PDA

View Full Version : Trai Gái Sống Chung, Hôn Nhân Thử, Quan Hệ Ngoài Hôn Nhân


admin
13-01-2010, 03:38 PM

admin
13-01-2010, 03:39 PM
MỘT SỰ KIỆN XÃ HỘI HỌC QUAN TRỌNG
* Hỏi: - Thế nhưng “sống chung” không phải là đang trở thành một sự kiện xã hội học, chẳng phải để thử nghiệm trước khi lấy nhau thật, nhưng là vì muốn khước từ hôn nhân theo định chế hay sao?

- Xavier Thévenot: - Tôi đồng ý với bạn một phần. Nhưng đừng quên rằng 90% những người ấy rốt cuộc đã lấy nhau; chỉ có 10% là không kết hôn. Con số này quả là nhỏ, nhất là chúng ta trừ bớt những người không thể kết hôn được. Vì vậy, áp lực xã hội rất lớn. Điều này cho thấy – có thể viết trong ngoặc – hôn nhân trước hết không phải là việc tuỳ ý của cá nhân, mà là việc của tập thể. Các nhà nhân chủng học đã cho thấy rõ điều đó.

Nếu thế, ta có lý hay không khi đòi gạt bỏ định chế hôn nhân? Lập trường của tôi rất rõ: tôi cũng muốn nói minh bạch ra. Theo tôi, ta không có lý khi đòi gạt bỏ định chế hôn nhân. Mời bạn nhớ lại những gì tôi vưa nói. Tuy nhiên, cũng cần phải phân biệt hôn nhân với mô hình hiện tại của các cặp vợ chồng. Ngay trong quan hệ vợ chồng, ta cũng cần phải nghĩ ra những mô hình khác với mô hình cổ điển của các cặp vợ chồng hiện nay. Theo tôi, cơ cấu hôn nhân một vợ một chồng và chung thuỷ với nhau của Kitô giáo có thể là một mô hình rất có tính xây dựng, dù cả các Kitô hữu cũng phải tiếp tục có sáng kiến trong việc này. Rất tiếc, ở đây tôi không muốn giảng cả cours thần học về hôn nhân, vì đó không trực tiếp là lãnh vực của tôi.

Bạn vừa lưu ý trai gái sống chung là một hiện tượng xã hội học rất quan trọng. Đành rằng có rất nhiều các bạn trẻ lúc đầu không chịu lấy nhau hay ít ra không chịu lấy nhau ngay lập tức. Từ trước đến giờ tôi vẫn nhấn mạnh tới nhu cầu mỗi người phải sáng suốt về diễn biến riêng của mình. Nhưng đồng thời ta phải tìm ra những lý do xã hội học sâu xa của hiện tượng xã hội quan trọng đó. Theo tôi, từ trước đến nay ta vẫn dừng lại ở bề mặt của hiện tượng. Lý do hẳn là có rất nhiều. Nhất là do cái nhìn mới của xã hội chúng ta hôm nay về sự lo âu, sợ hãi và bạo lực. Ở đây tôi muốn nói: giữa việc quy định của xã hội về tính dục và việc điều hoà của xã hội về bạo lực hay sợ hãi có quan hệ mật thiết với nhau. Chúng ta đang sống trong một thời kỳ lịch sử, theo đó lần đầu tiên nhân loại có được những phương thế để tự huỷ diệt mình. Cũng lần đầu tiên nhân loại đạt được một ý thức có tính hoàn cầu, ý thức rằng thế quân bình của thế giới thật là mong manh. Tất cả những sự việc đó chắc chắn làm cho con người hôm nay cảm thấy bấp bênh. Và điều này không thể không lộ ra trong các quan hệ giữa con người với nhau, trong cái nhìn của ta về thời gian, về thân xác phái tính và về khoái cảm. Tính dục là một thực tại lưỡng giá, vừa đánh thức những nỗi sợ hãi xa xưa của ta vừa làm cho ta an tâm nhờ khoái cảm do nó mang lại. Cái nhìn mới mẻ của con người hiện nay về bạo lực, về sự lo âu, chắc chắn đã ảnh hưởng tới cái nhìn của người trẻ hôm nay về định chế hôn nhân và thái độ dè dặt của họ, không dám dấn thân vào đời sống vợ chồng được xã hội chuẩn nhận.

