

Về phần các nền tảng dân chủ, đôi khi có nhận định rằng, cho dù các vị có công lập quốc đã sử dụng ngôn từ tôn giáo, nhưng niềm tin của các vị ấy lại không phải hoàn toàn mang tính Kitô giáo, theo nghĩa là nó đã mang đậm tầm ảnh hưởng triết lý duy thế tục của thời kỳ Ánh Sáng. Nói khác đi, cho dù tin Chúa, các vị ấy vẫn hiểu rằng Ngài ở xa con người và thế giới, để mặc con người tự nhiên sống theo bản tính của mình, tự tạo lấy mình và cải tạo thế giới này. Một cách đặc thù, cái lập trường cho rằng quốc gia chúng ta đây không thực sự được xây dựng trên nền móng đức tin vào Thiên Chúa, lập trường này phải được kiểm nhận bằng ngôn ngữ của Hiến Pháp Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, trong đó không hề thấy đả động gì đến Danh Thiên Chúa cũng như Luật Pháp của Ngài. Lập trường này thường được dùng để xác nhận rằng nền móng của quốc gia chúng ta đây không hề được xây dựng trên luật luân lý tự nhiên, mà trên nền tảng là nguyện vọng của đại đa số quần chúng thời ấy, phù hợp với một nền triết lý duy lý và duy thế tục.

Dù các nhà lập quốc có riêng một thứ triết lý nào chăng nữa, sự thực rõ ràng vẫn là: điều đã khởi hứng cho việc lập quốc chính là một niềm tin đã được cống bố dõng dạc, niềm tin vào Thiên Chúa và niềm tin tưởng nơi các quyền bất khả nhượng mà Thiên Chúa đã phú ban cho con người, như đã được diễn đạt trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 4 tháng 7 năm 1776. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập minh chứng rằng chính phủ hiện hữu để bảo vệ các quyền bất khả nhượng của con người, vốn phát nguồn từ nơi Thiên Chúa và được Luật Ngài bảo vệ. Các vị đại diện đất nước chúng ta, ngay từ đầu, đã kết luận Bản Tuyên Ngôn Độc Lập với lời kêu cầu “Vị Thẩm Phán Tối Cao của trần thế” và “với niềm tin kiên cường vào sự hỗ trợ của Thiên Chúa Quan Phòng,” các vị đã cam kết cùng nhau dành cả đời sống, của cải, và danh vọng làm bảo chứng cho tất cả những gì mình đã tuyên bố. Bởi thế, cho dù liên tục bị ảnh hưởng dữ dội của trào lưu tục hóa, các công dân đất nước chúng ta vẫn trung kiên biểu lộ niềm tin vào Thiên Chúa và phó thác cho sự quan phòng của Ngài. Niềm tin và hy vọng cũng giúp họ, như đã từng giúp các nhà lập quốc, sẵn sàng hiến mạng để bảo vệ các quyền mà Chúa đã ban cho mình, đó là quyền “sống, tự do, và theo đuổi hạnh phúc.” Chối bỏ nền tảng Kitô giáo trong dòng sinh mệnh của quốc gia chúng ta tức là chối bỏ chính dòng lịch sử của ta vậy.

Mô tả khung cảnh khơi gợi những dòng suy tư này, tôi không hề muốn chối bỏ sự đóng góp của các tôn giáo bạn và của những người thiện chí đã cống hiến cho dòng sinh mệnh quốc gia. Thừa nhận niềm tin Kitô giáo đã gây cảm hứng cho việc lập quốc và kiến quốc không đồng nghĩa với việc tuyên bố phải nhẫn nhục chịu đựng đối với những vị ngoài Kitô giáo. Bởi lẽ, tự bản chất của niềm tin Kitô giáo là tình thương đối với con người, một tình thương vượt mọi biên cương và không loại trừ bất kỳ ai. Luật Vàng mà Chúa Giêsu đã dậy cho thấy người Kitô hữu yêu thương mọi người, bất chấp biên cương, không hề loại trừ ai (x. Mt 7:12). Với người Kitô hữu, việc chấp nhận những người không cùng chung tín ngưỡng không hề là vấn đề nhẫn nhục chịu đựng, mà là tình thương dính liền với chân lý của niềm tin trong khi tôn trọng tín ngưỡng của những người không thuộc Kitô giáo, miễn là tín ngưỡng này cùng nhất quán trong luật luân lý tự nhiên, nghĩa là phù hợp với sự tôn trọng các quyền bất khả nhượng mà Thiên Chúa đã phú ban cho con người. Tình thương Kitô hữu không hề xây dựng trên sự nhẫn nhục mù quáng đối với tha nhân, đối với những suy nghĩ, nói năng, và hành động của họ, mà là xây dựng trên nền tảng hiểu biết sâu xa đối với người khác, với tín ngưỡng của họ, và việc nhìn nhận một cách lương thiện các khác biệt trong tín ngưỡng, nhất là trong điều có thể đem lại sự thỏa hiệp trong nếp sinh hoạt của quốc gia chúng ta.

Bối cảnh thứ hai khơi gợi các suy tư của tôi chính là mối liên hệ then chốt giữa việc tôn trọng sự sống con người và sự toàn vẹn của hôn nhân và gia đinh. Việc tấn công vào mạng sống các trẻ em chưa được sinh ra, hoàn toàn vô tội, và chưa hề biết tự vệ khởi phát từ một quan điểm sai lạc về tính dục con người, đưa đến việc sử dụng các phương tiện cơ giới hoặc hóa học để triệt hạ bản chất sinh sản thiết yếu của hành vi vợ chồng. Sự sai lạc là cho rằng hành vi vợ chồng--vốn đã bị xoay lệch đi một cách ngụy tạo--vẫn còn giữ được tính toàn vẹn của nó. Ngụy biện nằm ở chỗ bảo rằng hành vi vợ chồng ấy vẫn mang nặng tính kết hợp trong khi bản chất sinh sản đã bị xâm phạm một cách trắng trợn. Thực ra, hành vi ấy không hề mang tính kết hợp, do bởi một hoặc cả hai người phối ngẫu đều giữ lại cái phần thiết yếu của món quà vốn là căn cốt của việc kết hợp vợ chồng. Cái não trạng mệnh danh là “ngừa thai ” thì đích thị chống lại sự sống. Rất nhiều hình thức mệnh danh là ngừa thai--mà thực chất chỉ là phá thai—nghĩa là, ngay từ đầu đã hủy hoại đi một mầm sống vừa mới tượng hình.

