PDA

View Full Version : Từ Nguyên Thủy đã Có Ngôi Lời


admin
28-12-2009, 03:16 PM
TỪ NGUYÊN THỦY ĐÃ CÓ NGÔI LỜI, NGÔI LỜI VẪN Ở NƠI THIÊN CHÚA VÀ NGÔI LỜI LÀ THIÊN CHÚA

SUY NIỆM PHÚC ÂM (III C 8); (03.01.2010); (Jn 1, 1-18)
CHÚA NHẬT II MÙA GIÁNG SINH, NĂM C
NGUYỄN HỌC TẬP

Danh từ “Lógos” (lời nói, “Ngôi Lời”) đã trở thành gia sản hiểu biết của những ai quen thuộc với các Phúc Âm, nhứt là Phúc Âm Thánh Gioan.
“Logos" được dùng chỉ Chúa Giêsu, Ngôi Hai của Thiên Chúa Ba Ngôi, được Thánh Gioan, ngay ở phần đầu của Phúc Âm ngài, xác nhận đặc tính tiên hữu (préesistence) và cả động tác Nhập Thể để tỏ mình Người ra cho chúng ta.
Đặc tâm đến bối cảnh tư tưởng Do Thái đương thời với tác giả lúc đó, âm hưỏng của danh từ Lógos mời gọi chúng ta hiểu ý nghĩa bằng cách đặt mối tương quan với Sách Khôn Ngoan trong Cựu Uớc.
Trong Sách Khôn Ngoan, được viết ra khoản 30 năm trước Thiên Chúa Giáng Sinh, chúng ta biết được diện mạo của Đức Khôn Ngoan như:
- “Khi vạn vật chìm sâu trong thinh lặng, lúc đêm trường chừng như điểm canh ba, thì từ trời cao thẩm lời (lógos) toàn năng của Ngài đã rời bỏ ngôi báu, ví tựa người chiến sĩ can trường xông vào giữa miền đất đã bị trù diệt, mang theo bản án không thể hủy của Ngài, như lưỡi gươm sắc bén" (Sap 18, 14-15).
Mặc dầu chúng ta cũng có thể nới rộng các mối liên hệ với các văn bản văn chương và triết lý khác, đặt ý nghĩa của danh từ “Logos " liên hệ với Thánh Kinh giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của phần khởi đầu long trọng nầy của Phúc Âm Thánh Gioan và cho phép chúng ta giải thích được ý nghĩa trung tâm điểm “Lógos ", Ngôi Lời, mà Thánh Gioan muốn nói với chúng ta.

1 - Ngôi Lời vẫn ở nơi Thiên Chúa (Jn 1, 1-3) .
- “Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời, Ngôi Lời vẫn ờ nơi Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa” (Jn 1, 1).
Ngay từ câu đầu tiên của Lời Tựa Phúc Âm Thánh Gioan, chúng ta đã đọc được “Từ nguyên thủy”, cho thấy chú tâm của tác giả Phúc Âm nhắc lại những lúc tiên khởi công cuộc sáng tạo vũ trụ trong sách Sáng Thế Ký,
- “Từ nguyên thủy Thiên Chúa sáng tạo trời đất..." (Gen 1, 1),
để bắt đầu nhắc lại một chuổi các sự việc liên quan đến biến cố đó.
Thánh Gioan vượt ra khỏi gia phả Chúa Giêsu, được Phúc Âm Thánh Matthêu và Luca đề cập đến, bằng cách nghiêng cứu tìm hiểu sự hiện hữu của Người, cả trước khi Người thể hiện trong gia phả, trong dòng lịch sử nhân loại.
Từ khởi thủy của dòng thời gian đã có Ngôi Lời, cả trước khi thế giới được dựng nên với những yếu tố của nó.
Nêu lên điều đó, Thánh Gioan làm cho chúng ta có ấn tượng song song giữa Ngôi Lời và con người của Đức Khôn Ngoan, được diễn tả bằng sự hằng hữu của mình:
- “Ta hiện diện bên Người như tay thợ cả. Ngày ngày, ta là niềm vui của Người , trước mặt Người ta không ngớt vui chơi, vui chơi trên mặt đất, ta đùa vui với con cái loài người” (Pr 8, 30-31).
Đặc tính tân kỳ của Thánh Gioan là xác định rằng Ngôi Lời đã hiện hữu

a) - “Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời...",
trong khi đó thì con người của Đức Khôn Ngoan, duy nhứt và trổi thượng hơn tạo vật, và là trung gian giữa YHWH và tạo vật. Và Đức khôn Ngoan cũng là tạo vật được Thiên Chúa dựng nên:
- “Thiên Chúa đã dựng nên ta như tác phẩm đầu tay của Người, trước mọi công trình của Người, từ thời xa xưa nhứt” (Pr 8, 22).

