View Full Version : Trái Tim Của Chúa- Quả Tim Của Con
Đamien
16-09-2006, 09:05 AM
HY VỌNG NGHĨA LÀ GÌ?
Bài giáo lý của Lm. Yip Hing Wah cho Ngày Giới Trẻ Á Châu
(Hong Kong, 30/07 – 05/08/2006)
Đức tin, đức hy vọng và đức mến là những nhân đức cổ điển của Kitô giáo[Đây là ba nhân đức đối thần, vẫn quen được gọi là : đức tin, đức cậy và đức mến. Trong bài này chúng tôi chủ ý dịch sát chữ “hope” là “hy vọng” (chú thích của người dịch)]. Tuy ba nhân đức này luôn được đề cập chung trong đời sống Giáo Hội, nhưng hy vọng ít được quan tâm đến như đức tin và đức mến. Thực ra, chúng ta rất thường nói về hy vọng, nhưng có bao lần chúng ta có thể giải thích cho mọi người biết hy vọng nghĩa là gì ? Hy vọng có lẽ là một hành vi mang tính huyền nhiệm, khó định nghĩa. Sự khó khăn này đến từ bản chất của chính niềm hy vọng. Hy vọng luôn là hy vọng vào những sự việc tương lai chưa nhìn thấy được. Như thánh Phaolô nói trong thư gởi tín hữu Rôma : “Không ai hy vọng vào những gì mà họ đã nhìn thấy rồi” (Rm 8,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Rm%208:24&FontSize=Txt10)).
Tuy nhiên, thật khó khăn để nói về những gì chưa thấy được ở hiện tại. Người Kitô hữu nói về niềm hy vọng hưởng ơn cứu độ, dựa trên lời hứa của Thiên Chúa và giao ước tình yêu của Ngài. Nhưng không phải chỉ có người Kitô hữu mới nói về niềm hy vọng. Những người ngoài Kitô giáo sống chung quanh chúng ta cũng nói về niềm hy vọng và mong ước có niềm hy vọng. Chính Thánh Kinh mời gọi chúng ta phải luôn sẵn sàng trả lời cho những ai chất vấn về niềm hy vọng của chúng ta (1 Pr 3,15 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1Pr%203:15&FontSize=Txt10)).
Do đó, để có thể sống niềm hy vọng Kitô giáo cách sâu sắc hơn và tự do hơn, và để có thể giải thích cho người khác về niềm hy vọng của mình, chúng ta cần phải hiểu biết sâu sắc hơn về hiện tượng hy vọng trong đời sống con người. Càng hiểu biết nhiều về niềm hy vọng trong đời sống hằng ngày, chúng ta càng có cơ may hiểu sâu xa hơn niềm hy vọng Kitô giáo.
Gabriel Marcel và Henri Nouwen
Với mục đích này, trước tiên tôi nêu lên một giải thích triết học về niềm hy vọng. Triết học dựa trên kinh nghiệm; đó là môn học nhằm suy tư về kinh nghiệm chỉ dựa trên lý trí. Tôi sẽ giới thiệu việc phân tích về niềm hy vọng của Gabriel Marcel (1889-1973), một triết gia Công giáo Pháp thời danh của thế kỷ 20. Kế đến, tôi sẽ dẫn vào những tác phẩm của Henri Nouwen, một nhà tu đức học đương thời. Tư tưởng của ông về hy vọng rất gần với tư tưởng của Marcel, nhưng đặc biệt chú trọng vào niềm hy vọng Kitô giáo.
“Tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ được ăn kem sau bữa tối”
Từ “hy vọng” xuất hiện rất thừơng xuyên trong ngôn ngữ hằng ngày của chúng ta. “Tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ được ăn kem sau bữa tối”, “Tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ đi Disneyland vào ngày mai”. Trong những thí dụ này, tôi diễn tả một điều ước, tôi muốn một điều gì đó sẽ xảy ra. Suy nghĩ xa hơn, tôi nhận thấy rằng điều tôi hy vọng là một cái gì đó hoàn toàn ở bên ngoài bản thân tôi. Xét cho cùng, thì việc tôi không được ăn kem sau bữa tối và việc tôi không thể đi Disneyland vào ngày mai cũng chẳng quan trọng lắm. Loại hy vọng này thuộc một mức độ rất thấp.
Hy vọng như một lời đáp trả cho đêm tối
Trường hợp sẽ khác đi khi những gì bạn hy vọng không còn là những chuyện ít quan trọng, nhưng là sự giải thoát khỏi đau khổ hoặc khỏi một kinh nghiệm thương đau nào đó. Thí dụ, bạn có thể chẳng màng để ý gì tới thức ăn mà bạn sẽ dùng vào buổi tối, nhưng bạn rất muốn thoát khỏi căn bệnh mà bạn đang phải chịu đựng nhiều năm dài. Ở đây, niềm hy vọng của bạn là rất mãnh liệt, hướng tới việc lành bệnh.
Theo Marcel, niềm hy vọng có tương quan với kinh nghiệm về tình trạng bị giam hãm hoặc thử thách, với kinh nghiệm về một đêm tối nào đó. Có đêm tối của bệnh tật, của chiến tranh, của bất công, của tình trạng nô lệ ngăn cản con người đạt đến đời sống sung mãn. Cũng có đêm tối không mang những yếu tố bi kịch, như đêm tối chờ đợi của một phụ nữ đang mang thai hay của một thiếu niên băn khoăn đợi chờ tình yêu đến. Nói một cách chặt chẽ, niềm hy vọng là lời đáp trả cho những hoàn cảnh tối tăm.
<O:p
Đamien
16-09-2006, 09:06 AM
Sự khác biệt giữa “Tôi hy vọng rằng. . . ” và “Tôi hy vọng”
Marcel phân biệt hai loại hy vọng: (1) niềm hy vọng được diễn tả qua cách nói “Tôi hy vọng rằng. . . ” và (2) niềm hy vọng tuyệt đối qua cách nói “Tôi hy vọng”. Niềm hy vọng qua cách nói “Tôi hy vọng rằng. . . ” luôn liên hệ đến một tình tiết đặc biệt cụ thể. Tôi hy vọng rằng điều gì đó có thể xảy ra trong một tình huống đặc biệt, vào một thời điểm đặc biệt. Thí dụ: “Tôi hy vọng rằng tôi có thể tìm được việc làm trong lãnh vực thương mại vào cuối năm nay”. Trong loại hy vọng này, sự tưởng tượng của tôi hoạt động rất tốt. Tôi sẽ tưởng tượng mình tìm được việc làm, và sẽ tưởng tượng cả môi trường làm việc của mình. Cùng lúc, tôi cũng tin tưởng rằng điều đó chắc sẽ diễn ra. Đối với loại hy vọng này, luôn có thể hỏi điều mình hy vọng có thể thành tựu như thế nào, và người ta có thể tính toán những cơ may cho việc thực hiện niềm hy vọng đó. Khi rõ ràng là chỉ có rất ít hoặc không có chút cơ may nào là điều mình hy vọng sẽ trở thành sự thực, thì người ta sẽ nói rằng niềm hy vọng của mình chỉ là ảo tưởng, chỉ là giấc mộng giữa ban ngày. Xét từ khía cạnh này, hy vọng rất gần với ảo tưởng.
Sự diễn tả được ghi vào chỗ dấu ba chấm trong cách nói: “Tôi hy vọng rằng. . . ” nêu lên những điều kiện mà tôi đặt ra cho niềm hy vọng của tôi. Những điều kiện này liên quan đến thời gian, nơi chốn, con người và tình huống mà tôi có thể tưởng tượng. Chúng không chỉ xác định rõ điều tôi hy vọng, mà còn đặt những giới hạn cho niềm hy vọng của tôi nữa. Việc thực hiện niềm hy vọng của tôi giờ đây lệ thuộc vào những chi tiết này. Trong thí dụ “tôi hy vọng rằng tôi sẽ tìm được việc làm trong lãnh vực thương mại vào cuối năm nay”, việc thực hiện niềm hy vọng của tôi lệ thuộc vào bản chất của công việc (lãnh vực thương mại) và thời gian tìm được việc làm (vào cuối năm nay). Nếu những điều kiện này không được thoả mãn, thì tôi sẽ thất vọng. Trong thực tế, càng đặt ra nhiều điều kiện cho niềm hy vọng của mình, tôi càng khó khăn vượt qua nỗi thất vọng đến sau đó, khi mọi thứ không diễn ra theo như sự mong đợi của tôi.
Nhưng nếu tôi đặt niềm hy vọng của mình vượt lên trên sự tưởng tượng, để chính tôi không cho phép mình tưởng tượng ra điều mình hy vọng, thì niềm hy vọng của tôi không thể biến thành ảo tưởng. Đặt niềm hy vọng của tôi vượt lên trên sự tưởng tượng là loại bỏ những điều kiện liên quan đến việc niềm hy vọng của tôi sẽ được thực hiện như thế nào. Đó chính là loại bỏ tình huống đặc biệt và thời điểm đặc biệt mà tôi kỳ vọng cho việc thực hiện niềm hy vọng của mình. Bấy giờ, khi mà những điều kiện trong cách nói “Tôi hy vọng rằng. . . ” bị loại bỏ, nó sẽ trở thành cách nói “Tôi hy vọng” không có điều kiện, và do đó mang tính tuyệt đối. Đó mới là niềm hy vọng thực sự; nó vượt lên trên mọi nỗi thất vọng có thể xảy ra. Sau đây, chúng ta sẽ xem xét đến loại hy vọng này cách chi tiết hơn.