Việc lạm dụng hành vi vợ chồng, như ĐGH Phaolô VI tiên báo, đã dẫn đến nhiều hình thức bạo hành nhắm vào đời sống hôn nhân và gia đinh (x. Humanae Vitae, số 17). Khi não trạng ngừa thai đã lan tràn, nhất là giữa giới trẻ, thì tính dục con người không còn được coi là món quà của Thiên Chúa nữa, hiểu như điều lôi kéo nam nữ đến với nhau, trong mối dây tình yêu chung thủy trọn đời, mà tột đỉnh là món quà của một mầm sống mới được khai sinh. Tính dục chỉ còn là một dụng cụ thỏa mãn cá nhân. Một khi sự kết hợp tính dục không còn được nhìn nhận đúng như bản chất của nó là sinh sản nữa, thì tính dục con người sẽ bị lạm dụng bằng nhiều cách thức, đưa đến thiệt hại sâu xa, có khi còn hủy hoại con người và cả xã hội nữa. Cứ thử nghĩ đến sự tác hại mà nền kỹ nghệ tranh ảnh khỏa thân trị giá hàng triệu Mỹ Kim đang gây ra cho đất nước này mà xem. Muốn thăng tiến nền văn hóa sự sống, điều thiết yếu chính là công bố sự thật về việc kết hợp vợ chồng, bao hàm đủ mọi khía cạnh, đồng thời sửa sai cái lối ‘suy nghĩ ngừa thai’ đang làm cho người ta hãi sợ sự sống, e ngại sanh đẻ. Đó chính là điều ĐGH Bênêđíctô XVI đã ghi nhận trong Thông điệp “Bác Ái trong Chân Lý”, khi ngài nói đến Thông Điệp “Humanae Vitae” của ĐGH Gioan-Phaolô II, và nhấn mạnh đến tầm quan trọng của “việc nói lên nội dung sự phát triển con người toàn diện theo đề nghị của Giáo hội (BACL, số 15). ĐGH Bênêđictô XVI minh định rằng giáo huấn trong ‘Humanae Vitae’ “không phải chỉ là luân lý cá nhân,” mà còn “cho thấy những liên hệ chặt chẽ giữa đạo đức của sự sống và đạo đức xã hội, khai mở một đề tài giáo huấn được triển khai trong nhiều tài liệu của huấn quyền, và mới đây nhất, trong Thông điệp Evangelium Vitae—Tin Mừng Sự Sống--của ĐGH Gioan-Phaolô II.

Ngài nhắc nhở chúng ta một điểm then chốt: một nhận thức đúng đắn về tính dục chỉ có thể có được trong sự phát triển con người toàn diện. Nói về vấn đề sinh sản, ngài nhấn mạnh đến tầm quan trọng của nhận thức đúng đắn về tính dục, hôn nhân và gia đình, như sau: “Vì quan tâm đến sự phát triển đích thực của con người, Giáo hội thúc giục con người phải tôn trọng đầy đủ những giá trị nhân bản trong hành động tính dục. Tính dục không thể bị giảm thiểu thành khoái lạc hay giải trí thuần túy, cũng thế, giáo dục phái tính không thể chỉ là hướng dẫn về kỹ thuật với mục đích duy nhất là làm sao khỏi bị bệnh và tránh được “nguy cơ” thụ thai. Làm như thế là coi thường và nghèo nàn hóa ý nghĩa sâu xa của tính dục, vốn là ý nghĩa cần phải được nhìn nhận và thực hiện cách có trách nhiệm, không những đối với các cá nhân mà cả với cộng đồng (BACL, số 44).

(còn tiếp hai kỳ, Nguyễn Kim Ngân chuyển ngữ)

Ngày 10/29/09 Kính nhớ Á Thánh Don Rua, người đầu tiên kế vị Cha Thánh Gioan Bosco

admin
05-12-2009, 11:55 AM
ĐỨC TIN VÀ ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ

Về đức tin và đời sống chính trị, tại đất nước chúng ta hiện đang nẩy sinh một thứ ý niệm sai lạc rằng: để trở thành một công dân thực thụ, người Kitô hữu hoặc bất kỳ ai có niềm tin đều phải tách rời đời sống đức tin ra khỏi đời sống chính trị. Theo lối này, thì người Kitô hữu--về phương diện cá nhân, vì là thành viên trung thành của Giáo Hội--do đó cũng phải tuân giữ những đòi hỏi của luật luân lý tự nhiên. Thế nhưng, trong đời sống chính trị, họ lại ngang nhiên hỗ trợ và bênh vực cái quyền được vi phạm luật luân lý đến tận cái cốt lõi và nền móng sâu xa nhất. Chính vì thế mà ta chứng kiến những vị tự nhận là Công giáo mà lại năng nổ bênh vực và hết mình hỗ trợ cho người phụ nữ có quyền sinh sát đối với cái bào thai trong bụng mình, hoặc cho hai người đồng tính có quyền được Tiểu Bang nhìn nhận y hệt như một người nam và một người nữ trong đời sống hôn nhân. Một người Công giáo chân chính không thể hành xử như thế trong đời sống chính trị.