* Hỏi: - Tôi có cảm tưởng rằng nhà xã hội học M. Roussel coi thái độ cho phép dễ dãi của xã hội, tình trạng áp lực xã hội sút giảm là nguyên nhân chính khiến cho người ta quyết định sống chung với nhau mà không kết hôn.

- Xavier Thévenot: - Trước hết, hãy lưu ý là áp lực xã hội vẫn còn, nên cuối cùng vẫn có người lấy nhau. Nhưng hiện nay, áp lực ấy được thể hiện một cách khác với ngày xưa.

Trong lãnh vực tính dục, chắc chắn xã hội chúng ta hiện nay cho phép dễ dãi hơn ngày xưa. Dù rằng, để phê phán cho nghiêm túc, có lẽ ta phải xem lại các phân tích của Marcuse về cái mà ông gọi là tình trạng “suy đồi có tính trấn áp”. Đây không phải là một hình thức giải phóng tính dục cách giả tạo hay sao?

Nói cho rộng rãi hơn, để suy nghĩ về vấn đề xã hội hôm nay cho phép dễ dãi hơn, ta nên nhớ vấn đề chính của mọi khoa đạo đức và từ đó, của mọi xã hội, là vấn đề làm sao điều hoà được tình trạng bạo lực: “Ngươi không được giết”. Luật này không phải chỉ cấm giết người, mà còn cấm mọi hình thức sát hại: giết chết khả năng bộc lộ, giết chết sức khoẻ, giết chết chiều kích tâm linh của con người v.v… Tất cả chúng ta đều bị rơi vào thế phải chọn lựa: hoặc yêu thương hoặc chết đi vì bạo lực.

Vì thế, cần phải hiểu sự kiện xã hội hôm nay cho phép dễ dãi có ý nghĩa gì, khi coi đó là một cách để phơi bày bạo lực trong xã hội hiện nay và khi coi đó là một cách lựa chọn một trong hai điều vừa nói.

CÁC QUAN HỆ NGOÀI HÔN NHÂN

* Hỏi: - Là một nhà luân lý, cha nghĩ sao về những quan hệ ngoài hôn nhân? Ở đây tôi muốn nói tới không những các mối quan hệ tính dục, mà cả những tình cảm rất sâu đậm giữa một người vợ hay chồng với một người đàn ông hay một người đàn bà không phải là chồng hay vợ mình. Theo tôi, điều đó không nhất thiết phá vỡ quan hệ vợ chồng và sự tồn tại của quan hệ vợ chồng, nhưng có thể ảnh hưởng lớn trên sự quân bình của vợ chồng.

- Xavier Thévenot: - Có rất nhiều điều phải nói về vấn đề này. Trước hết, sự chung thuỷ vợ chồng không phải chỉ là không có những quan hệ tính dục ngoài hôn nhân. Hiểu thế là sẽ đề cao chuyện ăn nằm quá đáng. Chung thuỷ còn là một cái gì hơn thế nữa. Chung thuỷ còn là, và có lẽ chính yếu là tuỳ ở phẩm chất thái độ của hai người đối với những chiều kích tình cảm và gây hấn. Chung thuỷ không phải là lặp đi lặp lại, mà là cố gắng mỗi ngày để sáng tạo. Chính vì thế, không phải vì có quan hệ ngoài hôn nhân mà vợ chồng nhất thiết phải đoạn giao. Vả lại, con người chúng ta rất phức tạp. Đôi khi một trong hai người lỗi phạm sự chung thuỷ vợ chồng trong lãnh vực tính dục, lại góp phần xây dựng cho lịch sử tình yêu của vợ chồng. Tuy nhiên, ghi nhận đó không đủ để biện minh cho các quan hệ khác ngoài hôn nhân!

