admin
29-09-2006, 10:39 PM
Chủ đề Đại Hội Truyền Giáo Á châu lần thứ I
(18-22/10/2006)
CÂU CHUYỆN CHÚA GIÊSU TẠI CHÂU Á
Cha Julian Saldana
http://www.fabc.org/img/amc_logo.jpg
1. Bối cảnh Châu Á.
1.1 Những câu hỏi tối thượng : một người quen thuộc với khung cảnh Châu Á có thể nhận định, như Thánh Phaolô đã từng nói với dân Athen, rằng : “ Thưa quý vị vùng Á Châu, về mọi mặt, tôi thấy quý vị là những người rất sùng đạo” (Cv 17, 22). Người ấy cũng nhận ra rằng họ quen chịu cực và sống thiếu thốn. Như thế tại đây, từ thời cổ xưa, các bậc thày dạy đạo, các nhà tu khổ hạnh và các ngôn sứ đã tìm lối giải thích ý nghĩa cuộc sống nhân linh, để trả lời cho những câu hỏi không ngừng dằn vặt tâm can con người : Con người là ai ? Thế nào là thiện là ác ? Điều gì làm con người thành bất hạnh và tại sao ? Đâu là con đường dẫn đến hạnh phúc đích thật ? Đâu là sự thật về cái chết, phán xét và thưởng phạt đàng sau nấm mồ ? Và sau cùng, đâu là mầu nhiệm tối thượng không lời diễn tả đang trói buộc hiện hữu nhân linh, từ đó chúng ta xuất phát và chúng ta sẽ đi về đâu ? Quả là cuộc hành trình quá dài, trong đối thọai với ‘cái màu nhiệm tối thượng không lời diễn tả’ đó đã biến Châu Á thành nơi chôn nhau cắt rốn của các tôn giáo trên thế giới.
1.2 Kinh nghiệm Emmaus : Trên đường lữ hành, người dân Châu Á có được một người bạn linh thiêng cùng đi, như hai môn đệ trên đường Emmaus (Lc 24,13-35). Thoạt đầu, “mắt họ còn bị ngăn cản, họ không nhận ra Người” (16), trong khi họ nói chuyện và tranh luận với nhau. Nhưng sau đó, “mắt họ liền mở ra, và họ nhận ra Người” (câu 31). Dần dần, họ đã nhận ra và thấy Người từ những góc cạnh khác nhau, như là “Thày Dạy sự Khôn Ngoan, Đấng Chữa Lành, Đấng Giải Phóng, Vị Hướng Dẫn Tinh Thần, Đấng Thông Sáng, Người Bạn biết Cảm thông của người nghèo, Người Samaritanô Nhân Hậu, Vị Mục Tử Tốt Lành, Đấng Tuân Phục” (EA 20). Hơn thế nữa, có nhiều người còn nhận ra Người là Ngôi Lời Nhập Thể, Thiên Chúa thật và người thật, “Đấng Cứu Thế đem lại ý nghĩa cho những nỗi thống khổ và đớn đau không lời diễn tả,” giữa muôn cảnh cùng khốn người dân Châu Á từng gánh chịu. Họ tuyên xưng đức tin trước mặt mọi người, và trở thành môn đệ của Người. Họ làm chứng, “lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta ?” (Câu 32). Như thế, những cộng đoàn môn đệ Đức Kitô đã được hình thành. Có cộng đoàn đã sinh ra ngay từ những thế kỷ đầu sau công nguyên ở Kerala ; rồi sau đó, là ở Trung Á. Và sau cùng, công cuộc truyền giáo vĩ đại, khởi đi từ thế kỷ 16 đã làm phát sinh rất nhiều cộng đoàn như thế, trên khắp mọi miền Á Châu. Dầu sao, câu chuyện của Chúa Giêsu ở đây còn có những tầng rễ sâu hơn nhiều.