Lối hành xử ấy cũng không phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của quốc gia và chính phủ chúng ta. Cho dù Tu Chính Án Thứ Nhất bảo đảm quyền tự do tôn giáo, ngăn cấm những việc thực hành công khai có tính cách thuần túy tuyên tín, nhưng nó vẫn nuôi dưỡng việc giáo huấn và tuân giữ luật luân lý, mà ai cũng công nhận, bởi nó nằm trong chính trọng tâm của mọi tôn giáo chân chính. Còn có thể gọi là chính quyền nữa hay không, nếu họ yêu cầu các công dân cũng như giới lãnh đạo chính trị cứ việc hành xử mà không cần tham chiếu những đòi hỏi căn bản của luật luân lý?

Cho dù tôn giáo chân chính giảng dậy luật luân lý tự nhiên, nhưng việc tuân giữ luật luân lý lại không phải là một việc thực hành mang tính chất tuyên tín. Đúng ra, đó là lời đáp trả cho điều đã khắc sâu trong đáy tim con người. Niềm tin tôn giáo chỉ phát biểu luật luân lý tự nhiên, khiến cho những con người của lòng tin biết sẵn sàng hơn nữa để nhận ra điều bản tính nhân loại và bản tính sự vật đòi hỏi, cũng như sống sao cho phù hợp với chân lý mình đã nhìn nhận. Vì lẽ đó, các nhà lập quốc của chúng ta đã thừa nhận tầm quan trọng của niềm tin tôn giáo tác động trên nhịp sống của toàn quốc gia. Quả thế, quyền tự do tôn giáo nhắm đến việc bảo vệ và thực hành niềm tin tôn giáo vì lợi ích chung. Trong Thông Điệp “Caritas in Veritate”, ĐGH đã nhắc nhở ta rằng: “Kitô giáo và các tôn giáo khác có thể đóng góp phần mình vào sự phát triển, khi Thiên Chúa có được vị trí của Người trong lãnh vực công cộng, điều này bao gồm những chiều kích văn hóa, xã hội, kinh tế và đặc biệt chính trị. Giáo huấn xã hội của Giáo hội được hình thành để đòi “quyền công dân” của Kitô giáo. Việc phủ nhận quyền tuyên xưng đức tin nơi công cộng và quyền đem ra thực hành những chân lý đức tin tác động trên đời sống công cộng, sẽ mang theo những hậu quả tiêu cực cho việc phát triển đích thực. Việc loại bỏ tôn giáo ra khỏi bình diện công cộng – và ở một cực đoan khác là chủ trương bảo thủ cực đoan – sẽ ngăn cản việc gặp gỡ giữa con người và sự cộng tác của họ cho sự tiến triển nhân loại. Đời sống công cộng sẽ nghèo nàn và chính trị sẽ mang bộ mặt đàn áp và gây hấn. Nhân quyền sẽ gặp nguy hiểm vì không còn được tôn trọng, hoặc vì nền tảng siêu việt của nhân quyền bị cướp mất hay vì sự tự do của con người không được công nhận. Cả chủ thuyết thế tục hóa lẫn chủ trương bảo thủ cực đoan đều làm cho con người mất khả năng có được một sự đối thoại đầy hiệu năng và sự cộng tác đầy thắng lợi giữa lý trí và niềm tin tôn giáo. Lý trí luôn cần được đức tin thanh luyện, điều này cũng áp dụng cho lý trí chính trị, thứ lý trí này không được phép cho mình là toàn năng. Mặt khác, tôn giáo cũng cần để lý trí thanh luyện, để có thể bày tỏ khuôn mặt mang tính nhân bản đích thực. Sự đổ vỡ cuộc đối thoại này phải trả một giá đắt cho sự phát triển nhân loại.” (số 56)

Hiện nay, tại quốc gia này, niềm tin Kitô giáo đang mang một trọng trách là phát biểu minh bạch luật luân lý tự nhiên cũng như những đòi hỏi của nó. Do ảnh hưởng liên lỉ của một thứ triết học duy lý và duy thế tục, vốn lấy con người--chứ không phải Thiên Chúa—làm thước đo tối hậu cho cái tốt và cái đẹp, ta như bị hoang mang bối rối khi đối diện với các chân lý căn bản nhất, tỉ như phẩm giá bất khả xâm phạm của đời sống con người vô tội, từ giây phút đầu thai cho đến khi nhắm mắt chết tự nhiên, cũng như sự toàn vẹn của hôn nhân giữa một người nam và người nữ xét như tế bào tiên khởi và bất khả thay thế của đời sống xã hội. Khi không phát biểu và tuân thủ luật luân lý tự nhiên, người Kitô hữu đã không làm tròn bổn phận của người công dân yêu nước bằng việc phục vụ công ích. ĐGH Bênêđictô XVI nhắc nhở ta rằng “luật luân lý tự nhiên phổ quát là nền tảng vững chắc cho một cuộc đối thoại mang tính chất văn hóa, tôn giáo và chính trị, chấp nhận một sự đa nguyên, đa dạng của nhiều nền văn hóa khác nhau, hợp tác để cùng nhau tìm những gì là chân, thiện và Thiên Chúa.” (BACL số 59) Khi nói đến nhược điểm của nền văn hóa hiện nay, tức là “một lương tâm không còn nhận ra đâu là tính nhân bản nữa,” ĐGH Bênêđictô XVI đã tuyên bố: “Thiên Chúa mạc khải con người cho chính họ; lý trí và đức tin có thể sát cánh trong việc chứng minh cho chúng ta biết điều gì là tốt, miễn là chúng ta muốn thấy; luật tự nhiên là nơi mà Lý trí sáng tạo chiếu soi, luật ấy mạc khải sự vĩ đại của chúng ta nhưng cũng cho ta thấy sự khốn cùng của con người khi nó không nhận biết tiếng gọi của sự thật luân lý.” (BACL, số 75)