Những câu kế tiếp của đoạn Phúc Âm càng cho chúng ta thấy rõ đặc tính Thiên Chúa của Ngôi Lời và mối tương quan khắn khít, chặt chẽ với Thiên Chúa. Phần hai của câu (Jn 1, 1) trích dẫn ở trên,

b) - “Ngôi Lời vẫn ở nơi Thiên Chúa”,
cho thấy mối tương giao thân thiết thiên thánh, mạc khải cho chúng ta Ngôi Lời hằng ở nơi Thiên Chúa (apud Deum ): Ngôi Lời hằng liên hệ với Thiên Chúa, ngoài ra đặc tính ở gần, ở bên cạnh Thiên Chúa. Thánh Gioan không hề đề cập đến một sự tạo dựng nào và cũng không nói lên Ngôi Lời đã bắt đầu có từ lúc nào.
Mối tương quan thân thiết khắn khít và năng động đó, được diễn tả bằng ngôn từ Hy Lạp “prós ", ở nơi Thiên Chúa, không thể tách rời khỏi Thiên Chúa.

c) - “Ngôi Lời là Thiên Chúa” (Théos, Hy Lạp), chớ không chỉ là “thần linh” (théios).
Đặc tính thứ ba có liên hệ đến bản tính của Ngôi Lời.
Như vậy câu văn vừa kể cho phép chúng ta nhận ra có sự khác biệt giữa “Logos" (Ngôi Lời ) là Thiên Chúa và Théos là Chúa Cha.
Một đoạn của Sách Khôn Ngoan giúp chúng ta hiểu rõ hơn làm thế nào Thánh Gioan có thể suy luận được Ngôi Lời (Logos ) và Thiên Chúa (Théos, Chúa Cha) là hai, nhưng đồng thời cũng là một thực thể:
- “Đức Khôn Ngoan tỏa ra từ quyền năng Thiên Chúa và rực lên trong ngần từ vinh hiển Đấng Toàn Năng, nên không thể vương một tì ố. Đức Khôn Ngoan phản chiếu ánh vĩnh cửu, là tấm gương trong phản ánh hoạt động của Thiên Chúa, là hình ảnh lòng nhân hậu của Người” (Sap 7, 25-26).
Thực thể thần linh đã được tiên báo và diễn tả trong Cựu Ước, giờ đây được làm sáng tỏ hơn trong Tân Ước, làm cho chúng ta thấy được hình ảnh của một Thiên Chúa trong mối tương giao năng động, một thực thể luôn luôn bành trướng thêm và luôn thông hiệp nhau.

- “Nhờ Ngôi Lời mà vạn vật được tạo thành và không có Nguời, thì chẳng có gì được tạo thành (hiện hữu) “ (Jn 1, 3).

Không có thực thể nào được tạo nên mà không quy hướng về sự trung gian của Ngôi Lời.
Cũng vậy, trong câu Phúc Âm vừa đọc, động từ “tạo thành, hiện hữu” (ghínomai ) cũng được Thánh Gioan dùng liên tưởng đến thế giới của Sách Sáng Thế Ký, với một ít thay đổi với ý nghĩa công việc sáng tạo vẫn tồn tại, bởi vì động từ được dùng ở thì quá khứ (temps passé ) để nói lên việc sáng tạo là động tác đã được thực hiện, nhưng vẫn còn tiếp tục sáng tạo trong hiện tại.

2 - Ngôi Lời ban sự sống thật (Jn 1, 4-5).
- “Người là sự sống của mọi tạo vật và sự sống là ánh sáng cho nhân loại” (Jn 1, 4).
Chủ đề sự sống, đặc biệt là chủ đề rất được Thánh Gioan ưa chuộng.
Bởi đó không những ngài xác định trong câu Phúc Âm vừa kể, “Ngôi Lời có sự sống nơi mình " hay " Ngôi Lời là sự sống của mọi tạo vật ", mà Người còn ban cho để cho sự sống đó chiếu rực lên trong đời sống hiện thực của con người, “và sự sống là ánh sáng cho nhân loại” .
Phương thức ban sự sống đó sẽ được Thánh Gioan diễn giải rõ ràng hơn về sau trong Phúc Âm (Jn 14, 6-11), trong đó Chúa Giêsu nói lên mối liên hệ thân thiết giữa Người với Chúa Cha, bằng cách cho thấy mối thông hiệp thân thiết đó trong các công trình mà Chúa Con cùng thực hiện chung với Chúa Cha:
- “Chính Thầy là đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy. Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy: Ngay từ bây giờ, anh em đã biết Người và thấy Người...Anh không tin rằng thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao ? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. Anh em hãy tin Thầy: Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy; bằng không thì hãy tin vì công việc Thầy làm".
Bởi vậy đề cập đến sự sống không phải là cách suy diễn thuyết lý nội tại giữa các Ngôi Thiên Chúa, mà là cách thấu hiểu mầu nhiệm Thiên Chúa được mạc khải cho con người.

Từ ngữ được Thánh Gioan dùng để diễn tả sự sống là “zoé ", không phải là đê nói lên sự sống tự nhiên (thường đưọc diễn tả bằng danh từ “bios")
Ngoài ra đặt “sự sống" bên cạnh “ánh sáng cho nhân loại”,
- “...và sự sống là ánh sáng cho nhân loại ,
cho thấy Thánh Gioan có ý xác nhận và làm nổi bậc sự sống mà Ngôi Lời đem đến cho mọi tạo vật, “Ngôi Lời là sự sống của mọi tạo vật”, chính là sự sống đời đời (zoé) , như những gì ngài nói rõ hơn trong Lời Tựa Thư I Thánh Gioan, trong đó chúng ta gặp được cách tuyên xưng “Ngôi Lời là sự sống " :
- “Điều vẫn có ngay từ lúc khởi đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Ngôi Lời là sự sống” (1 Jn 1, 1),
sát gần với cách tuyên xưng của Phúc Âm:
- “Quả vậy sự sống đã được tỏ hiện, chúng tôi đã thấy và làm chứng, và chúng tôi loan báo cho anh em sự sống đời đời: sự sống ấy hằng ở cùng Chúa Cha và nay đã được tỏ hiện ra cho chúng ta" (1 Jn 1, 2).

Thái độ từ chối đối với Chúa Giêsu, được tiên báo trong những dòng đầu tiên nầy:
- “Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối và bóng tối đã không đón nhận ánh sáng” (Jn 1, 5),
thái độ đó sẽ được đề cập đến về sau: sự đối nghịch giữa ánh sáng và bóng tối nói lên thái độ quyết định đối ngược giữa đồ án của Thiên Chúa và đồ án của những kẻ chống đối Người, đó là “thế gian” (kể từ những người Do Thái lúc đó, Satan, và những kẻ chống đối Chúa Ki Tô trong Thư I Thánh Gioan).
Sự toàn thắng của ánh sáng trên bóng tối nói lên bảo đảm đặc tính thượng đẳng của Thiên Chúa, Đấng, như lúc sáng tạo, đã dựng nên một vần ánh sáng và trật tự giữa thế giới tối tăm vô trật tự lúc đó.

3 - Ngôi Lời mạc khải Chúa Cha (Jn 1, 6- 11) .
- “Có người được Thiên Chúa sai đến tên là Gioan. Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin. Ông không phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng”.
Từ thượng đỉnh đời sống thân tình của Ba Ngôi Thiên Chúa, chủ đề của các câu đầu Lời Tựa Phúc Âm, Thánh Gioan di chuyển xuống mặt đất.
Việc đề cập đến Gioan Tầy Giả có liên hệ với sứ mạng là người được sai đến, như chính Gioan Tẩy Giả đã xác nhận sau đó:
- “Tôi đây không phải là Đấng Ki Tô, mà là kẻ được sai đi trước mặt Người” (Jn 3, 28).
Con người Gioan Tẩy Giả là nhân chứng được Thiên Chúa sai đến để động tác sáng soi của Ngôi Lời được thế gian nhận biết.
Tầm quan trọng của nhân chứng của Thánh Gioan Tẩy Giả là đặc tính phổ quát của sứ mạng ngài:
- “...để mọi người nhờ ông mà tin” (Jn 1, 7).
Như vậy lời giảng dạy của ngài không chỉ giới hạn trong khuôn viên dân Do Thái, mà là cho cả nhân loại.
Lời xác nhận “ông không phải là ánh sáng”, được Thánh Gioan viết lên để đề cập đến mối tương quan giữa Gioan Tẩy Giả và Chúa Giêsu, nói lên mối lo lắng của Thánh Gioan là cần phải xác nhận rõ rệt địa vị và sứ mạng của Gioan Tẩy Giả để tránh lầm lẫn, đề tài còn được Phúc Âm lập lại vào những câu cuối của Lời Tựa:
- “Ông Gioan làm chứng về Người, ông tuyên bố: “Đây là mà tôi đã nói: Người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi” (Jn 1, 15).

Phần kế tiếp của Lời Tựa (Jn 1, 9-18) nói lên bối cảnh thứ hai đồ án của Thiên Chúa trong việc thông báo mạc khải cho con người: đó là mạc khải Ngôi Lời cho họ.
Ngôi Lời được định tính như là “ánh sáng thật”:

- “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi cho mọi người. Người ở giữa thế gian, và thế gian nhờ Người mà có, nhưng lại không nhân biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận" (Jn 1, 9-11).

Như vậy Ngôi Lời chính là ánh sáng thật, không có gì dối trá lường gạt, so với những nguồn ánh sáng khác có thể làm cho con người bấn loạn, sai lạc.
Có lẽ xác nhận điều đó, Thánh Gioan có ý liên tưởng đến các lý thuyết, các hiểu biết duy lý chủ nghĩa đang thịnh hành lúc đó của thời đại ngài.
Từ ngữ “thế gian” ở đây được dùng theo ý nghĩa “tự nhiên", nói lên tập thể các sinh vật mà biến cố sáng tạo đã đề cập đến.
Trong câu (Jn 1, 10), danh từ thế gian được diễn tả bằng từ ngữ “kósmos”, qua đó Thánh Gioan có ý hiểu là tập thể các thực tại “không nhận biết Ngôi Lời”.
Ngôi Lời đem ánh sáng đến cho mọi người. Chương trình đề nghị của Ngôi Lời với con người là những gì tích cực và tốt đẹp cho họ:
- “Con của Người đến thế gian, không phải đển lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người mà được cứu độ” (Jn 3, 17).
Dầu với bao nhiêu thiện chí đó, sự đổ vở giữa Chúa Giêsu và bóng tối thể gian cũng đã xảy ra:
- “Ai tin vào con của Người thì không bị lên án; những kẻ không tin thì đã bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa. Và đây là bản án: ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chọn bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa” (Jn 3, 18-19).

Nếu nhân chứng của Thánh Gioan Tẩy Giả là nhân chứng cho tất cả mọi người, nhưng trong câu (Jn 1, 11) cho thấy chính dân trước tiên nhận được sứ điệp nhân chứng cứu độ đó lại khước từ:
- “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà của Người chẳng chịu đón nhận”.
Các từ ngữ “nhà mình”, “người nhà của Người” nhắc lại động tác của JHWH xác nhận rằng Israel là dân của Người, được Người tuyển chọn và dành cho nhiều đặc ân:
- “Hôm nay Thiên Chúa đã khiến anh em tuyên bố rằng anh em sẽ là dân thuộc quyền sở hữu của Người, như Người đã phán với anh em , và rằng anh em sẽ giữ mọi mệnh lệnh của Người” (Dt 26, 18).
Mở rộng hơn ý nghĩa thế giới tự nhiên được đề cập, Thánh Gioan nhấn mạnh rằng con người từ chối tích cực đáp lại lời mời gọi của Ngôi Lời, không nhận biết Người như là Thiên Chúa Đấng Sáng Tạo đang hiện diện giữa họ, cũng không chấp nhận các động tác của Người như là các động tác của Thiên Chúa Cứu Độ.

admin
28-12-2009, 03:21 PM
4 - Ngôi Lời làm cho chúng ta trở nên con cái (Jn 1, 12-13).
- " Còn những ai đón nhận Người, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa. Họ được sinh ra không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa".
Thế hệ mới không liên hệ nữa với xác thịt, như là kết quả của việc phối hợp giữa người nam và người nữ, mà là do sự can thiệp của Thiên Chúa.
Ngôn ngữ của Thánh Gioan là ngôn ngữ bí nhiệm, không thể hiểu liền được, mặc dầu có thể hiểu đó là đời sống mới có liên hệ với Phép Rửa.
Thật vậy trong cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và ông Nicodemo, chúng ta gặp được từ ngữ “được sinh ra” và mối tương quan giữa “từ dưới thấp" (sinh ra bởi xác thịt) và “từ trên cao” (sinh ra bởi Thánh Thần):
- “Thật, Ta bảo thật ông: “Không ai có thể vào nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thánh Thần. Cái bởi xác thịt sinh ra là xác thịt; cái bởi Thánh Thần sinh ra là thánh thần. Ông đừng ngạc nhiên vì Ta đã nói: “Các ông cần được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên” (Jn 3, 5-7).
“Trở thành con Thiên Chúa” được hiểu song hành với “những ai tin vào danh Người”.
Nhờ đức tin con người được hội nhập vào mối liên hệ mới với Thiên Chúa, và không phải bằng cách cậy nhờ vào sức ước muốn của con người (có thể hiểu vào các học thuyết duy lý): bởi vì trở nên con cái là ân sủng Chúa ban cho những ai tin cậy vào Chúa Giêsu (cho những ai đón nhận Người ), là những kẻ có quyền (có nghĩa là có địa vị ) cho mình là con Chúa và sống với địa vị đó, bằng cách gọi Thiên Chúa là Cha.
Như vậy “quyền” vừa kể, không phải là khả năng liên quan đến có thể hành động mà không bị ai cấm cản, cho bằng là có địa vị được Thiên Chúa đón nhận và yêu thương, như ý nghĩa trong Lời Tựa Phúc Âm cũng như trong Thư I Thánh Gioan:
- “Anh em hãy xem Chúa Cha yêu thương chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa , mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa" (1 Jn 3, 1).
Thái độ trả lời của con người được trình bày bằng cách đặt hai tình trạng đối ngược, một thái độ từ chối tổng quát, không lý chứng và một cử chỉ đón nhận của những ai tin, và vì đó nơi họ được thực hiện đồ án của Thiên Chúa, nghĩa là làm cho họ trở thành con Thiên Chúa nhờ Ngôi Lời.

5 - Ngôi Lời ở giữa chúng ta (Jn 1, 14-17).
Ngôi Lời Thiên Chúa hội nhập vào lịch sử con người, chia xẻ bản tính yếu đuối, yếu hèn và giới hạn với con người: con người với thể xác (sárx, Hy Lạp ) của mình, được coi là tính cách thọ tạo được đánh dấu bằng bản tính mỏng dòn và đã lầm lỗi sa ngã, di truyền từ thời các tổ phụ.
Bởi đó
- “Ngôi Lời đã trở nên người phàm” (Jn 1, 14),
với động từ ở thể aoriste (thì quá khứ), nói rõ lên thời điểm xác định mà Người, Ngôi Lời đã đi vào lịch sử, không chỉ đơn sơ trở thành con người, mà còn trở thành mỏng dòn và giới hạn, để chia xẻ với con người bản tính yếu hèn của họ.
- “và đến cư ngụ giữa chúng ta” (Jn 1, 14b),
theo nguyên ngữ “và đến đặt ngôi lều của Người giữa chúng ta”, có ý nói lên tính cách tạm thời của “ngôi lều” Người cư ngụ. Nhưng đồng thời câu nói cũng gợi ý cho chúng ta liên tưởng đến biến cố nhân cách hoá của Đức Khôn Ngoan giữa dân chúng:
- “Bấy giờ Đấng tạo thành vạn vật truyền lệnh cho Ta, Đấng tạo thành Ta dựng lều cho Ta ở. Người phán: “hãy cấm lều ở Giacob, hãy hưởng phần sản nghiệp ở Israel” (Sir 24, 8).
Ngoài ra mối liên tưởng đến lều cũng nhắc lại truyền thống lữ hành của dân trong sa mạc trong thời xuất hành, được Thiên Chúa hướng dẫn.
Thánh Gioan nhắc lại truyền thống Thánh Kinh vừa kể cũng có ý gợi lên những từ ngữ khác:
- “Chúng tôi đã được thấy vinh quang (doxa) của Người”, đó là sự hiện diện của Thiên Chúa trong đám mây (Ex 16, 10).
- Vinh quang của Thiên Chúa tràn ngập Lều Hội Ngộ:
* “Đám mây che phủ Lều Hội Ngộ, và vinh quang Thiên Chúa đầy tràn Nhà Tạm. Ông Moisen không thể vào Lều Hôi Ngộ , vì đám mây đậu trên đó, và vinh quang Thiên Chúa đầy tràn Nhà Tạm” (Ex 40, 34 - 35).
Và nhắc đến Moisen và Lề Luật:
- “Quả thế; Lề Luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Moisen, còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Chúa Giêsu Ki Tô mà có” (Jn 1, 17),
cho thấy Thánh Gioan có chủ ý đối chiều song song giữa các động tác của Chúa Giêsu và những gì được thực hiện trong Cựu Ước, dưới sự hướng dẫn của ông Moisen.

Cũng trong câu nói trên, Thánh Gioan cho chúng ta thấy đặc tính trổi vượt của mạc khải Ki Tô Luận trên truyền thống Lề Luật trên núi Sinai:
- “...Lề Luật được Chúa ban qua ông Moisen, còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Chúa Giêsu Ki Tô mà có”.
Từ vị lập pháp tiên khởi Moisen Lề Luật được ban cho, trong khi đó thì từ Người Con Duy Nhứt của Chúa Cha, ân sủng và chân lý được Thiên Chúa ban cho dư đầy.
Cặp từ ngữ song đôi vừa kể “Lề Luật " - “An Sủng và Chân Lý " nhắc chúng ta nhớ lại Cựu Ước và biến cố được giải thoát trong cuộc xuất hành, trong đó Moisen xin được nhìn thấy Thiên Chúa và Người làm cho ông hài lòng:
- “Thiên Chúa ngự xuống trong đám mây và đứng đó với ông. Người xưng danh Người là Thiên Chúa. Đức Chúa đi qua trước mặt ông và tuyên xưng: “Đức Chúa ! Đức Chúa ! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu lòng nhân nghĩa và thành tín (nguyên ngữ, " chân lý ")” (Ex 34, 5-7).
Nếu trong Cựu Ước YHWH được thể hiện như là Đấng “giàu lòng nhân nghĩa và thành tín (đầy chân lý ) ", thì điều mạc khải đó chỉ là bóng dáng thoáng qua so với việc con người có thể hiểu biết đầy đủ về Người và về ơn cứu độ, liên quan đến sự kiện Chúa Giêsu Ki Tô nhập thể đem đến cho.
Trong câu (Jn 1, 15) Thánh Gioan còn đề cập lại con người của Thánh Gioan Tẩy Giả, nhưng là đề cập đến dưới phận vụ nhân chứng nhỏ bé so với Ngôi Lời (ở đây được gọi là Người):
- “Ông Gioan làm chứng về Người và hô to lên : “Đây là Đấng (Người) mà tôi đã nói: Đấng (Người) sẽ đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi” (Jn 1, 15),
cũng như ở câu sau đó:
- “Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi” (Jn 1, 30).
Chúng ta có thể lưu ý cách diễn tả trong câu (Jn 1, 15): “...và hô to lên”. Điều đó có nghĩa là Thánh Gioan tuyên bố cho dân chúng trong thời Chúa Giêsu biết và vẫn tiếp tục loan báo, bởi lẽ động từ “hô to lên” dưới dạng thức thì aoriste (thì quá khứ), chỉ một động tác đã thực hiện trong qúa khứ, nhưng hậu quả vẫn còn tồn tại trong hiện tai. Đó là cách Thánh Gioan cho biết rằng sứ mạng của Thánh Gioan Tẩy Giả, nội dung của sứ mạng ngài loan báo vẫn còn có ảnh hưởng tồn tại đến cả sau thời gian Thánh Gioan tác giả Phúc Âm viết ra, và vẫn còn tồn tại cho những ai đọc Phúc Âm ngài ở mọi thời đại.

Câu (Jn 1, 18). “Thiên Chúa chưa bao giờ ai thấy cả; nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết "
là câu kết thúc của phần trình bày tiên khởi nầy, kết thúc bằng cách gây cho những ai đọc Phúc Âm phải chú ý đến Chúa Cha.
Thấy được Chúa Cha là ước vọng lúc nào cũng nằm trong tâm khảm con người, mặc dầu nhiều lần con người đã tìm nhiều cách để được thấy Người, như xây dựng Đền Thờ, dựng Lều Hội Ngộ:

- “Ông Moisen lấy một chiếc lều và đem dựng cho mình bên ngoài trại, cách một quảng xa. Ông gọi lều ấy là Lều Hội Ngộ. Ai thỉnh ý Thiên Chúa thì ra Lều Hội Ngộ, ở ngoài trại ..." (Ex 33, 7).
- “Năm vua Ozia băng hà, tôi thấy Chúa Tối Cao ngự trên ngai rất cao; tà áo Người bao phủ Đền Thờ..." (Is 6, 1).

Nhưng bao nhiêu tìm kiếm của con người để gặp được Chúa, kể cả những vị khôn ngoan, nổi tiếng cũng chỉ đưa đến kết luận rằng chỉ có khi nào Chúa tự mình quyết định tỏ mình ra cho con người, con người mới có thể biết được Chúa một cách sâu đậm và thiết thực:
- “Những gì thuộc hạ giới, chúng con đã khó mà hình dung nổi; những điều vừa tầm tay, đã phải nhọc công mới khám phá được, thì những gì thuộc thượng giới, có ai dò thấu nổi hay chăng? Ý định của Chúa, nào ai biết được, nếu tự chốn cao vời, chính Ngài chẳng ban Đức Khôn Ngoan, chẳng gởi thánh thần cho ?” (Sap 9, 16-17).

Như vậy, chỉ có Đấng ở nơi cung lòng Chúa Cha (eis tòn kolpon), khắn khít với Chúa Cha mới có thể làm cho chúng ta biết được Người, bởi vì Đấng ấy, Ngôi Lời, liên kết nơi mình chính điều gì thuộc về Chúa Cha và những gì đặc tính của con người:
- “Chính Người (Ngôi Lời ) đã tỏ cho chúng ta biết” (Jn 1, 18 b),
theo ý nghĩa nguyên ngữ: chính Người đã giải thích cho chúng ta biết chi tiếc (exeghésato ).
Chỉ có Chúa Giêsu mới là Đấng thuật lại và giải thích cho chúng ta biết được rõ ràng về Chúa Cha, như điều Chúa Giêsu nói với hai môn đệ trên đường Emmaus:
- “Rồi bắt đầu từ Moisen và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh” (Lc 24, 27).
Bởi vì chỉ có Chúa Giêsu, Con Một Thiên Chúa, hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha:
- “Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời và Ngôi Lời vẫn ở nơi Thiên Chúa” (Jn 1, 1),
mới là Đấng có thể “cắt nghĩa, giải thích " cho chúng ta một cách chính đáng những gì Người đã thấy và nghe nơi Chúa Cha:
- “Người làm chứng về những gì Người đã thấy, đã nghe, nhưng chẳng ai nhận lời chứng của Người. Ai nhận lời chứng của Người, thì xác nhận Thiên Chúa là Đấng chân thật” (Jn 3, 32).
Lạy Chúa Giêsu, chúng con cám ơn Chúa vì đã cho chúng con biết được Chúa Cha, niềm hạnh phúc và đời sống bất diệt của chúng con và cho chúng con biết được mình được Chúa Cha yêu thương, là con của Người:
- “Còn những ai đón nhận, tức là tin vào danh Người, thì Người cho được quyền trở nên con Thiên Chúa” (Jn 1, 12).