Bằng chứng khách quan đối chọi với tính sáng tạo của sự hiện hữu
Như đã đề cập ở trên, những nét đặc trưng trong cách nói “Tôi hy vọng rằng. . . ” quy chiếu về những dữ kiện có thể quan sát và đo lường được, và làm cho niềm hy vọng của chúng ta lệ thuộc vào những điều kiện bên ngoài. Tuy nhiên, niềm hy vọng tuyệt đối thể hiện trong cách nói “Tôi hy vọng” không đếm xỉa đến những chứng cứ bên ngoài và những tính toán về những khả năng có thể xảy ra. Ngay cả khi mọi dữ kiện khách quan như chống lại bạn, bạn vẫn có thể sống với niềm hy vọng. Niềm hy vọng tuyệt đối không lệ thuộc vào các chứng cứ thực nghiệm, nhưng dựa vào sức mạnh sáng tạo của sự hiện hữu. Hiện hữu nghĩa là gì? Hiện hữu là tham dự vào sức năng động sáng tạo. Hy vọng, như một lời đáp trả cho đêm tối, chính là đặt niềm tin vào một tiến trình tăng trưởng và phát triển của điều mà bạn đang thông phần. Trong hy vọng, chúng ta thấy chính mình như đang dấn thân vào một tiến trình đổi mới đang làm nên những đổi thay từ giữa lòng đêm tối.
Hy vọng luôn bắt nguồn từ mối hiệp thông
Nhấn mạnh việc đặt niềm tin vào chính mình không có nghĩa rằng niềm hy vọng được đặt nền tảng duy nhất nơi “cái tôi” của mình. Thực ra, nền văn hoá ngày nay dựa trên chủ nghĩa cá nhân và sự cạnh tranh là nguyên nhân của sự tuyệt vọng. Nó tạo khoảng cách giữa các cá nhân với những người khác. Chúng ta biết rằng tự sức mình chúng ta chỉ có thể làm được rất ít việc. Niềm hy vọng chính đáng có cả việc lệ thuộc vào và không lệ thuộc vào chính tôi; nó bắt nguồn từ sự khiêm tốn, chứ không phải từ sự kiêu căng.
Niềm hy vọng đến từ mối tương quan thân thiện của chúng ta với người khác, từ mối hiệp thông yêu thương. Niềm hy vọng luôn có liên hệ đến mối hiệp thông: gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, v.v…. Chúng ta thấy được niềm hy vọng khi nhận ra chính mình đang ở giữa một cộng đoàn, nơi đó mọi thành viên biết chăm sóc và nâng đỡ nhau. Điều đó không có nghĩa là bạn hữu và đồng nghiệp luôn có thể giải quyết mọi vấn đề cho chúng ta. Tuy nhiên, chỉ trong mối tương quan yêu thương mới giúp tôi thật sự hiểu biết chính mình; chỉ nhờ sự nhìn nhận và nâng đỡ của người khác mới giúp tôi nhận thức đầy đủ khả năng sáng tạo của mình và tư tin hơn.
Niềm hy vọng chân thật không được xây dựng trên chứng cứ khách quan, cũng chẳng phải trên sức mạnh ý chí của chính tôi; niềm hy vọng được khơi nguồn bởi tình yêu. Có một mối liên kết chặt chẽ giữa hy vọng và tình yêu. Khi lưu tâm đến chiều kích tương quan liên vị, thì việc diễn tả trau chuốt hơn của cách nói “tôi hy vọng” chính là “cùng với bạn, tôi hy vọng nơi chúng ta” hay “ tôi đặt hy vọng vào bạn”. Niềm hy vọng thật sự không hướng chúng ta vào các sự vật của thế giới này, nhưng vào một người “bạn”. Cả “tôi” và “bạn” đều tìm thấy hy vọng nơi “chúng ta”.
Đamien
16-09-2006, 09:06 AM
Hy vọng đến từ niềm tin
Điều kiện tiên quyết của niềm hy vọng chính là thái độ cởi mở đối với người khác trong mối tương quan yêu thương. Thái độ cởi mở này không chỉ là cởi mở cho người khác, mà còn cho Thiên Chúa. Mối hiệp thông này không chỉ là mối hiệp thông của các thành viên trong gia đình hay bạn bè, nhưng còn là mối hiệp thông của chúng ta với Thiên Chúa, Đấng là Tình yêu. Marcel nói rằng “chính ý tưởng về tình bằng hữu bao hàm ý tưởng về một người cha, và thật sự không thể tách rời khỏi ý tưởng về một Hữu Thể siêu việt, Đấng đã tạo dựng nên tôi và cũng tạo dựng nên bạn”.
Niềm hy vọng tuyệt đối vượt trên mọi đo lường và mọi tính toán thay đổi, nó đến từ niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa là Đấng siêu việt trên tất cả mọi sự vật mà chúng ta gặp trong thế giới. Nói cách khác, chính vì chúng ta tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa, là Đấng siêu việt trên hết mọi sự vật trên thế giới, mà chúng ta có niềm hy vọng tuyệt đối, niềm hy vọng này coi thường tất cả mọi cân đo đong đếm liên quan đến các sự vật trên thế giới. Hình thức xác thực nhất của niềm hy vọng không là “tôi hy vọng rằng điều này điều kia sẽ xảy ra”, nhưng là “tôi hy vọng” cách tuyệt đối, được diễn tả bằng cách nói “cùng với bạn, tôi hy vọng nơi chúng ta”, hay là “tôi đặt hy vọng vào bạn”; từ “bạn” ở đây có thể là “người bạn phàm nhân” hoặc là “người bạn thần linh” (là Thiên Chúa).
Chúng ta đã bàn khá nhiều về triết học. Điều đó giúp chúng ta hiểu ý nghĩa của hy vọng theo kinh nghiệm con người, và làm cách nào thực hiện niềm hy vọng của mình. Giờ đây, chúng ta quay về với lãnh vực tu đức để tìm hiểu ý nghĩa của niềm hy vọng trong mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa. Tôi muốn chú trọng vào các tác phẩm của Henri Nouwen. Henri Nouwen là một trong những nhà tu đức học nổi tiếng nhất của thời đại chúng ta. Tôi đoán rằng một số người trong các bạn đã đọc các tác phẩm của ngài.
Niềm hy vọng luôn mở ngỏ
Nouwen đã suy tư rất sâu sắc về niềm hy vọng trong linh đạo về chờ đợi. Một lần nữa, sự chờ đợi là một kinh nghiệm rất thông thường: chúng ta phải chờ máy bay, chờ trời tạnh mưa, chờ khỏi bệnh, v.v…. Nouwen kéo sự chú ý của chúng ta đến sự chờ đợi của ông Dacaria, bà Elisabeth và Đức Maria trong Tin Mừng theo thánh Luca. Ông quan sát thấy rằng hầu hết sự chờ đợi của chúng ta đầy dẫy những ước muốn: “Tôi ước rằng thời tiết sẽ tốt hơn”, “Tôi ước rằng đau khổ sẽ qua đi”.
Thực ra, sự chờ đợi của chúng ta là một cách thức kiểm soát tương lai. Chúng ta muốn tương lai sẽ đi theo một hướng rất rõ ràng, và nếu điều này không xảy ra, chúng ta sẽ buồn chán và thậm chí có thể rơi vào tuyệt vọng. Vì thế, ước muốn liên hệ chặt chẻ với sợ hãi. Đó là lý do tại sao chúng ta căng thẳng khi phải chờ đợi. Điều mà Nouwen gọi là “ước muốn” thì cũng giống như điều mà Marcel đã gọi là “Tôi hy vọng rằng. . . ” Chúng xác định những chờ đợi cụ thể của chúng ta cho tương lai.
Ngược lại, Nouwen nói rằng : “Dacaria, Elisabeth và Đức Maria đã không bị lấp đầy bởi ước muốn. Họ chỉ được lấp đầy bởi niềm hy vọng”. Niềm hy vọng là một điều hoàn toàn khác. Hy vọng là tin tưởng rằng điều gì đó sẽ được hoàn tất theo lời hứa của Thiên Chúa, chứ không phải chỉ theo những ước muốn của chúng ta. Do đó, niềm hy vọng luôn mở ngỏ. Niềm hy vọng luôn mở ngỏ nghĩa là gì ? Nghĩa là niềm hy vọng không bị giới hạn bởi bất kỳ điều kiện nào do chúng ta đặt ra. Chúng ta chỉ hy vọng, mà không chỉ định bất cứ điều gì cho việc thực hiện niềm hy vọng của mình. Sự mở ra cho những điều bất ngờ, sự mở ra cho những ngạc nhiên, chính là điều mà Marcel gọi là niềm hy vọng tuyệt đối: “Tôi hy vọng”.
Niềm hy vọng tuyệt đối : Tôi tin rằng những điều tốt đẹp sẽ xảy đến
Trong niềm hy vọng, nếu chúng ta chấp nhận những điều vượt quá sức tưởng tượng của chúng ta, điều đó chẳng đáng sợ sao ? Có lẽ có và cũng có lẽ không. Đó là vấn đề niềm tin. Chúng ta không thể hy vọng mà không có niềm tin. Chúng ta hãy nhìn vào Mẹ Maria, lời gọi trở nên người Mẹ đồng trinh của Thiên Chúa mở ra cho Mẹ một tương lai vượt quá sức tưởng tượng; nó mở ra cho Mẹ một đêm tối nào đó. Nouwen mời gọi chúng ta thử tưởng tượng điều Đức Maria thốt ra từ tâm hồn sửng sốt trong giờ phút Mẹ đón nhận lời thiên thần truyền tin. Nouwen nghĩ rằng Mẹ phải thưa “Tôi không biết những điều ấy có ý nghĩa gì, nhưng tôi tin rằng điều thiện hảo sẽ được thực hiện”. Đức Maria biết rằng tương lai của Mẹ đang mở ra cho mọi điều khả thể, và Mẹ không muốn kiểm so á t chúng. Mẹ đối diện với tương lai một cách khiêm hạ, với đôi tay rộng mở. Mẹ tin rằng những điều thiện hảo sẽ được thực hiện. Mẹ tin rằng, cũng như Mẹ, khi chăm chú lắng nghe, chúng ta sẽ nhận ra tình yêu Thiên Chúa lớn hơn sự sợ hãi của chúng ta biết bao. Chúng ta sẽ nhận ra rằng Thiên Chúa hiện diện cả trong đêm tối. Thay vì lo lắng, niềm hy vọng với đôi tay rộng mở mang lại sự thư thái và nhẫn nại.
Lời cầu hy vọng : Tâm hồn rộng mở cho những điều cụ thể
Giờ đây, nếu thái độ cởi mở là dấu hiệu của niềm hy vọng chân thật, chúng ta có thể nói gì về những lời cầu nguyện của mình ? Chẳng phải chúng ta luôn cầu nguyện trong Giáo hội cho những con người và những sự kiện cụ thể đó sao ? Vậy thì chúng ta cầu nguyện thế nào với niềm hy vọng ? Khi bạn cầu nguyện với niềm hy vọng, bạn có thể vẫn cầu xin những sự việc cụ thể. Chính sự việc cụ thể có thể là một dấu hiệu của lời cầu nguyện xác thực. Còn nếu bạn chỉ van xin hoà bình, tình yêu, sự cảm thông, sự khiêm nhu và những thứ chẳng liên hệ gì đến các sự kiện cụ thể trong cuộc sống hằng ngày, thì lời cầu nguyện của bạn quá trừu tượng. Bạn đã không đặt Thiên Chúa vào trong cuộc sống thực sự của bạn.
Khi chúng ta cầu nguyện trong hy vọng, tất cả những yêu cầu cụ thể của chúng ta chính là những phương cách diễn tả niềm tín thác vô bờ của chúng ta nơi Thiên Chúa. Thí dụ, khi chúng ta cầu nguyện cho sự thành công của Ngày Giới Trẻ Á Châu, chúng ta đón Thiên Chúa đến với sự kiện đặc biệt này và rước Ngài đến với mọi hoạt động và mọi nhu cầu của chúng ta; và trong mỗi hoạt động cũng như mỗi nhu cầu của mình, chính chúng ta cũng mở rộng lòng mình với Thiên Chúa và tín thác vào lòng nhân lành của Ngài. Cho dù thời tiết tốt hay xấu, cho dù mọi việc trôi chảy hay không, chúng ta vẫn có thể tin tưởng rằng những điều thiện hảo sẽ xảy đến. Khi chúng ta cầu nguyện cho hoà bình, khi chúng ta cầu xin cho hết bạo loạn nơi quê hương mình, chúng ta mời Thiên Chúa đến với những cố gắng và những khổ đau hằng ngày của chúng ta. Có lẽ bạn vẫn chưa thấy bất kỳ dấu hiệu nào của việc chấm dứt bất công, huỷ diệt, và đau khổ, hãy cứ tiếp tục cầu nguyện và hành động. Niềm hy vọng không có tham vọng giải quyết ổn thoả mọi sự, nhưng tin rằng mọi sự nằm trong tay của Thiên Chúa và không điều gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa. Đó chính là niềm hy vọng Kitô giáo.
Ban Mục Vụ Giới Trẻ- Giáo xứ Chánh toà Mỹ Tho</O:p
Trần Duy Thực
16-09-2006, 03:00 PM
Kính thưa ngài Đamien,
Cám ơn ngài đã đưa lên một bài dịch rất hay và rất ý nghĩa. Tôi xin dựa trên thần học hòa giải (doctrine de réconciliation) của Karl Barth để góp ý và tóm lược bằng một sơ đồ có liên quan tới 3 nhân đức đối thần như sau :
1) Chúa Cha sai Đức Giêsu xuống thế làm người > công chính hóa con người > đức tin
2) Đức Giêsu, qua chính mình đưa con người trở về với Chúa Cha > thánh hóa con người > đức mến
3) Vai trò của Thánh Linh > Thiên Chúa mời gọi con người > đức cậy
Như Ba Ngôi, ba nhân đức đối thần cũng là MỘT và liên quan chặt chẽ với nhau. Tuy thế, trong cuộc sống mỗi ngày, chúng ta thường “quên” đi vai trò của Thánh Linh, Thiên Chúa của hy vọng.
Kính
Đamien
26-09-2006, 03:33 PM
TRÁI TIM CỦA CHÚA- QUẢ TIM CỦA CON
Giuse Vũ Thế Vinh
Ban Mục Vụ Giới Trẻ Hà Nội
Có lẽ hỏi ai trong chúng ta, điều gì là quan trọng nhất đối với một con người. Ai cũng có câu trả lời quá dễ dàng. Đó chính là sự sống và hạnh phúc. Để sống được ai cũng cần có một quả tim. Trái tim chính là nhịp đập quyết định sự tồn tại của mỗi con người. Quả tim ngừng đập báo hiệu sự sống của chúng ta không còn tồn tại.
Trong tình yêu, các nam thanh nữ tú cũng thường quan tâm đến trái tim của người mình yêu. Liệu trái tim đó có thuộc về mình? Liệu trái tim đó có thực sự lý tưởng như mình đang suy nghĩ?.
Trong bối cảnh xã hội ngày nay, có những quả tim chỉ đập rộn rã với một mục đích là để cho con người tồn tại chiếm một địa vị cao trong xã hội hay có những bằng cấp để thăng tiến con người. Có những quả tim lại xao xuyến bồi hồi khi đứng trước những nghịch cảnh của cuộc sống đang đến với mình. Có những quả tim lại đồng hành bước đi trong bóng tối của sự dữ với chủ nhân của mình.
Chúa Giêsu cũng có một trái tim. Vậy trái tim của Ngài như thế nào? Câu hỏi này có lẽ quá dễ khi trả lời nhưng lại rất khó khi đáp trả lại tiếng gọi thổn thức của từng nhịp đập mà Trái Tim Giêsu đang kêu gọi mỗi người Kitô hữu. Chúa Giêsu có một trái tim biết nói và thực hiện tình yêu. Ngài đã yêu thương chúng ta đến độ từ địa vị cao trọng là Thiên Chúa đã xuống thế làm người mặc lấy xác phàm như chúng ta ngoại trừ tội lỗi để sống gần bên chúng ta. Ngài đã ở lại để tìm hiểu chúng ta như một người bạn đi tìm hiểu ý trung nhân của mình. Tình yêu đó đã được nâng lên khi Ngài ra đi rao giảng để cho con người có thể tìm được nguồn hạnh phúc bất diệt nơi Thiên Chúa. Và rồi vì tình yêu đến từ trái tim của Chúa đã đập những nhịp đập cuối cùng mang giai điệu tình yêu trên Thập Tự. Chính cái chết của Ngài trên Thập Giá là một bản tình ca bất hủ về tình yêu tự hiến.
Trái tim tình yêu đó còn thể hiện sự bao dung của một người cha biết quan tâm đến con cái mình. Ngài không trách lại còn kêu gọi một người thu thuế như Mát-thêu đi theo Ngài và sau này trở thành người viết lại chặng đường tình yêu mà Ngài đã đi ở trần gian. Ngài cũng không loại bỏ người phụ nữ với những vết nhơ trong cuộc đời như Maria-Mađalêna để rồi chính chị lại là người mang thông điệp Phục Sinh đầu tiên của Ngài đến với mọi người.
“Hỡi những ai gồng gánh nặng nề hãy đến cùng Ta. Ta sẽ bổ sức cho các ngươi.”
Trái tim Chúa luôn luôn mời gọi mọi người đến với Ngài để múc lấy nguồn nước trường sinh là Mình Máu Thánh của chính Ngài chảy ra từ trái tim thương yêu vô hạn. Làm sao chúng ta dám quả quyết là mình đã hiểu thấu được trái tim Chúa đang nghĩ gì và muốn nói gì cùng chúng ta đây. Cũng như làm sao ai định nghĩa được tình yêu là gì. Nhưng mỗi người Kitô hữu chúng ta đều có thể sống và cảm nghiệm được thế nào là tình yêu của Thiên Chúa đối với riêng mình và mọi người. Tình yêu đến từ trái tim, vậy trái tim Chúa đã mang tình yêu của Người đến với chúng ta. Thế thì trái tim của chúng ta thì sao?
Hãy để cho tiếng gọi thúc bách của trái tim Chúa hằng mãi vang vọng lên trong trái tim mỗi chúng ta. Hãy để cho những nhịp đập tình yêu của trái tim Chúa trở thành nhịp đập của con tim chúng ta.
Trong xã hội ngày hôm nay, chúng ta phải làm gì đây khi mà con tim của chúng ta hằng rung động trước những điều xảy ra trong cuộc sống thường ngày làm cho đời sống luân lý và đạo đức của người Kitô hữu chúng ta bị phai nhạt đi. Làm cho con tim của chúng ta vốn dĩ là thuộc về Thiên Chúa và anh em nay bỗng chốc lại thuộc về Cái Tôi của chúng ta. Con tim của chúng ta bo về mình, cầu lợi về mình mà không biết nghĩ đến người khác. Con tim của chúng ta không biết chảy máu vì mọi người. Vậy, như thế chúng ta đang sống nhưng thực sự con tim đã ngừng đập. Vì tim phải đập thì máu mới chảy được lưu thông đem lại sự sống cho con người. Con tim của chúng ta hiện nay ra sao? Bạn và tôi chúng ta sẽ tự khám phá trước mặt Chúa trong giờ cầu nguyện mỗi ngày. Để khi nhìn lên trái tim Chúa chúng ta lại soi chiếu con tim của chúng liệu. Liệu con tim của chúng ta giống được Chúa bao nhiêu phần trăm?
Lạy Chúa, khi nhìn ngắm trái tim Chúa con lại cảm thấy hổ thẹn vô cùng. Vì trái tim của Chúa tràn đầy mầu xanh của hòa bình, của tình yêu, của sự trao ban đến với mọi người. Con có thể nghe thấy tiếng trái tim của Chúa đập phát ra hai tiếng “Tình Yêu.” Còn con thì sao? Trái tim con đầy ắp mầu đen của bóng tối tội lỗi, của sự dữ, sự chia rẽ, hận thù, đố kị, ghen tuông, giận hờn đang đè nặng trái tim con.
Xin Chúa xin đục đẽo, thanh tẩy những vẩn đục đang bao bọc trái tim con. Để con được mỗi ngày một trong sáng hơn trước mặt Chúa. Và để con tim của con biết rung động vì tình yêu của Chúa và trao tặng tình yêu ấy cho mọi người. Lạy Chúa, xin nghe tiếng lòng con đang thổn thức, xin ngự đến và trở thành nhịp đập của trái tim con. Amen!●
Đamien
27-09-2006, 08:59 PM
MỖI NGÀY CHỌN MỘT NIỀM VUI
Phó Tế Nguyễn Định
Muốn có mỗi ngày MỘT NIỀM VUI, tôi cần rửa sạch mùi cay đắng, ghen tương, hờn giận…rồi để cho ráo nước tham – sân – si.
Tôi chia ra cho ba mươi hay ba mươi mốt ngày trong tháng.
Tôi trộn đều với: 1/ Lòng tin yêu. 2/ Tính kiên nhẫn. 3/ Tính can đảm. 5/ Sự cố gắng. 4/ Niềm hy vọng. 6/ Lòng trung thành…
Tôi ướp thêm các gia vị: Lạc quan – Tự tin - Hài hước - Ngọt ngào.
Tôi đem ngâm trong dung dịch: “Lòng Yêu Thương” càng lâu càng tốt, sau đó, tôi vớt ra, xay nhỏ, đổ tất cả vào “Nồi Tha Thứ” và nấu với lửa hy vọng. Rồi tôi đem ra ăn với NIỀM VUI và Nụ Cười trong chén “Bao dung.” Và gắp bằng đũa “Vị Tha.”
A- Những lợi ích của Niềm Vui:
1/ Sức khỏe được tăng cường: Tôi thường áp dụng Lời Chúa vào đời sống hàng ngày, mỗi khi gặp trái ý, bực mình hoặc khi tôi được ơn này, ơn nọ như sau: “Tôi đã được Ngài thương trợ giúp, nên lòng tôi vui mừng hoan hỉ, cất cao tiếng hát, tạ ơn Ngài.” (Tv 28,7)
Vì thế sức khỏe tôi được tăng cường, chữa bệnh bằng sự vui vẻ. nhiều người nói với tôi: sao tôi thấy anh lúc nào cũng vui tươi?
“Lòng vui mừng làm hân hoan nét mặt, lòng sầu muộn khiến tâm trí rã rời.” (Cn 15,13) – “Tâm trí hân hoan làm thân xác lành mạnh, tinh thần suy sụp khiến thân xác rã rời.” (Cn 17,22)
2/ Gia đình được hạnh phúc: Đúng vậy, người lạc quan chuyện lớn thành chuyện nhỏ, người bi quan chuyện nhỏ thành chuyện to:
“Anh em hãy vui mừng luôn mãi, và cầu nguyện không ngừng. Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh…” (1Tx 16-18)
Có vợ chồng trẻ kia ở Hoa kỳ, làm ăn khá giả mới mua được một xe hơi loại tốt. Vào chiều thứ bẩy đẹp trời, cô vợ lái ra chợ mua sắm, đi thử một vòng xem sao, chẳng may khi vào chỗ đậu xe, chị vô ý để xe quẹt vào xe khác làm bể một chỗ lớn. Khi chị về đến nhà, chị rất sợ Gia đình sẽ lục đục, nhưng anh chồng ra coi xe xong, rồi nhìn vào chị từ đầu đến chân, rồi nói: “Xe bị đụng, nhưng tạ ơn Chúa, em không sao là anh mừng lắm rồi.” Thật hạnh phúc biết bao!
Tôi nhớ lại lời Kinh thánh trong thư Philíp 4,4-6 như sau: “Anh hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa…Sao cho mọi người thấy anh sống hiền hoà và rộng rãi. Anh đừng lo lắng gì cả. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn…”
B- Cách tạo Niềm Vui:
1/ Hãy nói lời vui vẻ ngọt ngào: Mỗi khi tôi nói những lời êm ái dịu dàng, làm cho người nghe thật vui vẻ và tôi rất bình an, thoả lòng, theo Lời Chúa sau đây: “Lời tử tế là tảng mật ong, làm cổ họng ngọt ngào, khiến xương cốt lành mạnh.” (Cn 16, 24)
Vì thế, bây giờ tôi thường hỏi thăm nhau: “Anh (chị) có niềm vui nào không.?” Vì anh (chị) có Niềm Vui là có khỏe mạnh. Thư gởi Côlôxê 4,6 Phaolô đã viết: “Lời nói của anh luôn luôn mặn mà dễ thương, để anh biết đối đáp sao cho phải với mọi người.”
2/ Hãy nói ưu điểm của nhau: Truyện kể có hai vợ chồng kia hay cãi nhau vặt, đã quyết định mỗi người khi không đồng ý nhau điều gì nên viết vào giấy, rồi cuối tuần trao cho nhau: sau đó người vợ được chồng trao cho tờ giấy như sau: “Tuần này em nấu cơm rất ngon, em giữ gìn nhà cửa rất sạch, em lo cho con rất chu đáo, em không nói nhiều và kể lại chuyện cũ…” Người chồng cũng nhận tờ giấy của vợ, mở ra đọc chỉ thấy mấy chữ: “Em yêu anh. Chấm- Hết.”
3- Hãy nói khôi hài, đùa vui: Thay vì chỉ trích nhau, tôi thường tìm những câu chuyện vui trong cuộc sống, để làm bớt những căng thẳng, nhất là những lúc đi làm về, hay lúc gia đình vất vả….Trong thư Phaolô gởi Êphêxô 4, 29 nói như sau: “Anh đừng bao giờ thốt ra những lời độc địa, nhưng nếu cần, hãy nói những lời tốt đẹp, để xây dựng và làm ích cho người nghe.”
Tóm lại, để có một Niềm Vui thật sự, tôi luôn áp dụng Lời Kinh Thánh sau đây: “Đừng bao giờ chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn, hay la lối thóa mạ, và hãy loại trừ mọi hành vi gian ác. Trái lại phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô.” (Êphêxô 4,31-32)●
Đamien
22-10-2006, 03:47 PM
<TABLE class=MsoNormalTable style="WIDTH: 361.5pt; mso-cellspacing: 0cm; mso-padding-alt: 0cm 0cm 0cm 0cm" cellSpacing=0 cellPadding=0 width=482 border=0><TBODY><TR style="HEIGHT: 880.5pt; mso-yfti-irow: 0; mso-yfti-firstrow: yes; mso-yfti-lastrow: yes"><TD style="BORDER-RIGHT: #ece9d8; PADDING-RIGHT: 0cm; BORDER-TOP: #ece9d8; PADDING-LEFT: 0cm; PADDING-BOTTOM: 0cm; BORDER-LEFT: #ece9d8; WIDTH: 361.5pt; PADDING-TOP: 0cm; BORDER-BOTTOM: #ece9d8; HEIGHT: 880.5pt; BACKGROUND-COLOR: transparent" width=482>Tuổi Trẻ và Nghề Nghiệp
Một số bạn trẻ sắp tốt nghiệp tự hỏi mình sẽ làm nghề gì? và làm sao để chọn được một công việc ưa thích? Một số khác đang làm việc lại thắc mắc không biết mình đã có một lựa chọn đúng đắn? những người thất bại khi đang ở giai đoạn cuối sự nghiệp thường nói: "Giá như hồi đó tôi đừng chọn cái công việc đáng ghét này"
Năm bước hoạch định sự nghiệp cho tuổi trẻ để đảm bảo bạn chọn đúng hướng đi cho mình.
<O:p</O:p
1.Hiểu chính mình
Bước đầu tiên trong việc tìm ra mối liên hệ giữa bản thân bạn và thế giới nghề nghiệp bên ngoài là bạn phải hiểu chính bản thân mình. Bạn cần phải hiểu bạn đặc biệt quan tâm đến lãnh vực nào – ví dụ, bạn có thích kinh doanh? bạn có yêu âm nhạc? bạn có thích giúp đỡ người khác?