THỰC TẠI CỦA CỚ VẤP PHẠM

Khi nhìn nhận trách nhiệm của người Kitô hữu cũng như của những con người thành tâm trong việc phát biểu và tuân thủ luật luân lý, chúng ta cũng nhìn nhận thực tại của cớ vấp phạm mà một số những Kitô hữu không tuân thủ luật luân lý này trong đời sống công khai. Một khi đã tự nhận là Kitô hữu mà đồng thời lại ủng hộ các chính sách cho phép sát hại mạng sống của người vô tội và không có khả năng tự vệ, hoặc yểm trợ các luật lệ cho phép xâm phạm sự toàn vẹn của hôn nhân và gia đình, thì các công dân ấy đã tỏ ra hoang mang dẫn tới những sai lạc về các điều khoản của luật luân lý. Hiện nay người ta rất ngại khi phải đề cập tới cớ vấp phạm, coi nó chỉ như một hiện tượng xẩy ra cho những người có đầu óc nhỏ mọn và u mê, để rồi trở thành một thứ dụng cụ họ dùng để kết án người khác một cách sai lầm. Hẳn nhiên là cũng có loại cớ vấp phạm của người biệt phái, nghĩa là, cắt nghĩa với ác ý về một sự thiện luân lý hoặc về các hành vi của người khác vốn chẳng dính dáng gì đến luân lý cả. Đó là trường hợp “gương mù” theo lối hiểu của nhóm Biệt Phái khi Chúa Giêsu, trong ngày Sabbat, đã chữa lành cho người mù từ thuở mới sinh (x. Jn 9:13-34).

Nhưng có cả gương mù đúng nghĩa nữa, đó là dùng lời nói, hành động, cũng như những hành vi thiếu sót, dẫn đến hoang mang, sai lầm, và tội lỗi. Chúa Giêsu đã có thái độ rõ ràng dứt khoát khi lên án những kẻ gieo rắc hoang mang và dùng hành động đưa người khác vào vòng tội lỗi. Chúa đã giáo huấn các môn đệ về vấn đề cám dỗ như thế này: “Không thể không có những cớ làm cho người ta vấp ngã; nhuưg khốn cho kẻ làm cớ cho người ta vấp ngã! Thà buộc cối đá lớn vào cổ nó và xô nó xuống biển còn lợi cho nó hơn là để nó làm cớ cho một trong những kẻ bé nhỏ này vấp ngã.” (Lk 17:1-2)

Rõ ràng là Chúa Giêsu đã dậy phải hết sức thận trọng, cân nhắc những hệ quả nặng nề nhất trong việc xa tránh cớ vấp phạm—nghĩa là hành vi hoặc sự thiếu sót nào có thể đưa người khác vào vòng tội lỗi. Lời Chúa—như đã thấy trên--thật hết sức cứng rắn.

Sự kiện những người Công giáo, trong đời sống công khai, liên tục vi phạm luật luân lý liên quan đến tính bất khả xâm phạm của sự sống con người hoặc sự toàn vẹn của sự kết hợp phu thê, đã khiến nhiều người tỏ ra hoang mang, thậm chí còn có quan niệm sai lạc về những giáo huấn luân lý nền tảng nhất. Nếu ta làm ngơ sự kiện này thì sẽ càng gây thêm hoang mang lầm lạc, càng gia tăng sự thiệt hại nghiêm trọng đối với các người anh chị em, và cho toàn thể quốc gia dân tộc. Vì lý do đó, và còn nhiều lý do khác nữa, kỷ luật xưa nay của Hội Thánh là cấm không cho tham dự phần Hiệp Lễ cũng như được phép an táng trong thánh đường đối với những ai, sau khi được khuyến cáo, mà vẫn tiếp tục vi phạm luật luân lý một cách nghiêm trọng (Giáo Luật, cann. 915; và 1184, §1, 3º).

Có người cho rằng những loại kỷ luật vừa nói—Giáo Hội đã liên lỉ áp dụng qua hàng bao thế kỷ nay rồi--thực ra chỉ đến sau sự phán xét về phần rỗi đời đời của một linh hồn, điều này hoàn toàn là quyền duy nhất của Chúa, do đó phải được bãi bỏ. Không phải thế đâu, điều trái ngược lại mới đúng. Các kỷ luật này không hề là sự phán xét về phần rỗi đời đời của một linh hồn, mà là sự thừa nhận chân lý khách quan này là: các hành vi công khai của linh hồn ấy đã rõ rang vi phạm luật luân lý, làm phương hại cho chính người ấy, và di hại nghiêm trọng cho tất cả những ai đã đi đến chỗ hoang mang hoặc sai lầm do bởi các hành vi của người ấy. Hội thánh trao phó mỗi linh hồn cho lòng thương xót Chúa--điều này vượt xa trí tưởng của ta—nhưng không vì thế mà Giáo hội được miễn khỏi việc công bố sự thật của luật luân lý, cho dù phải dùng đến biện pháp kỷ luật xưa cũ, vì lợi ích phần rỗi của mọi người.

Khi một ai đó công khai yểm trợ và hợp tác với các hành vi tội lỗi nghiêm trọng, khiến cho nhiều người đi đến chỗ hoang mang, lầm lạc về các vấn nạn nền tảng như tôn trọng sự sống con người và sự toàn vẹn của hôn nhân và gia đình, thì sự thống hối của người ấy cũng phải được công khai hóa. Người ấy phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về cớ vấp phạm nghiêm trọng mình đã gây ra. Trách nhiệm này thực sự nặng nề đối với các vị lãnh đạo chính trị. Sự đền bù lại duyên cớ vấp phạm phải khởi sự bằng việc công khai nhìn nhận lỗi lầm của mình, và công khai tuyên bố rằng mình hoàn toàn chấp nhận luật luân lý. Linh hồn nào biết nhìn nhận sự nghiêm trọng của điều mình đã làm, tất sẽ hiểu ngay rằng mình cũng phải công khai hóa sự hối lỗi của mình.