2. Kỳ tiền sử của ‘câu chuyện’ :
Người ta có thể bàn đến giai đoạn tiền thân của câu chuyện Chúa Giêsu, khi mà người ta chỉ có thể nhận biết Người qua các danh xưng. Người ta nhắc đến sự hiện diện của Lời và Thần Khí từ buổi bình minh của lịch sử. Như gió, Thần Khí hoạt động ở mọi nơi : gió muốn thổi đâu thì thổi (Ga 3,8). Thần Khí tuôn đổ trên ông Cornelius và gia đình, cho dầu họ chưa nhận phép rửa, để thấy rằng “Thiên Chúa không thiên tư tây vị ai.” (Cv 10,34). Như vậy, chẳng lạ gì khi chúng ta nhận ra hoa trái của Thần Khí (Gl 5,22-23) trong cuộc sống của vô số môn đồ của các truyền thống tôn giáo khác nhau, “nhờ Thần Khí mà diệt trừ những hành vi của thân xác” (Rm 8,13). Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II kết luận : “Sự hiện diện và hoạt động của Thần Khí không chỉ tác động trên các cá nhân, mà còn ảnh hưởng đến xã hội, lịch sử, các dân tộc, các nền văn hoá và tôn giáo nữa” (RM 28). Cả Lời cũng soi sáng mỗi người ngay từ thuở ban đầu (Ga 1,9), cho đến “thời sau hết này, Thiên Chúa đã dạy chúng ta qua Thánh Tử” (Dt 1,2). Thật vậy, Lời và Thần Khí chẳng khác gì hai bàn tay của Thiên Chúa Cha, luôn làm việc để muôn vật được hiệp nhất và giao hoà.
Nếu Lời đã hiệp thông với loài người ngay từ thuở ban đầu, ta dễ hiểu được là khi Ngôi Lời trở thành người, hiện diện giữa họ, tự nhiên họ sẽ “nhìn ra” và cảm nhận nơi Người sự đáp ứng thoả đáng cho những khát vọng thâm sâu nhất của họ. Nhận định này được củng cố bởi thái độ tích cực nơi tín hữu các tôn giáo khác, khi họ không ngừng hướng về con người và giáo huấn của Đức Kitô. Sự kiện này cũng phải gợi lên nơi các Kitô Hữu niềm tin tưởng để kể lại câu chuyện Chúa Giêsu cho người khác. Công Đồng Vaticanô II dạy : “Trong khi rao giảng Đức Kitô, Giáo Hội mặc khải cho mọi người biết chân lý đích thực về hoàn cảnh và ơn gọi toàn diện của họ.” (AG 8). Huyền thoại quanh vị cứu tinh, rất phổ biến nơi một vài vùng Châu Á, có thể được hiểu như một “nỗ lực đi tìm Đấng muôn dân trông đợi”, nghĩa là một sự tiền dự, một sự tìm kiếm vị cứu tinh trong suốt lịch sử, vị Thiên Chúa làm người, đấng sẽ hoàn thành định mệnh con người bằng thập giá và sự phục sinh của Người. Trong ý nghĩa đó, Đức Kitô chính là ‘Đấng muôn dân trông đợi.”
(18-22/10/2006)
CÂU CHUYỆN CHÚA GIÊSU TẠI CHÂU Á
Cha Julian Saldana
http://www.fabc.org/img/amc_logo.jpg
1. Bối cảnh Châu Á.
1.1 Những câu hỏi tối thượng : một người quen thuộc với khung cảnh Châu Á có thể nhận định, như Thánh Phaolô đã từng nói với dân Athen, rằng : “ Thưa quý vị vùng Á Châu, về mọi mặt, tôi thấy quý vị là những người rất sùng đạo” (Cv 17, 22). Người ấy cũng nhận ra rằng họ quen chịu cực và sống thiếu thốn. Như thế tại đây, từ thời cổ xưa, các bậc thày dạy đạo, các nhà tu khổ hạnh và các ngôn sứ đã tìm lối giải thích ý nghĩa cuộc sống nhân linh, để trả lời cho những câu hỏi không ngừng dằn vặt tâm can con người : Con người là ai ? Thế nào là thiện là ác ? Điều gì làm con người thành bất hạnh và tại sao ? Đâu là con đường dẫn đến hạnh phúc đích thật ? Đâu là sự thật về cái chết, phán xét và thưởng phạt đàng sau nấm mồ ? Và sau cùng, đâu là mầu nhiệm tối thượng không lời diễn tả đang trói buộc hiện hữu nhân linh, từ đó chúng ta xuất phát và chúng ta sẽ đi về đâu ? Quả là cuộc hành trình quá dài, trong đối thọai với ‘cái màu nhiệm tối thượng không lời diễn tả’ đó đã biến Châu Á thành nơi chôn nhau cắt rốn của các tôn giáo trên thế giới.
