PDA

View Full Version : Gia đình Á Châu hướng đến nền văn minh sự sống toàn diện.


Đamien
25-09-2006, 09:49 AM
GIA ĐÌNH Á CHÂU HƯỚNG ĐẾN NỀN VĂN MINH SỰ SỐNG TOÀN DIỆN

Lời nói đầu

Bạn đọc thân mến, trong sứ điệp gởi toàn thể Dân Chúa tại Châu Á, các giám mục thuộc Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu họp tại Daejon, Hàn Quốc, từ 17 đến 23 tháng 8 năm 2004, với chủ đề Gia Đình Á Châu hướng đến nền văn hoá sự sống đã lấy lại lời của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đề kêu gọi các gia đình Ki-tô hữu: ''Hỡi các gia đình, hãy trở nên chính mình!'', nghĩa là hãy sống trọn vẹn ơn gọi Ki-tô hữu và nỗ lực thực hiện sứ mệnh làm chứng cho Thiên Chúa là Tình yêu trên lục địa Châu Á mênh mông này.



Sở dĩ các giám mục đưa ra lời kêu là trên đây là vì, một đàng các ngài hoàn toàn xác tín rằng gia đình là quà tặng quý giá, là ân phúc Chúa ban cho Châu Á, là rường cột của xã hội, là chiếc nôi của sự sống và nhà giáo dục đầu tiên, là Giáo Hội tại gia; đàng khác, các ngài nhận thấy ngày nay các gia đình đang gặp nhiều thử thách gian truân, phải đương đầu với vô vàn khó khăn để bảo vệ những truyền thống tốt đẹp, những giá trị đích thực của gia đình Á Châu, như lòng tôn kính sâu xa đối với sự sống, sự gần gũi và tôn trọng thiên nhiên, siết chặt tình thâm gia tộc, tình nhân ái giữa người với người, củng cố lòng hiếu khách, tôn trọng người già, đề cao lòng hiếu thảo, chăm sóc cho người trẻ, duy trì được đời sống tâm linh và niềm tin tôn giáo trong gia đình, cảm nhận được sự thánh thiêng của hôn nhân …

Hơn nữa, các thực tại mới mẻ cũng đang làm lung lay nền tảng ổn định của nhiều gia đình, như nền văn hoá mới toàn cầu đề cao cá nhân chủ nghĩa, lối sống ích kỷ thực dụng. Ngoài ra, việc toàn cầu hoá kinh tế, cùng với chiến tranh, xung đột triền miên tại một số nước Châu Á, góp phần vào việc gây ra tình trạng nghèo đói cùng cực, thúc đẩy phong trào di dân ồ ạt. Thêm vào đó, nạn xì ke ma tuý, những hình ảnh khiêu dâm trên các phương tiện truyền thông, đại hoạ HIV/AIDS đang huỷ hoại nhiều gia đình, đặc biệt là giới trẻ.

Sau khi trình bày tình trạng gia đình tại Châu Á, các ngài còn đưa ra những suy tư thần học, nhằm giúp các gia đình tìm ra lời đáp trả trong đức tin trước những vấn đề nhức nhối nêu trên.

Trước nền văn hoá gieo rắc cái chết trong hiện tình của Châu Á, chúng ta đáp trả bằng cách trình bày hình ảnh của một nền văn hoá sự sống toàn diện, đặc biệt hướng về hôn nhân và gia đình. Nền văn hoá này đặt trọng tâm trên giao ước sự sống với Thiên Chúa, trong đó đề cao những giá trị của Nước Thiên Chúa, như tình yêu, sự hiệp thông và tình liên đới giữa cá nhân, giữa các gia đình và các xã hội. Nền văn hoá tôn vinh sự sống toàn diện này là quà tặng của Thiên Chúa, đồng thời là nghĩa vụ Thiên Chúa giao phó trong và qua Đức Giê-su, Đấng đã nâng sự sống con người lên mức dộ thần linh, và chia sẻ sự sống đó với chúng ta trong Giáo Hội nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần.

Tiếp đến, chúng ta suy tư về chính Giáo Hội như gia đình của Chúa, như dấu chỉ và đồng thời là lời hứa và sự sống sung mãn trong Nước Thiên Chúa. Đức Giê-su và Nước Thiên Chúa mà Người công bố là lời đáp trả trong đức tin của chúng ta, trước nền văn hoá sự chết đang đe đoạ tất cả mọi giá trị Tin Mừng đã được dành riêng cho các gia đình ngay từ thuở ban đầu.

Sau cùng, chúng ta suy niệm sâu hơn vế bản chất mà Thiên Chúa đã ban tặng cho hôn nhân và gia đình dưới ánh sáng của những giá trị nền tảng là giao ước, tình yêu, sự hiệp thông và tình liên đới. Như vậy, động lực thúc đẩy suy tư của chúng ta là coi gia đình không chỉ đơn thuần là đối tượng cần được phúc âm hoá và được hướng dẫn để khám phá ra căn tính của mình, nhưng quan trọng hơn là coi gia đình như chủ thể của việc truyền giáo trong chính gia đình, cũng như ra bên ngoài cho người khác, nhằm hướng đến nền văn hoá sự sống toàn diện trong Nước Thiên Chúa.

Chúng tôi giới thiệu sứ điệp và tài liệu này với ước mong duy nhất là giúp ích phần nào cho tất cả các bạn đọc, cách riêng những ai sống trong bậc hôn nhân và gia đình.





GIA ĐÌNH Á CHÂU HƯỚNG ĐẾN NỀN VĂN MINH SỰ SỐNG TOÀN DIỆN
SỨ ĐIỆP CỦA LIÊN HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC Á CHÂU LẦN VIII, THÁNG 8-2004



CÁC GIA ĐÌNH Á CHÂU: NHỮNG ĐIỂM TÍCH CỰC.

Nhân dịp Hội nghị Khoáng Đại của Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu lần thứ VIII, họp tại Daejon, Hàn Quốc, toàn thể giám mục chúng tôi cùng với các linh mục tu sĩ, giáo dân đến từ nhiều nước Á Châu, trong tinh thần lắng nghe tiếng Chúa, và tiếng nói của các gia đình Á Châu, chúng tôi suy tư về đề tài: “Gia đình Á Châu hướng đến nền văn hoá sự sống”. Khi đại hội này kết thúc, chúng tôi hoàn toàn xác tín rằng gia đình quả là quà tặng quý giá và ân phúc Chúa ban cho vùng Á Châu.

Chúng tôi hân hoan đọc được các tín hiệu của niềm hy vọng tràn ngập trong các gia đình Á Châu. Được thôi thúc bởi các giá trị và truyền thống về tôn giáo và văn hoá, nhiều gia đình đang nỗ lực kiên trì dấn thân cho những lý tưởng của đời sống gia đình. Họ múc lấy sức mạnh từ những giá trị mang tính Á Châu, như lòng tôn kính sâu xa đối với sự sống, sự gần gũi và tôn trọng thiên nhiên, siết chặt tình thâm gia tộc, tình nhân ái giữa người với người, củng cố lòng hiếu khách, tôn trọng nguời già, đề cao lòng hiếu thảo, chăm sóc cho người trẻ. Duy trì được đời sống tâm linh và niềm tin tôn giáo trong gia đình, cảm nhận được sự thánh thiêng của hôn nhân, gia đình và con cái, là những yếu tố mang lại niềm vui và biến nhiều gia đình thành những vườn ươm cho ơn thiên triệu. Trước các gian truân trăm bề, họ luôn kiên cường chịu đựng. Gia đình Á Châu không ngừng được nâng đỡ bởi các giá trị đó và cũng không ngừng chuyển tải các giá trị đó. Chúng tôi không khỏi ngạc nhiên, khi thấy những giá trị của dân bản xứ và của các tôn giáo khác đã làm phong phú các gia đình Á Châu biết chừng nào.

Những cuộc hôn nhân khác đạo và khác văn hoá cũng tạo những cơ hội thuận lợi cho sự phong phú thiêng liêng, và đã trở thành các biểu tượng về một tình yêu vô điều kiện vươn lên từ những vấn đề phức tạp về văn hóa và tôn giáo mà các cuộc hôn nhân này phải đối mặt. Hỡi các gia đình, chúng tôi cám ơn các bạn vì các bạn đã bảo vệ được các giá trị đích thực, và chúng tôi khuyến khích các bạn luôn can đảm, kiên trì.

Đamien
25-09-2006, 09:58 AM
CÁC GIA ĐÌNH Á CHÂU: NHỮNG NỖI LO ÂU

Chúng tôi không quên chia sẻ những nỗi lo âu của các gia đình Á Châu. Những thực tại mới mẻ đang làm lung lay nền tảng ổn định của nhiều gia đình. Nền văn hóa tân tự do toàn cầu đang nổi dậy và hô hào cho cá nhân chủ nghĩa, cho ích kỷ và thèm muốn, cho những lối sống và cách suy nghĩ sặc mùi thực dụng, trần tục hoá, chủ nghĩa này đang là mối đe doạ cho nhiều gia đình. Việc toàn cầu hoá cho tầng lớp ưu tú đang là nguyên nhân gây ra nghèo đói cùng cực, thúc đẩy phong trào di dân. Chiến tranh cùng với những mâu thuẫn tranh chấp cũng xua đuổi con người ra khỏi mái ấm gia đình của mình. Các gia đình đang phải đối đầu với các phương tiện truyền thông xã hội và những chương trình cưỡng bức hạn chế dân số đang gây ảnh hưởng trên các giá trị gia đình. Nạn HIV/AIDS lan tràn, nạn ma tuý và tranh ảnh khiêu dâm đang huỷ hoại các gia đình, đặc biệt lớp trẻ là những người dễ bị băng hoại nhất. Việc gia tăng các gia đình ly hôn và đổ vỡ là dấu hiệu cho thấy tình trạng rạn nứt trong gia đình. Phá thai và những nỗ lực khác nhằm thao túng sự sống con người đang là một vấn đề cực kỳ nghiêm trọng. Não trạng ngừa thai đang xói mòn tình yêu hôn nhân chân thật. Tình trạng phụ nữ và trẻ em tiếp tục bị ngược đãi là một nhức nhối. Các giá trị đã từng làm nền tảng cho gia đình đang bị biến mất tới mức báo động, kết quả là trong một vài nước, ơn thiên triệu bị giảm xuống cách thảm hại. Chúng tôi cũng không thể bỏ qua tình trạng phức tạp của những gia đình chỉ có mẹ, hoặc chỉ có cha, các gia đình mà cha mẹ đã chia tay nhau, các gia đình mà cha mẹ đã tái hôn, và những ảnh hưởng nặng nề đó trên con cái. Hỡi các gia đình vùng Á Châu, chúng tôi luôn sát cánh với các bạn, khi các bạn phải chiến đấu kiên cường với những khó khăn thử thách này.

CÁC GIA ĐÌNH Á CHÂU: PHÁT HUY VĂN HOÁ SỰ SỐNG


Là người bước theo Đức Giêsu Kitô, chúng tôi chỉ ước mong mọi gia đình sống bằng Tình Yêu đến từ Thiên Chúa, vì chỉ có Tình Yêu Chúa mới nuôi dưỡng và tăng thêm sức mạnh cho cuộc sống. Thiên Chúa là Tình Yêu (1 Ga 4,8 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1Ga%204:8&FontSize=Txt10)), và vì yêu thương nhân loại, Thiên Chúa đã gửi Con Một Người đến đem sự sống cho chúng ta (1 Ga 4,9 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1Ga%204:9&FontSize=Txt10)). Theo chương trình cứu độ của Thiên Chúa, thì Chúa Con đã nhập thể bởi phép Chúa Thánh Thần, làm thành viên trong gia đình Đức Maria và Thánh Giuse. Chúng tôi ước mong các giá trị về Nước Thiên Chúa mà Đức Giêsu đã dạy (Mt 5-7 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%205:,%206:,7:&FontSize=Txt10)) ăn rễ sâu trong các gia đình Á Châu, để trổ sinh hoa trái là nền văn hoá tôn vinh sự sống. Nền văn hoá sự sống tôn trọng và bảo vệ quà tặng sự sống con người mà Thiên Chúa đã trao ban, trong mọi chiều kích của nó, từ lúc thụ thai cho đến lúc chết. Nền văn hoá sự sống sẽ luôn can trường đứng lên chống lại mọi thế lực huỷ diệt, khai thác và áp bức sự sống con người.

Nền văn hoá sự sống đề cao việc làm cha làm mẹ có trách nhiệm, đặc tính ưu việt của sự sống con người và nhân phẩm trên hiệu suất, của cải và lợi nhuận. Nền văn hoá sự sống cổ vũ cho những giá trị gia đình nơi những dân bản xứ và các tôn giáo khác. Chúng tôi tin tưởng rằng: nếu gia đình được bén rễ sâu trong đời sống cầu nguyện và tâm linh, thì gia đình quả là nơi mà tình yêu được trung thành chia sẻ, sự sống được nảy sinh, tăng trưởng và bảo vệ với tinh thần trách nhiệm. Với tình yêu chia sẻ này, với sự thông hiệp tương trợ lẫn nhau, các gia đình Á Châu có thể thúc đẩy và ươm mầm cho tình hiệp thông và liên đới, trong các cộng đoàn đức tin và trong xã hội, khi chúng ta cùng nhau bắt tay xây dựng gia đình nhân loại.


CÁC GIÁM MỤC ĐẨY MẠNH MỤC VỤ GIA ĐÌNH


Với tư cách là những chủ chăn trong Giáo Hội, luôn tin tưởng tuyệt đối vào tình yêu kiên trì của Thiên Chúa, chúng tôi, các giám mục sẽ tìm mọi cách cổ vũ cho giá trị của các gia đình. Chúng tôi cam kết đẩy mạnh Mục Vụ Gia Đình, giúp đỡ và đồng hành với mọi gia đình- nhất là những gia đình sống trong cảnh cùng khốn- trong hành trình của họ hướng đến sự sống sung mãn.

Là những người xây dựng các cộng đoàn, chúng tôi kêu mời các chính phủ, các tổ chức quan tâm đến phúc lợi của các gia đình, các cơ quan giáo dục, các nhà sản xuất và cổ động cho các phương tiện truyền thông đại chúng, các anh chị em trong các tôn giáo khác, và tất cả mọi người thành tâm thiện chí, xin hãy cùng chúng tôi củng cố cho nền tảng gia đình, để gia đình trở thành tâm điểm cổ vũ cho nền văn minh tình yêu và văn hoá tôn vinh sự sống.

Chúng tôi xin phó thác mọi gia đình Á Châu trong tay Chúa, nguồn mạch Tình Yêu và Sự Sống. Chúng tôi nguyện cầu cho anh chị em “mặc lấy đức ái: đó là mối dây liên kết tuyệt hảo” (Cl 3,14 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Cl%203:14&FontSize=Txt10)). Hỡi các gia đình Á Châu, hãy trở nên chính mình, hãy trở nên quà tặng tình yêu và sự sống của Thiên Chúa cho lục địa Á Châu!

Đamien
26-09-2006, 03:03 PM
GIA ĐÌNH Á CHÂU VÀ NIỀM HY VỌNG VỀ SỰ SỐNG TRÀN ĐẦY

Niềm hy vọng, nỗi khát khao, giấc mơ của gia đình Á Châu về sự sống tràn đầy trong nước Thiên Chúa không bao giờ phai nhạt. Ngay cả giữa cảnh khốn khổ nghèo đói xem ra không lối thoát, không phải là không có lý do mà các gia đình Á Châu vẫn sống niềm hy vọng đó trong niềm vui tràn trề. Những kinh nghiệm tích cực của các gia đình Á Châu, những người đã tìm được hạnh phúc sung mãn trong cuộc sống gia đình, là những dấu chỉ cho thấy Thần Khí đang hoạt động nơi họ. Nuôi dưỡng được niềm hy vọng này, là nhờ cảm thức sâu xa của người Châu Á về sự linh thánh, và nhờ những kho tàng tâm linh phong phú của vùng Châu Á. Thiên Chúa, hữu thể tối thượng và Đấng tạo thành sự sống , là nền tảng của niềm hy vọng này. Chính Thần Linh Chúa đang hoạt động trong các nền văn hoá Á Châu để nuôi dưỡng và đưa ra lời giải thích cho tình thân, sự hài hoà, sự ổn định tương đối và nhiều giá trị tích cực khác vẫn đang có mặt trong các gia đình Á Châu. Chính Thần Linh Chúa gieo vào trong lòng họ viễn ảnh gia đình Á Châu đang trên đường tiến đến sự hiệp thông, tình liên đới và sứ mệnh loan truyền Nước Thiên Chúa. Đó là tất cả những lý do của niềm hy vọng.

Để suy tư về gia đình Á Châu cùng với niềm hy vọng của họ về một sự sống tràn đầy, các giám mục Á Châu đã cùng họp mặt trong Hội Nghị Khoáng Đại của Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu lần thứ VIII với đề tài “gia đình Á Châu hướng đến nền văn hoá sự sống toàn diện”. các ngài nhận ra rằng, được họp mặt nhau từ ngày 17 đến 23 tháng 8 năm 2004, với tư cách là những chủ chăn của “đoàn chiên nhỏ bé” của Chúa ở vùng Châu Á, là một ân huệ cao cả của Thiên Chúa. Kể từ Hội Nghị Khoáng Đại đầu tiên năm 1974, Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu chỉ đơn thuần nhìn nhận vai trò quan trọng của gia đình trong công cuộc loan báo Tin Mừng. Chỉ trong Hội Nghị Khoáng Đại lần thứ IV về Giáo Dân năm 1986, Liên Hội Đồng mới dành cho gia đình mối quan tâm lớn hơn, chứ không phải chỉ là ghi nhận thoáng qua. Hội nghị đã dành 10 đoạn văn nói về những thách đố mà gia đình phải đối mặt, về vai trò chính yếu của gia đình trong công cuộc phúc âm hoá, và việc đào tạo không chỉ riêng cho giáo dân mà còn cho toàn thể Giáo Hội. Chỉ mới năm 2003, lần đầu tiên trên đất miền Châu Á, tại Manila, Đại Hội Thế Giới lần thứ IV về gia đình đã thôi thúc Giáo Hội quan tâm thật sự đến gia đình, và tầm mức hết sức quan trọng của gia đình trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

Đamien
26-09-2006, 03:09 PM
TẦM QUAN TRỌNG ĐẶC BIỆT CỦA GIA ĐÌNH

Nỗi ưu tư về gia đình đặc biệt khẩn thiết trong tình hình phát triển thế giới ngày nay. Trong hai thập niên qua, những phát triển nhanh chóng về văn hoá, khoa học, kỹ thuật cùng với những phát triển kinh tế, chính trị, đã ảnh hưởng mạnh mẽ trên xã hội loài người. Trung tâm của chấn động xã hội này là gia đình, nơi thu nhận chính yếu các làn sóng văn hoá mới xuất hiện, đồng thời cũng là nơi khởi động những tác dụng văn hoá có ảnh hưởng tốt cũng như xấu. Kể cả ngày nay, chúng ta vẫn đề cập đến gia đình như là điểm tham chiếu cho các tương quan lý tưởng về xã hội, chính trị, kinh tế và tôn giáo. Đại diện cho toàn thể thế giới, Liên Hiệp Quốc vẫn luôn coi gia đình là đơn vị cơ bản của xã hội, mặc cho một số người theo chủ nghĩa tân tự do ở phương Tây đặt vấn đề. Giáo huấn của Giáo Hội về xã hội đã luôn luôn nhìn nhận gia đình như tế bào cơ bản và cộng đoàn đầu tiên của xã hội. Như vậy chắc chắn cơ cấu căn bản đầu tiên cho cuộc sống con người là gia đình.