Nếu việc gây ra cớ vấp phạm cho người khác qua các hành vi tội lỗi (hay thiếu sót) công khai và nghiêm trọng lúc nào cũng nguy hại, thì sự nguy hại ấy trong thời đại hôm nay lại càng gia trọng hơn nữa. Do bởi sự hoang mang về luật luân lý--vốn thấy được nhan nhản trong các diễn từ công cộng, thậm chí trong cả những luật lệ và công bố pháp lý--người Kitô hữu lại càng có lý do và trách nhiệm nặng nề trong việc phát biểu minh bạch và tuân thủ luật luân lý hơn nữa. Có một thứ âm mưu xảo quyệt nào đó trong xã hội hôm nay, khiến cho người ta trong khi hết sức hoang mang về những thiện ích căn bản nhất, thì lại cũng tin rằng cớ vấp phạm chỉ là một chuyện của quá khứ xa xưa. Chính vì thế mà ta thấy được bàn tay lông lá của kẻ mệnh danh là “Cha kẻ nói dối” đang thao túng khiến cho người ta coi thường cớ vấp phạm hay coi đó chỉ là trò cười, thậm chí còn chỉ trích những kẻ cảm nghiệm được cớ vấp phạm ấy. Khi dậy về mối tương quan giữa sinh thái học nhân bản và sinh thái học môi trường, ĐGH Bênêđictô XVI đã nhấn mạnh đến sự mâu thuẫn trong “thái độ luân lý của toàn thể xã hội,” vốn làm cho ta, và nhất là giới trẻ đi đến chỗ hoang mang và lầm lạc: “Khi quyền được sống và quyền được chết một cách tự nhiên không được tôn trọng, khi việc thụ thai, mang thai và sinh hạ của con người chỉ được thực hiện theo kỹ thuật, khi các phôi người dành cho việc khảo sát tìm tòi, cuối cùng ý niệm môi sinh nhân bản sẽ bị chao đảo và cùng với nó, ý niệm về môi sinh môi trường cũng bị loại ra khỏi ý thức chung của con người. Thật là một điều nghịch lý khi đòi hỏi các thế hệ mới phải tôn trọng môi trường tự nhiên, trong khi giáo dục và luật lệ không giúp gì để họ tự tôn trọng chính mình. Quyển sách thiên nhiên là duy nhất và không thể phân chia, cũng như môi trường của sự sống và các bình diện tính dục, hôn nhân, gia đình, liên hệ xã hội, tắt một lời, của sự phát triển toàn diện con người. Những trách nhiệm của chúng ta đối với môi trường liên kết với các trách nhiệm mà chúng ta phải có đối với con người tự tại và trong liên hệ với những kẻ khác. Người ta không thể đòi buộc một trách nhiệm và giẫm đạp lên các trách nhiệm khác. Đây là một điều nghịch lý nặng nề của tâm thức và thực hành của ngày nay, làm cho con người chán nản, khuynh đảo môi trường và gây hại cho xã hội.” (BACL số 51)

Một trong các điều thật đáng mỉa mai của thời đại hôm nay là khi có ai đó cảm nghiệm được cớ vấp phạm nơi hành vi tội lỗi công khai và nghiêm trọng của một người bạn Công giáo thì tức khắc người ấy sẽ bị coi là thiếu tình bác ái và gây chia rẽ làm hại đến tình hiệp nhất của Giáo Hội. Trong một xã hội mà suy tư bị kềm kẹp bởi “tính bạo ngược của chủ nghĩa tương đối,” và sự chính xác về chính trị cũng như tôn trọng nhân bản phải là khuôn vàng thước ngọc cho điều phải làm và điều phải tránh, thì cái khái niệm về việc “dẫn đưa người khác vào vòng lầm lạc luân lý” liệu còn có ý nghĩa gì chăng? Trong một xã hội như thế, điều người ta quan tâm chỉ là ai đó không tuân thủ sự chính xác về chính trị và vì đó mà phá rối trị an trong một xã hội yêu chuộng hòa bình. Tuy nhiên, nói dối, hoặc không nói sự thật, thì không bao giờ có thể là dấu chỉ của bác ái được. Sự hiệp nhất nào không được xây dựng trên sự thật của luật luân lý thì đó không phải là sự hiệp nhất của Hội Thánh, vốn chỉ được xây dựng trên việc nói lên sự thật bằng tình yêu. Người biết cảm nghiệm cớ vấp phạm gây ra do một người Công giáo nào đó có các hành vi công khai phản lại luật luân lý một cách nghiêm trọng, không những không phá bỏ sự hiệp nhất, mà trái lại còn kêu mời Giáo hội tự sửa sai, tự hàn gắn những đổ vỡ của chính mình. Nếu không biết cảm nghiệm cớ vấp phạm từ sự công khai hỗ trợ việc tấn công vào sự sống con người và gia đình, thì lương tâm của ta sẽ mãi mãi vô tri hoặc u mê về những thực tại linh thiêng nhất.

(còn tiếp 1 kỳ)