Để tìm hiểu bản thân được dễ dàng, bạn cần phải cảm nhận được những điểm mạnh của mình – có lẽ bạn là người giỏi toán? Hay bạn giỏi về ngôn ngữ, lý luận?.
Sau cùng, bạn phải hiểu cả tính cách của mình nữa – có thể bạn là một cá nhân ưa hoạt động, thích đụng tay đụng chân vào công việc, hoặc bạn là một nhà “tư tưởng”, một người thích đưa ra các "ý tưởng", hoặc bạn là người quan tâm đến các chi tiết nhỏ nhặt.
2.Tìm hiểu nghề nghiệp & giáo dục
Một khi đã dành thời gian tìm hiểu rõ ràng về bản thân, bạn có thể bắt đầu xác định xem những loại nghề nghiệp nào phù hợp nhất với bạn. Những công việc đòi hỏi bạn phải đụng tay đụng chân như xây dựng, mua bán, những nghề nghiệp liên quan đến “ý tưởng” bao gồm những công việc trong lãnh vực hội hoạ, nghệ thuật, hoặc khoa học; những nghề nghiệp liên quan đến “dữ liệu, con số” bao gồm tài chính, kế toán và kinh doanh. Thực tế có rất nhiều lãnh vực để bạn tìm hiểu. Nếu những loại nghề nghiệp bạn quan tâm vượt quá chuyên môn và kiến thức của bạn, hãy tìm hiểu các chương trình học, các khoá đào tạo phù hợp.
3.Tìm cơ hội để thử
Trước khi bạn quyết định chọn cho mình một hướng đi nghề nghiệp nào đó, thì việc khôn ngoan nhất nên làm là bạn hãy làm thử để có kinh nghiệm thực tế trong lãnh vực bạn quyết định theo đuổi. Hoặc bạn có thể tìm hiểu thêm thông tin với những người đang làm việc trong lãnh vực đó. Đặt ra những câu hỏi. Ví dụ “Nếu được làm lại, ông / bà sẽ chọn nghề gì? hoặc nghề này có điểm nào làm ông thích? Điểm nào không thích?
Sau khi đã hoàn tất được 2 bước kể trên, bạn sẽ có một lượng thông tin kha khá để giúp bạn quyết định chọn lựa hướng đi cho mình.
4.Quyết Định
Sau khi đã tìm hiểu kỹ càng các lựa chọn, đây là giai đoạn bạn đã sẵn sàng quyết định. Hãy nhớ là ngay cả khi bạn đã có dăm bảy kinh nghiệm làm việc khác nhau, điều quan trọng là bạn có một quyết định đúng vào lúc này.
Chẳng có nhiều người có cơ hội bước vào giảng đường đại học lần thứ hai trong đời, cho nên bạn chẳng cần phải học tiếp bốn năm nữa để lấy bằng kỹ sư tin học hay gì đó, hãy tìm một giải pháp khác thay thế.
5.Đánh giá quyết định của bạn
Nếu bạn đã thực sự nghiêm túc tìm hiều bản thân và nghiên cứu các lựa chọn nghề nghiệp khác nhau, bạn có cơ may rất lớn để chọn cho mình một nghề nghiệp yêu thích.
Nhưng liệu có một điều gì đấy không ổn lắm khi bạn vừa bắt đầu sự nghiệp? Đó là lý do vì sao bạn cần phải liên tục đánh giá lại quyết định của bạn. Ví dụ, nếu bạn học về marketing ở trường đại học, nhưng rồi bạn thấy là bạn thích được học về Quan hệ đối ngoại hơn. Trong trường hợp này, bạn cần phải đổi ngành học, bởi giờ đây bạn đã có thêm thông tin về cùng một lựa chọn mà trước đây bạn chưa biết. Dĩ nhiên, bạn không cần phải đổi một cách vội vàng, nhưng hãy nhớ luôn rà soát và đánh giá các quyết định của bạn để đảm bảo bạn vẫn đang theo đúng hướng.
ResumePromo Team
</TD></TR></TBODY></TABLE>
<O:p
Đamien
20-11-2006, 03:08 PM
THIẾU NIÊN CAN ĐẢM VÀ HY VỌNG
Francois Albert là thiếu niên <?xml:namespace prefix = st1 ns = "urn:schemas-microsoft-com<st1:country-region>Canada</st1:country-region>. Như bao thiếu niên cùng tuổi, Francois rất thích chơi đùa, nghịch ngợm. Nhưng điểm nổi bật nơi Francois là nét tươi vui hy vọng, biểu lộ trong nụ cười và đôi mắt trong xanh ngời sáng của cậu. Thoạt nhìn, người ta có cảm tưởng cậu bé có sức khỏe bình thường. Nhưng thật ra không phải như vậy. Francois từng qua 3 cơn bệnh thập tử nhất sinh. Và kinh nghiệm này gia tăng Đức Tin nơi THIÊN CHÚA cũng như lòng vui sống, biết tận hưởng giây phút tốt đẹp trong cuộc đời.Francois đơn sơ nói lên chứng từ hy vọng.
Năm lên 5 tuổi, con bị ung thư nơi lợi răng. Cuộc chữa trị kéo dài đến 2, 3 năm trời. Đến năm 9 tuổi, con lại rơi vào chứng bệnh bạch huyết. Bệnh khiến con thường bị đau đầu và đôi mắt thì sưng phù lên. Để chữa trị người ta phải dùng đến hóa-liệu-pháp và quang-tuyến liệu-pháp. Đây là thời gian con đủ trí khôn để nhận thức tầm quan trọng của bệnh tình. Thêm vào đó, 2 lối chữa trị này thật cam go, mệt mỏi và đau đớn. Chưa hết, năm 12 tuổi, con lại bị đau xương sống và suýt phải ghép tủy xương sống. Nhưng rồi bác sĩ lại quyết định chữa trị bằng quang tuyến liệu pháp. Lần này, con bị rụng hết tóc.
Thiếu niên 12 tuổi bị trọc đầu, thật là ”vấn đề rất lớn” đối với con. Sự kiện con bị đau ốm liên miên, rồi bị trọc đầu khiến con cảm thấy mình không giống người khác. Rồi con lại sợ bị bạn bè chế nhạo nữa.
Và mấy đứa bạn tinh nghịch, chúng chế nhạo con thật. Nhưng con tìm cách chế ngự tình thế. Con giải thích cho các bạn biết tại sao con bị trọc đầu. Rồi khi nào các bạn chọc ghẹo vượt quá sức chịu đựng, con liền nói cho các bạn con hiểu. Con muốn cho các bạn coi con như đứa trẻ bình thường như mọi đứa trẻ bình thường khác.
May mắn thay, đa số các bạn rất tử tế với con. Nơi trường học, con được mọi người xem là ”người bạn đặc biệt”. Ai ai cũng sẵn sàng giúp đỡ con, từ thầy cô cho đến bạn bè.
Nơi gia đình, con được cha mẹ và anh chị em thương yêu, nâng đỡ. Ba Mẹ con đau khổ vì thấy con bệnh hoạn liên miên, nhất là Mẹ con. Tình yêu gia đình rất quan trọng đối với con, vì nhờ vậy mà con can đảm chấp nhận bệnh tật.
Cuộc đời con giống như người luôn đứng trước hai ngả đường: một đường chật hẹp và khó khăn, phải theo các lối chữa trị mệt nhọc và đau đớn; một đường dễ dãi, buông xuôi trước mọi khó khăn bệnh tật và không muốn theo một lối chữa trị nào hết. Nhưng con cương quyết chọn con đường khó, vì con muốn mình được khỏi bệnh, để có cuộc sống bình thường. Khi nào con cảm thấy sợ hãi và không muốn vào nhà thương, con bèn tự nhủ:
- Ráng chịu khó vài ngày, như vậy mình mới hy vọng sẽ được khỏi bệnh!
Để có đủ nghị lực thắng vượt khó khăn, con thường chỉ sống giây phút hiện tại. Chẳng hạn, mỗi lần xong một kỳ chữa trị và được ra khỏi nhà thương, con sung sướng trở lại gia đình, tận hưởng niềm vui sống nơi gia đình. Còn nếu như con lại nghĩ đến kỳ vào nhà thương sắp tới, hẳn là con vừa không có can đảm chấp nhận thử thách, vừa làm hỏng mất giây phút tươi vui hiện tại. Vì thế, con luôn luôn tìm cách tận hưởng những gì là tốt đẹp, là tươi vui. Con quên tất cả khó khăn con đã chịu, đã trải qua. Con thấy các bạn thường phung phí thời giờ và không biết lợi dụng các dịp tốt. Con thấy thế thật là uổng!
Con không dám tự kiêu tự đại, bởi vì, bất cứ thiếu niên nào ở vào tuổi con và gặp trường hợp con, cũng có thể thắng vượt khó khăn. Điều quan trọng là phải có ý chí thắng vượt khó khăn.
Sống ở trên đời, người nào cũng có vấn đề phải giải quyết, hoặc lớn, hoặc nhỏ. Vì thế cần đặt ra đích điểm, rồi kiên trì đạt cho được đích điểm đó.
Con thường cầu xin Chúa ban cho con ơn can đảm chịu đựng bệnh tật, và con thấy Chúa nhận lời con cầu xin. Mỗi tối trước khi ngủ, con đều cầu nguyện với Chúa. Gia đình cũng cầu nguyện cho con nữa. Con thường nghĩ đến Đức Chúa GIÊSU và đơn sơ nói với Chúa về những vấn đề con gặp trong ngày.
