admin
08-02-2010, 09:00 PM
Tính vượt trội của đời sống khiết tịnh không làm giảm giá trị đời sống hôn nhân
Đức Gioan Phaolô II
<HR align=center width="100%" SIZE=2>
Tiếp kiến chung 04/04/1982 tại quảng trường thánh Phêrô
1. Chúng ta hãy chăm chú nhìn lên Chúa Kitô Đấng Cứu Độ, và tiếp tục suy niệm đời sống độc thân và đức khiết tịnh "vì Nước Trời", theo lời của Chúa Kitô do thánh sử Matthêu ghi lại (Mt 19, 10-12).
Con người "đơn độc" trước Thiên Chúa
Khi công bố đời sống khiết tịnh vì Nước Trời, Chúa Kitô đã hoàn toàn chấp nhận tất cả những gì Đấng Tạo Hóa đã làm và thiết lập từ thuở ban đầu. Thế nên, một mặt, người sống đời sống khiết tịnh phải thể hiện từ cõi sâu con người của mình, con người không chỉ có "đôi cặp", mà (trong tính đôi cặp này) còn có sự "đơn độc" trước Thiên Chúa, với Thiên Chúa. Còn mặt kia, lời mời gọi sống một mình vì Thiên Chúa theo ơn gọi đời sống khiết tịnh vì Nước Trời cùng lúc cũng tôn trọng "bản chất lưỡng diện của con người" (đó là, tính đực (masculinity) và tính cái(femininity), và chiều kích tương thông của sự hiện hữu tiêu biểu của một ngôi vị. Những ai, sống theo lời của Chúa Kitô, sẽ hiểu đúng đắn ơn gọi đời sống khiết tịnh vì Nước Trời, và đáp trả ơn gọi này, qua đó cũng giữ chân lý toàn vẹn nhân tính của mình. Họ làm vậy mà chẳng mất mát bất kỳ yếu tố cơ bản nào của ơn gọi con người được tạo dựng theo hình ảnh giống Thiên Chúa. Điều này quan trọng cho ý niệm về đời sống khiết tịnh, cho chính nội dung khách quan, và cực kỳ mới mẻ theo lời rao giảng của Chúa Kitô. Việc đạt được lý tưởng này cũng quan trọng tương đương như vậy; khi người nam hay người nữ sống theo đời sống độc thân hay khiết tịnh vì Nước Trời (dùng theo từ ngữ của Chúa Kitô, là người "tự biến mình" thành hoạn nhân) với động cơ hoàn toàn chân thành.
"Vượt ra khỏi"
2. Từ bối cảnh bài Tin Mừng theo thánh Matthêu (Mt 19,10-12), chúng ta đủ thấy rõ ở đây không phải là vấn đề hạ thấp giá trị của hôn nhân để nâng cao đời sống khiết tịnh, và cũng không phải chuyện đưa ra so sánh để làm giảm giá trị của nhau. Nhưng đây là vấn đề "tách ra khỏi" một cách ý thức việc lấy vợ lấy chồng theo ý định của Thiên Chúa và hướng tới đời sống khiết tịnh. Điều này thể hiện rõ nơi chính con người cụ thể, phái nam và phái nữ, như là ơn gọi và là món quà rất hùng hồn và ý nghĩa cho Nước Trời. Lời của Chúa Kitô (x. Mt 19,11-12) xuất phát từ hiện thực của hoàn cảnh con người. Cùng một hiện trạng, Lời này dẫn đưa con người ra khỏi và hướng tới ơn gọi, theo một con đường mới — dù vẫn giữ bản chất "lưỡng diện" (nghĩa là, hướng người nam đến người nữ, và người nữ đến người nam)— con người vẫn có khả năng khám phá trong sự đơn độc của mình, vẫn luôn là chiều kích cá nhân bản chất lưỡng diện của mọi người, một lối sống mới và trọn vẹn hơn của sự hiệp thông liên chủ thể với những người khác. Định hướng ơn gọi như vậy giải thích rõ ràng diễn ngữ "vì Nước Trời". Thật vậy, đạt được được Nước Trời phải song hành với hoàn thiện hơn hình ảnh giống Thiên Chúa theo nghĩa Ba Ngôi, chính là sự hiệp thông. Qua việc chọn đời sống khiết tịnh vì Nước Trời, con người biết mình có khả năng theo con đường này để định hướng đời mình khác đi, ở chừng mực nào đó còn hơn cả sống bậc hôn nhân, biến mình trở nên "món quà thực sự cho tha nhân" (x. Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong Thế Giới Ngày Nay (Gaudium et Spes, số 24)
3. Qua những lời thánh sử Matthêu ghi lại (Mt 19,11-12), Chúa Kitô cho chúng ta hiểu rõ việc hướng đến đời sống khiết tịnh vì Nước Trời cũng liên quan tới chuyện tự nguyện bỏ đời sống hôn nhân. Trong bậc sống này (hôn nhân), người nam và người nữ (theo nghĩa Đấng Tạo Hóa ban khi kết hợp họ lúc "thuở ban đầu") trở nên món quà cho nhau qua tính nam và tính nữ của mình, cũng như sự kết hợp thể lý. Trong khi đời sống khiết tịnh là sự ý thức và tự nguyện từ bỏ sự kết hợp này cũng như mọi thứ liên quan theo một nghĩa đầy đủ của cuộc sống và xã hội loài người. Những ai từ bỏ đời sống hôn nhân, họ cũng bỏ chuyện con cái là nền tảng của gia đình. Lời Chúa Kitô mà chúng ta đề cập, dù không đưa ra chi tiết, nhưng chắc chắn là có nói đến sự từ bỏ. Cách Chúa Kitô diễn đạt lời này làm chúng ta có thể giả định Người cũng hiểu tầm quan trọng của sự hy sinh này. Đồng thời Người hiểu không chỉ theo quan điểm phổ biến trong xã hội Do Thái bấy giờ, mà còn trong tương quan với những sự thiện của chính đời sống hôn nhân và gia đình mang lại do được Thiên Chúa thiết lập. Bởi vậy, cách Người nói làm chúng ta hiểu rằng việc vượt ra khỏi phạm vi sự thiện vì lý do Người đã nêu "vì Nước Trời" chắc chắn là một hy sinh. Chuyện vượt ra này cũng là khởi đầu của một loạt hy sinh không thể thiếu được nếu như con người lựa chọn hướng sống căn bản và trước tiên này kiên định suốt cả đời sống trần thế này. Chính sự kiên định này đã làm cho quyết định lựa chọn trở nên hợp lý và không mâu thuẩn từ trong thâm tâm.
Vẫn còn dục vọng (Concupiscence)
4. Trong lời mời gọi sống đời sống khiết tịnh—ngắn gọn nhưng chính xác—, xuất hiện bản phát họa cũng như tính năng động của mầu nhiệm cứu rỗi, như chúng ta đã nói trước đây. Lời mời gọi này có cùng nét đặc trưng Chúa Giêsu đã dùng trong bài giảng trên núi khi cảnh báo về việc cần chống lại dục vọng, chống lại những ước muốn phát xuất từ "cái nhìn" làm cho tức khắc trở nên "ngoại tình trong tâm tưởng". Ẩn sau những lời của thánh sử Mattheu, ở 19: 11-12 và 5: 27-28, đều có cùng một nhân quan (anthropology) và phong tục (ethos). Trong lời mời gọi tự nguyện sống đời khiết tịnh vì Nước Trời, viễn cảnh (prospect) của phong tục này được phóng lớn hơn. Người ta thấy nhân quan của con người lịch sử trong bức toàn cảnh của bài giảng trên núi. Và những điều chính yếu của nhân quan nay lại cũng được thấy trong bức toàn cảnh của những lời về đời sống khiết tịnh tự nguyện, nhưng nhân quan này được quang chiếu bởi viễn cảnh Nước Trời, hay nói cách khác, viễn cảnh của nhân quan đời sống phục sinh trong tương lai. Tuy nhiên, trên con đường tự nguyện sống khiết tịnh vì Nước Trời suốt cuộc đời trần thế, nhân quan của đời sống phục sinh không thay thế nhân quan của con nguời lịch sử. Trong con người vẫn còn cùng lúc kế thừa ba loại dục vọng, di sản tội lỗi với di sản cứu rỗi. Nó vẫn tồn tại nơi con người ra quyết định sống đời sống khiết tịnh vì Nước Trời. Họ phải quyết định hữu hiệu, chinh phục mặt tội lỗi của bản chất con người nhờ sức mạnh khởi nguồn từ mầu nhiệm cứu rỗi của thân xác. Họ phải làm như vậy, tương tự như bất cứ ai khác đã không theo cùng lựa chọn này, sống bậc hôn nhân. Điều khác nhau duy nhất là hình thức trách nhiệm với sự thiện mình đã chọn, vì họ đã chọn những sự thiện khác nhau.
Ơn gọi ngoại hạng
5. Trong lời công bố của mình, Chúa Kitô có lẽ nào gợi ý đời sống khiết tịnh vì Nước Trời ưu việt hơn đời sống hôn nhân? Chắc chắn là vậy, vì Người nói đây là một ơn gọi ngoại hạng, chứ không phải thông thường. Thêm nữa, Người khẳng định ơn gọi này đặc biệt quan trọng và cần thiết cho Nước Trời. Nếu chúng ta hiểu tính ưu việt hơn đời sống hôn nhân theo nghĩa này, chúng ta phải chấp nhận rằng Chúa Kitô chỉ ngầm nói như vậy. Ngài không diễn đạt thẳng. Chỉ có thánh Phaolô sẽ nói về những người chọn đời sống hôn nhân là họ đã làm "tốt". Còn đối với những người sẵn sàng tự nguyện sống đời khiết tinh, Ngài sẽ nói là họ đã làm "tốt hơn" (1 Cor 7, 38).
6. Đây cũng là quan điểm của cả Truyền thống, tín lý lẫn mục vụ. "Tính ưu việt" của đời sống khiết tịnh so với đời sống hôn nhân trong Truyền thống chính tông của Giáo hội không bao giờ mang ý chê bai đời sống gia đình hay xem nhẹ giá trị cốt yếu của nó. Thậm chí ở đây cũng không có ý nói thẳng hay hàm ý theo quan điểm của trường phái Manikêô hoặc ủng hộ cách thế lượng giá hoặc dựa trên cách hiểu nhị nguyên Manikêô về thân xác và tính dục, hôn nhân và sinh sản.
Tính ưu việt mang tính Phúc Âm và Kitô hữu xác thực của đời sống độc thân và khiết tịnh được tác động và điều khiển bởi động cơ Nước Trời. Trong lời của Chúa Kitô do thánh Mathêu ghi lại (Mt 19,11-12), chúng ta tìm thấy một cơ sở vững chắc chỉ cho phép sự vượt trội như thế. Hoặc ngược lại, chúng ta không tìm thấy một nền tảng nào khác cho việc khinh dễ hôn nhân, mặc dù chúng có thể hiện diện trong nhận thức về sự vượt trội ấy.
Chúng ta sẽ trở lại vấn đề này trong bài suy niệm kế tiếp.
<HR align=center width="100%" SIZE=2>
Bảo Khanh chuyển ngữ từ bản tiếng Anh:
The Superiority of Continence Does Not Devalue Marriage
L'Osservatore Romano
Weekly Edition in English
19 April 1982, page 4
L'Osservatore Romano is the newspaper of the Holy See.
The Weekly Edition in English is published for the US by:
The Cathedral Foundation
L'Osservatore Romano English Edition
320 Cathedral St.
Baltimore, MD 21201
Subscriptions: (410) 547-5315
Fax: (410) 332-1069
lormail@catholicreview.org (lormail@catholicreview.org)
Đức Gioan Phaolô II
<HR align=center width="100%" SIZE=2>
Tiếp kiến chung 04/04/1982 tại quảng trường thánh Phêrô
1. Chúng ta hãy chăm chú nhìn lên Chúa Kitô Đấng Cứu Độ, và tiếp tục suy niệm đời sống độc thân và đức khiết tịnh "vì Nước Trời", theo lời của Chúa Kitô do thánh sử Matthêu ghi lại (Mt 19, 10-12).
Con người "đơn độc" trước Thiên Chúa
Khi công bố đời sống khiết tịnh vì Nước Trời, Chúa Kitô đã hoàn toàn chấp nhận tất cả những gì Đấng Tạo Hóa đã làm và thiết lập từ thuở ban đầu. Thế nên, một mặt, người sống đời sống khiết tịnh phải thể hiện từ cõi sâu con người của mình, con người không chỉ có "đôi cặp", mà (trong tính đôi cặp này) còn có sự "đơn độc" trước Thiên Chúa, với Thiên Chúa. Còn mặt kia, lời mời gọi sống một mình vì Thiên Chúa theo ơn gọi đời sống khiết tịnh vì Nước Trời cùng lúc cũng tôn trọng "bản chất lưỡng diện của con người" (đó là, tính đực (masculinity) và tính cái(femininity), và chiều kích tương thông của sự hiện hữu tiêu biểu của một ngôi vị. Những ai, sống theo lời của Chúa Kitô, sẽ hiểu đúng đắn ơn gọi đời sống khiết tịnh vì Nước Trời, và đáp trả ơn gọi này, qua đó cũng giữ chân lý toàn vẹn nhân tính của mình. Họ làm vậy mà chẳng mất mát bất kỳ yếu tố cơ bản nào của ơn gọi con người được tạo dựng theo hình ảnh giống Thiên Chúa. Điều này quan trọng cho ý niệm về đời sống khiết tịnh, cho chính nội dung khách quan, và cực kỳ mới mẻ theo lời rao giảng của Chúa Kitô. Việc đạt được lý tưởng này cũng quan trọng tương đương như vậy; khi người nam hay người nữ sống theo đời sống độc thân hay khiết tịnh vì Nước Trời (dùng theo từ ngữ của Chúa Kitô, là người "tự biến mình" thành hoạn nhân) với động cơ hoàn toàn chân thành.
"Vượt ra khỏi"
2. Từ bối cảnh bài Tin Mừng theo thánh Matthêu (Mt 19,10-12), chúng ta đủ thấy rõ ở đây không phải là vấn đề hạ thấp giá trị của hôn nhân để nâng cao đời sống khiết tịnh, và cũng không phải chuyện đưa ra so sánh để làm giảm giá trị của nhau. Nhưng đây là vấn đề "tách ra khỏi" một cách ý thức việc lấy vợ lấy chồng theo ý định của Thiên Chúa và hướng tới đời sống khiết tịnh. Điều này thể hiện rõ nơi chính con người cụ thể, phái nam và phái nữ, như là ơn gọi và là món quà rất hùng hồn và ý nghĩa cho Nước Trời. Lời của Chúa Kitô (x. Mt 19,11-12) xuất phát từ hiện thực của hoàn cảnh con người. Cùng một hiện trạng, Lời này dẫn đưa con người ra khỏi và hướng tới ơn gọi, theo một con đường mới — dù vẫn giữ bản chất "lưỡng diện" (nghĩa là, hướng người nam đến người nữ, và người nữ đến người nam)— con người vẫn có khả năng khám phá trong sự đơn độc của mình, vẫn luôn là chiều kích cá nhân bản chất lưỡng diện của mọi người, một lối sống mới và trọn vẹn hơn của sự hiệp thông liên chủ thể với những người khác. Định hướng ơn gọi như vậy giải thích rõ ràng diễn ngữ "vì Nước Trời". Thật vậy, đạt được được Nước Trời phải song hành với hoàn thiện hơn hình ảnh giống Thiên Chúa theo nghĩa Ba Ngôi, chính là sự hiệp thông. Qua việc chọn đời sống khiết tịnh vì Nước Trời, con người biết mình có khả năng theo con đường này để định hướng đời mình khác đi, ở chừng mực nào đó còn hơn cả sống bậc hôn nhân, biến mình trở nên "món quà thực sự cho tha nhân" (x. Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong Thế Giới Ngày Nay (Gaudium et Spes, số 24)
3. Qua những lời thánh sử Matthêu ghi lại (Mt 19,11-12), Chúa Kitô cho chúng ta hiểu rõ việc hướng đến đời sống khiết tịnh vì Nước Trời cũng liên quan tới chuyện tự nguyện bỏ đời sống hôn nhân. Trong bậc sống này (hôn nhân), người nam và người nữ (theo nghĩa Đấng Tạo Hóa ban khi kết hợp họ lúc "thuở ban đầu") trở nên món quà cho nhau qua tính nam và tính nữ của mình, cũng như sự kết hợp thể lý. Trong khi đời sống khiết tịnh là sự ý thức và tự nguyện từ bỏ sự kết hợp này cũng như mọi thứ liên quan theo một nghĩa đầy đủ của cuộc sống và xã hội loài người. Những ai từ bỏ đời sống hôn nhân, họ cũng bỏ chuyện con cái là nền tảng của gia đình. Lời Chúa Kitô mà chúng ta đề cập, dù không đưa ra chi tiết, nhưng chắc chắn là có nói đến sự từ bỏ. Cách Chúa Kitô diễn đạt lời này làm chúng ta có thể giả định Người cũng hiểu tầm quan trọng của sự hy sinh này. Đồng thời Người hiểu không chỉ theo quan điểm phổ biến trong xã hội Do Thái bấy giờ, mà còn trong tương quan với những sự thiện của chính đời sống hôn nhân và gia đình mang lại do được Thiên Chúa thiết lập. Bởi vậy, cách Người nói làm chúng ta hiểu rằng việc vượt ra khỏi phạm vi sự thiện vì lý do Người đã nêu "vì Nước Trời" chắc chắn là một hy sinh. Chuyện vượt ra này cũng là khởi đầu của một loạt hy sinh không thể thiếu được nếu như con người lựa chọn hướng sống căn bản và trước tiên này kiên định suốt cả đời sống trần thế này. Chính sự kiên định này đã làm cho quyết định lựa chọn trở nên hợp lý và không mâu thuẩn từ trong thâm tâm.
Vẫn còn dục vọng (Concupiscence)
4. Trong lời mời gọi sống đời sống khiết tịnh—ngắn gọn nhưng chính xác—, xuất hiện bản phát họa cũng như tính năng động của mầu nhiệm cứu rỗi, như chúng ta đã nói trước đây. Lời mời gọi này có cùng nét đặc trưng Chúa Giêsu đã dùng trong bài giảng trên núi khi cảnh báo về việc cần chống lại dục vọng, chống lại những ước muốn phát xuất từ "cái nhìn" làm cho tức khắc trở nên "ngoại tình trong tâm tưởng". Ẩn sau những lời của thánh sử Mattheu, ở 19: 11-12 và 5: 27-28, đều có cùng một nhân quan (anthropology) và phong tục (ethos). Trong lời mời gọi tự nguyện sống đời khiết tịnh vì Nước Trời, viễn cảnh (prospect) của phong tục này được phóng lớn hơn. Người ta thấy nhân quan của con người lịch sử trong bức toàn cảnh của bài giảng trên núi. Và những điều chính yếu của nhân quan nay lại cũng được thấy trong bức toàn cảnh của những lời về đời sống khiết tịnh tự nguyện, nhưng nhân quan này được quang chiếu bởi viễn cảnh Nước Trời, hay nói cách khác, viễn cảnh của nhân quan đời sống phục sinh trong tương lai. Tuy nhiên, trên con đường tự nguyện sống khiết tịnh vì Nước Trời suốt cuộc đời trần thế, nhân quan của đời sống phục sinh không thay thế nhân quan của con nguời lịch sử. Trong con người vẫn còn cùng lúc kế thừa ba loại dục vọng, di sản tội lỗi với di sản cứu rỗi. Nó vẫn tồn tại nơi con người ra quyết định sống đời sống khiết tịnh vì Nước Trời. Họ phải quyết định hữu hiệu, chinh phục mặt tội lỗi của bản chất con người nhờ sức mạnh khởi nguồn từ mầu nhiệm cứu rỗi của thân xác. Họ phải làm như vậy, tương tự như bất cứ ai khác đã không theo cùng lựa chọn này, sống bậc hôn nhân. Điều khác nhau duy nhất là hình thức trách nhiệm với sự thiện mình đã chọn, vì họ đã chọn những sự thiện khác nhau.