11/13/09

admin
05-12-2009, 11:57 AM
SUY LUẬN LUÂN LÝ THEO CHỦ NGHĨA DUY CÂN XỨNG

Cội nguồn của nỗi hoang mang về luật luân lý chính là một hình thức suy luận méo mó về luân lý gọi là chủ nghĩa duy cân xứng (proportionalism) hay duy hệ quả (consequentialism). Đầy tớ Chúa, ĐGH Gioan Phaolô II, đã đề cập đến sự sai lạc của suy luận luân lý theo chủ nghĩa duy cân xứng trong Thông Điệp “Splendor Veritatis” (Chân lý ngời sáng). Xét về gốc rễ, sự sai lạc nằm ở chỗ đặt tất cả mọi vấn nạn luân lý ở trên cùng một bình diện, mà không biết phân biệt giữa các hành vi sai xấu tự nội, nghĩa là, các hành vi ở đâu và bất cứ khi nào cũng đều sai hết, với các hành vi có thể, hoặc có thể không hề xấu, tùy thuộc các điều kiện khách quan vốn đòi phải có để hành vi ấy trở thành đúng về mặt luân lý. Cũng phải kể đến sự lẫn lộn giữa cứu cánh và phương tiện, trong khi dùng cùng đích để làm tiêu chuẩn phê phán thiện tính của một hành vi, mà không hề đả động gì đến tính vô luân của phương tiện được sử dụng hầu đạt đến cùng đích. ĐGH Bênêđictô XVI đề cập đến sự tác hại của các vấn đề liên quan đến kỹ thuật, khi lẫn lộn cứu cánh với phương tiện (xem BACL số 71). Ngài còn lưu ý chúng ta về sự mờ ám trong cách sử dụng hạn từ, đạo đức, trong các vấn đề về phát triển. Ngài viết: “Thật vậy, điều đó tùy thuộc phần lớn vào hệ thống luân lý mà người ta qui chiếu vào. Về chủ đề này, giáo huấn xã hội của Giáo hội có phần đóng góp đặc biệt vì giáo huấn này xây nền trên việc tạo dựng con người ‘theo hình ảnh Thiên Chúa’ (Gen 1:27); từ đó phát xuất phẩm giá bất khả vi phạm của nhân vị cũng như giá trị siêu việt của những luật luân lý tự nhiên” (BACL số 45).

Theo lối tư duy kiểu duy cân xứng thì phá thai--điều luôn luôn và bất cứ ở đâu cũng đều sai xấu—thì được đặt ngang hàng với các hành vi chiến tranh, vốn có thể, hoặc chưa chắc, đã là sai xấu. Một bài viết mới đây trong một tạp chí đạo đức sinh học Công giáo có thể cho ta một thí dụ về lối tư duy này. Tác giả cho biết ông đã bỏ phiếu cho một ứng cử viên mà ông biết rõ là người ủng hộ cho việc nghiên cứu tế bào gốc--vốn bao hàm việc dứt khoát hủy hoại mầm sống con người ngay từ giai đoạn đầu, bởi vì ông đồng ý với ứng cử viên ấy về các vấn đề khác, tỉ như “cuộc chiến tại Iraq, chăm sóc sức khỏe phổ cập, tầm quan trọng của ngoại giao và đối thoại, chính sách năng lượng, ưu tư về môi sinh, và thay đổi khí hậu toàn cầu” (W. Malcolm Byrnes, “Tự thú của một người phò-sinh ủng hộ Obama,” Tập San Đạo Đức Sinh Học Công Giáo Quốc Gia, số 9, 2009, 241). Ứng cử viên ông ta bầu cho cũng ủng hộ phá thai, kể cả phá thai trễ hạn, và hôn nhân đồng tính.”

Cũng theo lối suy tư kiểu duy cân xứng thì mỗi người đều có quyền lựa chọn những vấn đề luân lý quan trọng nhất cho mình. Thế là rốt cuộc, chẳng hề có liên quan gì đến chân lý hành động khách quan. Lối suy tư này cũng chẳng hề nhận ra rằng: nếu các thiện ích luân lý nền tảng mà không được bảo vệ, tỉ như mạng sống con người và sự thánh thiện của hôn nhân, thì các vấn đề luân lý khác, dẫu quan trọng đến mấy, cũng sẽ mất hết ý nghĩa tối hậu của nó. Cứ theo lối suy nghĩ này, thì ta vẫn có thể chấp nhận chương trình cải tổ y tế, ngay cả khi nó kéo theo luật cưỡng bức phá thai cũng như quan niệm cho rằng cải tổ y tế là vì lợi ích của những kẻ được coi là “có sản xuất” trong khi cung ứng phương tiện làm cho mau chết những người già, kẻ yếu đuối và người có nhiều nhu cầu cần trợ giúp đặc biệt, vốn thường bị coi là “vô sản xuất,” theo lối suy nghĩ của kẻ đang nắm trọn quyền lực chính trị.

Về khía cạnh này, tôi thấy cái ngôn ngữ về giá trị trong suy luận luân lý thật là thiếu sót. Cho dù ai cũng nói đến vấn đề giá trị luân lý, thế nhưng cần phải nhớ rằng ngôn ngữ về giá trị--vốn đến với chúng ta từ thế giới kinh tế--rất thường chỉ nói lên một thứ thẩm định giá trị rất tương đối. Điều đối với tôi có giá trị chưa chắc đã có giá trị đối với một người khác. Các thiện hảo khách quan, được Thiên Chúa dựng nên và thông dự vào sự tốt lành của chính Chúa, tỉ như sự sống con người và sự kết hợp của nam nữ trong hôn nhân, không dưng lại trở thành vấn đề. Thực ra, chúng thiện hảo tự bản chất, cho dù nhìn dưới bất kỳ góc cạnh nào. Chỉ khi nào ta nhìn chúng đúng y như bản chất của chúng, theo kế hoạch của Thiên Chúa, thì khi đó ta mới có thể làm được điều đúng đắn và thiện hảo. Và cũng chỉ khi đó ta mới tìm được niềm hạnh phúc trong một tương quan xác đáng với người khác và với thế giới.