Con đang trên đường bình phục. Sự kiện này cho con thấy Chúa ban cho con ơn can đảm và phần con, con cũng đóng góp ý chí của mình nữa, đúng như câu ngạn ngữ:
- Bạn hãy tự giúp rồi Trời sẽ giúp bạn.
(”JE CROIS”, Juillet/1991, trang 24-29).
Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt
Đamien
30-11-2006, 09:11 AM
<TABLE width="100%"><TBODY><TR><TD id=eTitle>Màu sắc của tình bạn </TD></TR><TR><TD height=8></TD></TR><TR><TD vAlign=top><TABLE cellSpacing=2 cellPadding=2 width=1 align=left border=0><TBODY><TR><TD>http://www.muctim.com.vn/article/media/2006/5-20/5295/smnb.jpg</TD></TR></TBODY></TABLE>Xưa rất là xưa, khi màu sắc của thế giới đã được phân chia. Tất cả tranh cãi nhau, ai cũng cho mình là màu đẹp nhất, quan trọng nhất, hữu dụng nhất.
Xanh lá cây nói :
"Rõ ràng tớ là quan trọng nhất.Tớ là màu của sự sống, của hi vọng.Tớ được chọn cho cỏ cây, hoa lá. Không có tớ, các loài động vật sẽ chết hết. Nhìn những vùng đồng quê kia kìa, rồi các cậu sẽ thấy tớ quan trọng như thế nào."
Xanh dương cắt ngang :
"Cậu chỉ nghĩ về đất đai thôi, hãy nghĩ về bầu trời và biển cả. Nước là sự sống và được tạo bởi những đám mây kia. Bầu trời tạo khoảng cách, hòa bình và sự yên tĩnh. Không có tớ, cậu chẳng là gì cả."
Màu vàng lắc đầu :
"Cả hai cậu đều nghiêm trọng quá. Tớ mang tiếng cười, sự hân hoan và ấm áp đến thế giới này. Mặt trời màu vàng, mặt trăng màu vàng, cả các vì sao cũng màu vàng nốt. Mỗi khi nhìn một bông hoa hướng dương như là cả thế giới đang cười. Không có tớ hả,s ẽ chẳng có sự vui tươi.
Màu cam la lớn:
"Tớ là màu sắc của sức khỏe và sự mạnh mẽ.Tớ có thể hiếm nhưng quý giá, tớ tạo ra những thứ cần thiết cho con người. Tớ mang những sinh tố quan trọng nhất.Thử nghĩ về cà rốt, bí đỏ, cam, xoài, và đu đủ xem. Tớ không ở ngoài suốt ngày, nhưng khi tớ xuất hiện lúc bình minh hay hoàng hôn, vẻ đẹp của tớ hấp dẫn đến nỗi chẳng ai nghĩ đến các cậu."
Màu đỏ không chịu nổi nữa và hét to:
"Tớ mới là người đứng đầu đây nè. Tớ là máu - máu của sự sống ! Tớ là màu của nguy hiểm và dũng cảm. Tớ sẵn sàng đấu tranh cho mục đích của mình. Tớ mang lửa và máu. Không có tớ, cả thế giới này sẽ trống trải như mặt trăng ấy. Tớ, màu của tình yêu nồng cháy, của hoa hồng đỏ thắm, của ngọn lửa mãnh liệt."
Màu tím đứng dậy và trịnh trọng nói:
"Tớ là màu của hoàng gia và sức mạnh. Các vị vua, thủ lĩnh hay các giám mục luôn luôn chọn tớ vì tớ là biểu tượng của quyền lực và sự khôn ngoan. Người ta không hỏi tớ! Họ chỉ lắng nghe và tuân theo."
Cuối cùng màu chàm lên tiếng, nhỏ nhẹ hơn những màu khác, nhưng với sự cứng rắn hơn trong từng lời nói:
"Coi tớ đây. Tớ là màu của sự im lặng. Khó có thể nhận ra tớ, nhưng nếu không có tớ, tất cả các cậu đều trở nên nông cạn. Tớ tượng trưng cho suy nghĩ và phản xạ, lúc tảng sáng hay về chiều và màu nước thẳm. Các cậu cần tớ cho sự cân bằng và tương phản, trong cầu nguyện và sự hòa bình."
Và như vậy mỗi màu sắc quả quyết màu của mình là đẹp nhất. Họ tranh cãi lớn hơn và lớn hơn. Đột nhiên, một tiếng sét bất chợt vang lên. Mưa bắt đầu rơi nặng hạt. Các màu sắc run rẩy, xích lại gần nhau để bớt sợ.
Giữa lúc sấm sét ầm ĩ, mưa lên tiếng :
"Lũ màu sắc các người thật ngu ngốc, đấu đá lẫn nhau để chứng tỏ mình nổi trội hơn những kẻ khác. Các người không biết rằng mỗi một cá thể được tạo ra bởi một lý do đặc biệt, duy nhất và khác biệt ư? Hãy nắm lấy tay nhau và đến đây."
Làm theo lời của mưa, các màu sắc liên kết lại và nắm lấy tay nhau.
Mưa tiếp tục:
"Bắt đầu từ bây giờ, khi trời mưa, mỗi màu sắc sẽ trãi dài dọc bầu trời trong một chiếc vồng lớn để nhắc nhở các ngươi nên chung sống với nhau trong hòa bình. Cầu vồng là sự hiện diện của hi vọng cho ngày mai."
Và như vậy, cứ mỗi khi mưa tạnh, cầu vồng lại xuất hiện để nhắc chúng ta nhớ và cảm ơn đến những người khác.
Theo Net
</TD></TR></TBODY></TABLE>
Đamien
07-01-2007, 06:23 PM
GIỚI TRẺ TRONG LÒNG HỘI THÁNH
Giới trẻ trong lòng Hội Thánh bao gồm những ai ? Họ mang trong mình những thao thức, trăn trở như thế nào ? Chúng ta có những phương thức nào để vun trồng, chăm bón và phát huy những hạt mầm giới trẻ ấy, để họ « tiếp tục ra đi và mang về nhiều hoa quả » cho Hội Thánh của Đức Kitô, trong thế giới ngày hôm nay, ở vào giai đoạn thuộc nghìn năm thứ ba ?
***
1.- Theo Mai Thảo, giới trẻ không cần tùy thuộc vào điều kiện tuổi tác.
Hẳn thực, như chúng ta thường thấy:
« Có những cô gái mới mười tám tuổi đời… tóc thôi đựng gió, miệng chết nụ cười.
« Có những chàng trai vừa lên hai mươi… chủ nhật đã buồn, chăn chiếu đã lạnh.
« Họ dưới ba mươi…vòm lưng đã còm. Hai chân đã mỏi. Đôi mắt cận thị. Vành tai hết xôn xao… »
Nói đến giới trẻ, phải chăng chúng ta còn có cơ may tiếp xúc, va chạm với những tâm hồn « mang dòng máu Prométhée, cả gan leo lên tận bầu trời xanh, cướp lấy ngọn Lữa Thần, đem về sưởi ấm cho cuộc đời làm người ở trần thế » ?
Đỉnh Núi Prométhée, phải chăng chỉ là lối nhìn hoang tưởng của thi sỉ Bằng Việt ? Hay đó vẫn còn là hình tượng ưu việt của những người Kitô hữu hăng say, đầy nhiệt huyết trong lòng Đất Nước và Nhân Loại ? (1)
« Đêm cuối cùng, trước khi có Prométhée,
Chưa ai nhận : Mình còn là muông thú
Chưa ai tin : Mình vẫn thời tiền sử,
Lẫn giữa đêm dày đặc ức triệu năm qua.
Thế rồi, Lửa xoè lên. Quen Lửa từ trời xa,
Ai ngờ nổi : Lửa ủ từ ruột đất.
Soi vào Lửa , người bổng rơi nước mắt.
Chân lý giản đơn thay. Ai dễ chịu đi tìm.
Thân thuộc với bếp đun, thân thuộc với ngọn đèn,
Miếng ăn hết tanh hôi, chỗ ở thôi mục nát.
Hôn lên môi người yêu, chỉ thấy thơm ngây ngất.
Chân lý giản đơn thay, ai dễ chịu đi tìm.
Lịch sử thời nào khao khát Prométhée ?
Đứng trước đỉnh núi nầy, chẳng còn gì che khuất,
Càng thấy rõ tầm nhìn của con người đích thực,
Con đường, dù bị xiềng xích, vẫn nắm Lửa trong tay ».
***
2.- Dù bị xiềng xích, ai vẫn nắm Lửa trong tay, để đốt sáng cuộc đời cho mình và cho người khác ? Ai đang tiếp tục nối đuốc Mẹ Maria : Cưu mang Thiên Chúa trong cõi lòng mình ? Và mang Ngài đến cho anh chị em đồng bào, đồng loại, đang cùng chia sẻ những hoàn cảnh sinh sống đầy khắc nghiệt và éo le trên đường đời ?
Có còn chăng những người trẻ đang ngày ngày can đảm mang dòng máu của Mẹ Maria, trong thế giới ngày hôm nay ?
Khi đồng tiền đang truất phế mọi cuơng thường, đạo lý… Khi sự đê hèn đang chà đạp mọi sức sống vươn cao… Khi lòng hẹp hòi, đố kỵ đang thay chỗ cho tâm hồn quảng đại và khoan dung… liệu còn có ai, hay còn một nhân tố nào khả dĩ thôi thúc giới trẻ ngày nay vùng dậy, đứng lên, bước tới, đưa mắt nhìn Trời, đón nhận nguồn Ánh Sáng ?
Phải chi còn có người BIẾT nhìn và hỏi, giống như thi sỉ Hữu Thỉnh : (2)
« Tôi hỏi Đất :
Đất sống với nhau như thế nào ?
Chúng tôi tôn cao nhau
Tôi hỏi Nước :
- Nước sống với nhau như thế nào ?
Chúng tôi làm đầy nhau.
Tôi hỏi Cỏ :
Cỏ sống với nhau như thế nào ?
Chúng tôi đan vào nhau, làm nên những chân trời.
Tôi hỏi Người :
Người sống với nhau như thế nào ?
Tôi hỏi Người :
Người sống với nhau như thế nào ?
Tôi hỏi Người :
Người sống với nhau như thế nào ? »
Ba lần, thi sỉ Hữu Thỉnh đã hỏi Người. Nhưng Người KHÔNG trả lời. KHÔNG BIẾT trả lời. Trên bình diện ngôn ngữ và đối thoại, con người đã thinh lặng, CÂM NÍN. Nhưng với tay chân, mặt mũi, súng ống, bom đạn, họ đã nhắm mắt lao mình vào bạo động, hận thù, kỳ thị và chiến tranh, từ thời nguyên thủy cho đến ngày hôm nay. Triết gia người Pháp là J.P. SARTRE đã thuyên giải : « Con người là hỏa ngục cho con người ». Trước tác giả nầy hơn một ngàn năm, người La Tinh cũng không nói gì khác hơn : « Con người LÀM CHÓ SÓI đối với con người. Mày phải chết để cho tao sống. Mors tua, vita mea ».
***
3.-Người Kitô-hữu sống với nhau như thế nào ? Phải chăng họ cũng làm « ngựa chạy đường cũ »: ngày ngày trở thành chó sói sát hại lẫn nhau ? Kết án lẫn nhau ? Đe dọa đày ải nhau xuống đáy hỏa ngục ?
Trong buổi ăn cuối cùng, Đức Kitô đã trả lời cho các đồ đệ của mình : Anh em hãy thương mến nhau, để thế gian nhận biết anh em là đồ đệ của Thầy (Ga 13, 34-35).
Hôm nay, vào thời đại Nghìn năm thứ ba, thế gian còn có thể nhận ra ai thực sự là đồ đệ của Đức Kitô nữa không ?
Giữa xã hội ngày nay, yêu thương nhau phải chăng l chuyện hảo huyền ? Việc ấy xãy ra thế nào được ? (3)
Bao nhiêu người trước mặt chúng ta chỉ tranh giành nhau « ăn trên ngồi trước », thậm chí họ mang tên là Giacôbê, Gioan « đồ đệ được Thầy mến yêu ».
Bao nhiêu người đang có tác phong của « người Anh Cả ». Họ cằn nhằn, bất mãn, phản đối (Lc 15, 25-30),vì Người Cha đã rộng lòng tha thứ, giăng hai tay đón tiếp « đứa con hoang đàng trở về Nhà ».
Bao nhiêu người đang « NHÂN DANH » luật Đạo và luật Đời, đòi hỏi ném đá người đàn bà ngoại tình. Họ huyênh hoang viện dẫn mọi lý luận, để thách thức Lòng Thương vô điều kiện của Đức Kitô.
4.- Việc ấy xảy ra thế nào được ? Làm sao thương yêu, trong khi mọi người xa hay gần, bên nầy cũng như bên kia, ở trong cũng như ở ngoài… đều la lối ỏm tỏi, hô hào chia rẽ, đòi hỏi hận thù ?
Sứ Thần của Thiên Chúa là Gaprien, đã trả lời cho Trinh Nữ Maria (Lc 1, 34-35) : « Chúa Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Bà ».
Theo sách Sáng Thế, Ngài đã đi vào giữa lòng Bùn Đất, để biến Bùn Đất thành Con Cái của Thiên Chúa.
Cũng theo Kinh Thánh Cựu Ước, Ngài đã giải phóng Dân Ngài khỏi ách thống trị của Ai Cập. Cột Khói Lữa đã ngày ngày bao trùm, bảo vệ Dân Ngài, giữa Sa Mạc, trên con đường tiến về Đất Hứa.
Nhờ tràn đầy và thấm nhuần Chúa Thánh Thần, Đức Kitô đã có khả lực thứ tha cho những người sát hại Ngài. Cũng nhờ năng lực của Chúa Thánh Thần, Ngài đã đi ra khỏi mồ. Ngài đã SỐNG LẠI, toàn thắng tất cả những gì mang mầm móng chết chóc và diệt vong, hận thù và chia rẽ.
Thánh Thần là QUAN HỆ mật thiết đang có mặt và thường xuyên sống động trong cung lòng của Thiên Chúa. Nhờ Ngài, Cha và Con trở nên MỘT. Cái gì của Cha là của Con. Và cái gì của Con cũng là của Cha (Ga 17,10).
Theo Tin Mừng, nhờ Chúa Thánh Thần ngự xuống trên chúng ta, trong ngày chúng ta lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội, chúng ta đã trở thành chi thể của Đức Kitô. Hẳn thực tôi sống. Nhưng không còn là tôi đơn thuần, bùn đất, đắm chìm trong vòng nô lệ của tội lỗi. Đức Kitô sống với tôi, sống trong tôi. Tôi là chi thể được sát nhập vào Đức Kitô là ĐẦU. Với Ngài, nhờ Ngài và như Ngài, tôi có khả lực gọi Thiên Chúa « Ap-Ba, Cha ơi »( Rm 8, 15).
Cũng nhờ hồng phúc của Thiên Chúa ban cho tôi, qua Đức Kitô, tôi tiến lại gần Thiên Chúa với tất cả tâm hồn, máu xương, da thịt của tôi. Ngài là Đấng làm cho tuổi xuân tôi trở nên hoan lạc, hoàn hảo và bất diệt. Ngài là TUỔI XUÂN muôn đời của tôi, « Ad Deum qui loetificat juventutem meam », vì Ngài là gia nghiệp, gia bảo bất tận và bất diệt của tôi. Ngài là « Tất cả trong tất cả ». Ngài đổi mới mọi sự. Ngài làm cho trẻ trung từ trong ra ngoài. Từ trên xuống dưới.
Khi đã mặc vào mình tuổi trẻ ngàn thu như vậy, ai có thể tách rời chúng ta ra khỏi Tình Yêu và Sự Sống của Thiên Chúa ?
Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn có thể chống lại được chúng ta ?
Khi đã ban cho chúng ta Con Một của mình, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng lòng ban tất cả mọi Hồng ân khác cho chúng ta ?
Ai có thể buộc tội những người Thiên Chúa đã chọn và đã làm cho họ trở nên Công Chính ? (Rm 8,31-39)
***
Đamien
07-01-2007, 06:24 PM
5.- Tất cả những ai cho phép Chúa Thánh Thần ngự xuống trên cuộc đời và tâm hồn mình, giống như Mẹ Maria, những người ấy đang làm nên Giới Trẻ trong lòng Hội Thánh.
Lửa Chúa Thánh Thần đang nung đốt, thanh luyện họ, từ bên trong nội tâm và toàn diện cuộc đời.
Khi đã có Chúa Thánh Thần làm Hành Trang, họ được sai đi, rao giảng Tin Mừng Cứu Độ và Thứ Tha của Ngôi Cha, trên khắp mọi nẽo đường của Thế giới.
« Họ và Chúa Thánh Thần » (4), đang chúc phúc cho người nghèo. Đang làm sứ giả mang Hòa Bình cho mọi người, mọi chốn. Người mù được sáng mắt. Người bại liệt đứng dậy, ra đi. Người chết được sống lại như La-da-rô. Dân khắp tứ phương trở thành con cái của Thiên Chúa, dù họ trắng hay đen, thuộc bất cứ tầng lớp xã hội nào.
« Họ và Chúa Thánh Thần » đi lên Giê-ru-sa-lem, chịu bắt bớ, vác Thánh giá và bị sát hại, THEO ĐÚNG CHƯƠNG TRÌNH dự liệu của Ngôi Cha. Và vào ngày thứ ba, Chúa Thánh Thần sẽ làm cho họ SỐNG LẠI, trong vinh quang của Thiên Chúa.
Nói tóm lại, nhờ năng lực của Chúa Thánh Thần, những ai TIN vào Đức Kitô sẽ được trở nên người CÔNG CHÍNH, giống như Đức Kitô, trước con mắt của Ngôi Cha. Nhờ vào sức nối đuốc của họ, Đức Kitô trở thành « TRÒN ĐẦY và VIÊN MÃN », ngày Ngài trở lại trong vinh quang huy hoàng của Ngôi Cha.
6.-Trong tinh thần và ý nghĩa ấy, ai tin vào Đức Kitô, người ấy thuộc về « Thân Thể Mầu Nhiệm » của Ngài. Người ấy có trách nhiệm làm nên GIỚI TRẺ trong lòng Hội Thánh. Người ấy có bổn phận làm cho Hội Thánh luôn luôn TRẺ TRUNG, DUYÊN DÁNG, VÔ NHIỄM, xứng đáng đón nhận vị Hôn Thê của mình là Đức Kitô, trong ngày Ngài trở lại lần thứ hai.
Thiếu tinh thần và ý thức trách nhiệm ấy, chúng ta chỉ là người « làm thuê, làm mướn «. Chỉ làm người nô lệ, không có lời ăn tiếng nói. Không đóng góp phần năng động của mình, với tư cách là người con tự do, theo mẫu thức của Đức Kitô, trong gia đình của Ba Ngôi Thiên Chúa.
Thiếu ý thức « TRỰC THUỘC », một cách sáng suốt, tự do và toàn phần, chúng ta chỉ nuôi dưỡng, vun trồng một thứ quan hệ lệ thuộc, « ăn cơm nguội nằm nhà ngoài », trong lòng Hội Thánh. Lúc bấy giờ, Hội Thánh không còn là Người Mẹ thân thương, dịu hiền. Trái lại, trong tác phong và lối nhìn, chúng ta đã vô tình hay hữu ý biến Hội Thánh thành « Bà Dì Ghẻ », độc ác và cay nghiệt, luôn luôn rình rập để đàn áp, trừng phạt, tố cáo, phê phán, kết tội và loại trừ ra ngoài… giống như trong câu chuyện Tấm Cám.
***
7.- Tiếc thay, trong lòng Hội Thánh, nhiều người đang mang tâm trạng và thái độ của Bà Dì Ghẻ. Cho nên họ đã biến Hội Thánh thành bà dì ghẻ giống như họ, trong cách ăn nói, xử sự hằng ngày.
Sở dĩ như vậy, vì miếng cơm manh áo đã làm cho chúng ta thoái trào… cơ hồ những « vị thầy giáo ngày xưa » đã hóa thân thành người « bán sách cũ », ở chợ trời, hay là trên các lề đường của Thành phố (5) :
« Phút Thầy trò vừa nhận ra nhau,
Đôi tay Thầy tuột rơi chồng sách cũ,
Giữa quán sách nghèo, mua bán lặng lẽ.
Mười năm xa, gặp lại, sững sờ…
Tôi nhận ra từng trang sách ngày thơ :
« Thời gian khổ » cùng « Những người khốn khổ»,
« Sếch-Xpia,Tôn-xtôi », chừng chưa hiểu rõ :
Vì sao Thầy tôi đem họ đến đây ?
Tuổi trẻ tôi nuôi khao khát tròn đầy,
Theo trang sách, đến nhiều bờ bến lạ,
Thầy như con ong cần cù hút nhụy,
Lọc sách ra thành lời giảng say sưa.
Sách với Thầy là báu vật trong nhà,
Là bộ óc, là trái tim nhân loại.
Bìa quăn mép, Thầy đưa tay vuốt lại,
Mỗi chữ in sai, có nét chữa của Thầy.
Kho báu đời Thầy có thể đã vơi,
Vì sách cứ thành mớ rau hạt gạo.
Tôi cúi nhặt giùm Thầy… đôi tay nặng trĩu,
Không dám hỏi đâu… chỉ lặng lẽ nhìn Thầy. »
Ngày hôm nay, tình cảnh của Hội Thánh ở một vài nơi, có thể đã trở thành oái oăm, khắc nghiệt hơn như thế… Đến độ, một hôm nào, Đức Kitô đã ngao ngán thốt ra câu hỏi : Liệu khi CON NGƯỜI trở lại, trên cánh đồng nhân loại, còn có những người vẫn vững sống Đức tin vào Ngài hay không ?
Dù thế nào chăng nữa, những thành phần « Còn sót lại » như Mẹ Maria, vẫn luôn luôn có mặt, năng động trong lòng Hội Thánh. Mẹ vẫn trung kiên cầu nguyện bên cạnh bạn bè, con cái của Mẹ : « Maranatha. Xin Ngài hãy đến. »
***
8.- Là giới trẻ trong lòng Hội Thánh của Đức Kitô, chúng ta không thể KHÔNG « trở thành Mẹ Maria ».
Chúng ta trở thành Mẹ Maria, một đàng để tiếp tục cưu mang Đức Kitô, trong lòng Nhân Loại. Đàng khác, để đi theo Ngài lên tận ngọn đồi Gôn-gô-tha, chịu đóng đinh vào Thánh Giá, và Sống Lại ngày Thứ Ba.
Nói theo ngôn ngữ của Tản Đà, giữa Đức Kitô và giới trẻ chúng ta, nhiều mối tình keo sơn và gắn bó đã được kết dệt, giống như giữa Nước và Non (6) :
« Nước Non nặng một lời thề,
Nước đi, đi mãi, không về cùng Non ?
Nhớ lời nguyện ước thề Non,
Nước đi chưa lại, Non còn đứng không.
Non cao những ngóng cùng trông,
Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày.
Xương mai một nắm hao gầy,
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương.
Trời tây ngã bóng tà dương,
Càng phơi vẽ ngọc nét vàng phôi pha.
Non cao tuổi vẫn chưa già,
Non thời nhớ Nước, Nước mà quên Non ?
Dù cho sông cạn đá mòn,
Còn Non còn Nước hãy còn thề xưa.
Non cao đã biết hay chưa :
Nuớc đi ra biển lại mưa về nguồn.
Nước Non hội ngộ còn luôn,
Bảo cho Non chớ có buồn làm chi.
Nước kia dù hãy còn đi,
Ngàn dâu xanh tốt Non thì cứ vui.
Nghìn năm giao ước kết đôi,
Non Non Nước Nước không nguôi lời thề. »
Chính vì mối tình Nước Non bao la và trọng đại ấy, hởi ai là NGƯỜI EM thuộc giới trẻ, trong lòng Hội Thánh, hãy ý thức về bản sắc đích thực và tự tại của chính mình (7) :
« Em là ai ? Hạt Bụi giữa Đất Trời Vũ Trụ,
Nhưng đời Em gây động chuyển hằng ngàn tinh tú.
Em ra đi, tháo tung những biên thùy giới hạn,
Em mang về : Đức Kitô TRÒN ĐẦY và VIÊN MÃN ».
LAUSANNE, THỤY SĨ
BÍ CHÚ :
1) Trinh Đường – Thơ Việt –nXB Thanh Niên, 1999, Sàigòn tr. 331
2) Sđd tr. 290
3) Lc 1,34
4) Cv 15,28
5) Trinh Đường Sđd tr. 324
6) Trinh Đường Sđd tr. 13
7) Nguyễn văn Thành –Khung Trời mỡ rộng – Tình Người Lausanne, Hè 2000 tr. 247
Nguyễn Văn Thành
Đamien
29-01-2007, 07:45 PM
Cây Thánh Giá Ngày Quốc Tế Giới Trẻ đã đi gần hết Phi Châu
Sau khi mừng Giáng Sinh tại Malawi và dừng chân tại Zambia, Nam Phi, Swaziland và Mozambique, cây Thánh Gia Ngày Quốc Tế Giới Trẻ và bức ảnh Đức Mẹ đang ở chặng cuối của cuộc hành trình tại Phi Châu.
Các biểu tượng của Ngày Quốc Tế Giới Trẻ do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tặng cho giới trẻ đã viếng thăm lục địa Phi Châu như một dấu chỉ của hòa giải trong những điều kiện thường khi rất khó khăn. Các biểu tượng của Ngày Quốc Tế Giới Trẻ đã mở đầu cuộc hành hương Phi Châu tại Senegal ngày 12/4/2006 và đã viếng thăm hết đất nước này đến đất nước khác đối diện với các trạng huống khác nhau. Chẳng hạn như hồi tháng Chín tại Congo việc di chuyển đã gần như không thể được vì đường xá bị hư hại nặng nề. Nhờ sự giúp đỡ của không quân nước này, một trực thăng đã đưa cây thánh giá và ảnh Mẹ Maria đến nơi.
Tại Burundi, cuộc hành hương của các biểu tượng của Ngày Quốc Tế Giới Trẻ đã là cơ hội cho người dân tại đây, đặc biệt là giới trẻ, suy nghĩ về hòa bình và sự hòa giải đất nước. Như một phần của các cuộc lễ đón mừng cây thánh giá, các bạn trẻ đã giúp xây dựng gia cư cho những quá phụ sống sót sau họa diệt chủng tại đây. Đức Cha Philippe Rubamka của giáo phận Butare bày tỏ hy vọng rằng dịp này là một vườn ươm cho hòa bình và là trường học của yêu thương và tình bạn.
Cha Matthias Nsamba tuyên uý giới trẻ tại giáo phận Aliwal North, Eastern Cape, Nam Phi cho thông tấn xã Công Giáo CNS biết cây Thánh Gia Ngày Quốc Tế Giới Trẻ là một dấu chỉ hy vọng cho nhiều thanh niên tại Nam Phi nơi đã bị tàn phá bởi bệnh liệt kháng, thất nghiệp, nghèo đói, và thất học. Cha Matthias Nsamba cho biết tỷ lệ người mắc bệnh liệt kháng trong vùng lên đến 18%. Cho nên, thành phố Eastern Cape được gọi là “vùng đất chết, tai họa, và tuyệt vọng”. Hơn 1000 bạn trẻ đã chào đón cây Thánh Gia Ngày Quốc Tế Giới Trẻ và bức ảnh Đức Mẹ tại một nông trại gần Queenstown, Eastern Cape hôm 7/1 vừa qua.
Ngày 15/2 tới đây cây Thánh Gia Ngày Quốc Tế Giới Trẻ và bức ảnh Đức Mẹ sẽ lên đường sang Úc Đại Lợi nơi Ngày Quốc Tế Giới Trẻ 2008 sẽ được tổ chức tại Sydney từ 15 đến 20/7/2008.
Nguyễn Việt Nam
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.