admin
31-12-2009, 03:00 PM
Biện chứng tư tưởng hay nghệ thuật tư duy của con người
Trong thế kỷ XVII, ở Pháp không xảy ra các cuộc cải cách tôn giáo sôi động và mang nhiều kịch tính như ở Đức, nhưng vào lúc bấy giờ nước Pháp cũng không phải là một quốc gia Công Giáo tuyệt đối trung thành với Tòa Thánh Vatican như Tây Ban Nha. Thật vậy, từ thời trung cổ, người Công Giáo Pháp vốn đã thiên về xu hướng Gallicanisme, xu hướng theo thuyết Pháp quốc giáo, tức chủ trương một Giáo Hội Công Giáo quốc gia tự trị, độc lập với Tòa Thánh Vatican, tương tự như thuyết Anglicanisme (Anh giáo) ở Anh quốc. Có lẽ vì lý do đó, ở Pháp giáo phái Tin Lành chỉ là một thiểu số rất nhỏ và chỉ từ khi Sắc Chỉ Nantes được Pháp hoàng ban hành vào năm 1598, thì người Tin Lành Pháp mới được hưởng quyền tự do tôn giáo một cách rộng rãi, hầu như người Công Giáo vậy. Giáo phái Tin Lành Pháp theo khuynh hướng của nhà cải cách người Pháp Johannes Calvin, tên thật là Jean Cauvin, (1509-1564), chủ trương rằng đức tin tôn giáo phải được dựa trên nền tảng các luận cứ của trí năng và trật tự của Giáo Hội chỉ được đặt cơ sở trên Kinh Thánh mà thôi. Giáo thuyết của ông (Calvinismus) khác biệt với giáo thuyết của Luther (Luthertum) ở hai điểm:
1) Calvin khẳng định rằng trong khi cử hành Bữa Tiệc Ly (Thánh Lễ), Đức Kitô chỉ hiện diện một cách thiêng liêng mà thôi, chứ không hiện diện một cách thực tiễn trong bánh và rượu, và biến chúng thành Mình và Máu Thánh của Người như Luther chủ trương. Nhưng ngày nay người Tin Lành phái Luther ở Đức và ở các nước bắc Âu cũng không còn giữ được sự xác tín nguyên thủy của Luther về sự hiện diện thực sự của Chúa trong Phép Thánh Thể nữa. Trái lại, họ cũng tin như phái Calvinisten.
2) Về lý thuyết tiền định: Calvin chủ trương rằng sự cứu rỗi hay sự trầm luân khổ ải của mỗi người đã được Thiên Chúa tiền định từ đời đời rồi, nên con người không thể thay đổi được nữa.
Và tuy Johannes Calvin là người Pháp, nhưng tư tưởng cách mạng tôn giáo của ông lại không thể phát triển một cách rộng rãi ở một nước Pháp có truyền thống Công Giáo lâu đời được. Trái lại, ông đã gặp được Thụy Sĩ như một miền đất „phì nhiêu“ cho sự phát triển giáo thuyết của mình, và vì thế ông đã biến Tiểu bang Genève thành trung tâm Tin Lành quan trọng, mãi cho tới hôm nay.
Trong những lãnh vực chủ yếu của nước Pháp, những hình thức đạo đức kiểu ba-rốc(1) – như kiểu kiến trúc nhà thờ ba-rốc – không đóng những vai trò quan trọng. Khác với các nước khác ở Âu Châu vào lúc bấy giờ, ở Pháp Dòng Tên có rất ít ảnh hưởng. Bù vào đó, có một số Tu hội khác, như Tu hội Oratoriens của Linh mục Pierre de Bérulle(2), Tu hội Lazaristen, cũng được gọi là Tu hội Bác ái thánh Vinh Sơn, của Linh mục Vincent de Paul(3) và nhiều cộng đồng Tu hội khác nữa. Đây là những Tu hội mới được thành lập, có nội quy, mục đích và tôn chỉ mới mẻ, khác với các Dòng tu truyền thống mang hình thức „ba-rốc“ cổ kính, như: Dòng Biển Đức, Dòng Xi-tô, Dòng Đa Minh hay Dòng Phan-xi-cô, v.v… Nhưng chính các Tu hội mới này lại được liên kết chặt chẽ với những hình thức thần bí dưới nhiều dạng thức khác nhau. Thuộc về phong trào Công Giáo Pháp „phản ba-rốc“ này, người ta còn phải kể đến phái „Dương thân chủ nghĩa“, hay cũng gọi là phái Đạo đức khắc nghiệt Jansenismus.