Dù ta có thiện ý đến đâu chăng nữa khi dùng đến hình ảnh chiếc áo không có đường may để ám chỉ các vấn đề luân lý về sự sống con người, nó vẫn mang hơi hướng của lối suy nghĩ duy cân xứng, trong đó, tỉ như hành động chiến tranh, án tử hình, phá thai, nghiên cứu tế bào gốc, và an tử, đều được nhìn như những vấn đề có sức nặng luân lý ngang nhau. Nói cách khác, hình ảnh chiếc áo không có đường may ấy bao hàm cả việc phân biệt giữa hành vi sai xấu tự nội với hành vi không sai xấu tự nội, nhưng có thể trở thành sai xấu, nếu được thi hành một cách bất công. Các câu hỏi luân lý liên quan đến việc bảo vệ và nuôi dưỡng sự sống con người thì đều liên quan đến nhau, thế nhưng chúng không hề có sức nặng như nhau. Nếu dùng hình ảnh chiếc áo thì phải nói rằng chúng không được dệt bằng cùng một thứ vải. Khi dùng ẩn dụ chiếc áo không đường may, cho dủ mục đích là để thăng tiến nền văn hóa sự sống, nhưng phải nói thật rằng nó được sử dụng để biện minh cho việc chấp nhận các hành vi hoàn toàn đối chọi lại với nền văn hoá sự sống nhân danh việc đạt đến một sự thiện hảo nào đó. Cho dù ai đó có thành tâm thiện chí đến mấy khi sử dụng luận cứ chiếc áo không đường may, thì họ vẫn sai khi đặt các hành vi sai xấu tự nội--tức là các hành vi sai xấu về mặt luân lý bất cứ khi nào và bất cứ nơi nào—ngay cùng bình diện với các hành vi, mà theo phán đoán khôn ngoan, có thể không đủ sức mạnh bảo vệ được sự sống con người.

Tương tự như thế, ngôn ngữ về ‘sân khấu chung’ được sử dụng nhằm cổ võ cho lối suy luận luân lý theo chủ nghĩa duy cân xứng hoặc duy hệ quả. Nếu hiểu đúng, sân khấu chung chính là miền đất của sự thiện luân lý. Nó được thiết lập bởi điều thiện hảo khách quan. Ngược lại, nếu hiểu nó như một thỏa hiệp về một số sự thật luân lý nhằm tạo sự hòa đồng với những ai chối bỏ một sự thật luân lý, tỉ như, sự sai xấu tự nội của việc phá thai hoặc an tử, thì đây sẽ là một phản bội lại thiện hảo, và sẽ chỉ dẫn đến sự tai hại cho mình, cho người khác, và cho chính xã hội nữa.

Có đôi lúc, ta nghe thấy rằng, với tư cách là Kitô hữu, là những tông đồ của Tin Mừng Sự Sống, chúng ta phải cẩn thận để sống hoà hợp với xã hội, chứ đừng tách mình ra khỏi xã hội hoặc tỏ ra là phản-văn-hóa. Thứ ngôn ngữ này rõ ràng không phù hợp với cốt lõi của Tin Mừng, nghĩa là “một dấu vấp phạm” (x. Lk 2:34). Cùng lúc ấy, ta không thể không nghĩ đến ý nghĩa của việc Kitô hữu hoà đồng với người khác và có thái độ chính xác về mặt chính trị tại các quốc gia trong đó các vị lãnh đạo đã theo đuổi các nghị trình đầy chết chóc và chủ nghĩa độc tài lúc nào cũng hăng say đẩy mạnh nghị trình ấy.

Một cách nào đó, lương tâm chúng ta đã trở thành lú lẫn trước sức nặng của một số vấn đề luân lý. Khi xu hướng loại trừ việc phá thai hợp pháp tại đất nước này bị bác bỏ như là một lối tiếp cận thuộc loại “vấn đề đơn độc,” như là mối ám ảnh của “quyền lợi tôn giáo” vốn chẳng kể gì đến toàn thể các vấn đề luân lý, thì ta đã đánh mất cảm thức về niềm kinh hãi khi phải phá bỏ một mầm sống trong bụng người phụ nữ. Cũng vậy, khi việc từ chối sự dinh dưỡng và bỏ cho chết khát người bệnh nan y bị coi là “vấn đề đơn độc” thì chúng ta đã đánh mất cảm thức về niềm kinh hãi khi từ chối sự săn sóc căn bản dành cho một người anh chị em đang bị suy nhược vì một lý do nào đó. Đây không hề là một vấn đề đơn độc, mà là điều nền tảng của chính sự sống và của xã hội. Tôi nhớ đến những lời nói của Tôi Tớ Chúa, ĐGH Gioan Phaolô II: “Việc chấp nhận phá thai—theo đầu óc của đại chúng, trong động thái và ngay cả trong chính luật lệ--đã cho thấy dấu hiệu của một cơn khủng hoảng cực kỳ nguy hiểm về cảm thức luân lý, vốn ngày càng khiến cho người ta mất khả năng phân biệt tốt xấu, ngay cả khi quyền sống căn bản đang bị xâm hại. Đứng trước một tình huống nghiêm trọng đến thế, hơn bao giờ hết, ta càng phải can đảm hơn để nhìn thẳng vào sự thật, cũng như gọi sự vật bằng đúng tên gọi của chúng, mà không nhượng bộ theo kiểu thỏa hiệp dễ dàng, hoặc thúc thủ trước cơn cám dỗ tự lừa dối mình” (Thông Điệp “Tin Mừng Sự Sống,” ngày 25 tháng 3 năm 1995, số 58).

CÔNG ÍCH

Sau hết, khi đẩy mạnh nền văn hoá sự sống, ta phải minh bạch về ý nghĩa khách quan của công ích. Công Đồng Đại Kết Vaticanô II đã miêu tả công ích như là “toàn thể các điều kiện xã hội, vốn cho phép con người, dù tập thể hay cá nhân, đạt đến sự thành toàn của mình đầy đủ hơn và dễ dàng hơn (Hiến Chế “Vui Mừng và Hy Vọng,” ngày 7 tháng 12 năm 1965, số 26). Việc thành toàn của cá nhân và xã hội không hề là một quyết đoán chủ quan của giới cầm quyền. Đó là sự thành toàn đã được ghi khắc vào chính bản chất con người, vào chính thiên nhiên. Đó là sự thành toàn mà bởi đó Thiên Chúa tạo dựng nên ta, nên trời đất, chứ không phải là sự thành toàn, mà vào một thời điểm nào đó, ta thấy hấp dẫn và hữu dụng. Thật là thú vị khi thấy từ vựng Anh ngữ ‘fulfillment/thành toàn’ được dịch từ La ngữ ‘perfectio,’ nghĩa là sự thiện toàn của cá nhân hay đoàn thể, theo bản chất và cứu cánh riêng của con người. Trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập, sự thành toàn hay thiện toàn khách quan mà công ích hằng bảo vệ và thăng tiến thì được mô tả là “Sự Sống, Tự do, và Theo Đuổi Hạnh Phúc.”