Ơn gọi ngoại hạng
5. Trong lời công bố của mình, Chúa Kitô có lẽ nào gợi ý đời sống khiết tịnh vì Nước Trời ưu việt hơn đời sống hôn nhân? Chắc chắn là vậy, vì Người nói đây là một ơn gọi ngoại hạng, chứ không phải thông thường. Thêm nữa, Người khẳng định ơn gọi này đặc biệt quan trọng và cần thiết cho Nước Trời. Nếu chúng ta hiểu tính ưu việt hơn đời sống hôn nhân theo nghĩa này, chúng ta phải chấp nhận rằng Chúa Kitô chỉ ngầm nói như vậy. Ngài không diễn đạt thẳng. Chỉ có thánh Phaolô sẽ nói về những người chọn đời sống hôn nhân là họ đã làm "tốt". Còn đối với những người sẵn sàng tự nguyện sống đời khiết tinh, Ngài sẽ nói là họ đã làm "tốt hơn" (1 Cor 7, 38).
6. Đây cũng là quan điểm của cả Truyền thống, tín lý lẫn mục vụ. "Tính ưu việt" của đời sống khiết tịnh so với đời sống hôn nhân trong Truyền thống chính tông của Giáo hội không bao giờ mang ý chê bai đời sống gia đình hay xem nhẹ giá trị cốt yếu của nó. Thậm chí ở đây cũng không có ý nói thẳng hay hàm ý theo quan điểm của trường phái Manikêô hoặc ủng hộ cách thế lượng giá hoặc dựa trên cách hiểu nhị nguyên Manikêô về thân xác và tính dục, hôn nhân và sinh sản.
Tính ưu việt mang tính Phúc Âm và Kitô hữu xác thực của đời sống độc thân và khiết tịnh được tác động và điều khiển bởi động cơ Nước Trời. Trong lời của Chúa Kitô do thánh Mathêu ghi lại (Mt 19,11-12), chúng ta tìm thấy một cơ sở vững chắc chỉ cho phép sự vượt trội như thế. Hoặc ngược lại, chúng ta không tìm thấy một nền tảng nào khác cho việc khinh dễ hôn nhân, mặc dù chúng có thể hiện diện trong nhận thức về sự vượt trội ấy.
Chúng ta sẽ trở lại vấn đề này trong bài suy niệm kế tiếp.
<HR align=center width="100%" SIZE=2>
Bảo Khanh chuyển ngữ từ bản tiếng Anh:
The Superiority of Continence Does Not Devalue Marriage
L'Osservatore Romano
Weekly Edition in English
19 April 1982, page 4
L'Osservatore Romano is the newspaper of the Holy See.
The Weekly Edition in English is published for the US by:
The Cathedral Foundation
L'Osservatore Romano English Edition
320 Cathedral St.
Baltimore, MD 21201
Subscriptions: (410) 547-5315
Fax: (410) 332-1069
lormail@catholicreview.org (lormail@catholicreview.org)