PDA

View Full Version : Thụ thai trong ống nghiệm


admin
26-09-2006, 02:22 PM
THỤ THAI TRONG ỐNG NGHIỆM

Đỗ Trân Duy


Hiếm muộn con cái là vấn đề lớn của văn hóa và nhân sinh. Từ xưa người ta giải quyết bằng cách cho người chồng lấy vợ khác. Công Giáo khuyến khích phương án nhận con nuôi. Ngày nay y khoa đưa ra kỹ thuật thụ thai trong ống nghiệm (TTTON). Kỹ thuật TTTON được phát minh vào đầu thập niên 70. Người đầu tiên ra đời bằng phương pháp này là cô Louise Brown, sanh tại bệnh viện Oldham, Anh quốc, năm 1978. Cả thế giới xôn xao trong ngày sinh của cô. Giới truyền thông gọi cô là “bé ống nghiệm” (test-tube baby). Từ đó đến nay đã có cả triệu trẻ em được sinh ra theo kỹ thuật TTTON. Trên bình diện khoa học, đó là một bước tiến về y học và kỹ thuật, nhưng đàng khác TTTON đã có quá trình lạm dụng trong hành vi trợ sinh nhân tạo. Vì vậy, TTTON là một vấn nạn luân lý thường xuyên cần được tái thẩm định.

Tiến Trình Thụ Tinh Trong Ống Nghiệm

Năm 1969, nhà sinh lý học Robert Edwards và bác sĩ Patrick Steptoe, Anh quốc, đã thành công trong việc rút trứng trong tử cung ra rồi nuôi nó trong một dung dịch hóa chất. Dựa vào kết quả đó, kỹ thuật TTTON ra đời. Có 4 thể thức được áp dụng để đi tới mục tiêu. Căn bản chung vẫn là việc thụ thai không do cha mẹ giao hợp, nhưng do sự phối hợp nhân tạo của phòng khảo nghiệm. Sau khi những phôi bào thành hình chúng mới được chuyển vào tử cung của người mẹ.

1) Kỹ thuật IVF (in vitro fertilization, thụ thai trong ống nghiệm)

Phát minh ở Anh, năm 1970. Chuyên viên ngành phôi bào dùng thuốc kích thích để có nhiều trứng chín (số lượng có thể lên tới 12 trứng). Họ lấy những trứng này từ tử cung ra rồi nuôi chúng trong ống nghiệm. Sau đó họ lấy trứng và tinh trùng của người chồng trộn với nhau trong một cái dĩa thủy tinh. (“in vitro”, tiếng Latin, có nghĩa “trong dĩa thủy tinh”). Tinh trùng và trứng phối hợp, vào khoảng 12 giờ sau thì thành phôi bào ( ). Phôi bào được nuôi trong khoảng 5 ngày. Đó là thời gian để các chuyên viên theo dõi để loại bỏ những phôi bào hư khuyết hay có mầm bệnh. Cuối cùng họ chọn một số phôi bào lành mạnh đặt nó trở lại trong tử cung của bà mẹ.

2) Kỹ thuật GIFT (gamete intra-fallopian transfer, chuyển giao tử qua ống dẫn trứng)

Được giới thiệu vào năm 1984 tại Mỹ. Đây là phương pháp IVF cải thiện. Khi việc thụ thai thành công, những phôi bào tốt thay vì được nuôi trong dĩa thủy tinh thì chúng được nuôi trong ống dẫn trứng của bà mẹ. Như vậy chúng được sống trong môi trường thiên nhiên trong bụng mẹ. Khi đến thời hạn chúng sẽ tự động rơi xuống tử cung. Phôi bào sau đó phát triển thành thai nhi.