Trong lúc đẩy mạnh nền văn hóa sự sống, ta phải minh bạch về bản chất khách quan của công ích và về sự thành toàn nó có thể đem lại. Không phải người nào sử dụng hạn từ ‘công ích’ cũng đều thấu hiểu ý nghĩa của nó. Mới đây, trong một bài viết phê bình bài diễn văn của TT Obama đọc tại viện Đại Học Notre Dame vào ngày 17 tháng Năm, 2009 vừa qua, một thần học gia Công giáo bên Âu Châu đã nhận xét như sau: “Trên thực tế, bài diễn văn tại viện Đại Học Notre Dame xem ra vương vãi những điểm tham chiếu từ truyền thống Kitô giáo. Tỉ như có một lối nói được lập đi lập lại nhiều lần, đó là ‘sân khấu chung,’ nghe rất phù hợp với một khái niệm căn bản trong giáo huấn của Giáo Hội về xã hội, đó là khái niệm ‘công ích.’” (Georges Cottier, O.P., “La politica, la morale e il peccato originale,” 30 tháng 6 năm 2009, số 5, trang 33)

Công ích ám chỉ một thành toàn khách quan, không được định nghĩa bởi sự đồng thuận của một số người. Công ích được định nghĩa bằng chính cuộc tạo dựng đến từ bàn tay của Tạo Hóa. Chẳng những ý niệm về sân khấu chung không hề phù hợp với thực tại của công ích, mà nó còn đối nghịch với công ích là đàng khác (tỉ như trong xã hội có thể có sự đồng thuận về việc thừa nhận là thiện hảo hay tốt đẹp một điều gì đó trong thực tế là một điều sai xấu ở mọi nơi và mọi lúc).

Nói theo ngôn từ của ĐGH Bênêđictô XVI thì công ích “chính là lợi ích của ‘chúng ta tất cả,’ từ từng cá nhân, gia đình và những nhóm nhỏ, tạo thành một cộng đoàn xã hội…Dấn thân cho công ích có nghĩa là, một mặt bảo vệ và mặt khác phục vụ cho toàn bộ các cơ chế qui định đời sống xã hội về mặt pháp lý, dân sự, chính trị và văn hóa, với cách thức này đời sống xã hội trở thành POLIS (thành phố)” (BACL số 7). ĐGH còn an ủi và thúc đẩy chúng ta tiến bước trong việc tìm kiếm công ích: “Tình yêu Thiên Chúa kêu gọi chúng ta vượt qua tất cả những gì ngăn cách và chóng qua; củng cố sức lực chúng ta để tiếp tục làm việc trong công cuộc tìm kiếm công ích cho mọi người, cho dù chưa hiện thực ngay bây giờ; và những gì chúng ta cố gắng hiện thực – chúng ta và những nhà chức trách chính trị và chuyên viên kinh tế – vẫn luôn thấp kém hơn những gì chúng ta khao khát. Thiên Chúa ban cho chúng ta sức mạnh để chiến đấu và để chịu đau khổ vì tình yêu, lo lắng cho công ích, vì Người là TẤT CẢ cho chúng ta, là hy vọng vĩ đại của chúng ta.” (BACL, số 78)

KẾT LUẬN

Hy vọng rằng những suy tư này giúp ta có được niềm hưng phấn mới và nghị lực mới trong cuộc đấu tranh cho nền văn hóa sự sống tại đất nước này. Cuộc đấu tranh rất cam go và đối phương thì đông đảo và xảo quyệt. Nhưng chiến thắng thì đã đạt được, và Vị Chiến Thắng chưa hề bao giờ bỏ rơi ta trong cuộc tranh đấu, bởi vì Ngài luôn trung tín với lời đã hứa với ta: “Ta sẽ ở với các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:20). Ta biết rằng, nếu ta nói lên sự thật và sống sự thật, là chính Chúa Kitô là Chúa trời đất, thì ta sẽ nuôi dưỡng được một nền văn hóa sự sống tại đất nước này, một nền văn hóa trong đó “Sự Sống, Tự Do, và Sự Theo Đuổi Hạnh Phúc” sẽ được bảo vệ và dưỡng nuôi cho mọi người, vượt mọi biên giới và không hề loại trừ ai.

Ta hãy phó thác bản thân và tổ quốc cho lời chuyển cầu của Mẹ Thiên Chúa, dưới tước hiệu Mẹ Guadalupe, mà ta hằng yêu mến sùng mộ. Qua sự che chở ân cần không ngừng, Mẹ sẽ đem chúng ta và quốc gia này đến với sự thật, đến với người Con Từ Ái của Mẹ là Chúa Giêsu Kitô. Tôi xin mượn lời kinh mà ĐGH Bênêđictô XVI đã dùng để kết thúc Thông Điệp “Bác Ái trong Chân Lý” của Ngài để kết thúc là thư này:

“Đức Trinh nữ Maria, Đấng đã được Đức giáo hoàng Phaolô VI tuyên bố là Mẹ Hội thánh (Mater Ecclesiae) và được các Kitô hữu tôn vinh là ‘Speculum iustitiae’ (Gương công lý) và ‘Regina Pacis’ (Nữ Vương bình an), xin Mẹ che chở, và qua lời cầu bầu trên thiên quốc của Mẹ, ban cho anh chị em sức mạnh, hy vọng và niềm vui mà chúng ta đang cần để tiếp tục dấn thân cách quảng đại để thực hiện “sự phát triển con người toàn diện và tất cả mọi người” (BACL số 79).

Nguyễn Kim Ngân (phỏng dịch)

11/29/09

Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng