admin
02-10-2006, 08:48 AM
Kinh Mân Côi Xưa Và Nay
I. Kinh Mân Côi Trong Lịch Sử
Vào buổi chiều ảm đạm, thánh Ðaminh buồn rầu đi vào một thánh đường để cầu nguyện. Lời kinh của Ðaminh có vẻ trách móc, vì bao công lao giảng thuyết không làm cho ngườ nào trở lại hết! Giữa lúc buồn bã và thất vọng như vậy, thì Mẹ Maria hiện ra, tay bồng Chúa Giêsu, và trao tràng hạt Mân Côi cho Ðaminh, với lời hứa là tràng chuỗi này sẽ trở nên khí giới hữu hiệu để dẹp tan lạc giáo Albigense.
Có lẽ quí vị đã nghe thuật câu chuyện ấy nhiều lần rồi, và không thấy nghi vấn gì đặt ra! Nhưng không hiểu quí vị có thắc mắc gì khi thấy trong một vài bức tranh diễn tả giây phút "lịch sử" ấy người ta đặt thêm thánh nữ Catarina Siena, một người ra đời sau thánh Ðaminh gần 200 năm (1170-1347)? Và không hiểu quí vị có lần nào thắc mắc vì thấy anh em Phật tử cũng "lần chuỗi". Họ bắt chước mình? Hay mình bắt chước họ? Hay đã có ơn trên nào soi sáng cho họ?
Viết lại lịch sử kinh Mân Côi, chúng tôi không nhằm thỏa mãn óc tò mò cho bằng làm sống lại tâm tình hiếu thảo của người Kitô giáo đới với Mẹ Thiên Chúa. Thực vậy, như quí vị sẽ thấy, kinh Mân Côi không phải là một "của trời rơi" đã hoàn tất, nhưng đã được kiện toàn lần lần, như em bé từ khi bặp bẹ biết nói: "má - má..." cho đến lúc diễn tả nên lời: "má ơi, con thương má lắm".
Một trong những hình thức người Kitô giáo tỏ lòng ngưỡng mộ với Mẹ Maria là lặp lại lời chúc tụng trước là của sứ thần Gabriel, sau là của bà Ysave. Tục lệ ấy xem ra đã có từ lâu đời, vì đã được du nhập vào phụng vụ từ thế kỷ 6, như chúng ta còn thấy ở Ca dâng lễ Chủ Nhật thứ IV Mùa Vọng.
Nhưng cho đến thế kỷ 14, kinh "Kính Mừng Maria" kết thúc với lời chúc của bà Ysave "qủa phúc của lòng bà gồm phúc lạ (benedictus fructus ventris tui) không có danh Thánh Giêsu. Ðến cuối thế kỷ 14, người ta mới thêm danh "Giêsu" vào. Như thế, chúng ta thấy kinh Kính Mừng lúc ra đời chỉ dài bằng nửa kinh chúng ta đọc ngày nay!
Kinh Mân Côi ra đời lúc nào? Thực là khó trả lời, bởi vì nó trải qua rất nhiều chặng trước khi tiến tới hình thức hiện tại. Nhưng chặng chính có thể tóm lại như sau:
1. Kinh Mân Côi gắn liền với tràng chuỗi. Nhiều tôn giáo đã dùng tràng chuỗi với một mục đích hoàn toàn thực tiễn, nghĩa là để đếm nhẩm, cũng như thời đại kỹ thuật ngày nay dùng máy tính vậy! Nguồn gốc kinh Mân Côi như thế này: Vào quãng thế kỷ thứ 11, một số giáo dân sống gần các dan viện muốn tham dự kinh nguyện với các đan sĩ, nhưng khổ nỗi là họ không biết Latinh. Vì vậy, để thay thế 150 Thánh Vịnh - nòng cốt của kinh Nhật Tụng - các giáo dân đọc 150 kinh Lạy Cha. Lần lần những tín hữu có lòng sùng kính Mẹ Maria cũng áp dụng thói thục ấy bằng cách thay kinh Lạy Cha bằng kinh Kính Mừng. Xin nhắc lại là vào thời nay (thế kỷ 11-12), kinh Kính Mừng kết thúc với lời của bà Ysave "benedictus fructus ventris tui".
2. Không nói quí vị cũng đoán dược, nếu đọc liền 150 kinh một lúc thì thấy mau mỏi và chán. Vì vậy mà ở nhiều nơi người ta chia ra từng phần: lúc đầu 3 phần 50 kinh; sau đó 15 phần 10 kinh, với một kinh Lạy Cha ở đầu mỗi chục. Còn kinh Sáng Danh chỉ được thêm vào hồi đầu thế kỷ 17 (năm 1613). Cũng vào thế kỷ 16 hay 17, kinh Kính Mừng mới được thêm phần thứ hai: "Thánh Maria, Ðức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng tôi là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử".