Giáo Hội toàn cầu không ngừng nhấn mạnh tầm quan trọng tột bậc của gia đình. Gia đình là con đường mà tất cả diễn tiến của lịch sử phải đi qua, là một Giáo Hội tại gia hoặc Giáo Hội ở nhà. Sách Công vụ Tông Đồ nhắc đến việc đức tin được loan truyền “từ nhà này sang nhà nọ” (Cv 20,20 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Cv%2020:20&FontSize=Txt10)). Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã triệu tập Hội Nghị Thế Giới về gia đình trong bốn dịp khác nhau, để nhấn mạnh vai trò không thể thiếu của gia đình Kitô giáo, trong việc định hướng vận mệnh nhân loại dưới ánh sáng đức tin và Tin Mừng. Chính trong bối cảnh những biến chuyển của thế giới và đáp trả chung của Giáo Hội toàn cầu mà những suy tư của Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu về Gia Đình mang một ý nghĩa vừa toàn cầu vừa địa phương. Không ai phủ nhận rằng sự phát triển toàn cầu có ảnh hưởng đến cả các gia đình xa xôi hẻo lánh nhất trong vùng Á Châu.

Đamien
26-09-2006, 03:19 PM
NHỮNG TRUYỀN THỐNG VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA GIA ĐÌNH

Giữa những thay đổi xảy đến như cơn lốc, quét sạch và mang tính cách mạng đang diễn ra trên thế giới, người Á Châu vẫn coi hôn nhân là một định chế thánh thiêng. Con các trong gia đình được yêu thương như những kho tàng, như quà tặng của Thiên Chúa. Để biểu lộ tình yêu thương với con cái, cha mẹ sẵn sàng hy sinh tất cả để cho con cái có được sức khoẻ, sự giáo dục và sự an toàn. Các gia đình hạt nhân luôn sống gắn bó với nhau. Sự gắn bó này cũng thể hiện trong đại gia đình. Người lớn tuổi, người về hưu, ông bà, cha mẹ vẫn được kính trọng và yêu thương chăm sóc trong khuôn khổ gia đình, mặc dù gia đình phải trãi qua nhiều khó khăn và hy sinh. Họ được con cháu vâng phục, nghe lời, tôn kính và mến yêu. Chính những người lớn tuổi là sự bảo đảm cho tình thâm liên kết này. Lòng hiếu khách của những gia đình Á Châu, ngay cả những gia đình hết sức nghèo khó, thì ai cũng biết. dù gặp khó khăn mọi mặt, các gia đình Á Châu, vẫn có được sự ổn định tương đối cao. Họ có sức chịu đựng bền bỉ và sẵn sàng hy sinh khi phải đương đầu với gian khổ. Với lòng mộ đạo và cảm nhận Đấng thiêng liêng sâu thẳm, họ là những người sống rất lạc quan.

Đa số các gia đình Á Châu là người ở nông thôn, họ sống rất gần gũi với thiên nhiên, với tạo vật của Thiên Chúa. Các giá trị này đặc biệt biểu hiện nơi những người dân bản địa, vốn thường được coi là những người nghèo nhất ở Á Châu, những người chưa biết đến các tiến bộ kỹ thuật. Nhiều giá trị khác được duy trì ở Á Châu như một phần của truyền thống gia đình. Chính truyền thống này giữ được tính can trường của các gia đình Á Châu trước sự nghèo đói và các mãnh lực gây chết chóc trong thế giới ngày nay. Đó chính là nền đá tảng trên đó chúng ta xây dựng ngôi nhà Á Châu, như người khôn ngoan trong dụ ngôn của Đức Giêsu (Mt 7,24-25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%207:24-25&FontSize=Txt10)). Chính vì lẽ đó mà các gia đình phải thực hành cách có ý thức, cổ vũ và phát huy các giá trị tích cực này, để giá trị gia đình của họ không bị mai một, nhưng được sáng chói hơn.

Tuy nhiên vẫn có một vài giá trị có cả mặt tốt lẫn mặt xấu. Ví dụ, mối quan hệ họ hàng vững chắc, việc tập trung gia đình sống bên nhau, cũng có những mặt yếu của nó. Các hiện tượng hối lộ tham nhũng, thói gia đình trị, thói bao che người nhà trong môi trường chính trị kinh tế ở Á Châu thường là hậu quả của sự quan tâm thái quá cho gia đình, của lòng ham muốn ích kỷ, thống trị, muốn phục vụ quyền lợi của gia đình của bà con dòng tộc hay bạn thân, bất chấp quyền lợi chung. Các hiện tượng này thậm chí có thể dẫn đến óc bè phái nặng nề, làm cho cộng đoàn và xã hội chia rẽ hơn là đoàn kết. Tuy nhiên, ngày nay có những thực tại, hoặc đã có từ trước hoặc mới xuất hiện, đang xâm nhập và làm cho các gia đình Á Châu dễ bị tổn thương trước những thay đổi sâu xa của xã hội, nhất là dưới ảnh hưởng của việc toàn cầu hoá. Các thay đổi xã hội này đang làm biến dạng niềm tin tôn giáo và luân lý, ý niệm về cá nhân và gia đình, và ngay cả những cơ cấu của hôn nhân và gia đình.

Đamien
27-09-2006, 03:18 PM
NHỮNG HÌNH THỨC GIA ĐÌNH KHÁC NHAU.

Hầu như tình trạng chung của các gia đình Á Châu ngày nay chắc chắn khác với những gì người Á châu quen gọi là gia đình “truyền thống”, thậm chí là “gia đình lý tưởng”. Tình trạng văn hoá khác nhau, tín ngưỡng khác nhau trong các gia đình do hệ luỵ của hôn nhân pha lẫn rất được phổ biến. Các đôi vợ chồng như thế quả là khó phù hợp với nhau hơn là nếu họ có chung cùng một đức tin. Số các gia đình chỉ có cha hoặc chỉ có mẹ, các gia đình mà cha mẹ ly thân, hoặc một trong hai người hay cả hai người đều tái hôn, số các gia đình này ngày càng tăng. Có những cha mẹ ly thân vĩnh viễn, hoặc ly thân tạm thời vì lý do công ăn việc làm. Tình trạng con cái có cha mẹ ly hôn phải sống với ông bà không còn là chuyện hiếm hoi. Có những gia đình chỉ có cha hoặc chỉ có mẹ ở với con cái, có những gia đình mà cha mẹ chỉ đến thăm con mỗi năm được một vài lần, và có những gia đình con cái không cùng chung cha hoặc mẹ. Cũng có những gia đình cha mẹ không làm hôn thú và không thể tạo cuộc sống ổn định cho con cái. Có những gia mẹ không muốn có con hoặc trì hoãn sinh con. Chúng ta thấy ngày càng ít những đại gia đình Á Châu truyền thống sống gắn bó với nhau, ở đó cha mẹ, con cái, ông bà, con dâu, con rể, cháu chắt cùng sống với nhau trong một mái nhà. Ngày càng ít những liên hệ giữa các thành viên trong một gia tộc với nhau. Ngoài ra, còn có những va chạm,mâu thuẫn trong đại gia đình, ví dụ va chạm giữa con dâu mẹ chồng, những mâu thuẫn này cần phải có biện pháp giải quyết.

Với sự gia tăng những phong trào giải phóng, với sự phát triển những tư tưởng tân tự do và hậu hiện đại, trong những nước Á Châu bị trần tục hóa hoặc chịu ảnh hưởng bởi phong trào tự do quá trớn, có những dạng thức khác của gia đình đang manh nha xuất hiện, dù không được ai chấp thuận, ví dụ như những gia đình đồng giới tính, trong đó hai người đồng giới tính lấy nhau. Một số những dạng thức gia đình như thế gây nhiều bức xúc. Những gia đình đó thách đố quan niệm truyền thống của chúng ta về “gia đình Kitô giáo” là nơi mà bí tích hôn nhân giữa người nam và người nữ là quy tắc và là khởi đầu cho nền tảng gia đình. Chúng ta có thể đặt câu hỏi là: Liệu các đôi vợ chồng có còn tin chắc rằng hôn nhân là một giao ước thiêng thánh, hay chỉ là một hợp đồng theo pháp luật? nhiều vấn đề luân lý cũng có thể nêu lên về một thực hành đang rất phổ biến, đó là việc làm hôn nhân phần đời một thời gian trước hôn nhân phần đạo. Trong một vài xã hội, sự kiện này có thể là vì lý do gia đình chưa có đủ tài chánh, hoặc do luật của bộ lạc hay vì tập tục và truyền thống.

Làm sao nhận định tình trạng khác nhau đó của gia đình dưới ánh sáng đức tin? Làm sao giúp các đôi vợ chồng và các gia đình suy nghĩ về những tình trạng này, dưới ánh sáng của sự dấn thân của họ cho Nước Thiên Chúa? Làm sao giúp các gia đình để họ sống tích cực hơn? Và như vậy tóm lại là làm thế nào để đưa ra được một hướng dẫn mục vụ? Đó là những thách đố nghiêm trọng, những trăn trở bức xúc cho mỗi giáo xứ ở vùng Á Châu.

Đamien
28-09-2006, 10:34 AM
SỰ NGHÈO ĐÓI CỦA CÁC GIA ĐÌNH Á CHÂU VÀ TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ.

Thách thức chính yếu và đầu tiên mà các gia đình Á Châu phải đối đầu, đó chính là tình trạng nghèo đói khắp nơi. Đó là một thực tế bi đát ma đa số các gia đình Á Châu phải cam chịu từng ngày và không thể thoát ra được. Nhiều bạn trẻ nghèo không dám nghĩ đến hôn nhân và bắt đầu một gia đình, vì thiếu những phương tiện cơ bản để sinh sống và nâng đỡ nhau. Nhưng tình trạng nghèo đói của vùng Á Châu ngày nay có một chiều kích mới. Đó là tiến trình toàn cầu hóa kinh tế tự do mới đang manh nha thiết lập một trật tự thế giới mới; theo trật tự mới này. Thì mỗi quốc gia cần phải thích ứng với kế hoạch chung, bằng không sẽ bị bỏ lại đàng sau trên đàn phát triển kinh tế do các nước đã phát triển vạch ra. Nhưng tựu trung kế hoạch toàn cầu hóa là một cái gì còn rất dị nghĩa. Báo cáo hằng năm của cơ quan Phát Triển Con Người của Liên Hiệp Quốc thường xuyên đưa ra nhận định rằng:kế hoạch toàn cầu hóa kinh tế đang làm cho tình trạng nghèo đói của những người nghèo và của các nước nghèo ngày thêm trầm trọng- nhất là những người nghèo trong các nước nghèo.
Ảnh hưởng của việc toàn cầu hóa trên tình trạng nghèo đói có thể thấy được ít nhất là trên ba lĩnh vực sau đây:
-Tình trạng nghèo đói của các gia đình nông thôn.
-Tình trạng nghèo đói của các gia đình thành thị.
-Hiện tượng di dân của người Á Châu.


Tình trạng nghèo đói của các gia đình nông thôn.

Nhiều nông phẩm của các gia đình sống về nông nghiệp dần dần không còn là mục tiêu của nhu cầu tiêu thụ nữa, vì đòi hỏi của việc toàn cầu hóa kinh tế, là sự tự do trao đổi và giảm bớt ảnh hưởng kinh tế của địa phương, đã cho phép nông sản được nhập khẩu tự do hơn và thậm chí được bán với giá thấp hơn nông sản địa phương.

Mất khả năng cạnh tranh, không có những biện pháp bảo vệ của chính phủ, mất mạng lưới an toàn che chắn cho nông sản địa phương trước sự cạnh tranh không tương xứng, các gia đình nông thôn phải gánh chịu một yếu tố mới làm cho họ nghèo thêm trước sự bất lực của họ. Cũng thế, đại đa số nông dân Á Châu là những nhà sản xuất nông nghiệp nhỏ. Họ không thể cạnh tranh với chiều hướng ngày càng tăng của ngành kinh doanh lớn liên kết với nhau thành các tổ hợp canh tác quốc tế, trong khi kỹ thuật thay đổi gen di truyền giống đang trở nên rất phổ biến, cũng chỉ làm cho các nông nghiệp nhỏ của Á Châu phải lệ thuộc vào những xí nghiệp và kỹ thuật thường vượt ngoài khả năng hiểu biết và tài chánh của họ. Hơn nữa vì luôn phải đương đầu với những vấn đề về quyền sử dụng đất đai, các gia đình nông thôn thấy đất đai của họ không còn sản xuất được dưới những điều kiện như thế. Vấn đề còn trầm trọng hơn, do làn sóng di dân từ nông thôn đến thành thị làm cho các cộng đoàn ở nông thôn trở thành tê liệt. Điều đáng nói hơn, vấn đề của các gia đình nông thôn ở Nhật Bản không phải là vấn đề nghèo khó về kinh tế, nhưng là vấn đề sụp đổ của chính các làng quê sống về nông nghiệp. Cuối cùng, trong tình trạng quá nghèo khổ, đôi khi các gia đình đã đi đến chỗ cực đoan là phải bán các bộ phận thân thể để sinh tồn.


Tình trạng nghèo đói của các gia đình thành thị

Việc đô thị hóa ở Á Châu không phải mới mẻ gì. Nhưng làn sóng di dân của những người nghèo từ vùng nông thôn đến các thành thị, chưa bao giờ tăng nhanh và nhiều như trong những thập niên gần đây. Toàn cầu hóa không chỉ làm cho các nước nghèo không thể cạnh tranh ngay trong lãnh vực nông nghiệp, nó còn làm tăng nhanh làn sóng người nghèo nông thôn đi tìm công ăn việc làm, mà việc làm thì trở nên rất khó kiếm, vì mức độ phát triển kinh tế thấp trong hầu hết các nước Á Châu. Sự xuất hiện ồ ạt của những khu nhà ổ chuột tại các trung tâm thành phố chứng minh cho việc đô thị hóa quá nhanh chóng này. Tình trạng nghèo khó của người nghèo trong các đô thị thậm chí còn tồi tệ hơn, xét về chỗ ăn ở, điều kiện sinh sống của gia đình, không gian cho gia đình và cho cá nhân, nước uống sạch, điều kiện vệ sinh và sạch sẽ. Vì sống trong những căn hộ của nhà nước hay của tư nhân, dân sống khu ổ chuột luôn phập phồng không biết bị đuổi ra khi nào và lúc đó thì nhà đâu mà ở. Do đó đôi khi vì tuyệt vọng họ đi đến phạm tội ác, lạm dụng trong gia đình và sự tan vỡ gia đình.

Đamien
29-09-2006, 02:22 PM
Hiện tượng di dân của người Á Châu

Vì tình trạng kinh tế của các gia đình Á Châu, hàng triệu người phải rời bỏ gia đình đi kiếm việc làm, mà những công việc này thường không tương ứng với tầm hiểu biết và kỹ năng của họ. Dĩ nhiên, các nước Á Châu có nền kinh tế phát triển hơn, như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Singapore, Mã Lai, Thái Lan cũng như các nước dầu mỏ ở Trung Đông, là những điểm đến thu hút nhất. Điều bi đát là những công nhân di cư thường phải làm việc trong những hoàn cảnh bị kỳ thị và bị bóc lột tột cùng. Á Châu là nơi xuất khẩu lao động với giá rẻ nhất. Sự thật là đồng lương họ kiếm được ở ngoài nước cao hơn nhiều so với mức lương trong nước, nhưng đổi lại họ mất đi sự ổn định của gia đình và việc giáo dục thích hợp cho tiến trình trưởng thành của con cái, vì chúng thiếu sự hiện diện, hướng dẫn và tình yêu thương của cha mẹ, khi đang ở độ tuổi phát triển nhất và dễ bị tác động nhất.

Hơn nữa, người bản xứ di dân vì việc làm còn phải đối mặt với sự mất gốc về văn hóa hơn những nhóm dân cư khác. Họ đánh mất nhiều giá trị tích cực mà cộng đoàn bản xứ của họ từng ấp ủ. Họ cũng phải trải qua khó khăn vô cùng khi tái hội nhập.

Tóm lại những công dân di cư và gia đình của họ rất cần đến sự ân cần chăm sóc mục vụ, từ giáo Hội ở những nước gửi họ đi và Giáo Hội ở những nước nhận họ về. Chăm sóc mục vụ cho công nhân di cư quả là một trong những ưu tư mục vụ hàng đầu của Giáo Hội Châu Á.

Xuyên qua tất cả các chiều kích trên của tình trạng nghèo khổ ở Á Châu, là hiện tượng “phụ nữ hóa tình trạng nghèo khổ”. Đã có nhận định rằng phần nhiều gánh nặng của sự nghèo khó đều đổ trên vai người phụ nữ.

Thường thì chính những người chồng cung cấp những điều kiện cần thiết cho gia đình sinh sống , nhưng chính người vợ lại phải đảm đương mọi việc, nào là lo ăn lo mặc cho con cái, lại còn phải lo chợ búa bếp núc, chăm lo con cái đau ốm, săn sóc những người già trong đại gia đình. Công việc của họ không có giờ giấc. Công việc nội trợ không phải là việc làm đơn thuần bắt đầu từ 7g30 sáng đến 5 giờ chiều với 2 giờ nghỉ trưa. Con gái trong gia đình lăng xăng làm bất cứ gì có thể. Có những trường hợp bất cứ khi nào có thể, người mẹ và con gái còn phải kiếm thêm chút thu nhập ngoài công việc trong nhà. Xem ra nghèo đói làm khổ phụ nữ hơn người nam.

Đamien
30-09-2006, 02:55 PM
TÌNH TRẠNG KHÔNG RUỘNG ĐẤT VÀ MẤT NHỮNG GIA TÀI CỦA TỔ TIÊN

Tình trạng nghèo khổ của các gia đình Á Châu còn khó khăn hơn vì thực tế là họ không còn đất canh tác. Hàng triệu gia đình Á Châu không còn làm chủ hay canh tác đất đai của họ. Bạt ngàn ruộng đất thuộc quyền sở hữu của một thiểu số người, cho thấy có sự mất quân bình trong việc phân phối tài nguyên của lục địa Á Châu. Đây là một dấu hiệu nữa của sự bất công trong xã hội, làm cho bao nhiêu người nghèo chẳng còn cơ may xây dựng một tương lai tốt đẹp hơn. Việc cải cách ruộng đất tại nhiều nước Á Châu vẫn là vấn đề nhức nhối, nhất là khi người giàu có kiểm soát thế lực chính trị và ngăn chặn những cơ hội hợp pháp, để có một sự phân phối ruộng đất công bằng hơn.

“Tấc đất, tấc vàng” – Câu ngạn ngữ này hoàn toàn đúng cho người dân vùng sâu vùng xa. Họ đã từng có sẵn trong đầu quan niệm bất di bất dịch này, là đất đai, sông ngòi, những cánh rừng là của họ dù họ không có một mảnh giấy tờ hợp pháp nào minh chứng cho quyền sở hữu của họ. Khai thác sự hiểu biết thô thiển này của người dân bản địa về quyền sở hữu cũng như về luật pháp, những người làm rừng, thợ mỏ, và những nông gia từ đồng bằng lần hồi xâm lấn đất đai của dân bản địa do tổ tiên họ để lại, và năm này qua năm khác thu hẹp phạm vi đất đai của họ.

Thường thường, những cộng đoàn dân bản địa phải dời chỗ và đi sâu hơn vào vùng núi, để tránh những tranh chấp va chạm. Chắc chắn là quyền sở hữu đất đai, quyền phát triển văn hóa và kinh tế riêng của họ đã bị xâm phạm. Hơn nữa, dựa theo mô hình phát triển của phong trào tự do mới của nhà nước trên đất đai do tổ tiên để lại của người bản địa, đôi khi cũng đi ngược lại sự phát triển toàn diện của những dân bản xứ đó.



TOÀN CẦU HÓA VỀ VĂN HÓA VÀ ẢNH HƯỞNG TRÊN GIA ĐÌNH

Ở một tầm mức quan trọng và lớn lao hơn, việc toàn cầu hóa về kinh tế còn kéo theo việc toàn cầu hóa về văn hóa. Từ giữa thế kỷ XX, chủ nghĩa trần tục hóa của phương Tây đã ảnh hưởng mạnh mẽ trên các xã hội Á Châu. Nhưng chưa bao giờ tiến trình trần tục hóa, với tinh thần tự do cá nhân quá trớn thời hậu hiện đại, lại tiến nhanh và ảnh hưởng sâu rộng trên việc khuôn đúc lại hệ thống giá trị của các gia đình Á Châu, bằng hai thập niên cuối của thế kỷ XX. Như chúng ta đã thấy, nhân tố của việc thay đổi này là kinh tế, và cuộc cách mạng vẫn đang tiếp diễn về mạng thông tin toàn cầu, đã thật sự biến thế giới này thành một thôn làng.

Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật này cũng có nhiều ưu điểm. Nó đã đem vào Á Châu những nét đặc thù của phương Tây, như sự hiểu biết sâu xa hơn về phẩm giá cá nhân, về tự quản… Nó tạo được sự liên đới toàn cầu, vì mỗi lần thiên tai xảy đến thì hầu như việc liên đới chia sẻ được thực hiện tức thời. Kiến thức đã tiến bộ nhảy vọt, việc ứng dụng ca chia sẻ kiến thức này đã thăng tiến đời sống con người một cách đáng kể.
Nhưng mặt trái của việc toàn cầu hóa về văn hóa thật là kinh khủng. Một nền văn hóa kỹ thuật nổi lên rất nhanh, đang làm bật rễ các gia đình ra khỏi nền văn hóa truyền thống, và đang dựng nên những xã hội vô danh trong lòng các đô thị. Tinh thần của những xã hội đó được tạo nên bởi chủ nghĩa tự do mới, chủ nghĩa trần tục hóa, chủ nghĩa duy vật, hưởng lạc và tiêu thụ, chúng hoàn toàn xa lạ với những nền văn hóa dựa vào tôn giáo của các nước Á Châu. Những nếp sống đầy sự tương giao và lệ thuộc lẫn nhau của người dân Châu Á cũng bị xói mòn. Nhiều giá trị của nền văn hóa kỹ thuật đi ngược với các giá trị gia đình Á Châu. Não trạng kỹ thuật này đang làm suy yếu mối liên hệ thân tình và yêu thương trong đời sống gia đình. Nhiều người đã không còn coi hôn nhân như là một sự dấn thân trọn đời. Việc ăn ở với nhau ngoài hôn nhân không còn là hiện tượng hiếm thấy ở các vùng đô thị, ở đó chẳng ai biết ai. Thậm chí ngày nay, đang có những nỗ lực thay đổi quan niệm truyền thống về hôn nhân và gia đình, thay đổi cả giá trị của cuộc sống. Tinh thần tục hóa với sự tiếp tay của các phương tiện thông tin trong xã hội, nhất là ngành truyền thông, đã lan rộng quá mạnh và quá hấp dẫn, đến nỗi đang giăng ra những thủ đoạn tinh vi và quỷ quyệt, để cướp đi linh hồn của nhiều người Á Châu.
Gia đình vừa là nơi bảo tồn vừa là nơi truyền thông văn hóa, vì vậy tác động của thứ văn hóa trần tục đang nổi dậy trong các gia đình Á Châu, quả là một sự kiện rất đáng lo. Thường thì các thành phần ưu tú của những gia đình Á Châu là những người đầu tiên nhận nền văn hóa trần tục đó, vì họ là những người hơn ai hết có sẵn các phương tiện truyền thông xã hội. Nhưng nền văn hóa này cũng còn có thể lan đến các tầng lớp thấp hơn của xã hội, vì truyền thanh, truyền hình hoặc các phim ảnh địa phương đang nhái lại các chương trình truyền thông dành cho người phương Tây, và dần dần các giá trị, các hình ảnh về gia đình và cuộc sống của người phương Tây trở thành mẫu mực cho người nghe và người xem. Mỉa mai hơn, các phương tiện truyền thông xã hội như truyền hình, máy vi tình, mạng internet, điện thoại di động, vốn có mục đích là làm cho tin tức truyền đạt nhanh chóng hơn, làm cho mối liên hệ gia đình thắt chặt hơn, thì lại trở nên những trở ngại cho liên hệ gia đình, vì các thành viên trong gia đình chẳng còn có thì giờ cho nhau. Những nghi lễ gia đình, những bữa ăn hoặc những lần cùng nhau giải trí trong gia đình, trở thành hiếm hoi. Rõ ràng là các ảnh hưởng tiêu cực này đã góp phần gia tăng tình trạng ly dị, các gia đình tan vỡ, tội phạm vị thành niên, kỷ cương trong gia đình suy sụp.

Đamien
30-09-2006, 02:56 PM
TOÀN CẦU HÓA TẠO NÊN SỰ NGHÈO ĐÓI

Toàn cầu hóa văn hóa còn tạo nên những dạng thức mới của sự nghèo đói. Những kỹ thuật tân tiến đã đem lại cho con người tiến xa trong sự hiểu biết, và thậm chí còn làm cho con người sống văn minh hơn, nhưng những hiểu biết và lối sống đó hoàn toàn vượt khỏi tầm tay của những gia đình nghèo. Do đó,thêm vào sự nghèo đói về vật chất, người nghèo còn phải chịu một cảnh nghèo khác, đó là nghèo hiểu biết, nghèo các phương tiện để đến với sự hiểu biết. Dạng thức nghèo khổ mới này đẩy những gia đình nghèo ra bên lề xã hội. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II gọi hiện tượng nghèo khó này không phải là cảnh ngộ của những người “không có gì”, nhưng là của những người “không biết gì”. Nếu sự giàu có của các nước công nghiệp hóa dựa phần lớn vào “việc sở hữu các phương pháp,kỹ thuật và kỹ năng”, hơn là vào tài nguyên thiên nhiên, thì sự nghèo khó của các nước khác (chưa được kỹ nghệ hóa) có thể được hiểu là vì thiếu trầm trọng hình thức giàu có mới này. Thêm vào đó, chúng ta cần phải thừa nhận rằng, bên trên sự nghèo đói về kỹ thuật và kinh tế, còn là nghèo đói về tinh thần, nghèo đói về những xác tín và giá trị tôn giáo. [Hội Đồng Giám Mục Nhật Bản khẳng định rằng, trong khi các gia đình Á Châu khác vật lộn với nghèo đói vật chất, thì “phần lớn các gia đình Nhật Bản phải đối mặt với nghèo đói tinh thần” ]

Chúng ta cũng phải ghi nhận thêm rằng, trước những thay đổi gây xáo trộn về mặt văn hóa gây ra bởi hiện tượng toàn cầu hóa, một trong những phản ứng ở một số nơi là sự trở về với chủ nghĩa bảo thụ cực đoan. Chủ nghĩa này xem ra cung cấp cho những ai theo nó những giải pháp rõ ràng và dứt khoát cho các vấn đề của cuộc sống, chẳng hạn như những vấn đề rất phức tạp về công bằng, tình yêu, hôn nhân, gia đình, quan hệ liên tôn giáo, chính trị và sự cai trị. Với những hình thức cực đoan, chủ nghĩa bảo thủ này đã làm nổi dậy lòng bất khoan dung và thậm chí đưa tới khủng bố, là nguyên nhân ngày càng gây căng thẳng trong các xã hội Á Châu.

Đamien
01-10-2006, 02:17 PM
Chế độ gia trưởng trong gia đình và xã hội Á Châu

Về vai trò nam giới, nữ giới trong gia đình và rộng hơn trong các xã hội Á Châu, điều đáng buồn là nam giới vẫn giữ vai trò quyết định. Ngày nay cũng như trong xã hội Do Thái và Hy La xưa kia, từ “chế độ gia trưởng” được hiểu theo nghĩa tiêu cực của nó. Chế độ gia trưởng đã bén rễ sâu trong mọi cấu trúc xã hội, đã tạo ra sự bất bình đẳng cơ bản về giới tính, và đã dành cho nam giới vai trò trội hơn. Chính thế giới quan về nam quyền này đã ăn sâu vào tiềm thức và văn hóa tôn giáo của người Á Châu. Chế độ này chi phối mọi lãnh vực chính trị, kinh tế, quan hệ con người, quan niệm và cách thức nuôi dưỡng, giáo dục con cái, cũng như thành kiến về nam, nữ, vai trò trong cộng đồng xã hội, v.v…

Chế độ gia trưởng định nghĩa người đàn ông như là hiện thân của sự dũng cảm, sức mạnh, quyền uy và thống trị. Đó chính là nền tảng cho chủ trương nam giới ngự trị ngoài xã hội và thống lãnh trong gia đình. Mặt khác, chế độ gia trưởng coi người đàn bà là hiện thân của sự hiền hậu, phục tùng và lệ thuộc. Chủ nghĩa nam quyền coi người phụ nữ như những con người lệ thuộc, và thường thiết lập một tiêu chuẩn đôi để đánh giá hành vi đạo đức của đàn ông, đàn bà, con trai, con gái. Chẳng hạn như, dựa trên quan niệm trọng nam khinh nữ này, sự không chung thủy của người chồng đối với vợ, sự vô trách nhiệm của người cha đối với con cái, thường dễ được bỏ qua và tha thứ, hơn là sự bất trung và vô trách nhiệm của người vợ. Dù quyền bính của người cha trong gia đình có giảm trong các gia đình, vì người mẹ cũng có việc làm để lo lắng cho gia đình, ta vẫn thấy một sự phân biệt giới tính trong xã hội ( nhất là trong các công sở)

Trong một vài nước, việc trọng nam khinh nữ còn bộc lộ tính tàn ác rõ ràng qua việc chọn giới tính cho con lúc mang thai. Trong những nước này, vì quá tọng nam khinh nữ, dân số đã có một tỉ lệ quá mất cân bằng giữa nam và nữ. Khoa học đã nhúgn tay vào tội ác này, khi xác định giới tính của con người sắp được sinh ra, và từ đó gây nên việc phá thai, sát hại hàng nghìn thai nhi nữ.

Đamien
02-10-2006, 08:21 AM
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ.

Ngày nay việc thừa nhận quyền bình đẳng về nhân phẩm, sự tương đồng của hai giới trong thành đạt về học vấn và trong việc nâng đỡ gia đình, đang dần dần thách thức vai trò đầy quyền uy của người chồng trong các gia đình Á Châu. Thật vậy, trong những năm gần đây, vai trò của người phụ nữ đã dần dần thay đổi. Đối với phụ nữ thuộc những thành phần nghèo hơn trong xã hội, đòi hỏi phải có đào tạo về nghề nghiệp, không phải là một lựa chọn mang tính cách tâm lý, cho bằng là do áp lực kinh tế, phải tìm việc làm ngoài việc nội trợ trong gia đình, để giúp đỡ gia đình trong việc chăm lo con cái, hoặc đảm bảo sự sống cho gia đình, đặc biệt trong những trường hợp khi người chồng hoặc con trai không kiếm đủ tiền cho gia đình. Do đó nhiều công việc nhà và chăm sóc con cái, vốn là công việc của người mẹ và các cô con gái trong gia đình, nay được chuyển giao cho người khác. Điều đáng buồn, là những vai trò được thay đổi như vậy, thường thường chỉ đơn thuần là việc chuyển giao trách nhiệm truyền thống trong gia đình, cho những người ở mức độ kinh tế thấp hơn, như người giúp việc hoặc những người bà con túng bấn. Đó là trường hợp của những người mẹ phải làm việc suốt ngày trong các trường học hay trong các cơ quan nhà nước. Việc chuyển giao vai trò chăm sóc gia đình của người phụ nữ như vậy, đặc biệt thường xảy ra trong các vùng thành thị, nơi đó những cô giữ trẻ, những người giúp việc nhà, và thậm chí cả ông bà, phải chăm sóc con cái và lo mọi việc trong nhà, trong khi những người vợ làm việc trọn giờ theo nghề nghiệp của mình, như bác sĩ, y tá, kỹ sư, giáo viên, luật sư, chủ doanh nghiệp,v.v…

Đamien
02-10-2006, 08:00 PM
PHỤ NỮ VÀ TRẺ GÁI BỊ PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ

Sự chuyển đổi từ từ để có được sự bình đẳng và cùng chia sẻ trách nhiệm giữa vợ chồng vẫn không ngăn cản được những trường hợp người vợ bị đánh đập và những hình thức phân biệt đối xử khác, những áp lực vẫn đè nặng trên vai người phụ nữ tại gia đình hay tại nơi làm việc. Đáng buồn là ở một vài nước Á Châu, truyền thống biện minh cho sự bạo hành của người chồng trên người vợ và trẻ gái, nhất là trong các vùng quê. Trong những nước này, thêm vào truyền thống đòi hỏi phải có của hồi môn, người vợ còn mang thêm gánh nặng phải sống xứng đáng là một thành viên trong đại gia đình của chồng. Trong gia đình, trẻ trai thì được coi trọng, còn trẻ gái thì phải chịu cảnh phân biệt đối xử từ lúc còn nhỏ. Thậm chí trẻ gái còn có thể là nạn nhân của tục giết trẻ sơ sinh. [Theo phân loại quốc tế về xã hội, từ “trẻ trai” hay “trẻ gái” chỉ trẻ em dưới 4 tuổi]. Sau cùng, trong nhiều phần đất Châu Á, việc buôn bán phụ nữ, thậm chí cả trẻ em, cho việc kinh doanh tình dục trong nước hay ra nươc ngoài, không phải là một hiện tượng hiếm có. Tất cả các thách đố mục vụ này đang kêu cầu sự đáp trả mục vụ thích hợp.

Chúng ta ghi nhận có những diễn biến tích cực mang những hình thức khác nhau của phong trào giải phóng phụ nữ ở Á Châu. Những phong trào này đã lôi kéo sự chú ý của công chúng quan tâm đến vấn đề bạo lực trong gia đình, nạn phá bỏ thai nhi nữ, sự cần thiết phải có quan hệ bình đẳng hơn giữa nam và nữ, vợ với chồng , con trai và con gái. Trong tất cả các nước Á Châu, giờ đây đều có những phụ nữ,nhất là những người mẹ, đang hoạt động cho công cuộc giải phóng xã hội, qua việc bênh vực phụ nữ về mặt xã hội, chính trị, qua các tổ hợp, ngân hàng, kỹ thuật, các chương trình xóa nạn mù chữ và chăm sóc sức khỏe, v.v…


GIỚI TRẺ TRONG GIA ĐÌNH.

Do sự thâm nhập của kỹ thuật thông tin và các phương tiện truyền thông đại chúng, chắc chắn làn sóng văn hóa hậu hiện đại có cả mặt tốt mặt xấu đang xâm nhập vàp trong thánh địa gia đình, đặc biệt đang ảnh hưởng đến giới trẻ. Vì thường có nhiều cơ hội học hỏi hơn lớp già, giới trẻ thâm nhập vào thế giới thông tin dễ dàng hơn. Vì cơ cả mặt tốt mặt xấu, thế giới thông tin vừa là một phúc lành, vừa là một tai họa. Giới trẻ thông tin liên lạc với nhau bằng ngôn ngữ mới của nền văn hóa kỹ thuật. Đó là lý do tại sao việc dành thời giờ cho sinh hoạt gia đình là hết sức cần thiết. Đây là thời gian để họ làm chủ và khám phá căn tính của mình. Chỉ có gia đình mới đem lại cho họ sự ổn định. Thiếu sự hướng dẫn của cha mẹ, giới trẻ sẽ tiêm nhiễm những giá trị của văn hóa mới, đôi khi chẳng phán đoán được đúng sai. Hậu quả là nền văn hóa mới xuất hiện này tạo ra những ngăn cách về giá trị giữa lớp trẻ và lớp già.Có thể chính giới trẻ cũng cảm nhận một sự khủng hoảng về vấn đề các giá trị. Họ bị giằng co giữa những giá trị được đề cao trong truyền thống gia đình, những giá trị không hẳn là luôn luôn tích cực- với các giá trị trần thế ngoài gia đình, không phải luôn luôn là tiêu cực. Khi mối tương quan trong gia đình xấu đi, thì giới trẻ phải tìm một lối thoát, đôi khi là qua ma túy, mà nạn nhân tưởng lầm rằng nó có thể giúp họ quên đi nỗi dằn vặt của mình.

Tuy nhiên, như các Đại Hội Giám Mục khác từng ghi nhận, giới trẻ Á Châu thường làm tiên phong cho sự chuyển biến xã hội và tôn giáo trong nhiều nước, khởi động nhiều phong trào giải phóng bênh vực cho xã hội, tham gia các phong trào canh tân trong Giáo Hội, và nổi lên như những người lãnh đạo các chương trình mục vụ của Giáo Hội và trong các Cộng Đoàn Giáo Hội Căn Bản. Việc xác định Giới Trẻ Châu Á là một trong năm mối ưu tiên mục vụ, củng cố niềm hy vọng của giới trẻ và trong giới trẻ. Á Châu là lục địa của giới trẻ, giới trẻ không chỉ đơn thuần là tương lai, nhưng còn là hiện tại của Giáo Hội ở vùng Á Châu.


LAO ĐỘNG TRẺ EM- MÔI TRƯỜNG SINH THÁI.

Một hiện tượng đang ảnh hưởng đến các gia đình Á Châu, đó là hiện tượng lao động trẻ em và là một hiện tượng phổ biến. Do hiện tượng nghèo khổ và bất bình đẳng trong xã hội, hàng triệu trẻ em phải lao ra tìm công ăn việc làm. Hiện tượng này cũng có thể do quan niệm của người làm cha làm mẹ, coi con cái là “tài sản” phải được sử dụng cho lợi ích của cả gia đình. Vì vậy, chính cha mẹ cho phép hoặc thậm chí khuyến khích con cái làm những công việc linh tinh ngoài đường phố, trong nhà máy, các cửa hàng, nhằm có thêm thu nhập cho gia đình, có thêm thức ăn và có tiền để đi học.Tuy là một nước triệt để cấm các trẻ em làm việc,nhưng Nhật bản lại có tỉ lệ trẻ em lao động đến từ các nước khác cao nhất. Những hậu quả tất yếu của lao động trẻ em là các em không được lớn lên và phát triển toàn diện, tỉ lệ thất học cao, thiếu dinh dưỡng, hiện tượng trẻ em bị bỏ rơi hay “trẻ em đường phố” không cha mẹ,không nhà cửa, tỉ lệ thiếu niên phạm pháp và tội ác vị thành niên gia tăng.

Sự suy giảm môi trường sinh thái tại Á Châu cũng gây ảnh hưởng tiêu cực trên các gia đình. Việc cân bằng môi trường sinh thái dài hạn bị hy sinh cho lợi ích kinh tế ngắn hạn, tài nguyên rừng và nguồn nước bị phá hủy một cách có hệ thống và đôi khi bừa bãi, không ai kiểm soát. Hậu quả của sự tàn phá này thường là hạnh hán và lũ lụt, đất đai dùng để sản xuất cũng bị thay đổi. Từ đó năng suất nông nghiệp của những gia đình nông thôn giảm sút cách đáng kể. Trong các vùng đô thị Á Châu, sự xuống cấp của môi trường sinh thái xảy ra dưới dạng khác. Không khí ô nhiễm và việc quản lý rác và nước thải là những vấn đề lớn, gây ra bệnh tật, đặc biệt là các bệnh về đường hô hấp, nhất là cho những gia đình nghèo ở thành phố, lam cho cuộc sống họ càng khó khăn hơn.

Đamien
03-10-2006, 09:08 PM
GIA ĐÌNH TRƯỚC TAI HỌA HIV/AIDS VÀ GIỮA NHỮNG XUNG ĐỘT.

Chúng ta cần nhìn nhận rằng HIV/AIDS là một thảm họa đang tàn phá nhiều nước Á Châu. Bệnh HIV/AIDS vẫn đang phát triển với những dấu hiệu đáng sợ, cho thấy căn bệnh này đang trở thành đại họa cho dân Á Châu ở một quy mô rất lớn. Vì thế, trong đời sống mục vụ, Giáo Hội Á Châu phải đối đầu với căn bệnh này ở nhiều mặt: về mặt y tế, đem lòng thương cảm chăm sóc cho nạn nhân HIV/AIDS và gia đình của họ; về mặt luân lý, qua việc giảng dạy và không ngừng tích cực ủng hộ lập trường luân lý của Giáo Hội, đặc biệt trong những lãnh vực xã hội liên quan đến vấn đề HIV/AIDS…Trong mỗi lãnh vực nói trên các gia đình Châu Á đóng một vai trò quan trọng mà toàn Giáo Hội phải biện phân, quan tâm nâng đỡ và động viên. Nhưng bên cạnh việc phải đối đầu với tai ương HIV/AIDS, các gia đình còn phải chiến đấu với những vấn đề khác của sức khỏe con người, có liên quan đến những ứng dụng y khoa và đạo đức. Bởi vậy, Giáo Hội đang đứng trước thách thức, ví dụ về vấn đề phải làm sao có được những biện pháp tương hợp và chính đáng, để chăm lo sức khỏe cho những người nghiện ngập.

Trên nhiều phần đất Châu Á, hàng trăm ngàn gia đình đang là nạn nhân của các xung đột vũ trang do nhiều nguyên nhân khác nhau. Hàng ngàn gia đình đã phải thường xuyên bỏ nhà lánh nạn, vì những cuộc chạm trán quân sự kéo dài hoặc lẻ tẻ. Bao nhiêu người làm cha làm mẹ không ngớt phải sống trong lo sợ, căng thẳng, bấp bênh, và âu lo cho sự an toàn và tương lai của gia đình. Việc giáo dục con cái bị đứt đoạn và bị đe dọa cách nghiêm trọng. Các gia đình di tản đang là mồi ngon cho bệnh tật. Họ đang cố hết sức chống đỡ bệnh tật trong khi sống trong những điều kiện tệ hại của nhiều trại tị nạn. Ở mức độ sâu xa hơn, các gia đình di tản này đang phải cay đắng đối diện với những thành kiến, thiên vị, những quan niệm, thái độ và những giá trị là nguyên nhân thúc đẩy các xung đột chính trị, kinh tế, ý thức hệ, chủng tộc và tôn giáo ở Á Châu. Trẻ em sinh ra trong chiến tranh, lớn lên với khả năng có thể là những người gây chiến trong tương lai. Các em mang vào tương lai mầm giống xung đột mà cha mẹ đã để lại trong tâm trí các em. Thật là cảm kích khi thấy trong một vài nước đang có xung đột, những người mẹ, vốn là những người dễ bị tổn thương nhất do những gánh nặng và đau khổ của xung đột, lại chính là những người đứng lên tổ chức bênh vực cho hòa bình. Hết lòng nuôi dưỡng chăm sóc con cái, nhạy cảm trước những nhu cầu sâu xa nhất, nhiệt tình yêu hòa bình, những người phụ nữ- đúng hơn là những người mẹ- đã đóng một vai trò hết sức đặc biệt trong việc phất lên ngọn cờ hòa bình, chứ không phải là ngọn cờ của chiến tranh.


NHỮNG PHÁT TRIỂN MỚI CỦA KHOA SINH HỌC VÀ MỐI ĐE DỌA ĐỐI VỚI SỰ SỐNG.

Ngày nay, các tiến bộ khoa học nhanh không thể tưởng được đã mở rộng sự hiểu biết của chúng ta về sự sống con người, và đang tiếp tục cung cấp cho chúng ta những thông tin khoa học giá trị. Dự án trị liệu bằng gen con người là một triển vọng vô cùng lợi ích cho nhân loại. Sẽ có ngày nào đó, mọi chứng bệnh nan y nhất mà cho đến nay chưa tìm ra phương pháp điều trị, có thể được chữa lành. Trong ánh sáng đức tin, các tiến bộ khoa học này đã làm tăng thêm cách mãnh liệt lòng kính sợ của chúng ta đối với quyền năng tạo thành vô biên của Thiên Chúa. Mặt khác, từ những tiến bộ vượt mức này của khoa học kỹ thuật, nảy sinh các vấn đề đạo đức sinh học rất nghiêm trọng, liên quan đến sự thánh thiêng và phẩm giá của sự sống ngay từ lúc bắt đầu, cũng như đến việc quản lý của con người đối với sự sống Thiên Chúa ban cho.

Việc nhân bản vô tính và sản xuất tế bào phôi bằng cách hủy diệt các phôi người, rõ ràng là những xúc phạm nghiêm trọng đối với nhân phẩm và tính thánh thiêng của sự sống con người. Cho dù chủ đích của những phương pháp này có thể là ngay lành đi nữa, chẳng hạn nhằm mục đích chữa trị hoặc tái tạo, thì việc sản xuất, thao túng và hủy diệt các phôi người để tuyển lựa những tế bào thích hợp, thì không thể chấp nhận được về mặt đạo đức.

Đamien
10-10-2006, 02:44 PM
TÓM LƯỢC TÌNH HÌNH MỤC VỤ TẠI Á CHÂU.

Chúng ta đã biện phân nhiều thứ “lực” trong tình hình mục vụ. Có thể là những mãnh lực gây chết chóc và cũng có thể là những “lực” đem lại sự sống. Một số “lực” đặc biệt tích cực cho việc phát triển nền văn hóa tôn vinh sự sống toàn diện. Tuy nhiên, cũng có những mãnh lực khác, như tình trạng nghèo đói khắp nơi ở Á Châu, sự chia rẽ, xung đột, các cơ cấu đàn áp và khai thác. Những mãnh lực này lại được sự hỗ trợ của tiến trình toàn cầu hóa về kinh tế và văn hóa, và đó là những mãnh lực gây chết chóc. Các mãnh lực này chẳng những đe dọa phẩm chất cuộc sống mà còn đe dọa đến sự tồn tại của bao nhiêu gia đình Á Châu. Ngay chính sự sống cũng bị đe dọa bởi những phát triển về nghiên cứu gen. Dù có nhiều yếu tố tích cực, sự xuất hiện của phong trào tục hóa, của nền văn hóa hậu hiện đại cũng rất đáng ngờ vực. Các yếu tố văn hóa, kinh tế, chính trị, tôn giáo- bao hàm cả các cơ cấu- đều tác động tích cực hoặc tiêu cực trên gia đình Á Châu. Chắc chắn chế độ phân biệt đẳng cấp, gia trưởng, trọng nam khinh nữ, nghèo đói, lao động trẻ em, tranh chấp điền thổ, môi trường sinh thái xuống cấp và những xung đột xã hội, đều là những mãnh lực chính đem lại chết chóc. Các mãnh lực đầy nguy hiểm này dẫn đến sự thoái hóa của nhiều giá trị tích cực, những giá trị truyền thống đặc trưng của gia đình Á Châu, như liên hệ tình thâm gia tộc, tình yêu thương con cái, tôn trọng và chăm sóc người già, sự hài hòa, nền luân thường đạo lý, tôn trọng sự sống, chăm lo cho sự sống từ trong bào thai, ý thức sâu đậm về sự thiêng thánh.

Các mãnh lực này đe dọa sự hiểu biết tôn giáo của chúng ta về nguồn gốc và bản chất của sự sống, cũng như bản chất và cơ cấu của gia đình và hôn nhân. Chúng đi ngược lại việc quản lý có trách nhiệm đối với sự sống con người, xuyên suốt từ thuở được thụ thai cho đến chết. Chúng cũng chống lại tính bí tích của hôn nhân giữa người nam và người nữ và chống lại mục đích mà Thiên Chúa đã ban cho hôn nhân. Tắt một lời, tình trạng mục vụ ở Á Châu, dù tiêu cực hay tích cực, cũng ảnh hưởng rất sâu đậm trên đời sống trên sự hiệp nhất, tính hài hòa- hiệp thông và liên đới- của các gia đình Á Châu, tức là những giá trị của nước Thiên Chúa, những giá trị từng được coi như đặc trưng của toàn bộ công cuộc tạo thành, tuôn chảy từ tình yêu và sự sống của Thiên Chúa và từ giao ước mà Người đã lập với nhân loại. Những giá trị Kinh Thánh này sẽ là chủ đề cho suy tư thần học- mục vụ của chúng ta. Từ đó chúng ta sẽ tìm trả lời cho câu hỏi: Làm thế nào Giáo Hội có thể đem lại hiệu quả qua những chương trình mục vụ thích đáng cho các gia đình Á Châu?



XÂY DỰNG MỘT NỀN VĂN HÓA TÔN VINH SỰ SỐNG TOÀN DIỆN

Dù cho nền văn hóa mới hình thành chắc chắn có nhiều đóng góp tích cực cho thế giới chúng ta, nó vẫn là một thách đố cho các gia đình Á Châu trong việc phúc âm hóa và giải phóng nó bằng cách biến đổi nó thành nền văn hóa tôn vinh sự sống toàn diện, để nó không còn tác hại đến sự sống toàn diện của con người. Trong việc tìm hiểu nền văn hóa sự sống và những nguy hiểm đe dọa nền văn hóa này, chắc chắn những truyền thống triết lý và tôn giáo cổ kính của Á Châu sẽ rất hữu ích. Chắc chắn việc tìm hiểu sẽ cho thấy có nhiều điểm tương đồng . Tuy nhiên suy tư thần học và mục vụ của chúng ta sẽ dựa trên viễn ảnh niềm tin tôn giáo riêng của chúng ta.

Từ nhận thức này, chúng ta phải tìm hiểu, thẩm định giá trị sự sống con người trong ý nghĩa toàn diện, tức là bản chất và giá trị cao quý của sự sống, sự sống như món quà của Thiên Chúa (St 2,7 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%202:7&FontSize=Txt10); Cv 17,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Cv%2017:25&FontSize=Txt10)); như sự thông chia chính sự sống của Thiên Chúa (Rm 6,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Rm%206:23&FontSize=Txt10); Ga 4,10.14 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%204:10,14&FontSize=Txt10); Kh 21,6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Kh%2021:6&FontSize=Txt10)); Sự sống ngày nay với những phấn đấu không ngừng để vươn đến sự sung mãn định sẵn từ muôn thuở cho con người (Rm 6,22 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Rm%206:22&FontSize=Txt10)); sự sống viên mãn (Ga 10,10 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%2010:10&FontSize=Txt10)) trong Nước Thiên Chúa sẽ đến. Từ cái nhìn toàn diện này, cùng với Giáo Hội toàn cầu, chúng ta lên án bất cứ điều gì là vô nhân đạo, khai thác và đàn áp sự sống con người. Bất cứ tình huống, quan hệ cơ cấu, hiện trạng, thái độ và hành động nào đe dọa và làm suy yếu sự sống đều là những yếu tố gây chết chóc cho con người, là thành phần của nền văn hóa sự chết. Chúng đi ngược lại Thánh Ý Thiên Chúa và Nước của Người. Trong khi đó nền văn hóa sự sống toàn diện thì tôn trọng, dưỡng nuôi, nâng cao, cổ động và phục vụ cho sự sống con người trong mọi chiều kích của nó, từ chính mục đích của hành vi luyến ái đến thời điểm thụ thai, rồi xuyên suốt cuộc đời trần thế đầy gian nan khổ ải, đến lúc về cùng Thiên Chúa, nguồn sự sống viên mãn, trong ngày sau hết (2Tm 1,10; 4,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=2Tm%201:10,%204:1&FontSize=Txt10); Dt 9,27-28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Dt%209:27-28&FontSize=Txt10)) trong Nước Thiên Chúa. Viễn ảnh về sự sống viên mãn này hàm chứa nhiều ứng dụng sâu xa cho những hoạt động “phò sự sống” cũng như cho phạm vi mục vụ gia đình.

Đamien
11-10-2006, 03:08 PM
CON NGƯỜI NHẬN ĐƯỢC SỰ SỐNG DO TÌNH YÊU THIÊN CHÚA
VÀ PHẢI LIÊN ĐỚI VỚI MỌI LOÀI THỤ TẠO

Nền tảng đầu tiên của văn hóa sự sống toàn diện, theo Kinh Thánh, là Tình Yêu của Thiên Chúa, Đấng sáng tạo và trao ban sự sống cho muôn loài, đặc biệt là sự sống con người (St 1,26-28; 2,7 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%201:26-28,2:7&FontSize=Txt10); Kn 15,11 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Kn%2015:11&FontSize=Txt10)). Trong sách Sáng thế, thậm chí chúng ta thấy có gợi ý rõ ràng về việc Ba Ngôi Thiên Chúa muốn chia sẻ sự hiệp thông với nhân loại: “chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh của chúng ta… và theo hình ảnh của Người, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” (St 1,26-27). Như vậy sự sống con người đã bắt đầu chỉ do tình yêu Thiên Chúa. Được dựng nên theo hình ảnh Chúa, sự sống là tặng phẩm của Thiên Chúa. Vì lý do đó, sự sống của mỗi con người, dù nghèo khổ thấp hèn đến đâu, vẫn là quý giá và thiêng thánh. Rõ ràng là các trình thuật sáng tạo trong Kinh Thánh đều đặt việc tạo dựng con người ở tột đỉnh. Nhưng chúng ta phải nhìn nhận rằng, do hành động tạo thành của Thiên Chúa, toàn thể vũ trụ là một mạng lưới liên kết phụ thuộc lẫn nhau, trong đó con người thực thi một nhiệm vụ cao quý, đầy vinh dự, là được làm người cai quản, phản ánh việc cai quản đầy yêu thương và quan tâm chăm sóc của chính Thiên Chúa. Vì lý do đó, trong kế hoạch nghuyên thủy của Thiên Chúa, đã có sự liên đới của tất cả mọi thụ tạo, mọi thụ tạo đều hài hòa lệ thuộc lẫn nhau. Riêng đối với con người, sự liên đới này luôn là do sự tự do chọn lựa, như thế mới ngăn chặn được sự liên đới giả tạo do quyền lực thế gian thiết lập.

Tân Ước nói thêm về chóp đỉnh kế hoạch tạo thành này của Thiên Chúa. Đức Kitô là chóp đỉnh và là tâm điểm của mọi công trình tạo dựng, “Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thụ tạo, vì trong Người muôn vật được tạo thành … Tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người” (Cl 1,15-16 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Cl%201:15-16&FontSize=Txt10)). “Nhờ Người mà muôn vật trên trời dưới đất, được hòa giải với Thiên Chúa, nhờ máu Người đổ ra trên thập giá” (Cl 1,20 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Cl%201:20&FontSize=Txt10)).



TRONG CỰU ƯỚC, THIÊN CHÚA BAN SỰ SỐNG
DO TÌNH YÊU VÀ ĐÒI HỎI PHẢI LIÊN ĐỚI VỚI MỌI NGƯỜI.

Giao ước giữa Thiên Chúa và dân được tuyển chọn trong Cựu Ước là điểm then chốt của nền văn hóa sự sống toàn diện. Thiên Chúa quy định những gì phải làm để đảm bảo cho sự sống; dân đồng ý trong tinh thần vâng phục ý định của Chúa. Nhưng điều có ý nghĩa nhất ở đây là giao ước ấy thường được diễn tả bằng những từ dùng để nói về quan hệ mật thiết trong gia đình, ngay cả về quan hệ vợ chồng. Như thế, Dân Chúa được tình yêu thương trìu mến của Thiên Chúa luôn nâng đỡ chở che: “Ta đã tập đi cho Ep-ra-im, đã đỡ cánh tay nó … Ta lấy dây nhân nghĩa, lấy mối ân tình mà lôi kéo nó … Ta cúi xuống gần nó mà đút cho nó ăn” (Hs 11,3-4 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Hs%2011:3-4&FontSize=Txt10)); “Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy” (Is 66,13 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Is%2066:13&FontSize=Txt10)). Thậm chí lối nói ân tình giữa chú rể cô dâu cũng được sử dụng (Hs 2,16.19-20 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Hs%202:16,19-20&FontSize=Txt10)). Những lời sau đây biểu lộ lòng trìu mến của tình yêu trao ban sự sống của Thiên Chúa: “Ta đã gọi ngươi bằng chính tên ngươi, ngươi là của riêng Ta … Trước mắt Ta, ngươi thật quý giá, ngươi đã được Ta trân trọng và mến thương” (Is 43,1.4 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Is%2043:1,4&FontSize=Txt10)). Nét đặc thù của mối tương quan giao ước có tính cách gia đình thân tình giữa Thiên Chúa với dân riêng của Người, là lòng kiên nhẫn vô hạn, sự ân cần, sự kêu mời canh tân, lòng thương xót và thứ tha.

Vì sự quan phòng đầy yêu thương của Thiên Chúa trên họ, dân giao ước được khuyên dạy phải tích cực liên đới với mọi người. Do đó họ có sứ mệnh phải phục vụ những người khác, đặc biệt những kẻ túng bấn, mồ côi, góa bụa và khách lạ (Xh 22,22-23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Xh22:22-23&FontSize=Txt10); Đnl 24,17-22 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Dnl%2024:17-22&FontSize=Txt10); Is 1,17 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Is%201:17&FontSize=Txt10); Gr 22,3 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Gr%2022:3&FontSize=Txt10); Dcr 7,10 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Dcr%207:10&FontSize=Txt10)). Sau cùng, khi mối quan hệ giao ước xem ra bị bẻ gãy tận căn vì những bất trung ngoan cố, thì tình yêu trao ban sự sống của Thiên Chúa hứa một sự biến đổi tận căn, khi nói đến một “quả tim mới” mềm mại, dễ uốn nắn theo sự tạo hình lại của Thiên Chúa (Ed 11,19; 36,26 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ed%2011:19,36:26&FontSize=Txt10))

Trong Cựu Ước, nền văn hóa sự sống toàn diện được nhấn mạnh qua bốn điểm chính: sự sống như quà tặng của tình yêu Thiên Chúa; sự sống như hiệp thông và liên đới với Thiên Chúa và người khác, bao gồm sứ mệnh phục vụ người khác, nhất là người nghèo, kẻ túng bấn; sự sống như đòi hỏi cảu giao ước, và lời hứa của Thiên Chúa về một sự sống viên mãn. Viễn ảnh này được quảng diễn đầy đủ trong Cựu Ước qua chủ đề chính về Nước Thiên Chúa vào ngày sau hết, khi mà cuối cùng những người có cuộc sống ngay chính được cứu độ,và mọi ước mong của con người được hoàn tất (xem Tv 97,11-12; 145,13.17-21 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Tv%2097:11-12,145:13,17-21&FontSize=Txt10http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Tv%2097:11-12&FontSize=Txt10); Kn 4,7-14 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Kn%204:7-14&FontSize=Txt10)).

Đamien
12-10-2006, 08:41 PM
ĐỨC GIÊSU BAN CHO CHÚNG TA SỰ SỐNG CỦA THIÊN CHÚA

Dưới ánh sáng của mầu nhiệm Đức Giêsu, sự sống mang lấy ý nghĩa trọn vẹn là: Chia sẻ chính sự sống của Thiên Chúa. Tình yêu Thiên Chúa không đâu trổi vượt cho bằng khi Người sai Con yêu dấu duy nhất của Người đến mặc lấy thân phận con người như chúng ta, chỉ trừ tội lỗi, để chúng ta có được sự sống đời đời (Ga 3,16 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%203:16&FontSize=Txt10)). Chúng ta tin Đức Giêsu Kitô là Lời Hằng Sống (1Ga 1,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1Ga%201:1&FontSize=Txt10)). Nắm trọn quyền trên sự sống, Người có thể hy sinh mạng sống mình vì người khác và có thể “lấy lại” (Ga 10,17-18; 5,26 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%2010:17-18,5:26&FontSize=Txt10)). Khi tự tỏ mình ra, Đức Giêsu tuyên bố: “Tôi là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%2014:6&FontSize=Txt10)). Sau đó Người nói về lòng tin, về việc giữ Lời Người và về sự hiệp thông trong tình yêu: “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy.” (Ga 14,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%2014:23&FontSize=Txt10)). Đức Giêsu chính là sự sống, và Người mô tả sứ mệnh của Người ở trần gian là ban phát sự sống, là làm cho tất cả liên đới với nhau trong ơn cứu độ: “Tôi đến để cho họ có sự sống và sống dồi dào” (Ga 10,10 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%2010:10&FontSize=Txt10)). Lần này đến lần khác, Người liên kết sứ mệnh ban sự sống với Nước Thiên Chúa. Người giảng về Nước Thiên Chúa một cách hoàn toàn khác, ưu tiên dành cho người thấp hèn bé mọn (x Mt 5,3-10 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%205:3-10&FontSize=Txt10)). Người còn nói về sự “tái sinh”, mà nếu không được tái sinh thì không thấy được Nước Thiên Chúa (Ga 3,3-8 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%203:3-8&FontSize=Txt10)). Các môn đệ đầu tiên đã cảm nhận chính sự sống này, sự sống toàn diện, trong và nhờ Đức Giêsu. Thánh Gioan mô tả kinh nghiệm này cách hết sức cụ thể. Những gì họ đã “nghe”, đã “thấy”, đã “trông đợi” và đã “sờ đụng được” (1Ga 1,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1Ga%201:1&FontSize=Txt10)), không phải là một cái gì thuần túy thể lý, nhưng là một sự sống có giá trị hoàn toàn khác hẳn, hoàn toàn siêu việt. Đối với họ, Đức Giêsu chính là Đấng đã đến đem lại cho họ sự sống và sự sống dồi dào.
<O:p</O:p
Chính trong bí tích Thánh Tẩy mà sự sống mới này được trao ban. Nhờ bí tích Thánh Tẩy, người tín hữu vượt qua cái chết vì tội lỗi để đến với sự sống trong Đức Kitô (Rm 6,4; Cl 2,12) (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Rm%206:4;Cl%202:12%20&FontSize=Txt10). “Nước hằng sống” từ Đức Kitô trở thành “mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời” (Ga 4,14 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%204:14&FontSize=Txt10)). Người còn là “Bánh Hằng Sống” (Ga 6,34-48 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%206:34-48&FontSize=Txt10)), “Bánh từ trời xuống và đem lại sự sống cho thế gian” (Ga 6,33 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%206:33&FontSize=Txt10)). Đức Giêsu muốn nói ở đây về sự hiệp thông trong bí tích Thánh Thể, hiệp thông với chính Mình và Máu của Người: “Tôi là bánh từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống” (Ga 6,51 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%206:51&FontSize=Txt10)). “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6,56 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%206:56&FontSize=Txt10)). Đó là lý do vì sao Thánh Phaolô vui mừng thốt lên: “Đối với tôi, sống là Đức Kitô” (Pl 1,21 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Pl%201:21&FontSize=Txt10)). Và đến lượt mình, thánh Gioan đã công bố: “Từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác” (Ga 1,16 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%201:16&FontSize=Txt10))<O:p</O:p

Đamien
12-10-2006, 08:42 PM
GIÁO HỘI, GIA ĐÌNH CỦA THIÊN CHÚA, SỐNG TRONG THẦN KHÍ

Tình yêu trao ban sự sống của Đức Giêsu còn có ý nghĩa lớn hơn, chứ không chỉ là mối liên hệ cá nhân giữa các tín hữu và Đức Giêsu. Lại một lần nữa, giao ước tình yêu và sự sống- bây giờ được “đóng ấn bằng máu” của Đức Giêsu- nằm ở tâm điểm của mối tương quan mới giữa Thiên Chúa và một dân mới, dân của Đức tin, dân được ban một điều răn mới. Điều răn mới này cũng là một sứ mệnh: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau như thầy đã yêu thương anh em. Cứ dấu này mà người ta sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy” (Ga 13,34-35 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%2013:34-35&FontSize=Txt10)). Không còn một sự thông hiệp tình yêu và sự sống nào sâu thẳm hơn sự thông hiệp này, đó là việc Đức Giêsu chia sẻ Mình, Máu và toàn bộ sự sống của Người với các tín hữu. Tình yêu hiến tế của người làm nảy sinh một cộng đoàn mới, một gia đình mới của niềm tin được sinh ra trong Chúa Thánh Thần. Khi trút hơi thở cuối cùng, khi phó linh hồn cho Chúa Cha, Đức Giêsu cũng đã giao phó Thần Khí của Người cho Giáo Hội trong cùng một hành vi (Ga 19,30 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%2019:30&FontSize=Txt10)). Như vậy Giáo Hội được sinh ra như một thụ tạo mới (2Cr 5,17 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=2Cr%205:17&FontSize=Txt10)), như “căn nhà” của Chúa, gia đình riêng của Chúa (Ep 2,19; 1Tm 3,15 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ep%202:19;1Tm%203:15%20&FontSize=Txt10)) được sinh ra bởi Thần Khí của Đức Giêsu, Thần Khí ban sự sống.
<O:p</O:p
Như vậy, sống trong Đức Kitô là sống trong Thần Khí (Rm 8,1.9-10 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Rm%208:1,9-10&FontSize=Txt10)). Chỉ có đức tin mới cảm nhận được sự sống này. Nhưng thật ra cũng có những dấu chỉ cho biết sự sống của Thần Khí đang được sống như thế nào. Các dấu chỉ đó là “hoa trái của Chúa Thánh Thần”, là “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ” (Gl 5,22 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Gl%205:22&FontSize=Txt10)). Thánh Phaolô đem ngôn ngữ tình yêu vào trong viễn ảnh cuộc sống trong Nước Thiên Chúa khi ngài viết: “Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn chuyện uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần” (Rm 14,17 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Rm%2014:17&FontSize=Txt10)). Ngược lại với sự sống của Thánh Thần là sự sống theo xác thịt, biểu hiện qua các “việc làm do tính xác thịt”, đó là “dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tị, say sưa, chè chén và những điều khác như vậy” (Gl 5,19-21 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Gl%205:19-21&FontSize=Txt10)). Tránh xa những “việc làm do tính xác thịt”, đó là yêu sách cơ bản của giao ước mới. Thánh Phaolô tóm tắt mối tương quan giao ước, khi nói về sứ mệnh phải yêu thương và phục vụ người thân cận: “Anh em đã được gọi để hưởng tự do. Có điều là đừng lợi dụng tự do để sống theo tính xác thịt, nhưng hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau. Vì tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Gl 5,13-14 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Gl%205:13-14&FontSize=Txt10))

Đamien
13-10-2006, 03:18 PM
SỐNG TRONG THẦN KHÍ LÀ SỐNG HIỆP THÔNG

Sống trong Thần Khí tức là sống cuộc sống hiệp thông và liên đới với mọi người và vì mọi người. Đời sống hiệp thông và liên đới càng đáng kính sợ hơn, khi thánh Phaolô nói về Giáo Hội như Thân Mình của Đức Kitô, trong thân mình đó, mỗi thành viên đều quan trọng và bổ sung cho nhau. Có nhiều bộ phận khác nhau trong cùng một cơ thể. Trong thân thể có sự đồng nhất trong đa dạng, sự bổ sung trong khác biệt, có sự đồng trách nhiệm để cùng xây dựng nên toàn thể (Rm 12,4-5; 1Cr 12,4-7.12-13; Ep 4,16 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Rm%2012:4-5;1Cr%2012:4-7,12-13;Ep%204:16&FontSize=Txt10))

Tóm lại, trong Cựu Ước cũng như trong Tân Ước, xuất hiện những chủ đề chính: Sự sống là quà tặng của Thiên Chúa, lời hứa của Thiên Chúa về sự viên mãn, tình yêu, hiệp thông, tình liên đới và sứ mệnh. Đó là những chiều kích căn bản của một nền văn hóa tôn vinh sự sống. Thiên Chúa là sự sống. Thiên chúa là Tình Yêu.Vì Thiên Chúa là tình yêu nên chúng ta được sống. Vậy nếu chúng ta sống, chúng ta phải biết yêu thương. Mà nếu yêu thương thì chúng ta phải hành động hướng đến sự hiệp nhất, tình liên đới và phục vụ người khác. Trong ánh sáng của những suy nghĩ trên, chúng ta có thể hiểu vì sao Tin Mừng của Đức Giêsu được gọi là “Tin Mừng của Sự Sống” và vì sao Nước Thiên Chúa do Đức Giêsu công bố như thực tại “ở đây, bây giờ và còn đang đến”, là Vương Quốc của Sự Sống viên mãn



KINH NGHIỆM VỀ GIA ĐÌNH CỦA THÁNH GIA

Người Công giáo luôn coi gia đình của Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Giuse tại na-da-rét là gia đình tuyệt hảo, mẫu gương của các gia đình Công giáo. Tổ ấm Na-da-rét là kinh nghiệm đầu tiên của Chúa Giêsu về gia đình nhân loại. Gia đình Na-da-rét bắt đầu với lời Thiên Chúa mời gọi Đức Maria và Thánh Giuse phải nên vợ nên chồng. Như Tin Mừng kể lại, Đức Maria và Thánh Giuse đã phải tìm hiểu rất nhiều về nhiệm mầu của ơn gọi làm cha mẹ, và để hiểu thêm về mầu nhiệm chung quanh người con duy nhất của họ. Mỗi ngày các ngài phải đối mặt với mầu nhiệm sâu thẳm này. Đức Maria “đã giữ lấy tất cả những điều này để suy niệm trong lòng”. Các ngài không thuộc trường hợp bình thường của nhiều người đàn ông và đàn bà yêu nhau rồi lấy nhau. Nhưng quả thật cuộc sống chung của các ngài như vợ như chồng là bình thường, đơn giản đó là cuộc sống gia đình của vợ chồng bác thợ mộc. Nhưng các ngài đã cảm nghiệm được điều phi thường: không thể tìm được nơi thích hợp để sinh hạ con, thế mà vẫn mừng vui hân hoan khi con chào đời. Mừng vui khi dâng con vào đền thờ, nhưng nát tan lòng dạ khi nghe lời tiên tri về tương lai đầy khổ đau cho con và mẹ. Vui mừng khi tìm được chốn dung thân nơi đất khách quê người, nhưng đớn đau khi nghe tin bao nhiêu trẻ em đã bị giết chết vì con mình. Đau buồn bối rối khi lạc mất con trong ba ngày, và vui mừng nhẹ nhõm khi tìm lại được con trong đền thờ, nhưng vẫn tự hỏi con mình thật sự muốn nói gì trong câu trả lời: “con phải lo việc của Cha con”. Tuy nhiên tất cả những niềm vui và đau buồn lẫn lộn này chỉ làm bền chặt hơn mối dây tình yêu, hiệp thông giữa cha mẹ và con, giữa gia đình và Thiên Chúa trong giao ước mà Đức Maria đã chấp nhận một cách vâng phục và tự do: “xin hãy làm theo như lời Ngài”

Kinh Thánh cho chúng ta biết Đức Giêsu được sinh ra, được nuôi dưỡng trong một gia đình Do thái mà nền tảng của lòng đạo đức bắt nguồn từ mái ấm gia đình. Trong khuôn khổ gia đình này, Người đã cảm nghiệm được tình yêu thương chăm sóc của cha mẹ, và đã học được các giá trị thiêng liêng đặc trưng của Do thái giáo: một tình yêu mê say đối với Thiên Chúa, một sự quan tâm sâu sắc đối với người khác. Theo thư gởi tín hữu Do thái, “Người đã học vâng phục” nghĩa là học cho biết sống tuân theo thánh ý Chúa- nhưng không phải là không chịu đau khổ, không phải phấn đấu, cũng như bao gia đình xưa và nay. Mặc dù đã dạy những ai theo Người phải vượt lên trên sự ràng buộc tự nhiên của gia đình, nhưng Người không bao giờ quên giá trị và tầm quan trọng của liên hệ gia đình, liên hệ mà Người luôn nhắc đến: “Ai là mẹ, là anh chị em tôi?” hoặc: “Điều gì anh em làm cho những người anh chị em nhỏ nhất của tôi…”. Trước khi chết, Người còn tán dương mối liên hệ gia đình khi giao phó “con” cho “mẹ” và “mẹ” cho “con”. Trong kinh nghiệm của Đức Giêsu và gia đình, một lần nữa chúng ta bắt gặp lại chủ đề về giao ước tình yêu và sự sống, hiệp thông “cho đến chết”, tình liên đới và sứ vụ, một sứ vụ trải dài từ gia đình hạt nhân đến gia đình đức tin và xa hơn. Con đường gia đình của Chúa Giêsu, Đức Maria và Thánh Giuse là con đường của mỗi gia đình Kitô giáo.

Đamien
14-10-2006, 12:32 PM
HÔN NHÂN, BÍ TÍCH TÌNH YÊU CỦA ĐỨC KITÔ

Đối với Hội Thánh, sự thông hiệp với nhau qua hôn nhân mang tính bí tích. Bí tích hôn nhân làm cho tình yêu vô hình và ẩn dấu của Đức Kitô đối với dân Người trở thành hữu hình và sờ mó được.” Sự kết hợp của Đức Kitô với Hội Thánh” là mẫu mực của sự thông hiệp giữa hai vợ chồng. Mối dây liên kết mang tính bí tích giữa vợ và chồng phản ánh thực tại sâu thẳm của tình yêu liên kết Đức Kitô và Hội Thánh. Vì thế mối tình của người chồng cần phải giống mối tình của Đức Kitô đối với Hội Thánh là Hiền Thê của Người, một tình yêu trung tín, một giao ước hiến tế cho tình yêu. Tình yêu của người vợ đối với chồng cũng phải như thế. Chồng và vợ là bí tích của tình yêu Đức Kitô, cũng như bí tích của tình yêu Hội Thánh đối với Đức Kitô. Tình yêu của Đức Kitô trở nên một sự hiện diện thâm sâu trong tình yêu của họ, trong các mối tương quan, trong cuộc sống gia đình, đồng thời cũng là nguồn mạch bổ dưỡng và phát triển tâm linh của họ. Nếu muốn cảm nghiệm cụ thể về tình yêu của Đức Kitô, chúng ta chỉ cần đưa mắt nhìn xem đôi vợ chồng sống yêu thương nhau như thế nào. Đây là “mầu nhiệm cao cả” của tình yêu và sự sống (Ep 5,21-23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ep%205:21-23&FontSize=Txt10)) được nói lên qua lời thề hôn nhân mà vợ chồng thề hứa công khai với nhau, và được diễn tả cách tượng trưng qua cặp nhẫn cưới, hoặc những biểu tượng khác như trong một số nền văn hóa của Á Châu.


TÌNH YÊU CỦA ĐỨC KITÔ: NGUỒN MẠCH VÀ SỨC SỐNG CHO TÌNH YÊU VỢ CHỒNG


Lời Thánh Phaolô khuyên nhủ chồng hãy “yêu thương vợ” và vợ hãy “kính sợ chồng” (Ep 5,33 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ep%205:33&FontSize=Txt10)) đã nói lên ý nghĩa đầy đủ của tình yêu vợ chồng. Việc thánh Phaolô, đang sống trong chế độ gia trưởng, khuyên nhủ chồng hãy yêu thương vợ mình như Đức Kitô đã yêu thương Hội Thánh quả thật là mang tính cách mạng. Chồng không chỉ được mời gọi lẫy mẫu gương tình yêu của Đức Kitô đối với Hội Thánh làm mẫu mực cho tình yêu của mình đối với vợ, nhưng trong Ep 5,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ep%205:25&FontSize=Txt10) ,thánh Phaolô còn ngụ ý vì Đức Kitô đã yêu thương chúng ta nên chúng ta phải yêu thương nhau. Từ đó chúng ta thấy tình yêu của Đức Kitô trở thành nguồn mạch và sức sống cho tình yêu vợ chồng. Theo mạch văn này thì ngữ nghĩa của từ “kính sợ” là “nhìn sâu vào” mặt tốt của người khác. Điều này có nghĩa là “tìm cho ra những gì là tốt nơi người mình yêu”. Do đó, cho dù thánh Phaolô nói về các bổn phận xem ra có vẻ khác nhau, chẳng hạn như chồng phải yêu thương vợ, còn vợ phải kính sợ chồng, thật ra trong ý nghĩa trọn vẹn của nó, những giá trị đó đều giống nhau và bổ túc cho nhau. Vợ chồng phải kính trọng- yêu thương nhau. Tính phụ thuộc lẫn nhau, bổ túc cho nhau là yếu tố cần thiết trong tình yêu vợ chồng.

Nhờ yêu thương nhau, đôi vợ chồng luôn cùng lớn lên trong hành trình hướng đến sự trưởng thành nhân bản, cũng như sự trưởng thành của người Kitô hữu, khi họ sống đời hôn nhân và đối đầu với những thách đố trong trách nhiệm của họ. Tình yêu như thế lan tỏa đến mọi thành viên trong gia đình và nổi bật về tính nhẫn nại, từ tâm, tôn trọng, tin tưởng, tha thứ, hy sinh và thương xót, kiên trì khi đau khổ buồn sầu cũng như lúc hân hoan vui vẻ. Như vậy mối dây liên kết gia đình được củng cố và siết chặt trong vui mừng hoan lạc nơi mỗi đứa con sinh ra. Được chúc phúc vì sự sống mới, người cha người mẹ thường ngỡ ngàng kính sợ trước quà tặng sự sống vượt trên khả năng tự nhiên của họ. Cảm nghiệm đó về sự sống mời gọi họ nhận ra Thiên Chúa sự sống đang hiện diện trong gia đình, và mời gọi hướng tới tương lai. Hạnh phúc ngập tràn trên mọi ước mơ, và họ hy vọng cuộc sống ngày mai dù sao chăng nữa sẽ tốt đẹp hơn. Thật thế, do sự phong phú nội tại thần linh mà mầu nhiệm cao cả của gia đình chính là Tin Mừng.

Đamien
15-10-2006, 08:47 AM
HÔN NHÂN VÀ CON CÁI


Là “tác giả của hôn nhân”, từ thuở ban đầu, Thiên Chúa đã truyền rằng hôn nhân là bất khả phân ly (Mt 19,5-6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%2019:5-6&FontSize=Txt10)), và tự căn bản, hôn nhân phải mở ra đón nhận quà tặng sự sống của Thiên Chúa là việc sinh sản. Chức năng làm cha làm mẹ là những quà tặng đã hàm chứa từ ban đầu trong sự bổ túc giữa người nam và người nữ như hình ảnh của Thiên Chúa. Tự bản chất, định chế hôn nhân và tình yêu vợ chồng là để cộng tác sinh hạ và dưỡng dục con cái, và chính trong con cái mà hôn nhân tìm được vinh quang của mình. Vì thế đi kèm theo với hồng ân mà Thiên Chúa ban cho chồng và vợ được trở nên “một xương một thịt” (St 2,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%202:24&FontSize=Txt10); Mt 19,3-9 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%2019:3-9&FontSize=Txt10)), họ phải hiệp nhất trong tình yêu và sự sống, không chỉ cho cuộc sống của chính họ với nhau, nhưng còn là của bất cứ mầm sống mới nào mà Chúa tạo dựng qua họ. Quả thật, họ phải hoàn toàn cởi mở đón nhận bất cứ sự sống mới nào, vì tình yêu Thiên Chúa không phân biệt, không loại trừ bất cứ sự sống nào, bé trai hay bé gái, trẻ tật nguyền hay khỏe mạnh, nghèo hay giàu.Mỗi đứa con là quà tặng của Chúa. Điều này không có nghĩa là bêu riếu những đôi vợ chồng vô sinh, bởi vì dù không có khă năng thể lý để sinh con, nhưng thái độ tận căn và cơ bản của họ là hoàn toàn mở ra với bất cư sự sống nào Chúa trao ban, và điều đó đã là một phúc lành và ân huệ của Thiên Chúa rồi.


CHA MẸ LÀ NHỮNG NGƯỜI THẦY ĐẦU TIÊN DẠY ĐỨC TIN CHO CON CÁI.

Vợ chồng Kitô giáo phải cùng nhau làm việc để giáo dục con cái theo đường hướng của đức tin và của Nước Thiên Chúa. Họ là những người thầy đầu tiên dạy đức tin cho con cái. Trong vấn đề này, cha mẹ phải tìm những cách thế để làm cho con cái lớn lên trong đức tin, sống đức tin và chia sẻ đức tin với người khác, đặc biệt là với các em ở lứa tuổi của chúng, bằng cách tận dụng những cơ hội khác nhau mà Hội Thánh cung cấp, hoặc bằng những phương thế khác theo óc sáng tạo của họ, dưới sự hướng dẫn của Hội Thánh. Giống như gia đình Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Giuse, gia đình Kitô giáo phải là một mái ấm, một trường dạy sự thánh thiện và dạy cách làm môn đệ Chúa, ở đó các đường hướng của Chúa và các giá trị Tin Mừng được học và được sống, ở đó thái độ lắng nghe và lưu tâm đến tiếng Chúa là quy luật sống hằng ngày, và ở đó con cái lần đầu tiên cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa. Trong những xã hội đa nguyên ở Á Châu, nơi mà Kitô hữu chỉ là một thiểu số nhỏ và việc giáo dục về tôn giáo trong các trường học có thể không có, thì sứ vụ của vợ chồng trong việc giáo dục con cái cho Chúa, và giúp chúng ý thức về sứ mệnh truyền giáo là tuyệt đối cần thiết. Một gia đình có niềm tin tôn giáo sâu xa là dấu chỉ của Hội Thánh và của Nước Thiên Chúa. Trong những gia đình mà các thành viên thuộc những Giáo Hội Kitô khác nhau hoặc thuộc các tôn giáo khác nhau, thì cảm thức tôn giáo sâu xa như thế là lời đáp trả đối với ý thức vô tôn giáo ngày càng gia tăng của nền văn hóa thế tục.

Rõ ràng Chúa đã gieo trong chính bản chất của gia đình những mầm giống của tương lai qua con cái, cũng như gieo những ký ức đầy lòng biết ơn đối với quá khứ qua những người già. Lòng biết ơn, niềm hy vọng, sự nể sợ và tôn kính là lời đáp trả của cả người già lẫn người trẻ, đối với hồng ân siêu việt mà Thiên Chúa ban trong hôn nhân, khi vợ chồng được thông phần cách cung kính vào hành động tạo tác của Thiên Chúa. Vậy gia đình quả thật là nơi lưu giữ sự quan tâm và tôn trọng, sự chăm sóc và tình yêu, cũng như những kho tàng cũ mới Thiên Chúa ban tặng.

Đamien
16-10-2006, 08:13 AM
TƯƠNG QUAN NHÂN LOẠI TRONG GIA ĐÌNH VÀ NƯỚC THIÊN CHÚA

Nếu chúng ta rút ra khỏi suy tư của mình những nét đặc thù duy nhất của Kitô giáo, và nhìn hôn nhân, gia đình cũng như những tương quan nhân loại trong gia đình từ viễn ảnh của Nước Thiên Chúa, thì một chiều kích mới và quan trọng khác được thêm vào. Chúng ta khám phá ra rằng những cuộc hôn nhân và các gia đình, mà trong đó các thành viên thuộc những Giáo Hội Kitô khác nhau hoặc thuộc những tôn giáo khác nhau, cũng thật sự chia sẻ những giá trị của cuộc sống giao ước, tính hiệp thông, liên đới, bổ túc và hy sinh cho nhau. Do đó người phối ngẫu công giáo đem vào trong giao ước hôn nhân và gia đình các nét phong phú riêng trong niềm tin của mình, khi cùng sát cánh với người bạn đời và con cái của mình trong cuộc hành trình về Nước Thiên Chúa.

Các chiều kích thần học căn bản về sự sống giao ước, về hiệp thông, liên đới và sứ vụ trong gia đình không phải là những thực thể trừu tượng. Những tương quan nhân loại thực tế trong gia đình trong cuộc sống hằng ngày, những quan hệ ân cần, yêu thương và hòa điệu giữa vợ chồng với nhau, giữa vợ chồng và con cái, hoặc giữa con cái với nhau, nhất là khi gia đình đang trãi qua những cơn khủng hoảng, hành trình của gia đình vươn đến cuộc sống viên mãn qua những đau khổ và niềm vui … Tất cả những yếu tố này làm cho sự hiệp thông, tình liên đới và sứ vụ gia đình thành cụ thể. Tình ruột thịt, sự thân mật, bầu khí ấm cúng, niềm vui, tình bằng hữu, đó là những dấu chỉ rõ ràng hơn của mối hiệp thông sâu đậm trong gia đình. Như các nhà tư vấn về gia đình thường khẳng định, chìa khóa của những mối tương quan đó giữa người và người trong gia đình là sự hiệp thông hoàn toàn bằng lời nói và việc làm giữa các thành viên trong gia đình với nhau. Do đó, điều hết sức cần thiết là mục vụ gia đình tại Á Châu phải coi việc đào tạo về tương quan giữa người với người là mối quan tâm mục vụ chính yếu.



“HỠI CÁC GIA ĐÌNH, HÃY TRỞ NÊN CHÍNH MÌNH”

Ngay trong chính bản chất của gia đình là ơn gọi và sứ mệnh thần linh. Mọi Kitô hữu được kêu gọi tìm kiếm Nước Thiên Chúa trên hết mọi sự. Đây là ơn gọi chung và duy nhất cho hết mọi người. Người lập gia đình đáp trả ơn gọi này qua đời sống hôn nhân gia đình. Họ đón nhận Nước Thiên Chúa bằng cách thiết lập gia đình. Cách thức họ sống đời hôn nhân gia đình biểu lộ lòng trung thành của họ với Nước Thiên Chúa. Trong tình yêu thương dành cho nhau, khi diễn tả tình yêu đó trong việc vợ chồng, khi nuôi dạy con cái, khi sử dụng của cải vật chất, qua tất cả những công việc đó họ biểu lộ sự dấn thân của họ cho Nước Thiên Chúa. Quả thật, hôn nhân, trong ý nghĩa đích thực, chính là một hướng đi cơ bản để hướng về Nước Thiên Chúa.

Ơn gọi tông đồ của gia đình không gì khác hơn là: “Hỡi các gia đình, hãy trở nên chính mình.” Sứ vụ này bắt nguồn nơi bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức. Được lôi cuốn do tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa, chính căn bản của đôi vợ chồng thúc bách họ đến với sứ vụ. Kinh nghiệm về Thiên Chúa trong và qua hôn nhân gởi họ đến với cánh đồng truyền giáo. Chính với tư cách là vợ chồng, họ có một sứ vụ đặc biệt để thực hiện trong và ngoài gia đình của họ. Họ trở thành thừa tác viên cho nhau. Cùng nhau họ tìm kiếm Nước Thiên Chúa. Họ dạy cho con cái chọn Nước Thiên Chúa trên hết mọi sự. Các thành viên trong gia đình thực thi sứ mệnh với nhau.
Việc rao giảng Tin Mừng cho nhau trong gia đình được thực hiện qua những chuyện thường ngày, những nỗi lo, những niềm vui, qua thập giá và phục sinh trong đời sống hôn nhân. Công cuộc phúc âm hóa đó được đôi vợ chồng thực hiện qua tình yêu lẫn nhau, việc chăm sóc và phục vụ của vợ chồng, khuyến khích nhau làm tròn trách nhiệm của mình trong tình yêu trung tín, qua việc chăm lo dạy dỗ con cái, cũng như qua việc con cái yêu mến và vâng phục cha mẹ. Đặc biệt đối với gia đình Kitô giáo, chính trong gia đình là “nơi Tin Mừng được chuyển đến, và từ gia đình Tin Mừng được tỏa sáng ra … mọi thành viên trong gia đình đều rao giảng Tin Mừng và được rao giảng Tin Mừng”. Gia đình là nơi mà mỗi người có thể là chính mình và phát triển trọn vẹn. Gia đình là nơi mà ý thức và niềm say mê phục vụ qua nhiều lối sống khác nhau được nuôi dưỡng, gồm cả ơn thiên triệu tông đồ. Trong tương tác hằng ngày của mối liên hệ giữa người và người trong gia đình, các thành viên làm chứng cho Nước Thiên Chúa, cho sự chết và sống lại của Đức Kitô, Tin Mừng Cứu Độ. Đây chính là trường dạy giáo lý về cuộc sống, là “sứ vụ đối nội” của vợ chồng của gia đình họ.



GIA ĐÌNH LÀM CHỨNG CHO TIN MỪNG

Những thành viên trong gia đình không chỉ rao giảng Nước Thiên Chúa, rao giảng cuộc thương khó và phục sinh mang ơn cứu độ của Đức Kitô cho nhau mà thôi, họ còn được mời gọi đẻ rao giảng cho những người khác nữa.

“Hỡi các gia đình, hãy trở nên chính mình”. Những lời này cũng kêu gọi gia đình đến với “sứ vụ đối ngoại”. Mối tương quan yêu thương đang triển nở trong khuôn khổ gia đình- giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa con cái với nhau, giữa bà con trong gia tộc- mối tương quan này có một chiều kích tông đồ. Các thành viên trong gia đình chu toàn lời Chúa dạy: “Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ Thầy: là anh em có lòng yêu mến nhau” (Ga 13,35).

Tương tự như thế, toàn bộ gia đình được kêu gọi để minh họa cách độc đáo cho một thực tại, Đó là Giáo Hội. Sống đời sống hôn nhân và gia đình là cách thế để gia đình là Giáo Hội và trở thành Giáo Hội. Bằng cách nuôi dưỡng tình thân thiết trong gia đình và dấn thân phục vụ hạnh phúc riêng của mọi thành viên, gia đình phát huy bằng lời nói và việc làm cái thực tế và tầm quan trọng của những mối tương giao yêu thương,những tương giao đem lại sự sống trong lòng Giáo Hội và cho các cơ cấu của Giáo Hội.
Gia đình cụ thể hóa niềm xác tín Kitô giáo rằng Thiên Chúa là Tình Yêu Tự Hiến. Gia đình trở thành bí tích cho lòng nhân hậu của Thiên Chúa, nhất là trong những lúc gian truân khốn khổ vượt quá sức chịu đựng của con người. Một tình yêu dấn thân, trung tín và vun xới trong gia đình mà không vương chút bóng dáng của phản bội, tình yêu ấy sẽ làm cho khả tín hơn những giá trị Tin Mừng về niềm tín thác tuyệt đối vào tình yêu không lay chuyển của Thiên Chúa, cũng như vào tình yêu vững bền, trung tín, tha thứ, và nuôi dưỡng mà Chúa Kitô dành cho chúng ta, gia đình của Thiên Chúa. Đây là dấu chỉ cho thấy giá trị của hôn nhân và gia đình công giáo có một thông điệp đầy thuyết phục, gởi đến các đôi hôn nhân và các gia đình đang bị tan vỡ vì tính ích kỷ, vô cảm, hẹp hòi và bất trung, hoặc bởi những lo toan quá độ về kinh tế, tâm lý, xã hội.

Đamien
16-10-2006, 05:12 PM
GIA ĐÌNH: MỘT TRONG NHỮNG TÁC NHÂN MANG LẠI HIỆU QUẢ CAO NHẤT CHO CÔNG CUỘC PHÚC ÂM HÓA

Khi Thiên Chúa phán về công trình tạo dựng của Người rằng: “ thật là tốt đẹp” (St 1,31 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%201:31&FontSize=Txt10)), Người không chỉ nhắm đến vẻ đẹp bên ngoài của tạo vật. Toàn thể vữ trụ là tốt đẹp vì phát xuất từ ý định của Thiên Chúa, và phản ánh sự tốt đẹp cũng như tình yêu của Thiên Chúa. Mọi thụ tạo đều nói lên tình yêu Thiên Chúa. Người ngự trị trên mọi loài mọi vật.Chiều kích thiêng liêng và đạo đức này có thể được áp dụng cách đặc biệt cho những lời Chúa phán cùng Ađam và Evà, đôi vợ chồng đầu tiên và cha mẹ tiên khởi của chúng ta: “Hãy sinh sôi nảy nở cho đầy mặt đất” (St 1,28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%201:28&FontSize=Txt10)). Lệnh truyền này của Thiên Chúa không chỉ nhắm đến mặt vật chất bên ngoài, Người còn ra lệnh cho họ phải làm cho lòng từ tâm, vẻ đẹp, sự công chính và tình yêu của Thiên Chúa được tràn đầy mặt đất. Kinh nghiệm của tổ tiên chúng ta về thực tại tội lỗi và về những giới hạn của phận người, đã làm cho họ hiểu phải trãi qua gian truân khổ ải thế nào, để con người được lớn lên và trưởng thành. Nhưng những giới hạn và vấp ngã của con người không phải là những cản trở cho việc hoàn thành ơn gọi và sứ vụ gia đình, vì đã có lời hứa mãi mãi tín trung của Thiên Chúa (Is 38,19; Gr 31,3 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Is%2030:19;Gr%2031:3%20&FontSize=Txt10)). Chính vì thế mà giữa bao gian truân thử thách, vẻ sáng chói thiêng liêng đạo đức nguyên thủy của nhân loại phải được tỏa sáng khắp địa cầu, và dù hạn hẹp nhưng vẫn phản chiếu được tình yêu nhân hậu của Thiên Chúa.

Vì vậy, sứ vụ của gia đình đối với những người khác được mở rộng ra bên ngoài, đến những môi trường xã hội, văn hóa, chính trị và giáo dục. “Gia đình là một trong những tác nhân mang lại hiệu quả cao nhất cho công cuộc phúc âm hóa của Giáo Hội”. Điều này làm nảy sinh một vấn đề là, các cấp lãnh đạo trong Giáo Hội có thể làm gì để củng cố sự hiện diện và các mối tương quan của gia đình, nghĩa là để xây dựng một gia đình thật sự thành dấu chỉ biến đổi của Nước Thiên Chúa, hoặc để xây dựng gia đình thật sự là một Giáo Hội tại gia. Đây là một thách đố về việc tăng thêm sức mạnh cho gia đình, để họ thi hành sứ vụ của mình, bằng cách giúp cho các thành viên trong gia đình sống đời sống hôn nhân và gia đình, hợp với những giá trị của Nước Thiên Chúa và những giáo huấn của Tin Mừng và Giáo Hội.


GIA ĐÌNH TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ

Nhiệm vụ của mỗi gia đình là phản ánh lòng nhân hậu và sự công chính của Thiên Chúa. Không có nơi nào mà đòi hỏi này lại cấp thiết và bó buộc hơn, cho bằng trong lãnh vực đạo đức và xã hội của đời sống. Do đó việc mục vụ của chúng ta và suy tư về sứ vụ của gia đình, khiến chúng ta phải đề cập đến hiện tượng và tiến trình toàn cầu hóa và hàng loạt vấn đề nó đặt ra. Quả thật, toàn cầu hóa đã hiện thực hóa một kiểu nói của hai thập niên trước đây gọi thế giới là một ngôi làng toàn cầu. Chúng ta còn nói được rằng toàn cầu hóa có thể là một công cụ chính, nhờ đó các dân tộc, chủng tộc và văn hóa khác nhau trên thế giới sống chung với nhau trong hòa bình và hòa hợp, để nước giàu và nước nghèo trên thế giới này cùng chia sẻ một cách công bình và hợp lý, những tài nguyên thiên nhiên và những lợi ích của việc phát triển, để toàn thể thế giới là một gia đình nhân loại hòa hợp dưới quyền chủ tể của Thiên Chúa, trong đó không có chỗ cho chiến tranh, xung đột, chia rẽ, thành kiến, phân biệt loại trừ, đàn áp, cô lập và gạt ra bên lề.

Tuy nhiên, điều đáng buồn là những kết quả hiện nay của việc toàn cầu hóa còn xa điều mà những suy tư có vẻ không tưởng của thần học đã hình dung ra. Công bằng xã hội và hòa bình, việc quản lý tài nguyên, việc có trách nhiệm với nhau, lợi ích chung cho một gia đình nhân loại duy nhất, vẫn còn là những ảo tưởng. Trong nhiều trường hợp, toàn cầu hóa còn làm trầm trọng thêm tình trạng bất công, nghèo đói, bóc lột, áp bức và tàn phá môi trường trong đa số các quốc gia Á Châu. Khuynh hướng cạnh tranh đã đẩy hàng trăm triệu người dân Á Châu lùi lại phía sau, trong thứ toàn cầu hóa kinh tế và văn hóa theo chủ thuyết cạnh tranh sinh tồn, ở đó kẻ mạnh chiếm ưu thế. Suy nghĩ về tình hình ấy trong ánh sáng đức tin, ta thấy rằng đường lối mà toàn cầu hóa theo đuổi hiện nay là điều sai lầm khủng khiếp đối với gia đình nhân loại, và như thế ta phải đi tìm một giải pháp khác.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô đã nhận định rất đúng rằng: để toàn cầu hóa thực hiện được công bằng xã hội cho thế giới, nó phải là toàn cầu hóa trong sự liên đới, toàn cầu hóa mà không gạt ai ra bên lề” [Thông điệp Ngày Thế Giới Hòa Bình, 1 tháng Giêng 1998, số 3]. Điều này đòi hỏi sự điều chỉnh đúng đắn những sức mạnh của thị trường tự do, mà thực tế nằm trong sự kiểm soát của những nền kinh tế giàu mạnh hơn trên thế giới. Toàn cầu hóa phải được điều hành bởi những quy định pháp lý quốc tế và những nguyên tắc đạo đức phổ quát, nhằm quản lý việc sử dụng và phát triển các tài nguyên thiên nhiên, cũng như việc phân phối những phúc lợi của việc phát triển. Dưới ánh sáng những giáo huấn xã hội của Giáo Hội, chắc chắn phải nhấn mạnh những nguyên tắc sau: Bảo vệ tính chất toàn vẹn của tự nhiên, cho mọi người được quyền sử dụng các tài nguyên ấy, việc phát triển con người cũng phải toàn diện, phân phối công bằng những lợi ích của sự phát triển, chọn lựa ưu tiên những người nghèo và cho họ tham gia vào sự phát triển. Những nguyên tắc ấy được Liên Hội Đồng Giám mục Á Châu không ngừng giáo huấn, đặc biệt qua các ủy ban về hoạt động xã hội.

Đamien
16-10-2006, 05:12 PM
GIA ĐÌNH VÀ TOÀN CẦU HÓA VĂN HÓA

Chúng ta cũng nên hiểu rõ những vấn đề của việc toàn cầu hóa và sự khởi đầu mạnh mẽ của nền văn hóa hậu hiện đại. Đúng là ngày nay tính độc lập của cá nhân và quyền con người được đề cao và bảo vệ. Những giá trị nền tảng ấy cần thiết cho lợi ích chung. Do đó đối diện với nền văn hóa dành ưu thế cho chế độ gia trưởng, cần phải đề cao và thăng tiến nữ quyền ở Á Châu. Mặt khác có lẽ chúng ta phải nhận thấy rằng: ngày nay người ta ít nhấn mạnh đến gia đình như là “một cộng đồng tình yêu và sự sống”, và có lẽ trong một vài trường hợp lại nhấn mạnh quá đáng quyền của các nhân, mà không kể gì đến cộng đoàn, hoặc nhấn mạnh quá nhiều quyền cá nhân của vợ chồng, của con cái, ngược lại lợi ích của gia đình và của cộng đoàn. Trong mọi trường hợp, nhân đức đòi hỏi một sự quân bình đúng đắn giữa những xu hướng cực đoan đang gây căng thẳng.
Tuy nhiên điều bị đe dọa chính là bản chất của tự do liên quan đến hôn nhân. Thay vì là một “khả năng nhận biết chân lý trong kế hoạch của Thiên Chúa đối với hôn nhân và gia đình”, tự do được hiểu theo nghĩa hậu hiện đại của nó “như một sức mạnh độc lập để tự khẳng định mình, thường chống lại những người khác, để tìm sự thoải mái ích kỷ cho chính mình”. Ngày nay có thể thấy cách hiểu tự do như thế, qua những nỗ lực khác nhau nhằm hợp pháp hóa những thực hành và những giá trị mới trực tiếp đi ngược lại truyền thống của đức tin chúng ta, như ly dị, hôn nhân đồng giới tính, phá thai và nhiều ý tưởng mà cụm từ mập mờ “sức khỏe về sinh sản” hàm ý trong nhiều hội nghị ở Liên Hiệp Quốc. Do đó điều cần thiết là phải có sự biện phân sâu sắc về những “quyền” mới ấy, mà nền văn hóa mới xuất hiện đang gây sức ép để được mọi người nhìn nhận.

Giáo Hội đã luôn luôn chủ trương rằng có những chân lý phổ quát, dù chấp nhận những chân lý đó được diễn tả với những giới hạn của ngôn ngữ và văn hóa. Ngược lại, chủ nghĩa tương đối về học thuyết và luân lý đã làm giảm giá những chân lý như thế, và cho rằng chân lý thay đổi với thời gian. Hậu quả là có những người chỉ trích, chế giễu rằng việc khẳng định hôn nhân là một bí tích, việc bác bỏ hôn nhân đồng giới, ly dị … là những học thuyết “lỗi thời” của Giáo Hội. như thể nắm chắc chân lý trong tay, họ tuyên bố một cách mỉa mai rằng: học thuyết của Giáo Hội phải thay đổi theo thời gian, “nếu Giáo Hội muốn tiếp tục thích hợp với thời đại”. Trong việc phúc âm hóa gia đình, chúng ta cần phải đương đầu với chính chủ nghĩa tương đối về học thuyết và luân lý ấy của nền văn hóa đang thịnh hành. Dĩ nhiên chúng ta phải chia sẻ nỗi lo lắng của những anh chị em bị đau khổ khủng khiếp vì ly dị, vì hôn nhân đỗ vỡ, .v.v… Vì thế giáo huấn về chân lý phải được thực hiện với lòng khiêm nhường, nhân hậu và yêu thương (Ep 4,15 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ep%204:15&FontSize=Txt10)). Điều này đòi hỏi mục vụ gia đình dành cho các đôi hôn phối và gia đình họ cần được thực hiện với sự chăm sóc ân cần.

Phúc âm hóa nền văn hóa bao gồm nhiều chiều kích khác nhau. Chúng ta cần hiểu biết sâu xa hơn nền văn hóa của mình, vốn là những biểu hiện rất phong phú cho sự hiện diện của Thiên Chúa giữa chúng ta. Gia đình là nơi mà văn hóa được gặp gỡ và tiếp thu trước tiên, nên gia đình phải góp phần nâng cao và thanh luyện văn hóa. Đây là một cơ hội chuyển giao một nền văn hóa thấm đẫm tình thần của Nước Thiên Chúa. Ngược lại trong bối cảnh đa văn hóa và đa tôn giáo ở Á Châu, chúng ta cần hiểu biết niềm tin của mình dưới ánh sáng của những hạt giống Lời Chúa mà Thánh Thần đã đặt để trong những truyền thống tín ngưỡng và tôn giáo khác. Chúng ta phải củng cố mối quan hệ cộng sinh của những ân huệ này, để đức tin của ta được diễn tả, được hiểu biết và được cử hành trong ngôn ngữ và văn hóa Á Châu. Sau cùng, chúng ta cần phải đối đầu với mối đe dọa văn hóa mới mà việc toàn cầu hóa đặt ra, khi tìm cách áp đặt những tiêu chuẩn luân lý mới mang tính tương đối.

Đamien
17-10-2006, 02:10 PM
GIA ĐÌNH VÀ NHỮNG PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI

Hệ thống truyền bá chính của văn hóa toàn cầu mới là các phương tiện truyền thông xã hội. Sức mạnh truyền thông và ảnh hưởng của các phương tiện ấy cho điều tốt cũng như cho điều xấu hầu như ngoài sức tưởng tượng. Cả dân nghèo cũng có phương tiện để tiếp xúc với một vài nguồn tin. Thế giới truyền thông có một chiều kích luân lý. Ngành truyền thông có những phương tiện cung cấp “những cơ hội vô hạn để thông tin giáo dục, phổ biến văn hóa và cả việc phát triển tâm linh” (Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Sứ điệp Ngày Truyền Thông Thế Giới, 2004)

Đối với nhiều người, đặc biệt đối với thế hệ trẻ, phương tiện truyền thông xã hội là những phương tiện chính để thông tin và giáo dục, hướng dẫn và gợi ý. Do đó Giáo Hội phải hiểu biết những phương tiện này, và phải có khả năng khéo léo để sử dụng chúng cách có hiệu quả cho tác vụ truyền bá Tin Mừng. “Tuy nhiên, những phương tiện truyền thông ấy cũng có khả năng gây những tác hại nghiêm trọng đến gia đình, bởi việc trình bày một quan điểm không thích đáng, thậm chí còn lệch lạc về đời sống, về gia đình, tôn giáo và luân lý.”. Vì thế Giáo Hội có sứ mệnh phúc âm hóa, thanh luyện và làm cho chúng phù hợp với những giá trị của Tin Mừng và của Nước Thiên Chúa. Phần lớn sức mạnh để phúc âm hóa các phương tiện truyền thông thuộc về các bậc cha mẹ và gia đình họ. “Cuộc đối thoại giữa các gia đình và những người có trách nhiệm đối với việc truyêng thông xã hội” phải đem lại lợi ích cho mỗi gia đình.


GIA ĐÌNH VÀ NHỮNG CHUYỂN BIẾN XÃ HỘI

Bởi chính bản chất là tế bào nền tảng của xã hội, nên mỗi gia đình đều có một vai trò xã hội. Nhưng điều đó đặc biệt đúng đối với gia đình Kitô giáo. Bí tích Hôn Phối đã cho đôi lứa và cha mẹ Kitô hữu một sức mạnh và một cam kết sống ơn gọi giáo dân của họ, và do đó họ “tìm kiếm Nước Thiên Chúa, khi dấn thân vào những công việc trần thế và sắp đặt chúng theo kế hoạch của Thiên Chúa”, hay góp phần biến đổi xã hội, là thành phần của việc phục vụ hay sứ mệnh vương đế của gia đình. Tuy nhiên, sứ mệnh ấy còn là sứ mệnh của mọi gia đình, dù là Kitô giáo hay không, vì không có gia đình nào cô lập khỏi thế giới này, một thế giới luôn cần được biến đổi. Và cuộc hành trình đến với Nước Thiên Chúa là cuộc hành trình của mọi gia đình.

Ở Á Châu, việc biến đổi xã hội là việc rất cần thiết, ít nhất là trong ba lãnh vực then chốt: Tìm kiếm công bằng xã hội và hòa bình, sự liêm chính trong việc phục vụ công ích, và sự toàn vẹn của công trình sáng tạo. Bất công thường gắn chặt với chính cơ cấu xã hội, bao gồm cả cơ cấu gia đình, như trong trường hợp những gia đình theo chế độ gia trưởng. Những khác biệt về văn hóa, dân tộc, chính trị và kinh tế sẽ bùng nổ thành những xung đột mãnh liệt. Bệnh tham nhũng trong việc phục vụ công ích không chỉ đơn thuần là những thái độ không đúng đắn, nhưng nó còn mang tính cơ cấu, khiến lý tưởng của nhiều người trẻ bị xói mòn cách vô vọng, và cuối cùng bị mắc kẹt trong cả một hệ thống. Sự phá hoại môi trường vẫn không hề giảm sút.

Sự thay đổi xã hội phải bắt đầu từ trong gia đình, qua việc thay đổi thái độ của cha mẹ, qua việc giáo dục mà họ truyền đạt cho con cái, và gương sáng mà họ đem lại, liên quan đến những giá trị về công lý, hòa bình, sự chính trực của cá nhân và việc chăm sóc môi trường thiên nhiên. Đồng thời con cái phúc âm hóa cha mẹ mình, vì con cái có được trực giác nhạy cảm nhận biết những hành động nào là công bằng, trong sáng, vô tư, tốt bụng và quảng đại. Hơn thế nữa, khi liên đới với các gia đình khác, cha mẹ và con cái có thể đóng một vai trò biện hộ mạnh mẽ trong xã hội qua “chính sách gia đình”, hay qua sự can thiệp của những người làm việc công, hay đứng làm trung gian hòa giải giữa các bên xung đột.

Một chính sách gia đình như thế cũng phải được thực hiện để bảo vệ chính những quyền của gia đình. Vì lý do đó, các gia đình Á Châu phải tìm hiểu, bênh vực, bảo vệ và phổ biến Hiến Chương về Quyền Gia Đình mà Tòa Thánh đã đề nghị cho các tổ chức quốc tế và liên chính phủ. Những quyền này không chỉ manh tính riêng biệt cho đức tin Công giáo.Chúng xuất phát từ chính bản chất của hôn nhân và gia đình, và có thể dễ dàng trở thành mục tiêu của sự cộng tác giữa các tôn giáo.