3) Kỹ thuật ZIFT (zygotes intra-fallopian transfer, chuyển hợp tử qua ống dẫn trứng)

Cũng như phương pháp GIFT, nhưng khác về thời gian dẫn chuyển. Với kỹ thuật ZIFT, sau khi tinh trùng phối hợp với trứng đến lúc hợp tử tăng trưởng từ 6 đến 12 tế bào thì được chuyển ngay vào ống dẫn trứng của bà mẹ. Chúng sẽ phát triển thành phôi bào sau đó, rồi tự động theo ống dẫn trứng rơi xuống tử cung của bà mẹ.

4) Kỹ thuật ICSI (intra-cytoplasmic sperm injection, thụ tinh nhân tạo)

Sáng tạo ở Bỉ, năm 1990. Trường hợp người chồng quá ít tinh trùng. Chúng không đủ sức kết hợp với trứng. Nhà phôi bào học dùng một kim chích thật nhỏ hút con tinh trùng lành mạnh, rồi bơm thẳng nó vào trung tâm của trứng, để tạo cuộc thụ thai. Sau khi sự kết hợp thành công, một số phôi bào tuyển lựa được đặt vào tử cung của người vợ theo phương pháp IVF.

admin
26-09-2006, 02:24 PM
Những Dữ Kiện Liên Hệ
TTTON không phải là phương pháp hoàn hảo. Mọi người chỉ biết phôi bào Louise Brown thành công, nhưng không biết đã có 500 trường hợp thất bại xảy ra trước đó. Mặc dù với kỹ thuật hiện tại, rất nhiều phôi bào bị hư trước khi có một vụ thành tựu. Cho đến nay sự thành công chỉ có 15%. Theo thống kê của Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Tật (Center for Disease Control) trong năm 1999 có 86,822 vụ thực hiện TTTON. Tổng số trứng đậu là 21,501 vụ. Tổng số phôi bào được tạo nên là 170,000. Như vậy số phôi bào dư thừa là 83,178. Sự khó khăn cũng xảy ra trong mỗi vụ thụ thai. Nếu chỉ chuyển một phôi bào vào tử cung cơ hội thành công sẽ rất mong manh. Nhưng nếu chuyển nhiều phôi bào một lần, có thể sẽ có vài phôi bào cùng đậu, bà mẹ sẽ sanh đôi hay sanh ba. Theo quy tắc chung, người ta chuyển phôi bào làm nhiều lần (cycle), mỗi lẩn có số lượng phôi bào khác nhau tùy theo mỗi phòng mạch.

Những phôi bào còn dư sẽ ra ra sao? Có nơi cha mẹ chúng hiến tặng chúng cho viện nghiên cứu tế bào gốc. Có nơi người ta hủy bỏ hoàn toàn. Có nơi người ta đông lạnh chúng để lưu trữ. Anh quốc chỉ cho phép lưu trữ đông lạnh trong 10 năm. Bên Mỹ thời gian đông lạnh tùy theo quy định riêng của mỗi phòng mạch. Khi hết hạn lưu trữ, nếu muốn dùng lại phôi bào vấn đề hư hỏng nhất định phải đặt ra. Tuy nhiên cho đến nay không có luật lệ nào kiểm soát trình trạng này. Cũng có rất nhiều trường hợp vợ chồng ly dị hoặc qua đời. Những phôi bào đông lạnh của họ trở thành mồ côi. Không ai chịu trách nhiệm về chúng.

Có nhiều phụ nữ đã lớn tuổi hoặc còn trẻ nhưng trứng có mầm bệnh. Có những nam nhân không có tinh trùng. Để có con, những người này phải xin trứng và tinh trùng của người khác. Vì vậy có hiện tượng bán trứng và tinh trùng. Năm 1998, Trung Tâm Y Khoa St. Barnabas trả $5000 cho người hiến trứng. Giá biểu này nhiều gấp đôi so với những trung tâm cạnh tranh khác.

Những Xáo Trộn Do Phương Án TTTON Gây Ra

Những lạm dụng của TTTON đã trở nên phổ thông. Xin dẫn chứng một số trường hợp cụ thể:

Cấy lầm phôi bào.