Phái đạo đức khắc nghiệt Jansenismus là một phong trào có khuynh hướng chống lại Dòng Tên, nổi lên ở phần đất cũ thuộc Hòa Lan do người Tây Ban Nha quản trị, ngày nay thuộc Bỉ. Đây là một phong trào có liên quan tới giáo thuyết về ơn sủng của thánh Augustinus; tới sự phê bình thuyết Molinismus và „cuộc tranh cãi về ơn sủng“ giữa Linh mục Luis de Molina thuộc Dòng Tên Tây Ban Nha và Linh mục Domingo Bánez, thuộc Dòng Đa Minh Tây Ban Nha. Chính Linh mục Luis de Molina đã viết một cuốn sách về ơn sủng và đã gây nên bao cuộc tranh cãi sôi nổi.
Còn tên gọi Jansenismus được đặt theo tên nhà thần học Công Giáo Cornelius Jansenius hay cũng được gọi là Jansen (1585-1638), người Hòa Lan, giáo sư tại Đại Học Louvain, là người đã khởi xướng ra phong trào Đạo đức khắc nghiệt. Năm 1636, Jansenius được bầu làm Giám mục giáo phận Ypern và qua đời năm 1638. Hai năm sau đó, tức vào năm 1640, tác phẩm của ông với tựa đề „Augustinus“ được xuất bản, trong đó Jansenius đã trình bày quan điểm của ông về những vấn đề Thần học có liên quan tới sự tự do của con người và ơn sủng của Thiên Chúa, đối lập với quan điểm của Linh mục Luis de Molina. Nhưng quan điểm của Jansenius cũng ít nhiều đã bị ảnh hưởng bởi lý thuyết về sự tiền định của nhà cải cách Calvin. Tiếp đến, nhân vật khởi xướng thứ hai của Jansenismus là nhà thần học Antoine Arnauld, xuất thân từ một gia đình tân tòng. Antoine Arnauld sinh năm 1612 tại Paris, là người kịch liệt đả kích khuynh hướng thần học luân lý của Dòng Tên.
Giáo sư Antoine Arnauld là em trai của nữ tu Angélique Arnauld, Viện Mẫu Nữ Tu viện Port-Royal-des-Champs từ năm 1602, nằm về phía đông-nam Paris. Bởi đó, Tu viện Port-Royal đã trở thành trung tâm của phong trào Đạo đức khắc khổ Jansenismus, một phong trào với khuynh hướng luân lý nghiêm khắc của mình đã đào tạo được một số không nhỏ các nhà trí thức ưu tú cho nước Pháp, như nhà toán học và triết học thời danh Blaise Pascal. Năm 1626, Tu viện Port-Royal-des-Champs xây dựng bệnh viện „Maternité Port-Royal” ở Paris, nơi có nhà ga xe lửa Port-Royal và được coi như một chi nhánh của Tu viện mẹ với tên gọi là Tu viện Port-Royal-de-Paris.
Vào năm 1653, phong trào Jansenismus bị Tòa Thánh lên án với Sắc Chỉ „Cum occasione“ của Đức Giáo Hoàng Innocente X, và vào năm 1656, với Sắc Chỉ „Ad sacram“ của ngài, Đức Giáo Hoàng Alexandre VII lại tiếp tục xác nhận sự lên án đó một lần nữa, sau khi Đại học Paris đã kết án và truất quyền dạy học của Antoine Arnauld. Vào năm 1661, khi vua Louis XIV đòi các Nữ tu thuộc Tu viện Port-Royal phải ký tên vào một bản tuyên bố tùng phục sự phán quyết trên của Đức Giáo Hoàng và tìm cách trục xuất họ đó ra khỏi Tu viện Port-Royal, thì các Nữ tu đã chống trả lại một cách đầy quyết liệt. Vào năm 1664, Đức Tổng Giám Mục Perefixe của Paris đã ra lệnh trục xuất mười hai Nữ tu bảo thủ quan điểm Jansenismus của mình một cách cố chấp ra khỏi Tu viện Port-Royal-de-Paris. Và bốn năm sau đó, hai Nữ Tu viện Port-Royal-de-Paris và Port-Royal-des-Champs bị tách rời khỏi nhau. Tu viện Port-Royal-de-Paris công khai từ bỏ phong trào jansenismus và tồn tại mãi cho tới cuộc cách mạng 1789 bùng nổ, trong khi đó Tu viện Port-Royal-des-Champs vẫn tiếp tục trung thành với phong trào Jansenismus.
Vào năm 1705, với sự ban hành Sắc Chỉ „Vineam Domini Sabaoth“ của Đức Giáo Hoàng Clemente XI, cuộc đụng độ lại được khơi dậy. Vì thế, năm 1710 nhà vua đã ra lệnh san bằng địa Nữ Tu viện Port-Royal-des-Champs, trước khi Đức Giáo Hoàng Clemente XI với Sắc Chỉ „Unigenitus“ ban hành năm 1713, chiếu theo sự yêu cầu của vua Luois XIV, cấm 101 câu trong các sách của nhà thần học Pasquier Quesnel, thuộc khuynh hướng Jansenismus.
Port-Royal thường được gọi là nơi cư ngụ của những „phụ nữ đạo đức“ quan trọng. Trước hết phải kể đến Nữ tu Angelique Arnauld, một người đã canh tân cuộc sống Tu viện bằng sự khiêm tốn và khổ chế hết sức khắc nghiệt. Dưới thời Nữ tu Agnès Arnauld, em ruột của bà, làm Viện Mẫu Tu viện Port-Royal và là người đã tổ chức cuộc chống trả vào năm 1661, trường học Port-Royal dành cho nữ sinh được thiết lập cùng với các Nữ tu như Anne Eugénie de l´Incarnation và nhất là với Nữ tu Jacqueline Pascal, em gái của Blaise Pascal, làm giáo viên. Các nguyên tắc giáo dục của các Nữ tu rất nghiêm ngặt và định hướng theo mục đích đã được Linh mục Duvergier de Hauranne, được gọi là Saint-Cyran, đề xướng, là: „Để biết yêu mến và phụng sự Thiên Chúa!“
Nhưng sự quan trọng của Tu viện Port-Royal đối với đời sống trí thức ở Pháp, thì trước hết không do ảnh hưởng của các Nữ tu, nhưng là do được gắn liền với tên tuổi của những danh nhân sống „đời đơn độc“ (les Solitaires) hay cũng được gọi là các „Ẩn sĩ“ (les Ermites) ở Port-Royal. Đó là những vị Linh mục và giáo sư sống chung với nhau trong một Cộng đoàn từ năm 1637, dưới sự hướng dẫn của Saint-Cyran, người qua đời vào năm 1643, và kéo dài mãi cho tới năm 1679 thì do những áp lực bên ngoài, Cộng đoàn của họ tự giải tán. Ngoài việc kinh nguyện và thực hành các việc đạo đức trong cuộc sống hằng ngày, họ còn nổ lực trau dồi việc học hành và nghiên cứu khoa học. Một trong những người thuộc nhóm này là giáo sư thần học Antoine Arnauld - người được coi là một trong những nhà trí thức vĩ đại nhất của thế kỷ XVII, ông vừa là một nhà thần, một triết gia, một nhà ngôn ngữ học vừa là một nhà toán học -, và mãi cho tới khi bị bãi nhiệm vào năm 1656, ông là giáo sư thần học tại Đại học Sorbonne. Sau đó ít lâu, ông đã trốn sang sống ở Hòa Lan và qua đời tại Brüssel, thủ đô nước Bỉ vào năm 1694. Và ngoài Antoine Arnauld ra, còn có những vị khác, chẳng hạn như Claude Dancelot hay Pierre Nicole, v.v…!
Trong thế kỷ XVII, ở Pháp không xảy ra các cuộc cải cách tôn giáo sôi động và mang nhiều kịch tính như ở Đức, nhưng vào lúc bấy giờ nước Pháp cũng không phải là một quốc gia Công Giáo tuyệt đối trung thành với Tòa Thánh Vatican như Tây Ban Nha. Thật vậy, từ thời trung cổ, người Công Giáo Pháp vốn đã thiên về xu hướng Gallicanisme, xu hướng theo thuyết Pháp quốc giáo, tức chủ trương một Giáo Hội Công Giáo quốc gia tự trị, độc lập với Tòa Thánh Vatican, tương tự như thuyết Anglicanisme (Anh giáo) ở Anh quốc. Có lẽ vì lý do đó, ở Pháp giáo phái Tin Lành chỉ là một thiểu số rất nhỏ và chỉ từ khi Sắc Chỉ Nantes được Pháp hoàng ban hành vào năm 1598, thì người Tin Lành Pháp mới được hưởng quyền tự do tôn giáo một cách rộng rãi, hầu như người Công Giáo vậy. Giáo phái Tin Lành Pháp theo khuynh hướng của nhà cải cách người Pháp Johannes Calvin, tên thật là Jean Cauvin, (1509-1564), chủ trương rằng đức tin tôn giáo phải được dựa trên nền tảng các luận cứ của trí năng và trật tự của Giáo Hội chỉ được đặt cơ sở trên Kinh Thánh mà thôi. Giáo thuyết của ông (Calvinismus) khác biệt với giáo thuyết của Luther (Luthertum) ở hai điểm:
1) Calvin khẳng định rằng trong khi cử hành Bữa Tiệc Ly (Thánh Lễ), Đức Kitô chỉ hiện diện một cách thiêng liêng mà thôi, chứ không hiện diện một cách thực tiễn trong bánh và rượu, và biến chúng thành Mình và Máu Thánh của Người như Luther chủ trương. Nhưng ngày nay người Tin Lành phái Luther ở Đức và ở các nước bắc Âu cũng không còn giữ được sự xác tín nguyên thủy của Luther về sự hiện diện thực sự của Chúa trong Phép Thánh Thể nữa. Trái lại, họ cũng tin như phái Calvinisten.
2) Về lý thuyết tiền định: Calvin chủ trương rằng sự cứu rỗi hay sự trầm luân khổ ải của mỗi người đã được Thiên Chúa tiền định từ đời đời rồi, nên con người không thể thay đổi được nữa.
Và tuy Johannes Calvin là người Pháp, nhưng tư tưởng cách mạng tôn giáo của ông lại không thể phát triển một cách rộng rãi ở một nước Pháp có truyền thống Công Giáo lâu đời được. Trái lại, ông đã gặp được Thụy Sĩ như một miền đất „phì nhiêu“ cho sự phát triển giáo thuyết của mình, và vì thế ông đã biến Tiểu bang Genève thành trung tâm Tin Lành quan trọng, mãi cho tới hôm nay.
Trong những lãnh vực chủ yếu của nước Pháp, những hình thức đạo đức kiểu ba-rốc(1) – như kiểu kiến trúc nhà thờ ba-rốc – không đóng những vai trò quan trọng. Khác với các nước khác ở Âu Châu vào lúc bấy giờ, ở Pháp Dòng Tên có rất ít ảnh hưởng. Bù vào đó, có một số Tu hội khác, như Tu hội Oratoriens của Linh mục Pierre de Bérulle(2), Tu hội Lazaristen, cũng được gọi là Tu hội Bác ái thánh Vinh Sơn, của Linh mục Vincent de Paul(3) và nhiều cộng đồng Tu hội khác nữa. Đây là những Tu hội mới được thành lập, có nội quy, mục đích và tôn chỉ mới mẻ, khác với các Dòng tu truyền thống mang hình thức „ba-rốc“ cổ kính, như: Dòng Biển Đức, Dòng Xi-tô, Dòng Đa Minh hay Dòng Phan-xi-cô, v.v… Nhưng chính các Tu hội mới này lại được liên kết chặt chẽ với những hình thức thần bí dưới nhiều dạng thức khác nhau. Thuộc về phong trào Công Giáo Pháp „phản ba-rốc“ này, người ta còn phải kể đến phái „Dương thân chủ nghĩa“, hay cũng gọi là phái Đạo đức khắc nghiệt Jansenismus.
Phái đạo đức khắc nghiệt Jansenismus là một phong trào có khuynh hướng chống lại Dòng Tên, nổi lên ở phần đất cũ thuộc Hòa Lan do người Tây Ban Nha quản trị, ngày nay thuộc Bỉ. Đây là một phong trào có liên quan tới giáo thuyết về ơn sủng của thánh Augustinus; tới sự phê bình thuyết Molinismus và „cuộc tranh cãi về ơn sủng“ giữa Linh mục Luis de Molina thuộc Dòng Tên Tây Ban Nha và Linh mục Domingo Bánez, thuộc Dòng Đa Minh Tây Ban Nha. Chính Linh mục Luis de Molina đã viết một cuốn sách về ơn sủng và đã gây nên bao cuộc tranh cãi sôi nổi.
Còn tên gọi Jansenismus được đặt theo tên nhà thần học Công Giáo Cornelius Jansenius hay cũng được gọi là Jansen (1585-1638), người Hòa Lan, giáo sư tại Đại Học Louvain, là người đã khởi xướng ra phong trào Đạo đức khắc nghiệt. Năm 1636, Jansenius được bầu làm Giám mục giáo phận Ypern và qua đời năm 1638. Hai năm sau đó, tức vào năm 1640, tác phẩm của ông với tựa đề „Augustinus“ được xuất bản, trong đó Jansenius đã trình bày quan điểm của ông về những vấn đề Thần học có liên quan tới sự tự do của con người và ơn sủng của Thiên Chúa, đối lập với quan điểm của Linh mục Luis de Molina. Nhưng quan điểm của Jansenius cũng ít nhiều đã bị ảnh hưởng bởi lý thuyết về sự tiền định của nhà cải cách Calvin. Tiếp đến, nhân vật khởi xướng thứ hai của Jansenismus là nhà thần học Antoine Arnauld, xuất thân từ một gia đình tân tòng. Antoine Arnauld sinh năm 1612 tại Paris, là người kịch liệt đả kích khuynh hướng thần học luân lý của Dòng Tên.
Giáo sư Antoine Arnauld là em trai của nữ tu Angélique Arnauld, Viện Mẫu Nữ Tu viện Port-Royal-des-Champs từ năm 1602, nằm về phía đông-nam Paris. Bởi đó, Tu viện Port-Royal đã trở thành trung tâm của phong trào Đạo đức khắc khổ Jansenismus, một phong trào với khuynh hướng luân lý nghiêm khắc của mình đã đào tạo được một số không nhỏ các nhà trí thức ưu tú cho nước Pháp, như nhà toán học và triết học thời danh Blaise Pascal. Năm 1626, Tu viện Port-Royal-des-Champs xây dựng bệnh viện „Maternité Port-Royal” ở Paris, nơi có nhà ga xe lửa Port-Royal và được coi như một chi nhánh của Tu viện mẹ với tên gọi là Tu viện Port-Royal-de-Paris.
Vào năm 1653, phong trào Jansenismus bị Tòa Thánh lên án với Sắc Chỉ „Cum occasione“ của Đức Giáo Hoàng Innocente X, và vào năm 1656, với Sắc Chỉ „Ad sacram“ của ngài, Đức Giáo Hoàng Alexandre VII lại tiếp tục xác nhận sự lên án đó một lần nữa, sau khi Đại học Paris đã kết án và truất quyền dạy học của Antoine Arnauld. Vào năm 1661, khi vua Louis XIV đòi các Nữ tu thuộc Tu viện Port-Royal phải ký tên vào một bản tuyên bố tùng phục sự phán quyết trên của Đức Giáo Hoàng và tìm cách trục xuất họ đó ra khỏi Tu viện Port-Royal, thì các Nữ tu đã chống trả lại một cách đầy quyết liệt. Vào năm 1664, Đức Tổng Giám Mục Perefixe của Paris đã ra lệnh trục xuất mười hai Nữ tu bảo thủ quan điểm Jansenismus của mình một cách cố chấp ra khỏi Tu viện Port-Royal-de-Paris. Và bốn năm sau đó, hai Nữ Tu viện Port-Royal-de-Paris và Port-Royal-des-Champs bị tách rời khỏi nhau. Tu viện Port-Royal-de-Paris công khai từ bỏ phong trào jansenismus và tồn tại mãi cho tới cuộc cách mạng 1789 bùng nổ, trong khi đó Tu viện Port-Royal-des-Champs vẫn tiếp tục trung thành với phong trào Jansenismus.
Vào năm 1705, với sự ban hành Sắc Chỉ „Vineam Domini Sabaoth“ của Đức Giáo Hoàng Clemente XI, cuộc đụng độ lại được khơi dậy. Vì thế, năm 1710 nhà vua đã ra lệnh san bằng địa Nữ Tu viện Port-Royal-des-Champs, trước khi Đức Giáo Hoàng Clemente XI với Sắc Chỉ „Unigenitus“ ban hành năm 1713, chiếu theo sự yêu cầu của vua Luois XIV, cấm 101 câu trong các sách của nhà thần học Pasquier Quesnel, thuộc khuynh hướng Jansenismus.
Port-Royal thường được gọi là nơi cư ngụ của những „phụ nữ đạo đức“ quan trọng. Trước hết phải kể đến Nữ tu Angelique Arnauld, một người đã canh tân cuộc sống Tu viện bằng sự khiêm tốn và khổ chế hết sức khắc nghiệt. Dưới thời Nữ tu Agnès Arnauld, em ruột của bà, làm Viện Mẫu Tu viện Port-Royal và là người đã tổ chức cuộc chống trả vào năm 1661, trường học Port-Royal dành cho nữ sinh được thiết lập cùng với các Nữ tu như Anne Eugénie de l´Incarnation và nhất là với Nữ tu Jacqueline Pascal, em gái của Blaise Pascal, làm giáo viên. Các nguyên tắc giáo dục của các Nữ tu rất nghiêm ngặt và định hướng theo mục đích đã được Linh mục Duvergier de Hauranne, được gọi là Saint-Cyran, đề xướng, là: „Để biết yêu mến và phụng sự Thiên Chúa!“
Nhưng sự quan trọng của Tu viện Port-Royal đối với đời sống trí thức ở Pháp, thì trước hết không do ảnh hưởng của các Nữ tu, nhưng là do được gắn liền với tên tuổi của những danh nhân sống „đời đơn độc“ (les Solitaires) hay cũng được gọi là các „Ẩn sĩ“ (les Ermites) ở Port-Royal. Đó là những vị Linh mục và giáo sư sống chung với nhau trong một Cộng đoàn từ năm 1637, dưới sự hướng dẫn của Saint-Cyran, người qua đời vào năm 1643, và kéo dài mãi cho tới năm 1679 thì do những áp lực bên ngoài, Cộng đoàn của họ tự giải tán. Ngoài việc kinh nguyện và thực hành các việc đạo đức trong cuộc sống hằng ngày, họ còn nổ lực trau dồi việc học hành và nghiên cứu khoa học. Một trong những người thuộc nhóm này là giáo sư thần học Antoine Arnauld - người được coi là một trong những nhà trí thức vĩ đại nhất của thế kỷ XVII, ông vừa là một nhà thần, một triết gia, một nhà ngôn ngữ học vừa là một nhà toán học -, và mãi cho tới khi bị bãi nhiệm vào năm 1656, ông là giáo sư thần học tại Đại học Sorbonne. Sau đó ít lâu, ông đã trốn sang sống ở Hòa Lan và qua đời tại Brüssel, thủ đô nước Bỉ vào năm 1694. Và ngoài Antoine Arnauld ra, còn có những vị khác, chẳng hạn như Claude Dancelot hay Pierre Nicole, v.v…!