Đamien
17-10-2006, 02:10 PM
GIA ĐÌNH ĐỐI THOẠI LIÊN TÔN

Ở Á Châu, cái nôi của những tôn giáo lớn trên thế giới, việc gặp gỡ với những người thuộc các tôn giáo khác là việc xảy ra thường ngày. Chính trong những hoàn cảnh thường ngày ấy mà việc làm chứng cho những giá trị Tin Mừng được đặt lên hàng đầu trong sứ mệnh phúc âm hóa của người Kitô hữu. Giáo huấn của Kinh Thánh mà Giáo Hội giảng dạy, phản ánh những giá trị mà gia đình Kitô giáo phải sống trong đời sống mỗi ngày. Để hoàn thành sứ mệnh phúc âm hóa, các gia đình Kitô giáo phải luôn luôn ý thức căn tính riêng biệt của họ là những người Kitô hữu, phải trung tín với những cam kết của mình và sống theo những giá trị của Kitô giáo.

Đối với những gia đình Kitô giáo, chỉ qua việc trung thành với căn tính và trách nhiệm của người Kitô hữu, cuộc đối thoại sống động với những người thuộc các tôn giáo khác mới khả thi và sinh hiệu quả.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nhận định: “ Mỗi tín hữu và mọi cộng đồng Kitô giáo được kêu gọi thực hiện cuộc đối thoại, dù không luôn luôn ở cùng một mức độ, hoặc theo cùng một cách”. Quả thật, cách thức mà cuộc đối thoại liên tôn có thể tiến hành là ở bình diện gia đình. Trước hết, các gia đình Kitô giáo phải làm chứng cho các giá trị Tin Mừng mỗi ngày trong thời đại chúng ta.Trong số các giá trị Tin Mừng ấy có: tính chất thánh thiêng của sự sống kể từ lúc thụ thai cho đến khi chết cách tự nhiên, phẩm giá của con người, sự thánh thiện của hôn nhân giữa người nam và người nữ, gia đình và hôn nhân là những định chế do Thiên Chúa thiết lập, việc chấp nhận và yêu thương con cái, sống khiết tịnh theo ơn gọi của mỗi người, liên đới với người nghèo, người bệnh tật và người nghèo túng. Khi cùng nhau tôn trọng những giá trị chung, người ta sẽ đi đến chỗ cùng nhau cộng tác để bảo vệ và thăng tiến những giá trị ấy.

Sự liên đới với người nghèo là một giá trị xã hội chắc chắn phải hướng dẫn các gia đình Kitô giáo cùng hành động với các gia đình thuộc các tôn giáo khác, để thăng tiến công bằng xã hội, tìm kiếm hòa bình và hòa giải, và chăm sóc môi trường. Tương tự như thế, sẽ không phải là khó tin, khi hình dung rằng, đến một lúc nào đó trong mối tương quan liên tôn giáo, các gia đình Kitô hữu có thể chia sẻ với những gia đình khác kinh nghiệm của họ về Thiên Chúa, kinh nghiệm tôn giáo của họ về lòng tin và tình yêu đối với Đức Kitô. Việc chia sẻ ấy không nhằm mục đích để cải giáo người khác, mà đơn giản là chia sẻ chính mình trong tình bạn và sự hòa hợp trong sáng. Sau cùng chúng ta phải khuyến khích các gia đình Kitô giáo, để họ có thể đem Tin Mừng cứu độ đến những người muốn nghe và đón nhận một cách tự do Tin Mừng ấy (x. Rm 10,14-15 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Rm%2010:14-15&FontSize=Txt10)). Gia đình Kitô giáo cần phải công bố điều đó, ít nhất qua việc các thành viên học hỏi giáo lý và làm chứng bằng chính đời sống của họ.

Nhưng cách đặc biệt, chính trong hôn nhân của những người có tôn giáo khác nhau, mà cuộc đối thoại giữa các tôn giáo vừa là cuộc đối thoại bằng lời, vừa là cuộc đối thoại của tình yêu và sự sống (xem hoàn cảnh mà Thánh Phaolô đã đưa ra trong 1Cr 7,12-16 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1Cr%207:12-16&FontSize=Txt10)). Ngay từ đầu, khi người nam và người nữ có tín ngưỡng khác nhau gặp nhau trong tình yêu, thì việc quan tâm đến những sự khác biệt về mặt tôn giáo cũng như sự hòa giải đã bắt đầu rồi. Cuộc đối thoại bằng lời và bằng tình yêu tiến hành qua giai đoạn tìm hiểu và hôn nhân, rồi trưởng thành qua cuộc đối thoại yêu thương, khi sống chung trong những biến cố thường ngày của đời sống hôn nhân. Những giá trị và thái độ của cuộc đối thoại ấy sẽ lan tỏa trên con cái họ. Bất chấp sự khác nhau về tôn giáo, một nhịp cầu yêu thương và hòa giải được xây dựng, một thực tại có ý nghĩa quan trọng trong một xã hội bị quấy phá bởi xung đột tôn giáo. Tương tự như vậy, chắc chắn trong những lo lắng, ưu tư, đau buồn, vui mừng, hy vọng và yêu thương của hôn nhân và trong đời sống gia đình, có những cơ hội mà Chúa Thánh Thần đem lại cho việc tuyên xưng đức tin Kitô giáo cách khiêm nhường, kính trọng, thinh lặng nhưng cũng có sức thuyết phục.

Đamien
18-10-2006, 09:10 AM
GIA ĐÌNH VÀ CỘNG ĐOÀN GIÁO HỘI CƠ BẢN, CỘNG ĐOÀN NHÂN SINH CƠ BẢN.

Giáo Hội tại gia là hình thức cộng đoàn nền tảng nhất của Giáo Hội, và phải nghiêm túc coi đó như một thực tại Giáo Hội tại địa phương. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã tán thành đưòng lối mục vụ của các Giám mục Á Châu, nhấn mạnh đến các cộng đoàn Giáo Hội cơ bản “như một phương thế hữu hiệu để phát triển sự hiệp thông và sự tham gia vào công việc giáo xứ, giáo phận, và như một sức mạnh đích thực cho việc phúc âm hóa … và vì thế, là một khởi điểm vững chắc để xây dựng một xã hội mới, là cách diễn tả của nền văn minh tình yêu”. Chắc chắn rằng gia đình- xét như Giáo Hội tại gia- có một vị trí trung tâm trong hướng đi mục vụ nhằm thúc đẩy việc xây dựng các cộng đoàn Giáo Hội cơ bản ở Á Châu.

Gia đình là yếu tố cấu thành cộng đoàn chủ yếu nhất của cộng đoàn Giáo Hội cơ bản. Trong nhiều trường hợp, cộng đoàn Giáo Hội cơ bản được hình thành trong các khu xóm, gồm những gia đình quy tụ thường xuyên để cầu nguyện, đọc và suy niệm Lời Chúa, và áp dụng Lời Chúa vào trong đời sống hằng ngày. Cũng thế, khu xóm gồm những gia đình có tín ngưỡng khác nhau, trong cộng đoàn nhân sinh cơ bản cùng quy tụ để cầu nguyện liên tôn, suy nghĩ, xây dựng tình thân ái và cùng nhau hoạt động vì lợi ích của những người lân cận.

Trọng tâm của công cuộc phúc âm hóa phải là gia đình, xét như đối tượng cũng như chủ thể, và mọi chương trình mục vụ cần phải quy về trọng tâm này. Khi đó, cộng đoàn Giáo Hội cơ bản sẽ là một cộng đoàn của các gia đình, và giáo xứ thật sự là một cộng đoàn của những cộng đoàn (x. Cv 4,32 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Cv%204:32&FontSize=Txt10)). Quả thế, trong cộng đoàn giáo hội cơ bản cũng như cộng đoàn nhân sinh cơ bản, sự liên đới của các gia đình trong mọi mặt của đời sống có thể là lời đáp trả ở mức độ vi mô đối với hiện tượng toàn cầu hóa về kinh tế cũng như văn hóa. Chính trong những cộng đoàn này, ở bình diện gia đình, là nơi “toàn cầu hóa của tình thương và liên đới” bắt đầu.
Ngược lại, điều này cũng đòi hỏi việc canh tân các cơ cấu và các chương trình mục vụ trong giáo xứ, cũng như việc định hướng lại những ưu tiên trong các tác vụ, của giáo dân cũng như giáo sĩ. Việc đào tạo đức tin trong gia đình nhằm giúp cho gia đình có khả năng hơn, để thi hành sứ vụ cộng đoàn nhân sinh cơ bản, trong nỗ lực hướng tới nền văn hóa sự sống. Công việc đó phải trở thành ưu tiên hàng đầu của sinh hoạt mục vụ.


GIA ĐÌNH LÀM NGÔN SỨ

Gia đình đích thực có tính ngôn sứ. Được Thiên Chúa ban cho ơn hiệp thông, tình liên đới, và được mời gọi tham dự vào việc xây dựng một nền văn hóa tôn vinh sự sống toàn diện, chính từ bản chất, gia đình đã hướng tới những giá trị của Nước Thiên Chúa, những giá trị nhân bản tuyệt hảo mà gia đình được mời gọi chia sẻ. Vì gia đình là một dấu chỉ của Nước Thiên Chúa, nên gia đình là một cộng đoàn ngôn sứ trong xã hội. Gia đình kêu gọi xã hội canh tân chính mình một cách sâu xa, vì những mãnh lực gây chết chóc đang tàn phá một cách vô trách nhiệm quà tặng sự sống của Thiên Chúa, tình yêu, công lý, hòa bình và bình an.

Khi trung thành với căn tính và ơn gọi của mình là Giáo Hội tại gia, gia đình cũng giống như một ngôn sứ của toàn thể Giáo Hội. Khi Giáo Hội không sống theo căn tính của mình là đền thờ của giao ước tình yêu và sự sống, là hiệp thông và liên đới; khi năng lực của Giáo Hội yếu đi trong sứ mệnh cứu độ toàn diện; khi các mục tử trong Giáo Hội không có được hạnh kiểm xứng đáng với những người chăn chiên như lòng Chúa mong ước; khi sự bình đẳng trong phẩm giá, tinh thần đồng trách nhiệm, việc tham gia và lòng quảng đại quên mình không còn thúc đẩy Giáo Hội nữa; khi quyền lực, tính ích kỷ và sự kỳ thị đe dọa cơ cấu bên trong của Giáo Hội- thì chính gia đình sẽ lên tiếng như một ngôn sứ, để kêu gọi gia đình của Thiên Chúa tiến lên con đường canh tân sâu rộng. Bằng cách này, qua việc làm chứng của Giáo Hội tại gia, toàn thể Giáo Hội sẽ được kinh nghiệm của đôi lứa sống đời hôn nhân ảnh hưởng. Vì lẽ đó, gia đình phải luôn luôn sống trong sự hiệp nhất với Thiên Chúa, trong linh đạo hiệp thông, linh đạo của người môn đệ.


LINH ĐẠO HIỆP THÔNG

Câu hỏi cốt lõi mà các bậc cha mẹ và gia đình họ đặt ra là: Đức tin của tôi cho tôi biết điều gì về ý nghĩa cuộc hôn nhân của tôi và gia đình tôi? Câu trả lời sẽ là linh đạo, một linh đạo hiệp thông, một linh đạo của người môn đệ, một linh đạo Thánh Thể.

Trung tâm của gia đình là sự hiệp thông, hiệp thông với Thiên Chúa, hiệp thông của vợ chồng, hiệp thông của cha mẹ còn trẻ hay đã già với con cái, hiệp thông với ông bà và những thành phần khác trong đại gia đình. Việc hiệp thông giữa những người thân như thế vượt qua việc chỉ sống chung dưới một mái nhà, hay chỉ liên quan về thể lý vì có cùng huyết thống. Đó cũng là sự hiệp nhất của tâm hồn và trí tuệ (Ga 17,21; Cv 4,32; Pl 2,2; 1Pr 3,8 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%2017:21;Cv%204:32;Pl2:2;1Pr3:8%20&FontSize=Txt10)) mang trong cách thức nhân loại phản ánh sự hiệp thông của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, của Thiên Chúa Ba Ngôi nhờ đó mà gia đình hiện hữu. Vì thế linh đạo hiệp thông hướng dẫn gia đình trở thành một nhân tố của một nền văn hóa tôn vinh sự sống toàn diện.

Tuy nhiên, hiệp thông trong gia đình mở ra đến một cộng đoàn rộng lớn hơn, và thúc đẩy gia đình hướng về một sứ mệnh phục vụ (Ga 17,14.18.20 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%2017:14,18,20&FontSize=Txt10)) để thực hiện Nước Thiên Chúa. Hoạt động bên ngoài này làm cho gia đình có thể chia sẻ sự hiệp thông của Thiên Chúa Ba Ngôi mà gia đình cũng được ban cho. Linh đạo hiệp thông đổ đầy sức mạnh và nhiệt tình- tức sự sống- vào tính năng động của gia đình, vào những tương quan giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa các thành viên của đại gia đình. Nó phát triển với việcmở rộng không ngừng những vòng tròn đồng tâm bao gồm lối xóm láng giềng, toàn thể cộng đoàn. Không có linh đạo này, gia đình không thể sống trọn căn tính và sứ mệnh của mình.

Đamien
18-10-2006, 09:12 AM
GIA ĐÌNH CÙNG CẦU NGUYỆN

Cầu nguyện là trung tâm của linh đạo gia đình, “cầu nguyện bởi gia đình, cầu nguyện cho gia đình và cầu nguyện với gia đình” (Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Tâm thư gởi các gia đình, số 4). Gia đình cần được khuyến khích cũng như được huấn luyện để cầu nguyện đều đặn vì là một gia đình, chứ không phải chỉ trong những cơ hội đặc biệt, như các ngày sinh nhật hay các ngày kỷ niệm khác. Kinh nguyện gia đình phải liên kết một cách sáng tạo kinh nghiệm hiện tại mỗi ngày của gia đình với những giá trị của Tin Mừng. Đọc và suy niệm Lời Chúa phải thường xuyên có trong việc cầu nguyện của gia đình. Cũng thế, lòng sùng kính Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, Nữ Vương Gia Đình, đặc biệt việc đọc kinh Mân Côi thường xuyên để cầu nguyện, sẽ có kết quả rất tốt cho đời sống gia đình. Sáng tạo ra những hình thức cầu nguyện mới trong nhà, cũng như canh tân những nghi thức và lòng sùng kính đã trở thành tập quán, là việc hữu ích. Lời kinh giúp ta cảm nhận rõ nhất sự chăm sóc yêu thương của Thiên Chúa, là kinh mà Chúa Giêsu đã dạy cho gia đình đức tin của Người. Kinh Lạy Cha quả thật là một kinh nguyện phổ quát. Nhưng trước hết là kinh nguyện của gia đình có Người Cha tối thượng là Thiên Chúa.

Môt gia đình cầu nguyện có khả năng bước đi cùng Thần Khí, sống với Thần Khí ở lại trong Thần Khí, và đi theo Đức Kitô như những môn đệ trung thành. Lòng chung thủy trong hôn nhân, sức mạnh của hôn nhân, khả năng đáp trả của vợ chồng và con cái họ trước những thách thức của đời sống mỗi ngày… tất cả đều là những ân sủng của Chúa Thánh Thần mà gia đình khẩn nài khi cầu nguyện, mặc dù về căn bản, những ân sủng ấy đã tuôn trào từ bí tích Hôn Nhân. “Để luôn hoàn thành những bổn phận của ơn gọi Kitô hữu, đòi phải có lòng can đảm vượt bậc; do đó vợ chồng cần có ân sủng để sống đời thánh thiện: họ sẽ cương quyết thực hành một tình yêu bền vững, quảng đại và sẵn sàng hy sinh, và họ sẽ xin điều ấy trong kinh nguyện của họ”.


THÁNH THỂ TẠO RA SỰ HIỆP THÔNG VÀ GÌN GIỮ SỰ HIỆP THÔNG TRONG GIA ĐÌNH

Chúng ta nên ý thức sâu xa rằng, nếu vai trò thánh hóa của gia đình Kitô giáo có nền tảng là bí tích Thánh Tẩy và bí tích Thêm Sức, thì nó đạt tới “biểu lộ cao nhất trong Thánh Thể”. Vì Thánh Thể là tưởng niệm cuộc Thương Khó, Cái Chết, sự Phục Sinh của Đức Kitô, tức là mầu nhiệm Vượt Qua, nền tảng của ơn cứu độ chúng ta. Vì Đức Kitô đã sống lại từ trong đau khổ và sự chết, nên qua mầu nhiệm Vượt Qua hiện diện trong bí tích Thánh Thể, các gia đình sẽ nhận được sức mạnh để trỗi dậy từ những thử thách, lo âu, chán nản và thất vọng hằng ngày, tức là nhiều kiểu “chết” mà đời sống gia đình và hôn nhân gặp phải mỗi ngày. Chắc chắn niềm vui, niềm hy vọng, sự tha thứ, hòa giải và sức mạnh cho đôi lứa và gia đình của họ đến từ Thánh Thể.

Thánh Thể là hiện thân của giao ước tình yêu giữa Đức Kitô và Giáo Hội Người.Do đó chính trong hy tế Thánh Thể mà vợ chồng gặp được suối nguồn của chính giao ước tình yêu của họ. Vì lẽ đó, cả hai vợ chồng không nên nhìn hy tế Thánh Thể chỉ như một việc bổn phận, nhưng phải như một việc cử hành ở đó họ trực diện suối nguồn bí tích của sự hiệp thông, đồng thời cũng là dịp họ cử hành với con cái việc canh tân tình yêu hôn nhân và giao ước của họ. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nhắc nhở chúng ta: “Thánh Thể tạo ra sự hiệp thông và gìn giữ sự hiệp thông”. Chính trong Thánh Thể mà vợ chồng và toàn thể gia đình cử hành mầu nhiệm sự hiệp nhất của họ với nhau. Như lời Thánh Âu Tinh đã nói: “Nếu bạn là thân mình và chi thể của Người, thì bạn sẽ tìm thấy trên bàn tiệc thánh mầu nhiệm của chính bạn. Phải, bạn lãnh nhận mầu nhiệm của chính bạn”. Linh đạo hiệp thông và làm môn đệ mà gia đình cần có cũng là linh đạo Thánh Thể, bao gồm tất cả những gì mà Đức Giêsu muốn nói lên khi lập phép Thánh Thể: hoàn toàn trút bỏ chính mình, tình yêu dâng hiến. Vì lý do này, việc cử hành Thánh Thể phải là một biến cố gia đình với sự tham gia của mọi thành viên trong gia đình. Kể cả con cái và trẻ nhỏ. Nơi nào con cái thường xuyên tham dự thánh lễ dành riêng cho chúng, thì việc cử hành Thánh Thể như một biến cố gia đình vẫn phải được thực hiện dù chỉ mỗi tháng một lần.