Đàng khác, mỗi khi có quan hệ tính dục là phải có hai người. Một điều có thể có ích cho người này lại có thể gây hại cho người kia. Chẳng hạn, một quả phụ 35 tuổi, sau khi chồng chết được 5 năm, bỗng cảm thấy những đòi hỏi tính dục trở lại, và cho tôi biết là đã quan hệ với nhiều kẻ qua đường: “Kể từ đó, con cảm thấy dễ chịu hơn, quân bình hơn”. Tôi lưu ý bà ta: “Có thể là như vậy, nhưng bà đang dùng người khác làm phương thuốc trị liệu cho mình”. Thế mà, xét theo quan điểm đạo đức, ta không được phép lấy người khác trước tiên làm vật để cởi trói các ức chế tính dục hay để chữa trị cho mình, dù người ấy có thấy mình thích hợp với cách cư xử đó thế nào chăng nữa. Đừng quên rằng mỗi người trong chúng ta đều thích hợp cả với điều tốt lẫn điều xấu, thậm chí cả với tội sát nhân và loạn luân nữa. Khám phá thấy nơi tôi có sự thích hợp để làm đối tượng thoả mãn tính dục hay làm phương thuốc chữa trị cho người khác không phải là lý do cho phép người ta khai thác sự đồng loã ấy của tôi.

Vì thế, trong các hành vi ngoại tình hay trong các quan hệ ngoài hôn nhân, ta phải tự hỏi không những về bản thân mình, mà cả về những ảnh hưởng – tức thời hay về lâu về dài – nơi người mà ta có quan hệ tính dục, nơi người vợ hay người chồng bị thiệt hại do quan hệ ấy và cuối cùng nơi con cái họ nữa. Ta không thể không tra vấn như thế, nếu muốn có tinh thần trách nhiệm, không cậy dựa vào những cảm tưởng chủ quan và nhất thời rằng mình đang được triển nở.

Còn đối với chính vợ chồng, những vi phạm ngoài hôn nhân như thế rất ít khi là không có hại. Có người còn cho rằng không bao giờ là vô hại cả. Thế nhưng, thỉnh thoảng ta phải lắng nghe một số vợ chồng “bị phản bội” để thấy rằng những vi phạm ấy không bao giờ vô hại như nhiều người cố gắng giải thích. Bởi vì quan hệ tính dục bao giờ cũng có sức lôi kéo toàn bộ con người ta vào cuộc, và vì thế lừa chồng hay dối vợ không phải là chuyện tầm thường.

Dẫu vậy, vợ chồng Kitô giáo không được quên một chiều kích cơ bản trong đời sống mình: sự tha thứ. Tha thứ không phải là quên đi, cũng không phải là độ lượng đối với những gì có thể dung thứ được. Nhưng là đứng trước một sự dữ có phần nào không thể dung thứ được, tôi dám nói với người ấy: “Tôi vẫn coi anh đáng quí trọng hơn những gì anh đã làm. Chính vì thế, tôi tin anh sẽ tạo được một tương lai mới”. Một điểm mốc khác có thể tìm thấy trong Tin mừng: dụ ngôn cái rác và cái đà. Sự bất trung của người này không bao giờ chỉ là lỗi của mình người ấy, nhưng luôn luôn có phần của tôi, dù có thể chỉ vì tôi thiếu óc sáng tạo nên mới đẩy người ấy đến chỗ vi phạm. Một phần thôi; vì thế ta không được cho mình là nguồn gốc của mọi sự dữ. Bằng không, ta sẽ rơi vào ảo tưởng cho rằng mình toàn năng; ta sẽ “tự phong cho mình là quỉ” trong khi ta mới có một phần trách nhiệm và chỉ có một phần trách nhiệm thôi.