Một vụ án nổi tiếng tại New Jersey về trường hợp sanh đôi. Bác sĩ đã cấy lầm phôi bào của người khác vào tử cung của thân chủ. Hậu quả là bà mẹ có hai con, nhưng một bé da đen và một bé da trắng. Tại California, trong lúc bà vợ có thai thì cặp vợ chồng được giấy báo cho biết đã có sự lầm lẫn. Phôi bào của họ vẫn còn giữ trong phòng mạch. Đôi khi bác sĩ cố tình lạm dụng quyền hành của mình. Năm 1996 truyền thông khám phá ra bác sĩ của Đại Học California Irvine đã lấy phôi bào dự trữ cấy vào tử cung của bà muốn có con, nhưng không có sự chấp thuận của người hiến tặng.
Mang thai với tinh trùng của người chết. Năm 1999 bà Baby Vernoff ở Los Angeles sinh ra hài nhi qua TTTON với tinh trùng của chồng bà, nhưng ông này đã chết trước đó 4 năm. Tinh trùng của ông đã được đông lạnh khi ông còn sống. Điều này trái với nguyên tắc, bởi vì đứa con được sinh ra bất cần sự đồng ý của người cha. Nó tạo ra vấn đề vì người chết không thể phản đối, nếu người giám hộ muốn sử dụng tinh trùng của họ trong ý đồ riêng thì sẽ ra sao. Thêm nữa, tâm trạng của đứa trẻ sẽ ra sao khi cha nó là một người chết.

Mang thai thế.

Với TTTON, phụ nữ có thể mang thai mà không cần có giao hợp nam nữ. Vì vậy nhiều bà có tử cung hư hỏng đã nhờ người khác mang thai thế cho mình. Ở Mỹ đa số những người mang thai thế là những người được mướn bằng tiền. Nhưng đã xảy ra hiện tượng hai bên là thân thích của nhau. Năm 1987, một bà ở Nam Phi mang thai giùm cho con gái. Bà đã sinh ra ba đứa trẻ. Năm 1991 ở Mỹ, bà Arlette Schweitzer mang thai thế cho con gái. Bà đã sinh đôi.

Mẹ quá tuổi và loạn luân.

Thể thức TTTON cho phép những bà độc thân thụ thai với tinh trùng của người đàn ông không phải là chồng họ. Bà cụ Adriana Liescu 63 tuổi, Lỗ-ma-ni, có con bằng thể thức TTTON. Người ta tin rằng bà sẽ để lại đứa bé mồ côi trong một ngày không xa. Năm 2001 tại Pháp, một cô có thai bằng trứng hiến tặng và tinh trùng của anh cô.

Những trẻ con không cha.

Những người đàn bà độc thân và những cô gái đồng tính luyến ái dùng phương pháp TTTON để có con. Họ đã tạo ra những gia đình không có người cha. Con của họ ra đời nhưng không biết cha mình là ai. Mọi nghiên cứu khoa học đều công nhận người cha là một yếu tố quan trọng trong đời sống tâm lý của đứa trẻ

Những con trẻ không cha và không mẹ.

Ông John và vợ là bà Luanne không thể có con. Họ mướn bà Pamela mang thai với phôi bào “dư thừa” của một người nào đó. Vài tháng sau 2 người ly dị. Đứa bé ra đời được Luanne nuôi và được đặt tên là Jaycee. Luanne đưa John ra tòa đòi tiền cấp dưỡng đứa trẻ. John từ chối cấp dưỡng vì Jaycee không phải là con của mình. Đồng thời Luanne cũng không phải là mẹ nên không có quyền đòi hỏi. Tòa Tối Cao California đồng ý và tuyên bố Jaycee không có cha và cũng không có mẹ.

Vị thế hàm hồ của liên hệ mẫu tử.

