View Full Version : Cựu Ước: Cuốn sách tuyệt vời
admin
18-01-2010, 03:47 PM
Cựu Ước: Cuốn sách tuyệt vời
Le Livre par excellence
Jean Martucci
Editions Fides, Canada, 1970.
Người dịch: Linh mục Phêrô Phan Xuân Thanh
+++
GIỚI THIỆU
Chương trình phát thanh Cuốn sách tuyệt vời trình bày Cựu Ước qua 37 bài.
Mỗi bài gồm có phần chú giải các đoạn Thánh Kinh chính yếu và một phần phân tích các biến cố đã làm nên lịch sử Israel, từ trình thuật về cuộc sáng tạo cho đến hôm trước thời đại kitô giáo.
Trước hết và trên hết, cần đặt lại các sự kiện vào trong bối cảnh lịch sử và các trình thuật vào trong môi trường văn hoá của chúng.
Người chịu trách nhiệm phần này của chương trình là linh mục Jean Martucci, giáo sư chú giải thuộc ban nghiên cứu Kinh Thánh Phân khoa Thần học Đại Học Montreal. Linh mục Martucci đã học tại Giáo Hoàng Học Viện Kinh Thánh ở Roma và tại Trường Kinh Thánh và khảo cổ Pháp ở Yêrusalem.
.......
Bài số 1.
LỜI KINH CỦA CÁC NHẠC SĨ
Bản văn: Thánh vịnh 150
(Âm nhạc: Rolland Douatte, Musique au temps de Jésus; Jean Papineau- Couture, Psaume 150)
1. Khi nghe một bài nhạc hiệu ngoại lai như thế, với những lời hình như trích từ Kinh Thánh, người ta tự hỏi đâu là mục đích của loạt bài phát thanh này với tiêu đề là “Cuốn sách tuyệt vời”?
- Âm nhạc mà các bạn vừa nghe và sẽ được sử dụng làm nhạc hiệu cho mỗi giờ phát thanh này, là một tái dựng hết sức trung thành có thể thứ âm nhạc cổ của Israel vào cuối thời Cựu ước và thời Chúa Giêsu... Còn lời là trích từ thánh vịnh 150...
Sự kết hợp này giữa âm nhạc và bản văn Thánh Kinh tóm lược điều chương trình phát thanh Cuốn sách tuyệt vời muốn làm.
Vào mọi thời đại, nhiều nhà soạn nhạc danh tiếng đã cảm hứng trực tiếp từ các trình thuật hay các bản văn Thánh Kinh để viết ra đôi lúc những tuyệt tác của mình.
Không những chỉ Bach hay Handel như người ta thường nghĩ tới, mà ngay cả Brahms hay Strawinsky, và gần chúng ta hơn, là Jean Papineau- Couture mà chúng ta sẽ nghe trong chương trình hôm nay.
Như vậy, chúng ta sẽ cùng đọc Kinh Thánh qua các tuyệt tác âm nhạc.
2. Nếu các thánh vịnh trước hết là những tác phẩm âm nhạc, thì người ta đã tấu bằng những loại nhạc cụ nào?
- Không dễ trả lời đâu.
Các dữ liệu của bản văn Thánh Kinh thì không rõ ràng và ngay các bản dịch của chúng ta cũng chỉ là tương đối. Còn các dữ kiện khảo cổ học thì cực kỳ hiếm.
Truyền thống giáo sĩ (rabbinique), có lẽ với nhiều tưởng tượng hơn là óc phê bình, có nói đến 36 loại nhạc cụ khác nhau.
Chúng ta biết chăc chắn là có nhạc khí dây, kèn sáo và nhạc khí gõ.
Trong nhạc khí dây thì có đàn lia từ 6 đến 11 dây, đàn xita 7 dây, đàn nêbel (cũng gọi là xita) 10 dây, đàn hạc cũng 10 dây và đàn xantê 24 dây.
Còn đàn kinnor thì có 8 dây, gảy trực tiếp bằng các ngón tay. Người ta biết nó nhờ đàn kinyra của người Phenicien.
Về kèn sáo thì Kinh Thánh nêu rõ tên ống sáo và kèn ôboa.
Nhạc khí gõ thì gồm có trống con, chũm choẹ và kẻng ba góc.
Ngoài ra còn có trompet và tù và.
Cũng có các ca đoàn nữa. Ban đầu chỉ có một ca viên diễn đơn với ca đoàn. Rồi về lâu sau này, chắc hẳn dưới ảnh hưởng người hy lạp thì có thêm các ca đoàn đối đáp nhau. Các con của Corê mà Kinh Thánh thỉnh thoảng nói đến, là một ca đoàn phụng vụ lêvi. Thánh vịnh 136 với điệp khúc “vì ơn Người miên man vạn đại” chắc là một điệp khúc xen kẽ giữa ca đoàn và ca viên. Tiếng kêu “Alleluia” chắc đã được cắt đôi: một ca viên kêu lên “Hallelu” có nghĩa là “Hãy ngợi khen”, và đám đông đáp lại “Yah” có nghĩa là “Đức Chúa” (Yah là âm tiết thứ nhất của Yahvê, tên Thiên Chúa mà người ta không bao giờ đọc lên).
Nếu không cố gắng tưởng tượng ra tất cả các loại nhạc khí và các ca đoàn đi kèm các thánh vịnh như thế, là chúng ta đã không làm chúng sống lại trong bối cảnh thực của chúng.
3. Có bao nhiêu thánh vịnh tất cả vậy ?
- Tập sách Thánh vịnh trong Thánh Kinh gồm 150 thánh vịnh. Nhưng con số này không chặt chẻ lắm: bản Kinh Thánh hy lạp và bản Vulgata nối kết thánh vịnh 9 và 10 làm một, và thánh vịnh 114 và 115 làm một; nhưng lại chia thánh vịnh 116 và 147 làm hai. Vì thế từ thánh vịnh 10 đến 148, người ta cứ liên tục lẫn lộn. Có người theo cách đánh số hipri, có người theo cách đánh số latin.
Dù sao thì chắc chắn là ở Israel có nhiều hơn là 150 thánh vịnh. Có những bài ca Kinh Thánh người ta không gọi là “thánh vịnh” nhưng lại rất rõ ràng thuộc loại thánh vịnh như: bài thánh ca của Môisen trong sách Xuất Hành; bài thánh ca của Debora trong sách các Thẩm Phán; bài thánh ca của Anna trong sách Samuen I; bài thánh ca của Ezechias trong sách Isaias; bài thánh ca của 3 chàng trai trẻ trong sách Danien; các bài Ai ca gọi là của Yêrêmia....Và ngay cả trong Tân ước, bài Magnificat, bài Benedictus và bài Nunc dimittis cũng là các thánh vịnh đó thôi.
Vã lại, đừng quên rằng các thánh vịnh và thánh ca được ghi lại trong Kinh Thánh chỉ là sự phản ảnh một sinh hoạt văn chương và âm nhạc rộng lớn hơn nhiều. Tập sách Thánh vịnh chỉ là một tuyển tập các thánh vịnh thôi. Người ta đã chỉ giữ lại bài hay nhất hoặc phổ thông nhất. Ngay cả sau khi đã hình thành Tập sách Thánh vịnh rồi, vẫn còn có những thánh vịnh khác nữa. Những ngụy thư do thái có một bản gọi là các Thánh vịnh của Salomon và từ năm 1947, người ta biết rằng những người ở Qumran, phía Đông Bắc biển Chết, đã sáng tác những thánh vịnh mà một số được tìm thấy cùng với các bản chép tay.
4. Người ta có lưu giữ lại được bản ký âm một số thánh vịnh nào không?
- Thật đáng tiếc là không. Trái ngược với các người hy lạp, các người hypri đã không để lại ghi chú gì về âm nhạc của mình cả.
Người dịch: Linh mục Phêrô Phan Xuân Thanh
admin
18-01-2010, 03:48 PM
04/12/2009 16:25 - Cựu Ước - Bài 6: Israel được giải thoát (http://tonggiaophanhue.net/home/index.php?option=com_content&view=article&id=1332:cu-c-bai-6-israel-c-gii-thoat&catid=46:cuu-uoc&Itemid=70)
06/10/2009 23:56 - Cựu Ước - Bài 5: Thiên Chúa của Abraham, của Isaac… (http://tonggiaophanhue.net/home/index.php?option=com_content&view=article&id=938:cu-c-bai-5-thien-chua-ca-abraham-ca-isaac-va-ca-yacob&catid=46:cuu-uoc&Itemid=70)
10/09/2009 11:18 - Cựu Ước đàm thoại - Bài 4: Một khởi hành mới của t… (http://tonggiaophanhue.net/home/index.php?option=com_content&view=article&id=777:cu-c-am-thoi-bai-4-mt-khi-hanh-mi-ca-th-gii-&catid=46:cuu-uoc&Itemid=70)
28/08/2009 09:24 - Cựu Ước đàm thoại - Bài 3: Hận thù đầu tiên của th… (http://tonggiaophanhue.net/home/index.php?option=com_content&view=article&id=693:cu-c-am-thoi-bai-3-hn-thu-u-tien-ca-th-gian&catid=46:cuu-uoc&Itemid=70)
11/08/2009 23:23 - Bài 2: Ngày thứ nhất của thế giới (http://tonggiaophanhue.net/home/index.php?option=com_content&view=article&id=588:cu-c-bai-2-ngay-th-nht-ca-th-gii&catid=46:cuu-uoc&Itemid=70)
admin
18-01-2010, 03:50 PM
Bài số 2.
NGÀY THỨ NHẤT CỦA THẾ GIỚI
Bản văn: St 1,1 - 3,24
(Âm nhạc :Joseph Haydn, La Création)
5. Thưa cha, con cứ có ấn tượng về sự kiện là trong sách Thánh Kinh, có đến 2 trình thuật về việc Tạo dựng, và con thường tự hỏi: tại sao lại như vậy?
-Bạn nói là có 2 trình thuật về việc Tạo dựng phải không? Người ta có thể nói như vậy cũng được, và sách Kinh Thánh Jerusalem (bằng Pháp ngữ) đã làm như thế khi đặt tiêu đề chương 1 là “trình thuật thứ nhất về việc Tạo dựng” và tiêu đề chương 2 là “trình thuật thứ hai về việc Tạo dựng”; nhưng hình như điều này là không hoàn toàn đúng.
Chương 1 nói với chúng ta về vũ trụ, và con người xuất hiện ở đó trong phần kết luận, giống như cái chóp nhọn của một kim tự tháp mênh mông. Trái lại, chương 2 (cùng với chương 3 làm thành một khối ) trước hết, nói với chúng ta về con người và tấn bi kịch bên trong của nó. Nếu các bạn cho phép dùng hình ảnh mượn từ nghệ thuật điện ảnh, thì chương 1 là một thứ màn ảnh rộng có màu, trình bày cho chúng ta thấy những cảnh vật trải dài ngút mắt; còn chương 2, đó là hình ảnh đen trắng, bi kịch cao độ, với những cận ảnh lớn của các nhân vật.
6. Nói theo ngôn ngữ truyền hình thì chương 1 là một “pan” (toàn cảnh ) và chương 2 là một “close up” (cận cảnh)
- Chính xác. Và điều này rất quan trọng. 2 chương này không hề lặp lại, mà bổ túc cho nhau. Và rõ ràng sự bổ túc này là do chủ ý của người soạn thảo cuối cùng sách Sáng thế. Về thời gian soạn thảo thì có hơn 400 năm cách quảng giữa chương 1 và chương 2.
7. A! Con cứ tưởng là chúng đã được soạn thảo cùng một lần và do cùng một tác giả chứ.
- Không phải. Và điều kỳ lạ nhất, là chương 2 đã được soạn thảo 400 năm trước chương 1! Điều này chứng tỏ cho chúng ta biết rằng người soạn thảo cuối cùng đã thấy rất rõ chương 1 là như phần nhập đề tổng quát và chương 2 là câu chuyện đặc biệt hơn về con người. Ông đã muốn bối cảnh trang trí có sẵn trên sân khấu trước khi các nhân vật bước vào. Tóm lại, chương 1 có tính cách vũ trụ và chương 2 có tính cách quy nhân.
8. Nhưng nếu thế thì có những khác biệt về văn phong giữa chương này với chương kia không?
- A, có chứ. Và nhiều nữa. Chương 1 thì giản dị, rất có thứ tự , hơi bác học theo kiểu của nó. Nó đã được các tư tế viết ra vào khoảng thế kỷ thứ 6 trước Chúa giáng sinh. Còn chương 2, cũng như chương 3, thì rất hình tượng, sống động và thường hơi ngây ngô trong các cách diễn tả. Nó đã được viết ra từ những truyền thống bình dân vào thế kỷ thứ 10 trước Chúa giáng sinh.
9. Con đã đọc được đâu đó rằng 6 ngày tạo dựng mà chương 1 nói, thì tương ứng với 6 thời kỳ địa chất lớn trong việc hình thành vũ trụ. Con thấy khá hấp dẫn là như vậy, thì khoa học xác nhận điều Thánh Kinh nói.
- Tôi không muốn làm bạn thất vọng, nhưng theo ý tôi thì đó là một ảo tưởng. Sáng thế 1 không có một tham vọng khoa học nào hết. Sứ điệp của nó là thuần tuý tôn giáo và ngôn ngữ của nó đơn giản chỉ là ngôn ngữ thi ca. Tác giả đã có vốn kiến thức của thời đại, thế thôi; và kiến thức này thì khá là thô sơ. Đối với ông, trái đất thì dẹt, chứ không phải tròn; bầu trời thì cứng chắc, đó là một thứ vòm giữ nước trên cao lại; có những lỗ để cho thỉnh thoảng mưa xuống; mặt trời và mặt trăng thì được treo trên trần nhà này của thế giới, gần giống như đèn chùm hay đèn trần vậy.
10. Đúng là khá đơn giản ngây ngô! Nhưng nếu thế thì làm sao nói được rằng Kinh Thánh không chứa đựng sai lầm nào?
- Không có sai lầm trong những gì liên quan tới ơn cúu độ. Như lời một vị Hồng Y thế kỷ thứ 16: “Kinh Thánh dạy chúng ta làm thế nào để đi về trời chứ không phải dạy cho biết trời vận hành như thế nào”. Một cách ít văn vẻ hơn nhưng long trọng hơn, Công Đồng Vaticanô 2 đã tuyên bố rằng Kinh Thánh dạy cách không sai lầm “chân lý mà vì phần rỗi chúng ta, Thiên Chúa đã muốn được ghi vào sách” . Trong các phần còn lại, tác giả được linh hứng chỉ có những hiểu biết và ngôn ngữ thông thường của thời đại.
11. Nhưng thế thì tại sao lại chọn 6 ngày làm việc để nói về việc Thiên Chúa tạo dựng thế giới?
- Tác giả đã muốn nói rằng Thiên Chúa đã đem hết tình thương và sự ân cần mà tạo dựng, giống như một người thợ làm nghề của mình 6 ngày một tuần. Và nếu ông nói về việc nghỉ ngơi ngày thứ 7, đó là để diễn tả hình ảnh này cho tận cùng. Đàng khác, vì là một tư tế, điều này sẽ cho phép ông nhắc nhở người hibá phải tuân giữ luật nghỉ hưu lễ bằng mọi giá, ngay cả trong thời lưu đày ở Babylon là nơi mà ông đang viết.
Không phải vì Thiên Chúa đã dùng 6 ngày để tạo dựng thế giới rồi Ngài nghỉ ngày thứ 7, mà tuần lễ được chia làm 7 ngày như ngày nay. Đúng hơn là chính vì sự phân chia thời gian thành những thời kỳ 7 ngày đã là việc thông thường vào thời tác giả được linh hứng, cho nên ông đã có ý tưởng sử dụng nó như cái khung để nói về việc tạo dựng.
12. Vậy là không nên hiểu 6 ngày theo mặt chữ : đây là một hình ảnh.
- Chính xác. Đối với thi sĩ đã viết Sáng thế 1, Thiên Chúa là một người thợ. Đối với nhà thơ lớn thời cận đại là bà Marie Noël, thay vì tạo dựng bằng cách làm việc, thì Thiên Chúa tạo dựng bằng cách nhảy múa. Đó cũng là một hình ảnh khác, có thể có trong Thánh Kinh.
13. Thế nhưng con thấy rằng tác giả Thánh Kinh đôi khi thiếu logic hơi nhiều, cho dù người ta có thể cho phép các thi sĩ được khá nhiều tự do. Ánh sáng xuất hiện vào ngày thứ nhất, trong khi mặt trời chỉ xuất hiện ngày thứ tư. Kỳ lạ quá đi chứ!
- Phải; nhưng bạn thì biết rằng ánh sáng phát sinh từ mặt trời. Còn tác giả Thánh Kinh thì không biết điều này. Có những ngày người ta thấy ánh sáng mà không thấy mặt trời! Đối với người hibá, đó là 2 chuyện đối lập khác nhau. Nhưng không phải là không có lý do khi tác giả đặt ánh sáng vào ngày thứ 1 và mặt trời vào ngày thứ 4. Ông đã muốn có một sự song đối: 3 ngày đầu, đưa ra một số yếu tố của thế giới và 3 ngày tiếp theo, đưa ra các sinh vật làm chủ các yếu tố ấy.
Ngày thứ 1, ta có ngày và đêm; ngày thứ 4, ta có mặt trời (làm chủ ban ngày) và mặt trăng (làm chủ ban đêm).
Ngày thứ 2, ta có bầu trời và nước; ngày thứ 5 song song ta có chim chóc (làm chủ bầu trời) và cá (ở trong nước).
Ngày thứ 3, ta có đất liền và cỏ xanh; ngày thứ 6 ta có thú vật (mà theo người hibá thì chúng phát sinh từ bụi đất) và con người (mà bản văn nhấn mạnh với chúng ta là con người khi ấy, chỉ ăn cây cỏ thôi).
14. Tại sao vậy?
- Rất đơn giản tại vì, một cách hơi ngây ngô, khi ấy người ta tự nhủ rằng vì Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ trong hoà bình và hoà hợp, từ ban đầu, con người và các thú vật đều nhận được cỏ xanh như một phần gia sản chung và chúng đã không xâu xé lẫn nhau.
15. Chương 1 của sách Sáng thế đúng là một bài thơ tuyệt diệu.
- Phải. Và là một bản nhạc nữa. Trước hết, là nhịp điệu của những lời “Thiên Chúa phán...Và điều đó đã xảy ra. Thiên Chúa phán...Và điều đó đã xảy ra”. Đàng khác, những lời này là rất hay, nếu nhìn dưới khía cạnh khái niệm về thần linh. So với khi ta thấy các thần linh Babylon vật lộn với cái hỗn mang nguyên thủy và một số thần linh Ai Cập là những bò cái sinh hạ ra thế giới hoặc họ khạc nhổ ra để làm phát sinh sự sống đầu tiên, thì ta mới thấy rằng khái niệm của Israel vượt lên trên tất cả mọi thần thoại xung quanh do cảm thức của nó về Thiên Chúa.
Rồi còn cái nhịp điệu rất mạnh “Có một buổi chiều, có một buổi sáng, ngày thứ...”. Ta có cảm tưởng đứng trước một chủ đề nhạc giao hưởng. Không kể cái nhịp điệu kín đáo hơn của 3 lời chúc phúc: Thiên Chúa chúc phúc cho sự sống sinh vật, rồi con người, và sau cùng, ngày sabbat.
Việc nhấn mạnh ngày sabbat muốn cho thấy rằng ơn gọi của con người là dâng lên Đấng Tạo Hoá bài ca của toàn thể thọ tạo, và dưới khía cạnh này thì bài hợp xướng kết thúc của bản La Création của Haydn, Singt dem Herren alle Stimmen (Mọi tiếng nói, hãy ngợi ca Thiên Chúa), diễn tả được tinh thần của bản văn Thánh Kinh. Trong vũ trụ, con người là một nhạc trưởng, nó chỉ huy dàn nhạc các thế giới.
16. Con đã nghe cha đọc những câu đầu của Kinh Thánh bằng tiếng hibá. Nghe thì rất hay, nhưng con không hiểu gì cả!
- Dù sao, bạn cũng đã nhận ra được 2 tiếng Tehou và Vohou,( tiếng Pháp là Tohu bohu). “Ban đầu, Thiên Chúa đã tạo dựng trời và đất. Lúc bấy giờ, đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng (Tohu và bohu), bóng tối bao trùm vực thẳm và khí thần Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước”.
17. Các nhạc sĩ và các nhà âm nhạc học đều đồng ý xác nhận rằng phần nhập đề của tác phẩm của Haydn là một tuyệt tác thực sự, rất ấn tượng chủ nghĩa. Bạn có đồng ý như vậy không?
- Có, con hoàn toàn đồng ý; nhưng đây không phải là lãnh vực của con. Điều con có thể nói, đó là cả ở đây nữa, Haydn diễn tả hoàn toàn tinh thần và cả mặt chữ bản văn bởi vì ông trích dẫn nguyên văn. Người ta chỉ có thể tiếc một điều là ông đã không chọn bản dịch của Luther hay hơn bản dịch mà ông có, là bản tiếng Đức dịch từ bản tiếng Anh trong bài Paradise Lost của Milton. Nhưng dù sao, cái ấn tượng do âm nhạc mang lại, thực sự là ấn tượng về cái trống không cụ thể mà Kinh Thánh gợi lên bằng những hình ảnh bóng tối, mặt nước, gió...
18. Thưa cha Martucci, khi nói về những chương đầu của sách Sáng thế, người ta luôn luôn có ấn tượng là có một sự bất đồng giữa khoa học và Kinh Thánh về nguồn gốc loài người. Khoa học xác quyết với chúng ta rằng con người xuất hiện từ những dạng thú trước đó, trong khi Thánh Kinh lại cho rằng con người được Thiên Chúa trực tiếp kéo ra từ đất sét. Có thể nào dung hoà thực sự được không?
- Hoàn toàn được. Khi nói về nguồn gốc thể xác con người, thuyết tiến hoá không hề nói ngược lại Kinh Thánh và Kinh Thánh không cấm thuyết tiến hoá. Người ta ở trên 2 bình diện hoàn toàn khác nhau. Thuyết tiến hoá nói về nguồn gốc thân xác con người và sự lệ thuộc của nó qua hàng ngàn năm với những dạng thú trước đó. Còn Kinh Thánh, đàng khác, bằng một ngôn ngữ thi ca và ẩn dụ, nói về sự lệ thuộc của con người đối với Thiên Chúa. Và Kinh Thánh nói rằng đối với Thiên Chúa, con người giống như là đất sét trong tay người thợ gốm.
19. Như vậy là không nên hiểu theo mặt chữ.
- Không nên. Kể cả cái xương sườn Adam nổi tiếng cũng vậy. Không nên hiểu theo mặt chữ. Nếu Kinh Thánh nói rằng người nữ đã được tạo dựng từ một cái xương sườn của người nam, thì đơn giản chỉ là để nhấn mạnh rằng người nam và người nữ là đồng bản tính, hoàn toàn bình đẳng với nhau và trước mặt Thiên Chúa, là bạn đường bình thường của nhau.
20. A! con cứ tưởng là để nhấn mạnh sự lệ thuộc của người nữ đối với người nam chứ!
- May mắn là ngược lại. Trong ngôn ngữ thi ca của sách Sáng thế 2-3, nếu người nữ phát sinh từ một cái xương sườn của người nam, thì tức là mật thiết với người nam, cùng một bản tính. Chính vì thế mà trong một hình ảnh khác nữa, Adam không gặp được một sự trợ lực nào thích hợp với mình nơi các loài thú đang nhởn nhơ trước mặt ông. Và đó cũng là ý nghĩa của bài ca mừng rỡ mà tác giả gán cho người nam đầu tiên khi nhận ra người nữ đầu tiên: “Người nữ này, đó là xương của xương tôi và thịt của thịt tôi”.
21. Thế còn trái táo mà hình như là căn nguyên của mọi tai hoạ của chúng ta, nó là cái gì vậy?
- Trước hết, bản văn Kinh Thánh tuyệt đối không nói đến trái táo. Truyền thống nói là trái táo phát xuất từ một lối chơi chữ trong tiếng latin, “malum” (trái táo), và “malum” (sự dữ).
Theo bản văn Kinh Thánh, thì Adam và Eva (dĩ nhiên đây là những cái tên sau đó người ta đã gán cho cặp đầu tiên mà người ta cho là nhất định phải là nguồn gốc của nhân loại) ở trong vườn Eden, ăn trái cây biết lành dữ và do đó, thấy mình bị mất đi trái cây sự sống đã được dành cho .
Đây là một loạt biểu tượng. Dân du mục bán hoang địa đã khai sinh ra truyền thống này, họ đã quan niệm hạnh phúc của một nhân loại vô tội, như hạnh phúc có được trong một ốc đảo xanh tốt.
Cây sự sống, đó là biểu tượng của sự bất tử. Đàng khác, không chỉ trong Thánh Kinh, mà trong toàn miền Trung Đông cổ. Còn cây biết lành biết dữ , đó là biểu tượng của uy quyền mà chỉ mình Thiên Chúa có, là ở bên trên cả sự lành và sự dữ, là không bị phải phục tùng một quy tắc luân lý nào ngoài chính mình.
Khi Thánh Kinh nói rằng con người đã muốn ăn trái cây này, là Thánh Kinh muốn xác quyết cách biểu tượng rằng con người đã muốn tách ra khỏi Thiên Chúa, không cần phải lưu tâm đến sự lành và sự dữ nữa.
Một cách cốt yếu, Thánh Kinh xác quyết rằng cái tội là căn nguyên mọi tội khác, cái tội mà người ta gặp lại ở bên dưới mọi tội, đó là sự kiêu ngạo, sự phản loạn chống lại Thiên Chúa. Điều này đã xảy ra một cách cụ thể như thế nào trong lịch sử nhân loại sơ khai? Chúng ta không biết và chắc là chúng ta sẽ không bao giờ biết được.
22. Nói tóm lại, là nhân loại chỉ phạm có một tội: đó là tội không muốn dâng lên Đấng Tạo Hoá cái mà Teilhard de Chardin gọi là “Bài Thánh ca của Vũ trụ”.
- Đúng vậy. Và ở đây bạn nhắc đến tên của một nhà khoa học lớn, đồng thời là một người tin vĩ đại. Nếu người ta muốn lấp đầy tâm trí chung quanh chủ đề sáng tạo, thì không chỉ phải nghe bản Oratorio của Haydn, mà cần phải đọc những trang sách hay nhất của tác phẩm của Teilhard de Chardin và chiêm ngưỡng các bức tranh tường của Michel-Ange ở trong nhà nguyện Sixtine.
Người dịch: Linh mục Phêrô Phan Xuân Thanh
admin
18-01-2010, 03:53 PM
Bài số 3
HẬN THÙ ĐẦU TIÊN CỦA THẾ GIAN
Bản văn : St 4,1-6; 4,23-24; 6,1-4
Âm nhạc : Leonardo Leo, La morte di Abele
23. Thưa cha Martucci, như vậy là hôm nay, nói về cái chết của Abel. Truớc hết, xin cha nói làm thế nào mà truyền thống đã lưu giữ lại được một cách chính xác đến thế, tên của những người đầu tiên : Adam, Eva, Abel, Cain? [/size]-A! nhưng mà nói cho đúng thì những cái tên này không phải do truyền thống lưu giữ; thực ra, chúng đã được truyền thống Israel gán cho những nhân vật mà truyền thống nầy đặt vào lúc khởi đầu nhân loại.
“Adam” là từ gốc tiếng hibá “adama”, có nghĩa là đất, đất trồng trọt, bởi vì theo quan niệm Thánh Kinh, con người trước hết là một người con của đất.
Tên “Eva” có lẽ cổ xưa hơn tiếng hibá; dù sao, bản văn tiếng hibá của Kinh Thánh thấy có một sự chơi chữ giữa Eva và sự sống, và gán tên này cho người nữ đầu tiên được quan niệm như là mẹ của mọi chúng sinh.
“Abel” là một tên hibá: “Ab”, có nghĩa là cha, và “El” chỉ Thiên Chúa ( cũng một căn ngữ đã phát sinh tên “Allah” của người đạo Hồi).
“Cain” cũng là một chơi chữ tiếng hibá : “Qani”, nghĩa là “Tôi đã có được” , và người nữ đầu tiên đã có được một con trai khi sinh ra Cain.
24. Nhưng nếu tất cả những tên này đều là tên hibá và bởi vì tiếng hibá đâu có phải là thứ tiếng được nói từ lúc đầu tiên của vũ trụ, phải chăng nên hiểu rằng những chương sách đầu tiên của Kinh Thánh này đã không có từ những thời cổ xưa nhất của nhân loại?
-Những chương 2-3-4 của Thánh Kinh phát sinh từ cái gọi là truyền thống yavít, đã được viết thành văn vào lối năm 900 trước Chúa giáng sinh, mà dạng thức truyền khẩu của nó phải lên tới thời Môse, lối năm 1250 trước Chúa giáng sinh.
Bạn thấy ngay rằng dù vậy, tất cả các chuyện này cũng xuất hiện rất muộn trong lịch sử nhân loại. Không nên quan niệm những chương đầu tiên của sách Sáng thế như là một trình thuật được truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác từ thời Adam Eva.
25. Phải chăng điều này làm mất đi phần nào uy thế của chúng?
Uy thế của các bản văn này là do sự kiện chúng được linh hứng, nghĩa là qua chúng, Thiên Chúa đã muốn mạc khải chân lý của Ngài cho con người. Dưới cái nhìn đức tin, chúng là Lời Thiên Chúa. Dưới cái nhìn lịch sử, chúng cho thấy suy tư của một tác giả, của một nhà tư tưởng, về ý nghĩa của cuộc sống con người và huyền nhiệm sự dữ và sự đau khổ trong thế gian.
26. Nhưng thế thì câu chuyện Cain và Abel phải chăng đơn giản chỉ là bịa đặt để làm điểm tựa cho một giáo huấn?
Vào thời người hibá, có một bộ lạc hiếu chiến, rất dã man và độc ác, là bộ lạc người Qênít. Người ta nói rằng ông tổ của bộ lạc là một ông Cain nào đó. Bạn thấy ngay sự liên quan giữa Cain và Qênít về mặt ngữ học chứ. Người ta kể rằng ông Cain này đã không ngần ngại giết em mình. Như vậy, cái nền lịch sử của câu chuyện là sự dã man và độc ác của một bộ lạc.
27.Vậy thì Cain và Abel không nhất thiết là những đứa con đầu tiên của cặp đầu tiên?
Bạn có lý. Và điều này hiện rõ trong trình thuật.
28. Bằng cách nào?
Chỉ cần đọc trình thuật cách chăm chú thì nhận ra được nhiều chổ sai niên đại. Tôi vừa chỉ cho các bạn các tên tiếng hibá đó, chúng không thể xuất hiện ngay từ buổi đầu nhân loại. Nhưng còn nhiều chuyện hơn thế nữa. Trong bản văn Thánh Kinh, người ta nói Abel là người chăn súc vật; nhưng việc chăn nuôi lại xuất hiện rất muộn trong lịch sử nhân loại. Người ta nói Cain làm nghề trồng trọt, nhưng phải nhớ nghề nông là phát minh của một nhân loại rất phát triển rồi.
Hơn nữa, bản văn Thánh Kinh rõ ràng giả thiết mặt đất đã thực sự đông người vào thời 2 nhân vật mà Kinh Thánh gọi tên là Cain và Abel; thí dụ Cain lo sợ người đầu tiên mình gặp sẽ báo thù cái chết của Abel, như vậy là đã có những người khác để có thể báo thù cho Abel và đã có một thứ gọi là “vendetta” (nợ máu) mà các gia tộc và bộ lạc có thể thi hành. Rồi người ta nói Henok, con của Cain, làm nghề xây dựng thành phố, nhưng xây cho ai, nếu chỉ có 4,5 cá thể trên mặt địa cầu lúc ấy! Cái mà người ta gọi là “dấu hiệu Cain” cũng cho chúng ta thấy môi trường ông ấy sống thì đông người và có tổ chức nữa.
29. Đúng vậy, con đã có ý định hỏi cha cái dấu hiệu Cain ấy, có nghĩa là gì. Con nghĩ đó là một sự trừng phạt.
Không phải; trái lại, đó là một sự bảo vệ. Trong miền Trung Đông cổ xưa, và ngay cả ngày nay, nơi một số dân Arập, các thành viên của một bộ lạc đều in trên thân thể, trên trán chẳng hạn, một dấu hiệu cho biết họ thuộc về bộ lạc ấy. Đó là cái người ta gọi là “washm”. Khi nhìn thấy dấu hiệu này nơi một người, thì phải tự nhủ rằng toàn thể bộ lạc ở đàng sau nó; nếu tôi đối xử tốt với nó, người ta sẽ tốt lại với tôi; nếu tôi tấn công nó, người ta sẽ báo thù cho nó. Chính vì thế mà bản văn Thánh Kinh nói : “Chúa đặt một dấu trên Cain để người đầu tiên gặp nó thì đừng giết nó”.
30. Nhưng nếu các nhân vật Cain và Abel xuất hiện muộn sau này và nếu cái bộ lạc mà cha nói đó, không có vào buổi đầu nhân loại, tại sao Thánh Kinh đã đặt tất cả các chuyện ấy ngay tức thì sau trình thuật về sự sa ngã nguyên thuỷ?
Bạn đang chạm đến điểm mấu chốt của vấn đề, và nếu không hiểu điều này thì tất cả những gì tôi vừa nói có thể có vẻ hoàn toàn tiêu cực và phê bình chỉ trích theo nghĩa xấu thôi.
Mục đích những chương đầu tiên của sách Sáng thế không phải là kể cho chúng ta nghe một chuyện gia đình nào đó, mà muốn làm chúng ta suy nghĩ về những vấn đề lớn của con người. Trình thuật về sự sa ngã nguyên thủy cho thấy rằng sai lầm đầu tiên của con người là muốn bỏ qua, không cần Thiên Chúa. Trình thuật về Cain và Abel muốn cho thấy những hậu quả của sự đoạn tuyệt với Thiên Chúa nơi con người.
Sự phản loạn của con người chống lại Thiên Chúa dẫn tới sự đấu tranh của con người chống lại con người. Không có tội lỗi, thì có sợi dây thẳng đứng nối kết con người với Thiên Chúa và sợi dây nằm ngang nối kết mọi người lại với nhau.
Cắt đứt mối dây thẳng đứng, đó là đồng thời cùng lúc cắt đứt mối dây nằm ngang. Như vậy, người ta thấy rằng khi đưa lên lúc khởi đầu nhân loại, câu chuyện về Cain và Abel, Kinh Thánh đem lại cho câu chuyện những chiều kích mới mẻ. Và những chiều kích này còn mang tính lịch sử một cách sâu xa hơn là nếu câu chuyện tương ứng trong mọi chi tiết nhỏ nhặt nhất với một cảnh vào lúc khởi đầu nhân loại. Điều đáng tiếc là không có gì mang tính lịch sử hơn là sự hận thù của con người với nhau, sự ghen tỵ, sự báo thù, chiến tranh.
31. Có thể nói được, chăng trình thuật về sự sa ngã nguyên thuỷ đối với trình thuật chuyện Cain và Abel thì cũng như điều luật kính mến Chúa đối với giới răn yêu thương người ?
Rất chính xác. Chắc chắn ở đây, tác giả Kinh Thánh muốn nói với chúng ta rằng nếu con người đoạn tuyệt với Thiên Chúa thì chính nhân loại bị tan rã. Và có một chuyện đáng lưu ý, đó là người soạn thảo cuối cùng những chương 1 đến 11 của sách Sáng thế chứng tỏ cho ta thấy sự hư hoại từ từ của các tương giao giữa con người, sự tiến triển của sự dữ trong thế gian.
Ông đã bắt đầu làm cho chúng ta thấy điều này trong trình thuật về sự sa ngã nguyên thuỷ. Trước tội, người nam và người nữ yêu thương nhau và tin tưởng nhau. Sau tội, Adam bắt đầu tố cáo Eva và cả 2 người đều che sự trần truồng của mình vì họ sợ nhau. Chính vì vậy mà sự trần truồng được nói đến. Tội nguyên thuỷ không phải là một tội tính dục. Người ta hoàn toàn không biết được cụ thể đó là gì. Đơn giản, người ta chỉ biết rằng con người thì yếu đuối và tội lỗi từ bao giờ rồi, và chính vì vậy mà những tương quan giữa con người đều bị sai lệch hết.
Sau khi cho chúng ta thấy Adam và Eva ngờ vực lẫn nhau, người soạn thảo Thánh Kinh cho ta thấy một người đi đến độ giết chết một người khác. Đoạn sau nữa, ông sẽ trình bày Lamek nói rằng: “Cain được báo thù 7 lần, còn Lamek 77 lần”. Hận thù của con người đối với con người chỉ có ngày càng tăng mà thôi. Và để cho ta thấy rõ sự tiến triển này của sự dữ và những hậu quả của nó, Kinh Thánh nói với chúng ta, dĩ nhiên một cách rất biểu tượng, rằng, nếu như những con người đầu tiên đã sống lâu hàng trăm năm (ví dụ ông Mathusalem), thì loài người đã bắt đầu sống mỗi lúc một chút, càng ít thọ hơn.
32. Đó là dấu hiệu của một sự dữ tiệm tiến.
Đúng vậy. Và đến một lúc, sự dữ sẽ đạt tới những tầm vóc vũ trụ. Để nói điều này, Thánh Kinh sử dụng một truyền thuyết của thời đó, kể rằng vào những thời xa xưa, các con trai của Thần linh đã kết hợp với các con gái của loài người để sinh con cái cho mình. Đàng khác, tầm vóc vũ trụ này của sự dữ là một trong các chủ đề được ưa chuộng của Thánh Kinh. Toàn thể vũ trụ đắm chìm trong tai hoạ cùng với con người.
Thánh Kinh trình bày Thiên Chúa nói, ngay sau sự sa ngã nguyên thuỷ, khi Ngài nói với Adam: “Khốn cho đất bởi vì ngươi”. Tôi cho là rất đẹp và rất thánh kinh, cái sự kiện là Metastase trong bài thơ của ông và Leonardo Leo trong bản nhạc của mình, đã liên kết toàn thể thụ tạo vào thảm kịch Cain giết Abel. Eva nói: “Hỡi đất, hãy rúng động cả khối lượng! Hỡi mặt trời, hãy mờ ánh quang đi! Hỡi trời, hãy run rẫy vì ghê tởm!”
33. Và còn lụt hồng thuỷ, phải chăng nó cũng cho thấy những tầm vóc vũ trụ của sự dữ nữa?
Ô! Lụt hồng thủy ư, chúng ta sẽ nói lần sau. Nhưng người ta có thể nói ngay được rằng trình thuật Thánh Kinh không hề có ý xem nó là một hình phạt. Trong lụt hồng thuỷ, nhân loại đã được làm mới lại; giống như thể nó bắt đầu lại từ số không với ông Noê; trong lụt hồng thuỷ, toàn thể vũ trụ đã được cứu thoát, bởi vì tất cả các loài thú đều được lên tàu.
Trình thuật Thánh Kinh về lụt hồng thủy, với tất cả các biểu tượng của nó, trước hết là một sứ điệp hy vọng. Con người đã tự tách ra khỏi Thiên Chúa và con người tranh đấu chống lại con người, nhưng Thiên Chúa đã quyết định cứu thoát tất cả mọi người và toàn thể vũ trụ cùng với con người.
34. Con nhận thấy rằng chúng ta đã chỉ muốn nói về Cain và Abel mà thôi, thế nhưng chúng ta đã phải nói về toàn bộ 11 chương đầu của sách Sáng thế, từ việc tạo dựng cho đến lụt hồng thuỷ, có nhắc đến ông Lamek và ông Mathusalem...
Điều này là hoàn toàn bình thường. 11 chương này là một khối thống nhất. Và chúng tạo nên như một bản nhạc dạo đầu dẫn vào lịch sử nhân loại. Người ta có thể nói nó như nhạc khúc mở đầu theo kiểu Wagner : trong đó đã có tất cả những chủ đề của lịch sử về sau : con người và thế giới phát sinh từ Thiên Chúa, Ngài đã muốn tất cả đều tốt đẹp; cái sai lầm, đó là phủ nhận sự lệ thuộc này; sự chối bỏ kiêu căng này kéo theo sự hận thù giữa con người và sự hư hoại của vũ trụ; nhưng Thiên Chúa không bỏ rơi những gì Ngài đã tạo dựng với tình thương; Ngài sẽ cứu thoát tất cả mọi người và toàn thể thọ tạo. Đọc Sáng thế 1-11 là gần như đã đọc tất cả Thánh Kinh, như thể nghe khúc mở đầu của Wagner là như đã nghe cả nhạc kịch rồi.
35. Nhưng vỡ nhạc kịch ấy, cái lịch sử thế giới ấy, ngày hôm nay vẫn còn tiếp diễn, còn câu chuyện Cain và Abel thì đã xa rồi.
Thế nhưng thơ của Metastase thì nói ngược lại và nhạc của Leo càng nhấn mạnh hơn nữa: “Ognuno di noi abborisce Caino...e in se non vede. Mỗi người chúng ta đều chán ghét Cain, nhưng lại không thấy ông ấy trong chính mình”. Tôi nghĩ rằng đoạn kết của bài La Morte di Abele (Cái chết của Aben) hoàn toàn diễn tả được tinh thần trong đó những chương đầu của sách Sáng thế đã được viết. Chúng không phải là tác phẩm của một sử gia thành thạo các phương pháp phê bình, chúng không phải là một thiên phóng sự, hay một bản báo cáo; chúng là một suy nghĩ và là một mời gọi suy nghĩ.
Người dịch: Linh mục Phêrô Phan Xuân Thanh
admin
18-01-2010, 03:56 PM
Bài số 4
MỘT KHỞI HÀNH MỚI CỦA THẾ GIỚI
- Bản văn : St 6,5-9,17; Isaia 54,9-10; Thiên hùng ca Gilgamesh ; thư Roma 8,18-25
- Âm nhạc : Benjamin Britten, Noye’s Fludde
+++++++++
36a. “Thiên Chúa phán với Noe : Giờ khánh tận của mọi xác phàm đã đến, bởi chưng vì cớ con người, đất đã đầy dẫy những độc ác...Phần Ta, này Ta cho hồng thuỷ đến trên cõi đất mà huỷ hoại mọi xác thịt có sinh khí dưới gầm trời. Mọi sự trên đất sẽ biến thành thây ma. Nhưng với ngươi Ta lập giao ước của Ta. Và ngươi sẽ vào tàu, ngươi và con cái ngươi, vợ ngươi và vợ con cái ngươi làm một với ngươi. Trong mọi sinh vật, mọi xác thịt, ngươi sẽ đem vào tàu mỗi loại 2 con, để độ sinh cho chúng làm một với ngươi”.
Đoạn sách Sáng thế chương 6 này gợi lên một chủ đề Thánh Kinh, chủ đề lụt hồng thuỷ, đã gợi hứng cho nhiềâu bậc thầy âm nhạc, như Benjamin Britten chẳng hạn mà chúng ta sẽ nghe vài trích đoạn của nhạc phẩm Noye’s Fludde...
36b. Nhưng, thưa cha, tại sao Kinh Thánh nói với chúng ta về lụt hồng thuỷ?
Nếu Kinh Thánh nói với chúng ta về lụt hồng thuỷ thì chắc chắn là không phải để dạy địa chất học, khảo cổ học hay cổ sinh vật học. Mục đích của các tác giả Thánh Kinh là hoàn toàn tôn giáo và không nên tìm ở chổ khác ý nghĩa, chân lý của các bản văn của họ.
Trong một bản văn được soạn ra lối năm 500 trước Chúa giáng sinh, sách Isaia đã để Chúa nói những lời sau đây : “ Đối với Ta, điều cũng ví được như ngày Noe, khi Ta thề là nước lụt Noe sẽ không bao giờ còn tràn lên đất, cũng vậy Ta thề sẽ không còn nổi giận hay mạt sát ngươi. Vì núi non có thể đổi dời, gò nỗng có thể xê đi, còn tình nhân nghĩa Ta với ngươi sẽ không đổi dời, và hoà ước của Ta sẽ không hề xê dịch, Yavê Đấng chạnh thương ngươi đã phán”.
Các trình thuật Kinh Thánh về lụt hồng thuỷ đã được cố ý kể lại để nhấn mạnh giao ước của Thiên Chúa với con người và ý muốn của Chúa cứu thoát toàn thể nhân loại và cả toàn thể vũ trụ nữa.
37. Tại sao cha nói “các” trình thuật Kinh Thánh về lụt hồng thuỷ? Con nghĩ là chỉ có một thôi chứ?
Phải rồi, nhìn bên ngoài thì chỉ có một. Nhưng khi khoa phê bình văn chương phân tích kỷ sách Sáng thế 6,5 đến 9,17 thì phải chấp nhận một kết luận : trong đó có 2 trình thuật đan chéo nhau và bắt nguồn từ 2 truyền thống khác nhau.
38. Có phải đó là những truyền thống mà người ta nói đến trong lịch sử soạn thảo bởi sách Ngũ Kinh không?
Phải. 5 cuốn sách đầu của bộ Thánh Kinh, hay còn gọi là Ngũ Kinh , đã không được viết ra một cách trực tiếp và hoàn toàn do chính bàn tay của Mosê vào thế kỷ 13 trước Chúa giáng sinh. Vào thời xuất Ai-cập, nhân vật Mosê đã đào luyện nên tâm hồn Israel và ngay từ thời đó, dân tộc hibá đã bắt đầu suy nghĩ sâu xa về lịch sử của mình và về ý nghĩa của cuộc đời.
Theo bước Mosê, các truyền thống đã thành hình, trong một thời gian lâu dài là những truyền thống truyền khẩu, rồi được làm phong phú thêm qua các thế kỷ và mãi về sau này mới được viết ra thành văn.
39. Cha đã nói cho chúng con về truyền thống Yavit khi nói về sự sa ngã nguyên thuỷ và về truyền thống...tư tế, con nghĩ vâïy, khi nói về trình thuật tạo dựng.
Đúng rồi. Truyền thống Yavit thì bình dân, thú vị, ngây ngô ( tôi muốn nói ngây ngô trong những cách diễn tả chứ không hề ngây ngô trong tư tưởng rất cao của nó), nó thích nói về Thiên Chúa bằng cách dùng những hình ảnh sống động, đầy màu sắc. Nó đã được viết ra thành văn lối thế kỷ 10 trước Chúa giáng sinh.
Trái lại, truyền thống tư tế thì hơi bác học, khá lạnh lùng và nghiêm khắc, rất gắn bó với các nghi thức, các lễ hiến sinh, phụng vụ, các gia phả, các thước tấc và niên biểu mà nó muốn luôn luôn phải chính xác. Nó đã được viết ra thành văn lối thế kỷ 6 trước Chúa giáng sinh, vào thời tái thiết Đền thờ Yerusalem.
Cũng có truyền thống Elohit ( trong những chương đầu của sách Thánh Kinh, nó gọi Thiên Chúa là “Elohim” và chỉ gọi là “Yavê” với trình thuật về ơn gọi của Mosê, trái ngược với truyền thống Yavit), và truyền thống Elohit này thì bận tâm giữ những khoảng cách phải có giữa Thiên Chúa và con người; chính nó nói về sấm, chớp, động đất hay những giấc mơ huyền bí khi Thiên Chúa tỏ mình ra; và chính nó đã cấm trình bày thần linh bằng những hình tượng điêu khăùc vì lý do nguy cơ thờ ngẫu tượng tiềm ẩn đàng sau. Nó đã được viết ra thành văn sau truyền thống Yavit một chút, vào khoảng thế kỷ 9.
3 truyền thống này (Yavit, Elohit và tư tế) cùng gặp nhau, chồng lên nhau, đan vào nhau trong các sách Sáng thế, Xuất hành và Dân số. Sách Lêvi thì hoàn toàn là truyền thống tư tế.
Còn sách Thứ Luật thì thuộc một truyền thống khác có văn phong làm xiêu lòng và nồng nàn, rất trực tiếp, rất riêng tư, gắn bó nhất với những giá trị nội tâm, rất gần với ngôn ngữ kitô giáo và tư tưởng của Tân Ước. “ Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng , hết sức, hết khả năng của ngươi”. Đó là truyền thống thứ luật được viết ra thành văn ít lâu trước truyền thống tư tế, lối thế kỷ 7 trước Chúa giáng sinh.
4 truyền thống này được ví như 4 sợi chỉ màu khác nhau, qua hàng thế kỷ đã dệt nên tấm thảm màu tuyệt vời là bộ Ngũ Kinh.
40. Và khi cha nói những trình thuật Thánh Kinh về lụt hồng thủy, đó là vì mỗi truyền thống đều có trình thuật riêng.
Không, không phải. Như tôi vừa nói ở trên, chỉ có 2 truyền thống có trình thuật thôi : truyền thống Yavit và truyền thống tư tế. Và 2 truyền thống này bị trộn lẫn vào nhau trong những chương sách Sáng thế nói về lụt hồng thủy. Bởi vì là bình dân và ngây ngô, truyền thống Yavit nói rằng : “ Thiên Chúa buồn trong lòng “ ( như một con người), Ngài tự mình đi “đóng cửa tàu lại cho Noe “; Ngài “ hít mùi thơm dễ chịu “ của lễ vật của Noe và bởi vì nó mang tính đồng quê dân dã nên nó nói rằng ông Noe ném ra từ cửa sổ con tàu một con quạ và một con chim bồ câu, con chim câu bay về mỏ ngậm một nhánh ôliu và truyền thống kết thúc trình thuật với một lời hứa đẹp : “ Bao lâu đất được còn ngày, tất sẽ không ngơi gieo gặt, lạnh nóng, hạ đông, đêm ngày”.
41. Quả là rất đẹp, rất thơ, gần như là lãng mạn.
Phải, nhưng bạn sẽ thấy truyền thống tư tế lại cho một ấn tượng khác. Trước tiên, ngay mỗi khi nói đến tên ông Noe, nó không cưỡng lại được cám dỗ đưa ra một bảng gia phả : “ Noe sinh 3 người con là Sem, Cham và Japhét “. Còn về mô tả lụt hồng thủy thì nó hơi khô khan...
42. Đã nói là lụt hồng thủy mà còn có gì khô khan được...
Rồi bạn sẽ thấy sự khô khan của truyền thống tư tế không dừng ở đó đâu. Khi nói đến “ con tàu” thì ngay tức khắc nó đưa ra những kích thước chính xác : dài 300 thước tay, rộng 50, cao 30; khá là khó tin đàng khác, bởi vì với những kích thước như vậy thì đó là một cái hộp sẽ chìm lỉm ngay.
Khi nói “lụt hồng thuỷ”, nó cũng không cưỡng lại được cám dỗ đưa ra một niên biểu : “ Năm 600 đời Noe, tháng 2 ngày 17 trong tháng, trong ngày ấy“, và ở đây thay vì nói cho chúng ta cách đơn giản như mọi người nói rằng trời bắt đầu mưa xuống, thì nó nói với một vẻ bác học “ hết các mạch nước của uông mang vĩ đại bật tung và các cửa tò vò tầng trời toang mở”.
Khi Noe ra khỏi tàu, ông nhận ngay được một điều răn, vì truyền thống tư tế lưu tâm đến Lề luật. : “ Các người không được ăn thịt thú vật với máu huyết nó “. Sau cùng nó kết thúc trình thuật bằng một gợi nhớ đến giao ước vì những bận tâm thần học và phụng vụ của nó.
43. Làm sao người ta có thể tháo gỡ và phân biệt được 2 truyền thống này và ngay cả 4 truyền thống ở trong bộ Ngũ Thư được?
Đây là một công việc khá vất vả được Jean Astruc khởi đầu vào thế kỷ 18 ( ông là y sĩ của vua Louis XV ), và được Wellhausen nhà chú giải vĩ đại người Đức đầu thế kỷ 20 hiệu chính những gì cốt yếu. Ngày nay sự phân biệt này thường được tất cả các nhà chuyên môn chấp nhận và nó đặc biệt rất hữu ích để hiểu các trình thuật Thánh Kinh về lụt hồng thủy.
44. Cha có nói là các trình thuật “Thánh Kinh” về lụt hồng thủy. Phải chăng có những trình thuật “ ngoài Thánh Kinh” về lụt hồng thủy ?
Có mà. Có nhiều nữa. Trình thuật quan trọng nhất, và cũng hấp dẫn nhất khi cần có những đối chiếu với Kinh Thánh, thì có trong cái người ta gọi là Sử Thi Gilgamesh. Hùng ca Gilgamesh này được tìm ra vào năm 1875 trong những đổ nát của thành Ninive mà người ta đã mất mọi dấu tích từ năm 612 trước Chúa giáng sinh.
Các nhà khảo cổ đã đào ra được thư viện của vua Assurbanipal, một trong các vua cuối cùng của Ninive, vào thế kỷ 7 trước Chúa giáng sinh. Vua này đã cho khắc trên những tấm đất sét ( người ta đã tìm được 20.000 tấm như vậy) tất cả những gì đáng giá nhất trong nền văn chương chữ viết hoặc truyền khẩu thời đó. Hùng ca Gilgamesh (12 tấm đất sét) thì cổ xưa hơn nhà vua Assurbanipal rất nhiều, nhưng người ta không thể đưa ra một niên biểu chính xác về thời gian nó được viết thành văn, càng không thể về thời gian nó được sáng tác ( năm 2000-3000 trước Chúa giáng sinh?).
Giữa trình thuật của hùng ca Gilgamesh và các trình thuật Thánh Kinh về lụt hồng thủy, nhất là trình thuật yavit, những tương đồng thực sự là đáng kinh ngạc. Cách cấu tạo hoàn toàn là một. Gilgamesh, rụng rời vì cái chết của người bạn tốt nhất, ra đi găïp ông nội là Ut-Napishtim là người mà người ta nói là đã tìm ra được bí mật của sự bất tử. Lúc bấy giờ Ut-Napishtim, tóm lại là như ông Noe của trình thuật ngoài Thánh kinh này, mới kể lại cuộc phiêu lưu của mình. ...
45 .”Lòng các thần khiến họ ( ngày kia) làm một trận lụt hồng thuỷ. (Nhưng một thần đến kêu lên trước nhà của ta rằng) :” Ngươi hãy làm một con tàu, hãy từ bỏ của cải, hãy tìm sự sống!Hãy đem lên tàu hạt giống của mọi sự sống”.
Còn ta, thì ta đã hiểu và đã nói với vị thần :”Lạy ngài, điều mà ngài đã dạy dó, thì tôi rất coi trọng và tôi sẽ làm đúng như vậy”. Vào ngày thứ 7, con tàu được hoàn thành. Bề mặt của nó là 1 iku, các thành tàu cao 120 thước tay và mỗi cạnh mái vuông đo được 120 thước tay. Ta đưa lên tàu mọi hạt giống của sự sống, toàn thể gia đình và thân thuộc của ta. Thú vật ngoài đồng, thú hoang, thợ thủ công, ta đưa tất cả lên tàu.
Khi nhìn ngày, ta phát sợ. Ta vào tàu và đóng cửa lại. Bấy giờ các thần mới khiếp sợ lụt hồng thuỷ và chạy trốn; họ ngồi xổm trên mặt đất và bắt đầu tru lên như loài chó.6 ngày và 6 đêm gió nổi lên; lụt tiến tới và bão quét xứ sở. Vào ngày thứ 7, lụt ngưng. Ta nhìn mặt biển: mọi tiếng động đã lặng, nhưng nhân loại thì đã biến thành bùn. 7 ngày, núi Nizir giữ con tàu lại.
Vào ngày thứ 7, ta bắt một con chim câu và thả nó ra. Chim câu bay đi rồi trở về. Ta bắt một con én và thả nó ra. Con én bay đi rồi trở về. Ta bắt một con quạ và thả nó ra. Con quạ bay đi và không trở về bởi vì nó đã thấy đất khô. Bấy giờ ta ra khỏi tàu và dâng một hy lễ. Các thần đánh hơi được hương thơm của lễ vật, các thần như đàn ruồi bu lại trên lễ vật. Rồi thần Enlil đến với ta, ngài bảo vợ ta quỳ bên cạnh ta và ngài chúc phúc cho chúng ta”.
Chính lúc bấy giờ Ut-Napishtim chỉ cho Gilgamesh nơi có cây sự sống sẽ cho chàng sự bất tử. Gilgamesh đi lấy được và trở về nhà. Nhưng trên đường về, một con rắn trộm mất cây và chính từ lúc này nhân loại đã mất mọi hy vọng bất tử.
Bạn thấy là những tương đồng với Thánh Kinh thì không thiếu. Nhưng cũng có những khác biệt đáng kể. Trước hết Kinh Thánh thì độc thần: đối với nó các thần không bu lại như ruồi trên lễ vật, chỉ có một Thiên Chúa. Hơn nữa Thiên Chúa độc nhất này không bị phân chia chống lại chính mình : chính cũng một Thiên Chúa duy nhất vừa làm ngập lụt địa cầu vừa cứu thoát Noe. Và vị Thiên Chúa này không làm lụt hồng thủy do tính khí thất thường như các thần babylon.
Sau cùng, trình thuật Thánh Kinh, với ý tưởng giao ước giữa Thiên Chúa và loài người, kết thúc bằng một lời hứa và hy vọng mà hùng ca Gilgamesh cũng không ngờ được. Các điểm gặp gở của Thánh Kinh với bản văn ngoài Thánh Kinh được giới hạn ở bình diện các hình ảnh và cơ cấu của trình thuật : làm một con tàu, đưa lên tàu các thú vật và con người, nước dâng lên, nước hạ xuống, dừng lại trên ngọn núi cao ( núi Nizir của Thiên hùng ca và núi Ararat của Thánh Kinh đều nằm trong cùng một miền thuộc Thổ Nhỉ Kỳ ngày nay), thả các con chim, dâng lễ vật hiến tế.
46. Như vậy có thể nói là trình thuật ngoài Thánh Kinh có một ảnh hưởng văn chương trên trình thuật Thánh Kinh không?
Giả thiết này đã được nghiên cứu và loại bỏ. Cả giả thiết ngược lại cũng vậy. Trình thuật Thánh Kinh và hùng ca Gilgamesh hình như không ảnh hưởng lẫn nhau. Đúng hơn cả 2 lên đến một nguồn chung mà mỗi bên sử dụng ngôn từ, các chi tiết và hình ảnh theo cách của mình.
47. Thế nguồn chung đó là gì?
Đó là ký ức dân gian về những trận lụt tàn phá khủng khiếp vào một thời kỳ rất xa xưa hẳn đã bao phủ khắp miền sông Tigre và sông Euphrate ở Mesopotamia.
48. Như vậy lụt hồng thủy không phải là khắp địa cầu?
Không phải. Đúng hơn, chính truyền thống đã phóng đại các trận lụt này ra tầm vóc của một thảm hoạ toàn cầu. Hãy hiểu là truyền thống cổ xưa, chứ không phải truyền thống hôm nay.
49. Và những trận lụt đó là nền tảng lịch sử của tất cả các trình thuật về lụt hồng thủy.
Đúng. Còn trình thuật Thánh Kinh thì đã sử dụng nền tảng lịch sử này và truyền thống mà nó khai sinh để loan báo ngay từ những trang đầu tiên của sách Sáng thế, ý Thiên Chúa muốn thiết lập hoà bình trong vũ trụ.
50. Chính điều này mà chi tiết cái cầu vồng muốn ám chỉ.
Phải. Đối với người Hibá, Thiên Chúa là một chiến binh. Nhưng một ngày kia ngài đã quyết định đặt chiếc cung trận xuống trên mây trời và làm cho hoà bình ngự trị giữa ngài và con người. Và chính điều này mà cây-cung-giữa-trời (cầu vồng) nhắc nhở cho chúng ta. Với tội, vũ trụ đã bước vào một thời kỳ chiến tranh : chiến tranh của con người chống lại Thiên Chúa, mà cũng chiến tranh của con người chống lại con người như chúng ta đã thấy với câu chuyện Cain và Abel. Kinh Thánh quả quyết rằng Thiên Chúa muốn tái- tạo thế giới và tái- tạo nó trong hoà bình.
51. Từ quan điểm này, như vậy Noe đã được Kinh Thánh quan niệm như là một Adam mới!
Phải rồi. Nhưng không nên vì thế mà nghĩ rằng Kinh Thánh dạy là toàn thể nhân loại hiện nay đều phát sinh từ Noe, người sống sót duy nhất cùng với gia đình sau lụt hồng thuỷ. Sự tồn tại lịch sử của Noe cũng không phải là cần thiết cho sứ điệp của trình thuật về lụt hồng thuỷ trong Kinh Thánh. Nó hứa một sự tái- sinh của nhân loại. Noe mời gọi Đức Kitô hơn là nhắc nhở Adam, phải không bạn? Ơng là một hình tượng.
52. Như vậy thật là vô ích khi muốn tìm kiếm xác con tàu Noe trong vùng núi Thổ Nhĩ Kỳ?
Ồ, có nhiều người đi tìm và họ tìm được xác tàu này theo định kỳ. Nhưng tôi thì vẫn cho rằng họ là những nhà leo núi tài giỏi hơn là những nhà chú giải Thánh Kinh! Trình thuật Thánh Kinh về lụt hồng thuỷ trước hết là một sứ diệp hy vọng cho con người.
53. Và cho cả loài vật nữa!
A phải! Người ta cứ nhìn thấy rất là khôi hài cái cảnh các con thú đang lên tàu Noe; đây là cảnh mà người ta nhớ nhất trong trình thuật đó. Dino de Laurentiis trong siêu phim La Bibbia của ông đã dừng lại rất lâu ở cảnh này mà không thành công trao được cho chúng ta cái sứ điệp Thánh Kinh của nó.
54. Sứ điệp nào vậy theo cha?
Là không phải chỉ con người mới được cứu thoát mà cả thiên nhiên nữa. Thường chúng ta hay bỏ qua các chiều kích vũ trụ của ơn cứu độ..
Còn Kinh Thánh thì không bao giờ quên chúng. “ Tạo thành- thánh Phaolô viết- những ngong ngóng trông đợi thấy con cái Thiên Chúa được hiển dương...với hy vọng là chính tạo thành cũng sẽ được tự do khỏi cảnh làm tôi mục nát mà vào địa vị tự do trong vinh quang thuộc hàng con cái Thiên Chúa...vì tất cả tạo thành cùng nhau rên siết, cùng nhau quằn quại ở cử cho đến bây giờ”. Teilhard de Chardin dã làm sống lại cái viễn cảnh này của Thánh Kinh và của Phaolô.
Và tôi thấy là rất may mắn khi trong âm nhạc Benjamin Britten đã nhấn mạnh cái ơn gọi ca ngợi này, ngay cả của vũ trụ cầm thú và vật chất. Trong bản nhạc, tất cả các con thú đều hát mỗi con theo cách của mình Kinh Xin Chúa thương xót (Kyrie Eleison) để rồi cuối cùng Kinh này biến thành một phác hoạ âm nhạc bình ca (gregorien). Sự biến hoá này diễn tả bằng lời âm nhạc sự biến hoá mà toàn thể vũ trụ được mời gọi tới và trình thuật Thánh Kinh về lụt hồng thủy đã hứa.
Người dịch: Linh mục Phêrô Phan Xuân Thanh
admin
18-01-2010, 04:03 PM
Bài số 5
THIÊN CHÚA CỦA ABRAHAM, CỦA ISAAC VÀ CỦA YACOB
+++
- Bản văn : St 11,1-9; 11,27-32,20 ; 22,1-19 ; 16,1-2 ;
Malakia 3,20 ; St 24,1-67 ; 28,10-19 ; 32,23-33 ; 39,1-6 ; 50,15-26.
- Âm nhạc : Cesar Franck , Rebecca
++++++++++++++++
55. Thưa cha Martucci, nhiều người đã viết thư hoặc điện thoại cho chúng con để hỏi thêm một số chi tiết về cha. Xin cha gồng mình mà nói về cha một chút.
- Tôi sẳn sàng, với điều kiện là điều này không ngăn cản chúng ta nói về Cuốn sách tuyệt vời nhất. Chính nó mới là linh hồn của giờ học này.
56. Cha dạy học ở đâu?
- Ở phân khoa thần học của Đại Học Montréal, phân ban nghiên cứu Thánh Kinh.
57. Và cha đã học ở Roma và ở Jerusalem để lấy bằng cử nhân khoa Thánh Kinh, sau khi đã có cử nhân thần học ở Montréal.
- Đúng là như vậy.
58. Và con nghĩ là cha nói được nhiều thứ tiếng phải không?
- Điều này là hoàn toàn bình thường đối với một ngưòi chuyên về Thánh Kinh. Cần phải học tiếng hibá và tiếng aram cho phần Cựu ước và biết tiếng hylạp cho một phần Cựu ước và toàn bộ Tân ước. Và vì tiếng Đức là một ngôn ngữ khoa học trong lãnh vực đông phương học, Trường Kinh Thánh ở Roma đòi buộc chúng tôi phải biết. Bởi vì gốc Ý, nên tôi nói tiếng Ý...rồi tiếng Tây Ban Nha là một tiếng bà con gần với tiếng Ý. Hồi thanh niên, tôi luôn nghĩ hè ở Hoa Kỳ, nên tôi nói tiếng Anh. Và vì tôi là linh mục, tôi không thể thiếu tiếng latin.
59. Rồi vì là người sinh ra tại Québec, cha cũng nói tiếng Pháp phải không?
- Tôi hy vọng đúng là như vậy. Tôi thường nói rằng bố tôi đã chọn đúng thứ tiếng nói khi đến Montréal...
60. Dù sao, những giải thích của cha về Thánh Kinh thì không phải là bằng tiếng Hoa bởi vì các thính giả đều cho là rõ ràng. Một bà lớn tuổi dễ thương đã gọi diện cho chúng con ngày hôm kia và nói : “Tôi đã 84 tuổi rồi và tôi đã phải chờ từng ấy thời gian trước khi có được một lời giải thích tốt về Kinh Thánh như vậy. Đáng lẽ người ta phải làm sớm hơn chứ? “. Cha nghĩ thế nào?
- Việc tiếp cận có phê bình các bản văn Thánh Kinh đã bắt đầu vào thời Phục Hưng, như vậy là thế kỷ 16; nhưng chỉ với những khám phá lớn về khảo cổ cuối thế kỷ vừa qua, thì việc tiếp cận này mới có được những bước tiến kỳ diệu.
Ban đầu, Giáo Hội Công Giáo đã tỏ ra hơi dè dặt bởi vì đã có nhiều chủ nghĩa duy lý trong đó, nhưng sau một thời gian, rốt cuộc thì người ta cũng hiểu rằng nghiên cứu ngôn ngữ nhân loại của Kinh Thánh, với những sắc thái đậm nhạt và những giới hạn của nó, đó là cách thức bình thường để hiểu Lời Chúa hơn.
61. Vậy đối với cha, các bản văn Kinh Thánh là thực sự được linh hứng.
- Ồ, đương nhiên. Đây là một tín điều. Nhưng nói vậy, không có nghĩa là Thiên Chúa đã rỉ tai nguyên văn cho các tác giả nhân loại của Thánh Kinh đâu. Mỗi câu không chứa đựng tất cả tuyệt đối của Thiên Chúa và tác giả cũng không muốn mọi lúc, dạy chúng ta về mọi chuyện đâu. Tôi luôn trở về với bản văn của thánh Augustinô mà Vaticano 2 trích dẫn: “Thiên Chúa, trong Thánh Kinh, đã nói bằng những con người, theo cách của con người”. Chính điều này đòi buộc chúng ta phải có phê bình văn bản, phê bình văn chương và phê bình lịch sử đối với các bản văn Kinh Thánh và phải lưu ý tới các loại văn của chúng rất khác với các loại văn của chúng ta...như Đức Thánh Cha Piô 12 đã yêu cầu và Vaticanô 2 mời gọi.
62. Hôm nay, chúng ta sẽ nói về chuyện gì đây?
- Nói về chu kỳ các tổ phụ, nghĩa là về chuyện của Abraham, Isaac và Yacob.
63. Và thế là chúng ta đi từ lụt hồng thủy tới Abraham mà không có chuyển tiếp gì cả sao?
-Phải, không có chuyển tiếp. Tôi đã nói với các bạn là 11 chương đầu của sách Sáng thế ( Adam, Cain, Noe, tháp Babel) là một thứ khúc nhạc mở đầu theo kiểu Wagner cho bi kịch vĩ đại của ơn cứu độ. Tất cả các chủ đề đều có ở trong đó : con người từ chối Thiên Chúa; sự chối từ này đặt con người chống lại con người ( Cain và Abel); nhưng Thiên Chúa muốn cứu thoát thế giới ( lụt hồng thuỷ)...
64. Thế còn tháp Babel?
- Đây cũng là một chủ đề khác nữa. Con người không thể tự cứu thoát chính mình; do tội, nó chỉ là chia rẽ và hỗn loạn. Với Abraham, tấm màn được kéo lên. Bi kịch kiểu Wagner bắt đầu, bởi vì bây giờ khúc nhạc mở đầu đã xong. Với Sáng Thế 12, với Abraham, người ta thấy Thiên Chúa bắt đầu cái sáng kiến ơn cứu độ mà sách Sáng Thế 1-11 đã hứa.
65. Phải chăng bây giờ người ta mới bước vào trong lịch sử đúng nghĩa?
- Đúng. Abraham có thể được xác định trong thời gian. Adam, Cain, Noe đã không thể được xác định : có thể nói đó là những nhân vật, hơn là những cá nhân. Nhưng Abraham là một cá nhân. Các nhà khảo cổ và các sử gia cách chung cho rằng ông tới vùng đất Canaan vào lối năm 1850 trước Chúa giáng sinh.
66. Ông từ đâu tới vậy?
- Ông tới từ miền Ur ở hạ Mesopotamia. Cho đến thời Abraham, Ur là một thành phố rất thịnh vượng, là một cảng biển lớn hướng ngay ra vịnh Ba Tư. Đàng khác, người ta đã tìm ra được những phế tích của nó. Ngày xưa, đó là một thành phố với những kênh đào gần như Venise ngày nay vậy : trục đường chính có tên là Kênh Người Yêu Dấu. Ở đó có những căn nhà 3 tầng (những ngôi nhà chọc trời thực sự vào thời đó ), có những đền thờ phi thường (đúng là giống như ngôi đền mà Kinh Thánh gợi lên khi nói về tháp Babel); các ngôi đền này được dâng kính cho thần Mặt Trăng trong số các vị thần khác. Xung quanh thành phố này, có nhiều người du mục.
67. Và Abraham là một trong số ấy.
- Đúng vậy đó.
68. Nhưng tại sao ông lại ra đi , bởi vì mọi chuyện đều quá tốt đẹp mà?
- Chính thế, chính là vì mọi chuyện không còn tốt đẹp nữa vào thời Abraham. Đã có những cuộc xâm lăng, những di chuyển chổ ở của nguyên cả những dân tộc, và miền Ur biết đến những khó khăn lớn về kinh tế, xã hội và chính trị. Hàng trăm ngàn con người lúc bấy giờ rời bỏ miền Ur và đi ngược lên sông Tigre và Euphrate tới Haran : khoa khảo cổ chứng minh rõ ràng chuyện này. Một số người từ Haran lại đi xuống phía Canaan và lần bước tới tận Aicap là như miền đất hứa Châu Mỹ của thời đó, xứ sở của phồn vinh. Abraham là một trong những người phải di dời chổ ấy. Ông là một giọt nước trong cơn thuỷ triều nhân loại đang tràn ngập thung lũng sông Tigre và Euphrate.
69. Vậy thì không phải chính Thiên Chúa mời gọi ông di dời chổ, ngược với những gì Kinh Thánh nói cho chúng ta.
- Kinh Thánh nói về việc Thiên Chúa hiện ra với Abraham và về cuộc đàm thoại giữa đôi bên. Theo loại văn được sử dụng thì đây là một sự kịch hoá, nghĩa là một cách diễn tả có qui ước dưới dạng đối thoại, cái điều hình như là một sự ý thức của Abraham. Abraham ra đi và ông biết tận thâm tâm rằng đó là ý muốn của một vị Thiên Chúa yêu thương ông và đích thân chăm sóc ông; một vị Thiên Chúa có ý định làm một cái gì đó, và ngay cả làm tất cả, vì lợi ích của con người. Trong nghĩa này, thì đây là một ơn gọi thực sự và Thiên Chúa tác động thực sự trên Abraham.
70. Tại sao ngày kia Abraham lại nhận được lệnh sát tế Isaac là con trai mình?
- Đó là một câu chuyện Thánh Kinh rất hay. Trình thuật này gợi lại cho chúng ta một bi kịch nội tâm của Abraham: ông tự hỏi phải chăng, theo gương của các người tuyên xưng các đạo khác xung quanh ông, ông nên sát tế con trai để tỏ lòng tôn thờ đối với vị Thiên Chúa của mình. Bằng một mạc khải nội tâm, hẳn là ở bình diện ý thức của Abraham chứ không phải ở giữa một cuộc đàm thoại, vị Chúa đã làm cho ông hiểu là không nên sát tế nhân mạng. Trình thuật này phản ảnh thái độ của Israel đối với những cuộc sát tế con người. Israel lên án những việc này, nhưng chúng ta sẽ thấy có những sai phạm, như với ông Jephte sau này chẳng hạn.
71. Abraham có 2 bà vợ, hình như thế. Thực là hơi kỳ cục đối với người mà người ta gọi là “cha các kẻ tin”.
- Theo luật thời đó (bộ Luật của vua Hammourabi, được lưu giữ tại bảo tàng viện Louvre, chứng minh như vậy), người chồng của một người phụ nữ vô sinh có quyền có con cái với nàng hầu của bà vợ. Abraham đã tuân theo phong tục thời đại của ông. Cần nhớ rằng mạc khải, trong nhân loại, không nổ tung như một ánh sáng tràn đầy một sớm một chiều. Nó tiến triển, nó tiệm tiếm. Có thể nói được rằng Cựu ước đưa chúng ta đi từ đêm tối tới Mặt Trời Công Chính là Đức Giêsu, như ngôn sứ Malakia nói, bằng cách trải qua một bình minh và hừng đông càng lúc càng tăng dần.
72. Như vậy không có gì phải công phẫn trước một thứ luân lý nào đó của Cựu ước cả.
- Đúng vậy. Và tôi cho là những dò dẫm ấy của luân lý Thánh Kinh là rất nhân bản, tôi thán phục trong đó cái mà người ta gọi là nghệ thuật sư phạm của Thiên Chúa: ngài không dạy các động từ bất qui tắc trước khi dạy các vần abc...Dù sao, đó là những trình thuật hơi phức tạp và khó hiểu.
73. Có một trình thuật mà đối với con đọc như đọc tiểu thuyết vậy, đó là trình thuật cuộc hôn nhân của Isaac.
-Bạn có lý. Nó có một giá trị văn chương rất lớn. Ta đọc ở chương 24 sách Sáng Thế. Nó thuộc truyền thống yavit, cho nên rất sống động, rất mặn mà ý nhị. Cesar Franck đã soạn một oratorio rất hay về cảnh này.
Bạn hiểu được là một sự nhạy cảm như thế nơi ông, không thể bỏ qua một cơ hội tuyệt vời để biểu lộ ra: tất cả các lạc đà và các người cưỡi đều đến nơi giếng nước ở giữa sa mạc (vào thời đó, lạc đà chưa được thuần hoá đâu, nhưng Cesar Franck không buộc phải bận tâm và Kinh Thánh thì trao lại cho ta truyền thống như nó đã nhận được); rồi người tớ của Abraham đi tìm vợ cho Isaac; cô Rebecca đến múc nước và đem cho người tớ; cuộc nói chuyện xảy ra; tiếng sét ái tình của Isaac...tất nhiên là qua trung gian. Tất cả các điều này đều rất đẹp; đây gần như là phong trào lãng mạn ngay giữa lòng Kinh Thánh, cả trước khi nó xuất hiện trong văn học nữa.
............
............
74. Một chương nhạc cuối rất hay để kết thúc bài học. Nhưng xin cha nói đôi điều về Yacob đã.
- Phải đó. Abraham, Isaac, Yacob. Tôi rất thích sự kế tục truyền thống của 3 cái tên này. Nó cho ta thấy rằng Thiên Chúa đã ghi khắc tên mình vào trong lịch sử con người, rằng không phải bằng cách thoát ra khỏi thời gian mà người ta đạt tới ơn cứu độ, nhưng bằng cách đảm nhận thời gian.
75. Khi nói “Yacob” là người ta nghĩ ngay tới cái thang Yacob. Thực sự đó là cái gì?
- Đó là một thị kiến mà sách Sáng Thế 28 nói cho chúng ta. Yacob thấy các thiên thần của Thiên Chúa lên xuống một cái thang nối liền trời với đất. Thực ra, đây là một định nghĩa của Dân Thiên Chúa là Israel, và cũng là một định nghĩa trước của Chúa Giêsu và của cộng đồng tín hữu ngày nay. Qua Israel, qua Chúa Giêsu, nhờ đức tin, trời và đất được kết nối lại, sợi dây mà con người đã cắt đứt thì Thiên Chúa nối lại. Dĩ nhiên, đây không phải là cái thang vật chất như được mô tả cách hơi ngây ngô trong các bức phù điêu thời Trung cổ.
76. Thế còn cuộc vật lộn của Yacob với thiên thần?
- A phải rồi. Chagall đã vẽ từ đó một trong những bức tranh đẹp nhất và Delacroix cũng vậy ở trong nhà thờ Saint-Sulpice ở Paris. Đây là một cảnh trong Sách Thánh làm tôi rất xúc động. Thiên Chúa không phải là một điều hiển nhiên hoặc là một giải pháp. Phải chiến đấu với ngài để biết ngài, và chiến đấu giữa ban đêm, như Yacob, người ta không luôn luôn ra khỏi cuộc chiến mà vô sự được, nhưng ngài chúc phúc cho những kẻ tấn công ngài. “Israel” theo Kinh Thánh, có nghĩa là “Vật lộn với Thiên Chúa” và Kinh Thánh đưa cái tên này lên tới cuộc vật lộn của Yacob với thiên sứ (rõ ràng thiên sứ đây, là chính Thiên Chúa). Yacob nhận được tên Israel sau khi đã chiến đấu.
77. Kinh Thánh nói là gia tộc của Yacob ra đi xuống Aicập và Giuse, người con được thương nhất của ông, đã trở thành một thứ gì như là tể tướng ở Ai cập. Về mặt lịch sủ, chuyện này có đúng không?
- Đúng, bởi vì dữ kiện Kinh Thánh này trùng hợp hoàn toàn với một trào lưu di dân xuống Ai cập, cũng như cuộc ra đi của Abraham đã trùng hợp với những cuộc di dời chổ của nhiều dân tộc từ thành Ur. Cả 2 dữ kiện này đã được khoa khảo cổ xác nhận.
Lối năm 1720, một dân tộc gọi là Hyksos, ra đi từ nơi ngày nay gọi là Thổ Nhĩ Kỳ, để xâm lăng Ai cập. Như vậy, những người Hyksos đi ngang qua miền Canaan, dọc theo Địa Trung Hải. Những người Hibá đi theo họ xuống Ai cập và cùng với những người Hyksos này, họ sẽ trở nên phồn thịnh và thống trị cả Ai cập nữa cho đến năm 1560.
78. Thế chuyện gì xảy ra vào năm 1560?
- Chúng ta sẽ nói vào lần sau với bản nhạc Israel ở Aicap của Handel.
Dịch giả: Linh mục Phêrô Phan Xuân Thanh
admin
18-01-2010, 04:05 PM
Bài số 6
ISRAEL ĐƯỢC GIẢI THOÁT
- Bản văn : Xuất hành 1,1 đến 15,21; Thánh vịnh 114; 136.
- Âm nhạc : Handel, Israel en Egypte
79. Thưa cha Martucci, cha đã nói với chúng con là Abraham đã vào đất Canaan lối năm 1850 trước Chúa giáng sinh và gia tộc Yacob đã xuống Ai cập, nhờ các người Hyksos, lối năm 1720. Thời bấy giờ các người Hibá có thế lực ở Ai cập và một người con của Yacob là Giuse đã trở thành như là tể tướng vậy. Vậy thì chuyện gì đã xảy ra để người ta sau đó nói về sự nô lệ ở Ai cập?
-1560! Đã xảy ra năm 1560, nghĩa là cái năm các người Hyksos bị lật đổ. Một dòng họ gốc Ai cập hoàn toàn lên nắm quyền, các người Ai cập lại trở thành những người chủ đất nước mình. Từ vị thế là những kẻ chinh phục, các người Hyksos bước qua hàng ngũ những công dân hạng nhì và cuối cùng trở thành như một thứ nhân công rẽ tiền cho các người Ai cập. Các người Hibá, bởi vì đã liên kết với các người Hyksos, nên cũng chịu chung số phận. Thánh Kinh nói với chúng ta tất cả những chuyện đó chỉ bằng một câu , không có ngày tháng cũng chẳng có tên tuổi, bởi vì Kinh Thánh không muốn viết lịch sử theo nghĩa hiện đại và khoa học của từ này : “ Bấy giờ có vua mới, không hề biết Giuse, lên ngôi ở Ai cập “.
80. Như vậy theo con hiểu thì không phải là một cuộc bách hại tôn giáo mà các người Hibá đã phải chịu ở Ai cập.
- Không, không phải là một cuộc bách hại tôn giáo. Đơn giản là họ đã phải chịu những hậu quả xã hội của một sự đão ngược tình hình chính trị trong xứ. Đàng khác, về khía cạnh tôn giáo, trong suốt thời gian ở Ai cập, niềm tin của các người Hibá vẫn còn rất lờ mờ và tổ chức của họ thì gần như không có gì.
Chuyện đã xảy ra cho họ, thì đơn giản là họ đã bị sử dụng cho những công việc nặng nhọc nhấât. Có những pharaon (vua Ai cập) là những nhà kiến thiết vĩ đại như Séti I và Ramses II. Các vua này đã sử dụng nhân công người Hibá, nhất là ở vùng Hạ Ai cập tức là vùng châu thổ sông Nil. Lần này Thánh Kinh có kể tên khi nói về chuyện trên : “ Và người ta đã đặt trên Israel những cai khổ dịch để bức bách dân è vai vác nặng. Và dân đã phải xây cho pharaon các thành thương khố Pitom và Ramses...Người Ai cập bắt con cái Israel lao công...”
Hai câu này và câu trước mà tôi đã trưng dẫn, đã mở đầu bản hoà tấu của Handel. Tôi rất thích, vì trong các bản nhạc của ông, nhạc sĩ đã chọn rất chính xác những câu Kinh Thánh. Đôi khi Handel giống như một chuyên gia Kinh Thánh, một nhạc sĩ kiêm nhà chú giải Thánh kinh vậy.
81. Thưa cha Martucci, chính ông Mose đã kéo dân Hibá ra khỏi ách nô lệ Ai cập. Một cách đích xác thì chuyện này đã xảy ra như thế nào vậy? Tóm lại, ông Mose là ai và ông đã làm gì?
- Ông Mose có một cái tên Ai cập. “Mosis” có trong tên của các pharaon Tut-Mosis và kể cả các pharaon Ramses, tức là Ram-Mosis. Người ta không rõ lắm nguồn gốc của tên này. Truyền thống dân gian ở Israel đã mau mắn lấp đầy khoảng trống này bằng một truyền thuyết rất đẹp về chuyện Mose đã được công chúa con pharaon cứu khỏi nước, vì nàng thấy cậu bé quá kháu khỉnh nên không muốn để cậu phải chết như mọi bé trai khác của người Hibá. Truyền thuyết này đã đi vào trong Kinh Thánh, bởi vì các tác giả được linh hứng đã nhìn thấy trong đó một diễn tả tuyệt vời về ý định của Thiên Chúa muốn cứu thoát dân ngài. Đàng khác, ngay cả về phương diện lịch sử, câu chuyện cho thấy Mose bén rễ sâu trong xã hội và văn hoá Ai cập.
82. Nếu Mose đã được “ai cập hoá “ sâu đậm như thế, tại sao ông lại mất công đi giải thoát các người Hibá khỏi đất Ai cập?
- Các bản văn Thánh Kinh cho thấy một Mose nổi giận trước sự bất công, bóc lột, tàn ác của người Ai cập và sự nín lặng, nhẫn nhục, trơ ỳ của người Hibá. Ta có thể nói được rằng Mose không phải là Ai cập hay Hibá gì cả. Trước hết ông là người, và ông muốn người ta tôn trọng phẩm giá con người. Một ngày nọ, Mose cảm thấy rất phẫn nộ trước sự độc ác của các đốc công người Ai cập, đến độ ông đã giết chết một người đốc công ngay trước mắt các người Hibá, như thể ông muốn qua việc đó kêu gọi các người Hibá ý thức về nhân phẩm của họ. Pharaon cho quân tìm bắt Mose, ông bèn trốn vào hoang địa.
83. Và chính tại đây ông đã có ý thức về ơn gọi của mình?
- Đúng. Và Kinh Thánh kể chuyện “bụi gai rực lửa” mà tranh vẽ, tranh tường, kính ghép màu thời Trung cổ rất thích mô tả. Tôi còn nhớ một bức tiểu hoạ tuyệt đẹp trong sách Thánh Vịnh của thánh Louis được lưu giữ ở thư viện quốc gia Paris. Nhà soạn nhạc Handel không có ám chỉ đến bụi gai rực lửa trong tác phẩm của ông, nhưng Arnold Schonberg thì lại dành cả cảnh đầu trong nhạc cảnh hệ 12 âm (dodecaphonique) Mose và Aaron để diễn tả nó.
84. Chúng ta có thể nghe nhạc phẩm này không?
- Rất tiếc là không. Chúng tôi có nghĩ tới, nhưng Schonberg đi quá xa bản văn Thánh Kinh, nhất là ở hồi thứ 2; còn Handel thì theo rất sát. Schonberg tạo ra cả một cuộc tranh chấp giữa Mose và Aaron mà Kinh Thánh không hoàn toàn nói như thế.
85. Nhưng cái “bụi gai rực lửa” ấy có phải là một thực tại vật chất không?
- Không, tôi nghĩ là không phải. Loại văn được Thánh Kinh sử dụng ở đây không buộc chúng ta phải giải thích “bụi gai rực lửa” theo nghiõa ấy, mà trái lại là đàng khác, nó mời gọi chúng ta nhìn thấy trong đó một diễn tả tính thiêng liêng của Thiên Chúa của Mose và sự phán quyết mau lẹ của ngài chống lại những tàn bạo của người Ai cập.
Ở trong hoang địa, Mose lần lên tận nguồn cội của niềm tin của Israel và ông càng tin chắc rằng chỉ có một giải pháp độc nhất cho các anh em của ông : đó là lại trở thành những người du mục, cao thượng và tự do như các tổ phụ Abraham, Isaac và Yacob.
Nhận thấy pharaon của Ai cập, chắc là Ramses II trong những năm cuối triều đại hoặc là Merneptah là vua kế vị, ở bên trong thì bị suy yếu quyền lực, và ở biên giới thì bị các thù địùch quấy nhiễu, ông Mose bèn trở lại thủ đô Ai cập và lãnh đạo một phong trào nổi dậy. Ơng gặp được một đồng minh có tài hùng biện hơn ông, đó là Aaron, một lãnh tụ của người Hibá. Cả 2 ông đến gặp chính quyền và gặp cả dân mà quả quyết rằng Israel cần phải rời bỏ Ai cập sớm nhất. Handel đã dùng âm nhạc để nói chuyện này.
86. Các tai ương ở Ai cập! Thưa cha, chắc hẳn chúng là một cách gây áp lực mạnh mẽ mà Mose được quyền sử dụng để buộc pharaon cho dân ra đi!
- Đúng. Nhưng cần phải hiểu loại văn mà Thánh Kinh đã dùng để kể về các tai ương, cần thấy cho được cái thực tại mà chúng ám chỉ và phát hiện ra cái nhân lịch sử mà các tai ương đã được hình thành chung quanh đó.
Trong Kinh Thánh có 3 truyền thống kể chuyện này : truyền thống Yavit kể 7 hoặc 6 tai ương; truyền thống Elohit và Tư tế thì kể 4 hoặc 5. Các truyền thống này được trộn lẫn vào nhau chặt chẻ đến nỗi trong bản văn hiện có, ngưươì ta lại đếm được 10 tai ương. Dù sao thì trình thuật Thánh Kinh về các tai ương ở Ai cập là thuộc loại văn sử thi (épopée, anh hùng ca ).
Trong bài tựa thi phẩm Jocelyn, nhà thơ Lamartine đã nói về sử thi như sau: “ Đó là hình thức thơ của tuổi thơ của các dân tộc, khi mà vì chưa có khoa phê bình cho nên có một sự lẫn lộn giữa lịch sử và hoang đường, giữa tưởng tượng và sự thật và khi mà các nhà thơ là những nhà chép sử biên niên huyền diệu của các quốc gia”.
Như vậy các bạn thấy là đối với quá khứ thì sử thi là tranh vẽ hơn là hình chụp, không phải là mô tả mà là gợi lại thực tại, không phải là một phóng sự mà là một giải thích. Tính chủ quan tập thể của cả một dân tộc đã đi qua đó, càng hơn thế nữa vì trong truờng hợp các bản văn Thánh Kinh về các tai ương ở Ai cập, có một khoảng cách đến 400, 500 hay cả 600 năm giữa trình thuật và các biến cố.
87. Thế thì theo cha, trình thuật về các tai ương ở Ai cập không có một nền tảng lịch sử nào à?
- Đó hoàn toàn không phải là điều tôi muốn nói. Trong trình thuật đó, các sự kiện kịch sử đã được bao bọc bằng tưởng tượng hư cấu, được vây quanh bằng vầng hào quang của yếu tố văn chương huyền diệu, nhưng chúng có đó, không thể chối cải. Có thể nói đây là như tranh ấn tượng vậy. Đối tượng chắc chắn có đó, nhưng như là có một làn sương mù toả ra một thứ ánh sáng mà mắt trần không thấy.
Các bạn thấy đó, có 2 cách hiểu trình thuật các tai ương ở Ai cập. Cách thứ nhất, đó là cách của cuốn phim “ Mười điều răn” của Cecil B. de Mill ( Thánh Kinh đã không chỉ gây nên những tuyệt tác!) :với hàng triệu đôla, đạo diễn cho chúng ta thấy sông Nil hoá thành máu, ếch nhái, muỗi, ruồi trâu, gia súc lăn ra chết; mụn mủ và lở loét đầy mình ngưòi Ai cập; mưa đá, châu chấu, tối tăm khắp cả xứ sở. Có thể nói đây là một tái hiện sít sao các biến cố : “Những tai ương ở Ai cập thật như thể bạn có mặt ở đó”, theo như một lời quảng cáo phim.
88. Như vậy thì hơi ngây ngô thật !
- Đúng, khá ngây ngô. Nhưng cũng có cách tiếp cận của một cuốn phim ngắn 20 phút mà tôi thường xem ở Trung Tâm Kinh Thánh Montreal do Editions du Parvis sản xuất. Đó là những con giống cử động được, những con búp bê nhúc nhích được, gần giống như những con rối vậy. Và ở đây người ta nắm bắt được tất cả chất thơ và trí tưởng tưọng dân gian trong trình thuật Thánh Kinh.
89. Nhưng đàng sau trí tưởng tượng dân gian thì chúng ta chạm tới cái thực tại lịch sử nào trong trình thuật Thánh Kinh này?
- Những tai ương ở Ai cập ám chỉ những hiện tượng thiên nhiên rất phổ biến. Thí dụ, sông Nil đỏ như máu được giải thích là do phù sa(như sông Hồng); tối tăm là do những trận bão cát khủng khiếp ở Trung Đông có thể hoàn toàn che khuất ánh sáng mặt trời, ngày nay vẫn có. Còn các tai ương khác như ruồi trâu, muỗi thì do thiếu vệ sinh, nghèo đói, thiếu thuốc diệt côn trùng sâu bọ mà có.
Ông Mose không gây ra tất cả các chuyện ấy chỉ bằng việc đưa cây gậy lên, như Thánh Kinh kể bằng loại văn sử thi mà nó dùng. Đúng hơn là Mose đã giải thích ý nghĩa của những tai hoạ giáng xuống trên đất Ai cập. Về căn bản, ông đã nói với pharaon rằng : “ Ngài hãy thấy trong tất cả những chuỵên ấy một dấu hiệu từ phía Thiên Chúa. Nếu ngài đã để cho Israel được tự do ra đi, thì tất cả các tai hoạ ấy đã không xảy đến cho ngài rồi”.
90. Thế còn cái chết của tất cả các con trai đầu lòng người Ai cập, dù sao thì cũng hơi khó giải thích ?
- Ở Berlin người ta giữ cẩn thận một bức tượng nhỏ tạc một pharaon ôm xác con trai khóc thương, gần giống tượng Pietà của Michel- Ange. Có phải đó chính là pharaon vào thời người Hibá không? Người ta không rõ. Nhưng hình như tai ương thứ 10 xảy ra tiếp sau cái chết của vị Đông cung thái tử.
Theo phong tục thời đó, nếu Đông cung thái tử chết, thì các con trai đầu lòng của nhiều gia đình quý tộc cũng tình nguyện hoặc được lệnh chết theo. Hình như truyền thống đã phóng đại tất cả chuyện này thành cái chết của tất cả mọi con trai đầu lòng người Ai cập và cả của gia súc nữa. Theo lịch sử, hình như cái chết của hoàng tử đã khiến cho pharaon quyết định để cho Israel ra đi, bởi vì người ta cho rằng các tai họa xảy ra là do pharaon áp bức Israel.
91. Và con nghĩ là chính vào dịp này mà lần đầu tiên người do thái đã cử hành lễ Vượt Qua phải không?
- Việc sát tế chiên là một lễ hội mùa xuân đã phổ biến và cổ xưa nữa vào thời người Hibá ở Ai cập. Bởi vì họ đã rời Ai cập ra đi vào chính dịp lễ hội này, họ đã dần dần biến lễ này thành lễ kỷ niệm cuộc Xuất hành khỏi Ai cập. Họ đã giải thiêng, hay nói cách khác, họ đã tục hoá lễ hội thiên nhiên này để gán cho nó một ý nghĩa lịch sử. Ngày nay cũng vậy, người do thái cử hành lễ Vượt Qua, nhưng không sát tế chiên vì không còn Đền Thờ để có thể đến dâng các lễ hiến sinh theo tục lệ.
92. Handel có soạn nhạc cho phần những điều quy định về lễ Vượt Qua không vậy?
- Không, nhưng nhạc sĩ có một đoạn triển khai dài về các tai ương ở Ai cập.
93. Một khi đã được phép của pharaon, người Hibá ra đi tiến về Đất Hứa, trước hết bằng cách vượt qua biển Đỏ. Con cứ thắc mắc mãi về chuyện đi bộ qua biển này. Đây có phải cũng là sử thi không?
- Phải, phần lớn câu chuyện. Nhưng như tôi đã nói, có một cơ sở lịch sử rộng rãi làm nền tảng vững chắc cho sử thi này.
Ra đi từ vùng Hạ Ai cập, người Hibá tiến về hướng sa mạc Sinai. Tất nhiên là họ đi theo đường thẳng, không nên để mất thì giờ nữa. Cảnh sát của pharaon, hay đúng hơn một phân đội binh lính đang đuổi theo bén gót. Vì thế Mose không vượt biển Đỏ tại nơi mà ngày nay gọi là Hồng Hải vì nó rộng đến hơn 100 dặm ( 1 dặm = 1609m); cũng không phải ngang qua vịnh Suez vì đoạn Hồng Hải nối dài này rộng tới 25 dặm.
Mose và dân Hibá đã vượt biển Đỏ ở ngang chổ mà ngày nay gọi là kênh Suez. Đây là một vùng đầm lầy, cho nên Kinh Thánh thường gọi là biển Sậy ( có nhiều cây lau sậy). Lội bộ qua vùng này là việc khó khăn và nguy hiểm nữa, nhưng không phải là hoàn toàn không được. Vào lúc thuỷ triều xuống, người ta có thể lội bộ qua được, nhất là như Kinh Thánh nói, nếu có thêm một trận gió đông thổi tháo khô nước và một đêm trăng rằm khiến cho việc vượt qua nơi đó ban đêm dễ dàng hơn. Mose và toàn dân vượt qua vừa kịp lúc.
Khi đạo quân Ai cập đuổi theo tới nơi thì đúng vào lúc thuỷ triều dâng lên và có lẽ trận gió đông đã ngừng thổi. Quân Ai cập cố vượt qua, nhưng đã quá trễ : các chiến xa của họ bị sa lầy, toán quân đi đầu bèn quay lui, và thế là hỗn loạn xảy ra, hàng trăm binh sĩ bị chết đuối. Ở phía bờ bên kia, Israel được tự do.
94. Vậy là Mose đã vượt qua vừa sát nút !
- Đúng là như vậy. Nhưng cần phải hiểu tất cả tầm quan trọng của chuyện này đối với Israel. Rốt cục thì đây là độc lập, tự chủ, tự do. Đây là một cuộc sinh ra đời thực sự. Từ lúc này Israel sẽ có ý thức về sức mạnh, về ơn gọi của mình. Nó sẽ tôi luyện cho mình một bản lĩnh, một cá tính nhờ tiếp xúc với sa mạc và dưới sự lãnh đạo của Mose.
Không phải là chuyện lạ khi cuộc Xuất Hành, Vượt Qua biển Đỏ về sau đã trở thành điểm tựa đức tin cho Israel. Israel thấy trong đó một dấu hiệu tình thương của Thiên Chúa. Và trong Tân ước, sự kiện lịch sử này dã trở thành biểu tượng, lời loan báo về cuộc Phục Sinh của Chúa Giêsu, về phép Rửa tội nữa vì được xem như là sự phục sinh của con người và về cả cái mà người ta gọi một cách đáng tiếc là “ sự tận thế”, mà thực ra là sự phục sinh của vũ trụ.
95. Dưới quan điểm lịch sử, cuộc Xuất Hành đã xảy ra năm nào?
- Cách chung các sử gia đưa ra năm 1250-1230 trước Chúa giáng sinh, nhất là căn cứ vào phát hiện năm 1896 của nhà khảo cổ học Flinders Petrie về cái gọi là tấm bia Merneptah. Tên Israel được khắc trên đó như là một dân tộc đang ở ngoài lãnh thổ Ai cập, nhưng chưa có lãnh thổ riêng của mình. Đây chính là tình trạng của người Hibá ngay sau lúc vượt qua biển Đỏ.
96. Thưa cha, con có một chút tò mò : khi ấy bao nhiêu người đã vượt qua biển Đỏ vậy?
- Ồ, những con số trong Kinh Thánh,bạn cũng biết rồi, có lẽ chúng chỉ tượng trưng thôi. Sách Xuất Hành nói là có 600.000 người, không kể đàn bà và trẻ con. Tính ra phải là 3 hay 4 triệu người! Nếu thế thì phép lạ sẽ không phải là chuyện họ lội qua được biển Đỏ, mà là họ đã lội qua từng ấy con người chỉ trong vài giờ đồng hồ thôi!
Các sử gia không nghĩ là có hơn 2 hoặc 3 ngàn người. Ở bên kia tất cả các chi tiết lịch sử ( niên biểu 1250 và con số 2000 người do các sử gia đưa ra), chỉ có một chuyện đáng kể đối với Thánh Kinh và Thánh Kinh đã nói ra trong Xh 14,31 : “Và Ø Israel đã thấy tay cao cả của Yavê đã tỏ ra trên quân Ai cập, và dân đã kính sợ Yavê. Họ đã tin vào Yavê và vào Mose, tôi tớ ngài”.
97. Phải chăng Kinh Thánh nói về cuộc ra đi khỏi Ai cập chỉ ở trong sách Xuất Hành mà thôi?
- Không. Những ám chỉ về cuộc Xuất Hành thì vô số trong Kinh Thánh, Cựu ước cũng như Tân ước. Toàn bộ Cựu ước đều tập trung vào sự kiện này là điểm tựa lịch sử mọi niềm hy vọng của Israel. Các ngôn sứ thường nói về biến cố này khi kêu gọi dân trở lại với thời sa mạc là lúc Israel còn sống dưới cơn choáng của tình yêu của Thiên Chúa, được tỏ lộ quá rõ ràng qua cuộc giải thoát khỏi Ai cập. Các thánh vịnh ám chỉ sự kiện này nhiều lần, nhất là thánh vịnh 114 và 136. Các thánh vịnh này lại theo kiểu mẫu của một thánh ca còn được truyền thống giữ lại trong Xh 15. Handel đa nhấn mạnh nhiều đến bài ca thắng trận này mà Phụng vụ Kitô giáo vẫn hát trong đêm vọng Phục sinh : “ Hãy hát mừng Yavê vì uy Người cao cả, chiến mã với kỵ binh Người đã quăng tùm xuống biển...”
98. Thưa cha, con thấy là mặc dù kể chuyện bị nô lệ ở Ai cập, rồi chuyện cái chết của các con trai đầu lòng và tất cả các tai ương ở Ai cập, nhưng Kinh Thánh ngày hôm nay và âm nhạc của Handel đã toả ra niềm vui.
- Bạn hoàn toàn có lý. Và chính vì thế mà Xh 15 kết thúc bằng câu chuyện sau : “ Myriam, nữ tiên tri, em gái Aaron, cầm trống nơi tay, và các phụ nữ hết thảy đã đi ra theo bà, với trống kèn mà nhảy múa”.
Tôi cũng đề nghị kết thúc bài học với cô Magdalit, một nữ ca sĩ Israel hiện đại. Bằng một diễn xuất rực rỡ và không hoa mỹ, cô sẽ dẫn chúng ta đi vào niềm vui ấy qua thánh vịnh 114.
Người dịch: Linh mục Phêrô Phan Xuân Thanh
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.