Tóm lại, như tục ngữ bình dân có nói, thiết tưởng các quan hệ ngoài hôn nhân cũng tựa như “những nhát dao nhỏ đâm vào khế ước”. Cứ đâm đi đâm lại mãi, các nhát dao ấy có thể làm rách cả một mảng lớn… Sau cùng, câu hỏi mà bạn vừa đặt ra cho tôi rất đáng chú ý ở chỗ cho thấy người ta có thể bất trung đối với vợ hay chồng mình, dù chưa có hành vi tính dục. Một tình bạn, muốn tích cực, phải giúp cho vợ chồng phát huy tất cả sự phong phú của quan hệ tình cảm giữa hai người. Dĩ nhiên, điều đó không phải cứ tự động xảy ra. Đối với người đã lập gia đình, tình bạn phải trong sáng, kiên nhẫn và yêu thương, nghĩa là phải biết tôn trọng người kia cả trong những nỗi e sợ và sự chậm chạp của họ.
LUÂN LÝ NHÂN BẢN, LUÂN LÝ KITÔ GIÁO

* Hỏi: - Cha đã trình bày những điểm xác tín của cha; đang khi đó có nhiều người chỉ dựa trên những quan điểm nhân bản. Tại sao cha cảm thấy phải quy chiếu với đức tin Kitô giáo?

- Xavier Thévenot: - Điều bạn vừa nói đặt ra một vấn đề căn bản: luân lý Kitô giáo có tương quan thế nào với một nền luân lý không tham chiếu với tôn giáo? Nếu xét tới những chuẩn mực cá biệt, thì theo tôi, trên nguyên tắc, không có gì khác nhau. Trong các lãnh vực cụ thể, rất có thể một người vô thần đi từ những suy nghĩ từ nhân học để rút ra những kết luận y như trong Kitô giáo. Nếu trước đây tôi có bảo bạn rằng “luân lý Kitô giáo khẳng định điểm này điểm nọ rất mạnh mẽ”, tôi không bao giờ có ý cho rằng người vô thần không hề khẳng định như vậy. Nhưng có điều chắc chắn là những điểm chủ chốt ấy tôi tìm được trong Thánh kinh và truyền thống Kitô giáo, và điều đó đã giúp tôi, đã củng cố cho tôi khi phân tích vấn đề về mặt nhân học. Đàng khác, càng nghiên cứu Thánh kinh, tôi càng khám phá ra Thánh kinh rất giàu chất nhân học. Tôi không phải là người duy nhất nhận xét như thế. Cả các nhà suy tư vô tín ngưỡng hiện nay cũng nói như vậy.

Ngược lại, cũng có những đối chọi rất rõ giữa luân lý Kitô giáo và luân lý của một số người không Kitô giáo trong lãnh vực các mục tiêu tối hậu mà ta nhắm đến. Chẳng hạn, tin vào sự phục sinh sẽ cho tôi thấy rõ tầm quan trọng của thế giới ngày nay, sự dấn thân trong thế giới, những quan hệ nhân bản, gia đình, vì trong tất cả những thực tại ấy sẽ có một điều gì đó tồn tại; nhưng đồng thời tin vào sự phục sinh sẽ làm tương đối các nỗ lực nhân bản của tôi, vì tôi tin rằng chúng ta sẽ sống lại trong một thân phận khác với thân phận chúng ta đang sống hiện nay. Điều này sẽ giúp tôi không quá coi trọng mình trong các hoạt động của mình hiện nay, không quá lý thuyết. Chẳng hạn các Kitô hữu sẽ không đề cao quá đáng đời sống vợ chồng cũng như sự độc thân của các tu sĩ linh mục. Nhờ đức hy vọng mà đức tin hỗ trợ, nhờ có chiều kích tiên tri, nên đức tin Kitô giáo sẽ làm vững mạnh thêm động cơ sống của các Kitô hữu: thế giới này đáng sống vì sẽ có một cái gì đó của thế giới này tồn tại trong thế giới bên kia. Đức tin cũng mời gọi ta có óc khôi hài như một cách gỡ mình ra thật lành mạnh, vì bằng giá nào ta cũng phải đi qua cái chết rồi mới được phục sinh.
(Trích trong tác phẩm Để xây dựng một nền luân lý trong thế giới mới, ch. 1)
Tác giả: Xavier Thévenot
http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=1377