Ông Mark và vợ Crispina Calvert mướn bà Nana Johnson mang thai. Lúc đứa bé ra đời bà Anna đổi ý đòi giữ đứa bé. Tòa Tối Cao California, năm 1990, lúng túng khi phân xử quyền mẫu tử giữa mẹ đẻ và mẹ ruột. Toà phải dựa vào văn tự hành chánh để xét xử. Tòa bác bỏ quyền giữ con của bà Anna vì bà đã ký một giao kèo mang thai thế cho bà Crispina. Nếu bỏ ra ngoài tờ giao kèo này, khó có thể xác định ai là mẹ của đứa bé.

admin
26-09-2006, 02:32 PM
Lập Trường Của Giáo Hội Công Giáo

Văn kiện chính thức của Giáo Hội về chủ đề tôn trọng nhân sinh là văn kiện Donum Vitae (Ơn Huệ của Sự Sống), năm 1987. Thông điệp Donum vitae khảng định TTTON sai lầm trên nguyên lý đạo đức. Thiên Chúa ban cho con người được quyền sinh sản nhưng không được quyền sản xuất mạng sống qua những tiến trình nhân tạo. “Con trẻ là một tặng phẩm không phải là món nợ” (Giáo Lý #2378). Bỏ rơi luật Thiên Chúa, con người sẽ chỉ nhận được những hỗn loạn.

Giáo Hội khảng định tình ân ái vợ chồng phải hội đủ 2 yếu tố: 1) Hai-thân-xác-nên-một (giáo lý hôn ước). 2) Sáng tạo sự sống mới (giáo lý sinh sản). Giáo Hội phủ nhận tuyệt đối kế hoạch sinh con cái ngoài hôn nhân và không qua thể thức thụ thai thiên nhiên. TTTON đã phá hủy giá trị gia đình vì tách rời sự thụ thai qua sự giao hợp giữa cha và mẹ; đã đặt sự can thiệp của người thứ ba vào cuộc hôn nhân. Tất cả những sự kiện như hiến trứng, hiến tinh trùng, đông lạnh hoặc tiêu hủy phôi bào đều không thể chấp nhận. Nó “vi phạm quyền con trẻ được sinh ra bởi cha mẹ ruột đã kết hợp trong hôn ước” (Giáo Lý # 2376).

Giáo Hội phản đối hành vi hủy hoại phôi bào cùng với lý do phản đối phá thai. Các chuyên viên đã tự quyền định đoạt số mạng của những người không có khả năng tự vệ. Danh xưng “dư thừa” tự chính nó đã phỉ báng nhân phẩm của những phôi bào bị bỏ rơi. Hành vi này có thể dẫn tới chủ nghĩa ưu sinh. Con người phải được nhận diện và tôn trọng ngay từ giây phút thụ thai. Thiên Chúa biết rõ cá nhân trước khi được sinh ra. Người tạo hình cho cá nhân từ trong bụng mẹ (Gr 1,15 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Gr%201:15&Font Size=Txt10)). Xâm phạm quyền sống của phôi bào là xúc phạm Thiên Chúa và phạm tội sát nhân.

Ngoài Donum Vitae, còn có rất nhiều văn thư của Giáo Hoàng và của các vị Giám Mục phản đối kỹ thuật TTTON. Chẳng hạn, năm 1988 Hội Đồng Giám Mục Mỹ gửi kháng thư phản đối chính phủ ủng hộ TTTON. Lý do vì có tới 95% phôi bào dư thừa bị hủy bỏ, hoặc bị dùng làm mẫu thí nghiệm. Hội Đồng nhận diện những phôi bào bị đông lạnh trong thời kỳ thành người là những con trẻ bị đông lạnh. Chúng không phài là khối tế bào đông lạnh. Năm 1995 đức Gioan Phaolô II, qua tông huấn Tin Mừng về Đời Sống (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=1173), tái khẳng định nhân phẩm và quyền sống của phôi bào. Năm 2001, trước sự kiện trứng, tinh trùng và phôi bào được rao bán, Hồng Y Sean P. O’Malley, Giám Mục Boston, báo động rằng khoa học kỹ thuật đang thành lập xưởng chế tạo người. Họ đã mở cửa cho sự dữ xâm nhập vào đời sống. ( )

admin
26-09-2006, 02:32 PM
Nhận Định Của Các Nhà Thần Học

Quan điểm của TTTON đã sai lầm trên nguyên lý.

