PDA

View Full Version : Mọi Người đều Tán Thành Và Thán Phục Lời Hay ý đẹp Thôt Ra Từ Miệng Người


admin
25-01-2010, 05:06 AM
MỌI NGƯỜI ĐỀU TÁN THÀNH VÀ THÁN PHỤC LỜI HAY Ý ĐẸP THÔT RA TỪ MIỆNG NGƯỜI
SUY NIỆM PHÚC ÂM (III C 13); (31.01.2010); (Lc 4, 21-30)
CHÚA NHẬT IV PHỤNG VỤ THƯỜNG NIÊN, NĂM C
NGUYỄN HỌC TẬP

Đoạn Phúc Âm được mở đầu bằng một câu được dùng để kết thúc đoạn Phúc Âm Chúa Nhật III vừa qua, trong đó Chúa Giêsu đã xác nhận căn tính Ngôn Sứ Thời Cánh Chung của Người, được tràn đầy Chúa Thánh Thần, thực hiện hôm nay đồ án của Thiên Chúa:
- “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh anh em đang nghe” (Lc 4, 21).
Nhắc lại đoạn Phúc Âm của Chúa Nhật vừa qua để làm cho chúng ta hiểu được phản ứng của những người đồng hương trong cộng đồng Nazareth đối với Chúa Giêsu.
Trạng huống của Chúa Giêsu không được hiểu và bị các người đồng hương từ chối nói trước cho chúng ta biết dân Israel sẽ từ chối Đấng được Thiên Chúa sai đến, và đọc một cách tích cực, đoạn Phúc Âm cũng chuẩn bị cho chúng ta đón nhận thái độ rộng mở của sứ điệp KiTô giáo cho cả thế giới trong tương lai.

1 - Tưởng đã biết, nhưng có những điều chưa biết.
Khởi đầu chúng ta gặp được Chúa Giêsu đang rao giảng Phúc Âm cho người Do Thái, giúp họ hiểu được mầu nhiệm con người của Người, “hôm nay đã ứng nghiệm lời Thánh Kinh anh em đang nghe”.
Lời rao giảng đó trước tiên được các người đồng hương của Chúa Giêsu đón nhận nồng nhiệt:
- “Mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người” (Lc 4, 22a).
Nhưng kế đến họ bắt đầu nghi ngờ về căn tính của Người:
- “Họ bảo nhau: “Ông nầy không phải là con ông Giuse đó sao?” (Lc 4, 22b).
Đến đây thì Chúa Giêsu bắt đầu phản biện lại họ, với hai ví dụ trong Thánh Kinh, Người tố cáo họ không còn trung thành với Cựu Ước và nói lên cho mọi người ơn cứu độ của Chúa đối với cả dân ngoại:
- “Hẵn các ông muốn nói với tôi câu tục ngữ: Thầy lang ơi hãy chữa lấy mình đi ! Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm ở Capharnaum, ông hãy làm tại quê ông xem nào ! ..." Tôi bảo các ông: “Không một ngôn sứ nào được chấp nhận nơi quê hương mình” (Lc 4, 23 -24).
- “Vào thời ông Elia, khi trời hạn hán suốt ba năm sáu tháng, cả nước phải đói kém dữ dội, thiếu gì bà góa trong nước Israel; vậy mà ông không được sai đến giúp một bà nào cả, nhưng chỉ được sai đến giúp bà goá thành Sarepta miền Sidon. Cũng vào thời ngôn sứ Eliseo, thiếu gì người phong hủi ở trong nước Israel, nhưng không người nào được sạch, mà chỉ có ông Naaman, người xứ Syria mà thôi” (Lc 4, 25-27).
Nghe những lời đó, phản ứng của dân chúng đồng hương thật dữ dội, kể cả đến thái độ tàn ác, họ tìm các loại trừ Vị Ngôn Sứ gây bất mãn đó, nhưng nhờ quyền năng Thiên Chúa của Người, Người vẫn an toàn ra đi:
- “Nghe vậy, mọi người trong hội đường đều phẫn nộ...Họ kéo Người lên đỉnh núi, để xô Người xuống vực. Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi” (Lc 4, 28-30).
Trong con người Chúa Giêsu lời Thiên Chúa loan báo giải phóng con người, được đúc kết vào tin mừng “trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4, 18b-19).
Sau cử chỉ hoan hỉ tiếp đón tin vui trên được diễn tả bằng từ ngữ “mọi người ” (mọi người đều tán thành và thán phục), các người đồng hương hôm đó của Chúa Giêsu bắt đầu thắc mắc và đặt câu hỏi :
- “Ông nầy không phải là con ông Giuse sao ?” (Lc 4, 22b).
Từ hai căn tính song hành đó: vị Ngôn Sứ Thời Cánh Chung với “lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người", nhưng đồng thời cũng là người mà moi người ở Nazareth đều biết, tạo ra tình trạng làm cho dân chúng bị chận đứng lại trong niềm phấn khởi của mình. Họ chưa thấy được dấu chứng náo thúc đẩy họ tin đưọc Người là Vị Ngôn Sứ đã được Thiên Chúa sai đến của thời cánh chung.
Hiểu được tâm trạng đó, Chúa Giêsu làm cho lòng nghi ngờ của họ bột phát ra, bằng cách dùng dùng câu tục ngữ thường được các kinh sư xử dụng, có ý nghĩa đòi buộc Chúa Giêsu hãy thực hiện các phép lạ trước mặt họ, các phép lạ mà họ đã nghe nói Người đã thực hiện ở Capharnaum.Tục ngữ đó được diễn tả trong các đoạn Phúc Âm :
- "Chúa Giêsu và các môn đệ đi vào thành Capharnaum: Ngay ngày sabat, Người vào hôi đường giảng dạy. Thiên hạ sững sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư...trong hội đường của họ, có một người bị thần ô uế nhập, la lên rằng: “Ông Giêsu Nazareth, chuyện chúng tôi làm can gì đến ông, mà ông đến tiêu diệt chúng tôi ?...Nhưng Chúa Giêsu quát mắng nó: “Câm đi, hãy xuất ra khỏi người nầy..." (Mc 1, 21-26).
- “Vài ngày sau, Chúa Giêsu trở lại Capharnaum. Hay tin người ở nhà, dân chúng tựu tập đông đến nỗi trong nhà ngoài sân không chứa hết...Bấy giờ người ta đem đến cho Người một người bại liệt...Vì dân chúng quá động, nên họ không sao khiêng đến gần Người được. Họ mới dỡ mái nhà, ngay trên chỗ Người ngồi , làm thành một lỗ hổng, rồi thả người bại liệt nằm trên chõng xuống..., Chúa Giêsu bảo người bại liệt: "Nầy con, tội của con đã đưọc tha...Ta truyền cho con: “Hãy đứng dậy, vác lấy chõng của con mà đi về nhà. Người bại liệt đứng dậy, và lập tức vác chõng đi ra trước mọi người, khiến ai nấy đều sững sốt và tôn vinh Thiên Chúa..." (Mc 2, 1-12)
Đó là những gì được Chúa Giêsu đề cập đến, hàm chứa trong câu tục ngữ, mà Người dùng để thốt lên trước thái độ hoài nghi của các người đồng hương Nazareth:
- “Người nói với họ: “Hẵn các ông muốn nói với Ta câu tục ngữ: “Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình ! Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông làm ở Capharnaum, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem sao !" (Lc 4, 23).
Dân chúng đòi buộc những dấu chỉ phép lạ, như những gì đã được nghe nói thực hiện ở Capharnaum, để chứng minh rằng Chúa Giêsu có một căn tính khác với những gì quen thuộc mà họ đã biết về Người ở Nazareth.
- “Không có ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình” (Lc 4, 24),
bởi vì các người đồng hương tưởng là đã hiểu biết tất cả về Người và do đó họ không chờ đợi gì nơi Người khác hơn những gì họ đã biết. Họ đòi buộc phải có dấu chứng hiển nhiên, chớ không tin tưởng, không chấp nhận “thiên hạ đồn rằng”.
2 - Lý trí và đức tin.
Việc đòi buộc phải có những dấu chỉ chứng minh phép lạ làm cho đức tin bị vẫn đục, bởi vì đức tin bị thu hẹp vào định kiến: nếu đã có những dữ kiện trước đó, thì sớm muộn gì cũng phải có những hậu quả cố định. Thời xưa cũng như thời nay, con người chúng ta thường có định kiến là phải thấy mới tin. Trong khi đó thì nhiều khi ngược lại, cần phải có đức tin mới thấy được. Và đó chính là điều Chúa Giêsu dạy chúng ta, khi Người nói với Tôma:
- “Vì đã thấy Thầy nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin” (Jn 20, 29).
Điều đó cũng nói lên cho chúng ta sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống của mỗi con người chúng ta, mặc dầu chúng ta không thấy Người. Điều chắc chắn của lý luận và cả khoa học thực nghiệm không phải là những phương thể bảo chứng chắc chắn không sai lạc trong mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người. Bởi lẽ mối tương quan mà chúng ta có được đối với Thiên Chúa được đặt trên nền tảng tình yêu tin cậy và phó thác, cũng như tình yêu phát xuất nhưng không từ sáng kiến của Thiên Chúa và Thiên Chúa biết chúng ta rõ hơn cả chúng ta biết chúng ta:
- “...Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin” (Mt 6,8).
Mối tương quan đó, giữa Thiên Chúa và chúng ta, nếu thiếu đi tâm tình tin tưởng và phó thác Cha con của chúng ta đối với Chúa, hạt giống tương quan bị rơi trên đá sỏi hay rơi bên vệ đường, không có được môi trường đất tốt để đâm hoa kết quả thành phép lạ.
Chúa Giêsu trích dẫn trường hợp ngôn sứ Elia trong lịch sử, để nói lên tại sao vị ngôn sứ không thể thực hiện các phép lạ trong dân chúng Israel, mà chỉ ra tay cứu giúp được dân ngoại, người thiếu phụ Sarepta ở Sidon và người phong hủi Naaman ở Syria, là những vùng đất dân ngoại, đối với Israel.
Rất tiếc là sứ điệp của Chúa Giêsu đối với các người đồng hương quá rõ làm cho họ bị tổn thương: sự cứu rổi, vì lòng cứng tin của họ, sẽ được di chuyển đến các dân ngoại. Từ nay với sự hiện diện của Người, dân ngoại không còn là dân ngoại nữa, và như vậy mọi dân nước đều được mời ngồi vào bàn tiệc cưới Nước Trời. Hiểu được như vậy, chúng ta hiểu được tại sao Chúa Giêsu ngưng đoạn trích dẫn từ sách tiên tri Isaia, Chúa Giêsu tiếp tục trích dẫn những đoạn tích cực nói về sự giải thoát và năm hồng ân của Chúa (Lc 4, 18-19) và tiếp tục đề cập đến sách các Vua I và II, liên quan đến trường hợp các tiên tri Elia và Eliseo (Lc 4, 25-27), chúng ta đã đọc trong Phúc Âm hôm nay.
Điều đó nói lên Chúa Giêsu chính là vị Ngôn Sứ cuối cùng, đem đến sự sống vượt hẵn lên trên các vị ngôn sứ trước Người, một cách nào đó các ông vẫn còn tùy thuộc vào việc tuân giữ khắc khe Lề Luật Israel.
3 - Sứ mạng rao giảng Phúc Âm vẫn phải tiếp tục đi tới.
Dân chúng phản ứng một cách dữ tợn, câu “mọi người trong hội đuờng phẩn nộ” (Lc 4, 28) diễn tả thái độ tương phản với “mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người” (Lc 4, 22) trước đó. Những người Nazareth của Chúa Giêsu qua ý nghĩa của câu “thầy lang ơi, cứ chữa lấy mình đi !” (Lc 4, 23) cho thấy họ bị tố cáo là thiếu tin tưởng vào người đồng hương danh tiếng nhứt của mình, họ lầm lẫn trong việc đòi buộc vô lý phải có dấu chứng mới tin.
Trước những lời cáo buộc đó họ trở nên giận dữ và hung tợn, muốn loại Chúa Giêsu ra khỏi cộng đồng của mình, lên án Người bằng một cuộc đàn áp hành hình dã man. Hơn nữa họ còn có ý định loại bỏ Người, vị ngôn sứ làm phiến nhiễu, bằng cách tìm phương thế làm cho câm đi tiếng nói bất lợi đó .
Nhưng Chúa Giêsu luôn luôn là Thiên Chúa có quyền lực tối thượng trên mọi cảnh hưống, không phải để mình dễ bị doạ nạt và thản nhiên ra khỏi vòng áp bức bắt bớ đó:
- “Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi” (Lc 4, 30).
Chỉ có Người mới là Đấng có quyền quyết định lúc nào và hy sinh mạng sống của mình bằng cách nào.
Điều vừa kể cho thấy đoạn Phúc Âm kết thúc với một động tác yêu thương trọng đại, chớ không phải bằng kết quả của cuộc đấu tố đàn áp, trấn nước, bịt miệng vô nhân đạo.
Cử chỉ tố cáo của Chúa Giêsu là một lời mời gọi khẩn cấp đối với cộng đồng người đồng hương của Người, đang nhìn Người dưới một cặp mắt “cận thị "đối với con người của Người và kêu gọi họ hãy gói cuốn lại và vất bỏ đi những tiên kiến đã củ rích không còn hợp thời và ít lợi nữa.
Vượt lên trên những gì kết quả đã xảy ra, cử chỉ của Chúa Giêsu đối với người đồng hương Nazareth của Người là động tác tình thương của vị ngôn sứ Giêsu đã thực hiện để trung thành đối với sứ mạng của mình, đối với mình và đối với cộng đồng mà mình được sai đến loan báo cho, loan báo sự thật, dầu phải trả đắc giá.
Điều vừa kể cũng là mẫu gương quý giá đối với mỗi người chúng ta, có bổn phận loan truyền Phúc Âm từ ngày nhận Phép Rửa, dưới gánh nặng đáng lo ngại và nhiều lúc không thành công trong sứ mạng của mình. Chúng ta, những người loan báo Phúc Âm nhiểu lúc không thành công, không có gì là điều mới lạ. Chính Chúa Giêsu cũng đã không thành công ngay cả đối với các người đồng hương Nazareth của Người.
Nhưng Người vẫn đi tới và đem ơn cứu rỗi cho mọi người, kể cả dân ngoại, người tín hữu Chúa KiTô trong cuộc sống và rao giảng Phúc Âm hằng ngày của mình cũng vậy. Chúng ta hãy nhìn gương Chúa Giêsu đi trước chúng ta ở chính quê hương Nazareth của ngài.