1.2 Kinh nghiệm Emmaus : Trên đường lữ hành, người dân Châu Á có được một người bạn linh thiêng cùng đi, như hai môn đệ trên đường Emmaus (Lc 24,13-35). Thoạt đầu, “mắt họ còn bị ngăn cản, họ không nhận ra Người” (16), trong khi họ nói chuyện và tranh luận với nhau. Nhưng sau đó, “mắt họ liền mở ra, và họ nhận ra Người” (câu 31). Dần dần, họ đã nhận ra và thấy Người từ những góc cạnh khác nhau, như là “Thày Dạy sự Khôn Ngoan, Đấng Chữa Lành, Đấng Giải Phóng, Vị Hướng Dẫn Tinh Thần, Đấng Thông Sáng, Người Bạn biết Cảm thông của người nghèo, Người Samaritanô Nhân Hậu, Vị Mục Tử Tốt Lành, Đấng Tuân Phục” (EA 20). Hơn thế nữa, có nhiều người còn nhận ra Người là Ngôi Lời Nhập Thể, Thiên Chúa thật và người thật, “Đấng Cứu Thế đem lại ý nghĩa cho những nỗi thống khổ và đớn đau không lời diễn tả,” giữa muôn cảnh cùng khốn người dân Châu Á từng gánh chịu. Họ tuyên xưng đức tin trước mặt mọi người, và trở thành môn đệ của Người. Họ làm chứng, “lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta ?” (Câu 32). Như thế, những cộng đoàn môn đệ Đức Kitô đã được hình thành. Có cộng đoàn đã sinh ra ngay từ những thế kỷ đầu sau công nguyên ở Kerala ; rồi sau đó, là ở Trung Á. Và sau cùng, công cuộc truyền giáo vĩ đại, khởi đi từ thế kỷ 16 đã làm phát sinh rất nhiều cộng đoàn như thế, trên khắp mọi miền Á Châu. Dầu sao, câu chuyện của Chúa Giêsu ở đây còn có những tầng rễ sâu hơn nhiều.
2. Kỳ tiền sử của ‘câu chuyện’ :
Người ta có thể bàn đến giai đoạn tiền thân của câu chuyện Chúa Giêsu, khi mà người ta chỉ có thể nhận biết Người qua các danh xưng. Người ta nhắc đến sự hiện diện của Lời và Thần Khí từ buổi bình minh của lịch sử. Như gió, Thần Khí hoạt động ở mọi nơi : gió muốn thổi đâu thì thổi (Ga 3,8). Thần Khí tuôn đổ trên ông Cornelius và gia đình, cho dầu họ chưa nhận phép rửa, để thấy rằng “Thiên Chúa không thiên tư tây vị ai.” (Cv 10,34). Như vậy, chẳng lạ gì khi chúng ta nhận ra hoa trái của Thần Khí (Gl 5,22-23) trong cuộc sống của vô số môn đồ của các truyền thống tôn giáo khác nhau, “nhờ Thần Khí mà diệt trừ những hành vi của thân xác” (Rm 8,13). Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II kết luận : “Sự hiện diện và hoạt động của Thần Khí không chỉ tác động trên các cá nhân, mà còn ảnh hưởng đến xã hội, lịch sử, các dân tộc, các nền văn hoá và tôn giáo nữa” (RM 28). Cả Lời cũng soi sáng mỗi người ngay từ thuở ban đầu (Ga 1,9), cho đến “thời sau hết này, Thiên Chúa đã dạy chúng ta qua Thánh Tử” (Dt 1,2). Thật vậy, Lời và Thần Khí chẳng khác gì hai bàn tay của Thiên Chúa Cha, luôn làm việc để muôn vật được hiệp nhất và giao hoà.
Nếu Lời đã hiệp thông với loài người ngay từ thuở ban đầu, ta dễ hiểu được là khi Ngôi Lời trở thành người, hiện diện giữa họ, tự nhiên họ sẽ “nhìn ra” và cảm nhận nơi Người sự đáp ứng thoả đáng cho những khát vọng thâm sâu nhất của họ. Nhận định này được củng cố bởi thái độ tích cực nơi tín hữu các tôn giáo khác, khi họ không ngừng hướng về con người và giáo huấn của Đức Kitô. Sự kiện này cũng phải gợi lên nơi các Kitô Hữu niềm tin tưởng để kể lại câu chuyện Chúa Giêsu cho người khác. Công Đồng Vaticanô II dạy : “Trong khi rao giảng Đức Kitô, Giáo Hội mặc khải cho mọi người biết chân lý đích thực về hoàn cảnh và ơn gọi toàn diện của họ.” (AG 8). Huyền thoại quanh vị cứu tinh, rất phổ biến nơi một vài vùng Châu Á, có thể được hiểu như một “nỗ lực đi tìm Đấng muôn dân trông đợi”, nghĩa là một sự tiền dự, một sự tìm kiếm vị cứu tinh trong suốt lịch sử, vị Thiên Chúa làm người, đấng sẽ hoàn thành định mệnh con người bằng thập giá và sự phục sinh của Người. Trong ý nghĩa đó, Đức Kitô chính là ‘Đấng muôn dân trông đợi.”