Kỹ thuật TTTON chỉ cần 3 thành tố: trứng, tinh trùng, và tử cung. Rõ ràng mỗi thành tố này đều có thể đến từ những nguồn khác nhau. Ngoài ra lại có vấn đề dùng phương thức thủ dâm để lấy tinh trùng trong đa số trường hợp. Sự phối hợp của 3 thành tố đã tạo ra tình trạng hỗn loạn về luân lý và pháp luật. Khi đứa con sinh ra không phải từ trứng/tinh trùng của mình, bóng đen của “người cha/mẹ huyền bí” sẽ là một ám ảnh cho người chồng/vợ và đứa con. Khi một bà mang thai cho con dâu hay con gái, đứa trẻ sinh ra sẽ là cháu hay con? Về liên hệ sinh thể nó có cha mẹ theo di truyền, nhưng về liên hệ gia tộc nó lại là em của cha mẹ nó.

Có chiều hướng chọn lựa phôi bào dựa trên quyền lợi.

Cha mẹ sinh ra con cái không phải trong tình yêu thương thuần túy vô điều kiện. Ngược lại họ có điều kiện là chỉ chọn những đứa con hợp ý cho ra đời. Ở Á châu còn có nhu cầu chỉ muốn có con trai. Để vừa ý người đặt hàng, các chuyên viên đã phải sửa đổi, tuyển lựa, hoặc giết bỏ những phôi bào không thích hợp. Số phận của những phôi bào trong ngục tối đông lạnh cũng được định đoạt dựa trên quyền lợi. Do đó trứng, tinh trùng và phôi bào đều bị coi là những vật liệu. Tự quyền sinh sát này chẳng khác gì sự thanh lọc của nhóm Đức Quốc Xã. Với những người lớn tuổi và những vụ thụ thai loạn luân, “người chủ” chỉ để ý tới sở thích của mình hơn là tới sự an nguy và sự phát triển một tâm hồn lành mạnh của con trẻ. Họ, những “người chủ”, đã coi người khác như tài sản của mình.

Một kỹ thuật phi nhân bản.

Chủ đề của của nhóm ủng hộ kỹ thuật TTTON cho rằng “phôi bào tiền thời” (pre-embryonic) chỉ là một khối tế bào chưa phải là người. Danh xưng “phôi bào tiền thời” chỉ là tên gọi do họ đặt ra để tránh né đối tượng đạo đức. Danh xưng này không có trong ngôn ngữ sinh vật học. Phôi bào dù chưa phải là một cá nhân (human person) nhưng vẫn là một nhân thể (human individual). Nó là một thực thể mà nếu không có nó cá nhân và mọi giá trị sẽ không hiện hữu. Dù có cho phôi bào chưa phải là người cũng vẫn phải chấp nhận bản chất người của phôi bào. Như vậy không lẽ nhân loại có 2 ngành. Một ngành có bản chất người và một ngành là người. Không phải cái “bản chất người” được sinh ra, nhưng một cá nhân. Trước sau chỉ là một người.

Lầm lẫn giữa bản thể siêu việt và thể chất.

Một số nhà khoa bảng lập luận rằng một cá thể chỉ có thể được coi là người nếu nó có trung tâm thần kinh. Luận cứ này không có cơ bản sinh vật học. Sự thành hình của một cá nhân là một tiến trình liên tục theo luật di truyền và bắt đầu từ lúc 2 giao tử kết hợp. Từ đó sự sống liên tục không có sự phân chia hữu hình giai đoạn nào quan trong hơn giai đoạn nào. Triết học và y học không thể dựa vào cấu trúc thể xác làm biểu thị để định nghĩa về con người. Tinh túy của con người bắt nguồn từ sự sống không phải từ một dạng thể vật chất. Siêu việt hơn động vật, con người còn có linh hồn. Linh hồn không thể là đối tượng để quan sát như vật thí nghiêm trong phòng mạch hay phân tích bằng những khái niệm triết học. Nếu không chấp nhận linh hồn đã có từ giây phút thụ thai, không ai dám nói vào giai đoạn nào phôi bào có linh hồn và giai đoạn nào chưa có linh hồn.

Phương án TTTON mất phương hướng vì đã coi hiếm muộn như bệnh tật.

Sự hiếm muộn không đơn thuần là chủ đề của y học mà còn là chủ đề của luân lý và nhân sinh. Vì cho hiếm muộn là bệnh tật nên y khoa đã đi lạc đường. Để bảo đảm thành công, phòng thí nghiệm đã tạo ra nhiều phôi bào hơn là số cần dùng. Với những lần thụ thai nhân tạo bất thành, số lượng phôi bào bị chết yểu lên rất cao. Số phận của tất cả phôi bào đều bị đặt trong tình trạng nguy hiểm. Dù phôi bào có thành tựu và thai nhi được sinh ra, nó cũng không đáp ứng trọn vẹn ý nghĩa là hoa trái kết hợp của cha mẹ. Nó không phải là “được sinh ra” nhưng là kết quả của tác động “được tạo thành” trong sự phân ly cha mẹ. Con trẻ được sinh ra theo kỹ thuật TTTON không có lỗi gì cả, nhưng nguyên lý TTTON là sai lầm. TTTON là tội ác vì đã hủy bỏ những phôi bào dư hoặc ngục tù chúng trong đông lạnh rồi quên lãng chúng trong cõi u tối.

Chuyên viên muốn đóng vai Thượng Đế.

Thần học nhận định rằng phôi bào có nguồn sống từ Thiên Chúa, được sinh ra trong yêu thương, trong hình ảnh Thiên Chúa, và cũng được cứu chuộc bởi Chúa Giêsu Kitô. Vì vậy con người có giá trị nhân phẩm nội tại nhờ nối kết với Thiên Chúa. Giá trị tiên khởi của cá nhân là nét độc đáo duy nhất trong vũ trụ không có trùng hợp hay lập lại. Giá trị này không căn cứ vào những phù phép biến chế của phòng thí nghiệm gán ghép cho cá nhân. Phôi bào phải được đối xử như một cá nhân với tất cả sự tôn trọng phải có. Xúc phạm phôi bào là xúc phạm nhân phẩm con người nói chung.

Thiên Chúa ban cho con người ý chí tự do. Nhiều người đã nhân danh tự do để phủ nhận ngay cả Thiên Chúa. Đức Gioan Phaolô II nhận định rằng vấn đề TTTON hiện hữu trong văn hóa, xã hội và tầng cấp chính trị. Tuy nhiên ở những nơi này đã biểu lộ sự tàn ác trong những chiều hướng rối loạn. Chưa bao giờ, cho bằng thời đại chúng ta, lại có sự phổ biến rộng rãi và diễn dịch tội ác chống lại sự sống dưới nhãn hiệu diễn đạt hợp luật của quyền tự do cá nhân. Đáng buồn thay cái gọi là “quyền tự do cá nhân” ấy đang được luật pháp bảo vệ (Tin Mừng Về Sự Sống (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=1173), số 18). Trong thế luân lý hỗn mang của nền văn hóa duy lý, Hồng Y Joseph L. Bernardin, địa phận Chicago, kết luận: nói cho cùng, cặp vợ chồng phải can đảm tự quyết định con đường phải theo.


Nguồn: Maranatha 87