3. Cho đến nay, ta chỉ mới thấy kinh Mân Côi là một kinh lặp đi lặp lại các lời chào kính Mẹ Maria. Ðối với tâm tình một người con thảo, hay đối với một người đã biết yêu là gì, thì việc lặp đi lặp lại những lời chúc khen như vậy không bao giờ nhàm chán! Tuy nhiên, con tim không luôn luôn ở một nhiệt độ bất biến! Ðàng khác, đời sống đạo không phải chỉ thuần túy tâm tình hay thuần túy lý luận, nhưng phải biết dung hòa cả hai phương diện. Vì vậy mà bên cạnh việc lặp đi lặp lại các lời chúc khen Mẹ Maria, lần lần được gắn liền một nội dung đạo lý với mục tiêu huấn giáo. Các sử gia cho rằng thánh Ðaminh, hoặc những tu sĩ đầu tiên của Dòng tỉ như thánh Phêrô Verona, đã góp phần không nhỏ trong kế hoạch đó. Nói khác đi, bên cạnh việc lặp đi lặp lại kinh Kính Mừng, họ thêm vào việc suy ngắm các mầu nhiệm cứu chuộc nữa. Việc xen lẫn các mầu nhiệm được thực hiện bằng hai cách chính như sau:
- hoặc sau danh thánh "Giêsu", người ta thêm một đoạn Kinh Thánh, hoặc một tước hiệu của Ngài. Thí dụ: Giêsu Ðấng Cứu Thế; Giêsu con Ðavid, Giêsu Ðấng đã chết trên thập giá. Vào thế kỷ 15, người ta đếm được gần 300 các danh hiệu được thêm như vậy.
- hoặc là nhắc nhớ một mầu nhiệm ở đầu mỗi .... vị 50 hay 10 kinh. Cũng có thể là người ta đọc một kinh Kính Mừng sau khi nhắc nhớ một mầu nhiệm, tỉ như cách ngắm 7 sự đau đớn Ðức Bà, lưu hành ở vài họ đạo Việt Nam.
Nên biết rằng việc suy gẫm các mầu nhiệm đau thương thực hiện muộn hơn. Lúc đầu khi đọc kinh Kính Mừng, người ta nghĩ trước tiên đến các niềm vui của Mẹ Maria: "Hãy vui lên, Maria. Thiên Chúa ở cùng Mẹ!" Các niềm vui ấy được lấy từ các lễ kính Chúa và Mẹ: Truyền Tin, Giáng Sinh, Phục Sinh, Thăng Thiên, Mông Triệu. Việc suy niệm các mầu nhiệm đau thương được phát triển cùng lúc với sự phát triển lòng sùng kính cuộc Tử Nạn của Chúa Cứu Thế.
4. Kinh Mân Côi theo hình thức chúng ta đọc hiện nay có thể nói được là do tu sĩ Alano de la Roche (1428-1478) Dòng Ðaminh, xác định. Cha Alano chia tràng chuỗi kính Ðức Mẹ thành 3 chu kỷ đều nhau, mỗi chu kỷ dành cho việc suy niệm các mầu nhiệm Nhập Thể, Tử Nạn và Vinh Hiển của Ðức Kitô và Mẹ Maria. Chúng ta thấy có sự tiến triển đáng kể của kinh Mân Côi: từ một chuỗi kinh tán dương Ðức Mẹ, nó lồng thêm việc suy niệm ác mầu nhiệm Cứu Chuộc do Ðức Kitô thực hiện với sự hợp tác của Mẹ Maria. Việc phổ biến hình thức đọc kinh Mân Côi được bành trướng nhờ các Hội Ðoàn Mân Côi do chính Cha Alano lập ở Douai (Bắc Pháp) năm 1470, và Cha Jacopo Sprenger, cũng Dòng Ðaminh, lập ở Colonia (Ðức) năm 1474. Với Ðức Thánh Cha Piô V, người cải tổ các sách Phụng Vụ theo lệnh của Công Ðồng Tridentinô, kinh Mân Côi mang một hình thức cố định. Thực vậy, trong thông điệp "Consueverunt Romani Pontifices" (17/9/1569), Ðức Piô V đã cố định những thành phần cốt yếu của kinh ấy, tức là: 150 kinh Kính Mừng chia ra 15 chục; mỗi chục suy ngắm một mầu nhiệm của cuộc đời Ðức Kitô; trước mỗi chục kinh Kính Mừng, thêm kinh Lạy Cha. Sau cùng, vào năm 1613, người ta thêm vào cuối mỗi chục một kinh Sáng Danh.
I. Kinh Mân Côi Trong Lịch Sử
Vào buổi chiều ảm đạm, thánh Ðaminh buồn rầu đi vào một thánh đường để cầu nguyện. Lời kinh của Ðaminh có vẻ trách móc, vì bao công lao giảng thuyết không làm cho ngườ nào trở lại hết! Giữa lúc buồn bã và thất vọng như vậy, thì Mẹ Maria hiện ra, tay bồng Chúa Giêsu, và trao tràng hạt Mân Côi cho Ðaminh, với lời hứa là tràng chuỗi này sẽ trở nên khí giới hữu hiệu để dẹp tan lạc giáo Albigense.
Có lẽ quí vị đã nghe thuật câu chuyện ấy nhiều lần rồi, và không thấy nghi vấn gì đặt ra! Nhưng không hiểu quí vị có thắc mắc gì khi thấy trong một vài bức tranh diễn tả giây phút "lịch sử" ấy người ta đặt thêm thánh nữ Catarina Siena, một người ra đời sau thánh Ðaminh gần 200 năm (1170-1347)? Và không hiểu quí vị có lần nào thắc mắc vì thấy anh em Phật tử cũng "lần chuỗi". Họ bắt chước mình? Hay mình bắt chước họ? Hay đã có ơn trên nào soi sáng cho họ?
Viết lại lịch sử kinh Mân Côi, chúng tôi không nhằm thỏa mãn óc tò mò cho bằng làm sống lại tâm tình hiếu thảo của người Kitô giáo đới với Mẹ Thiên Chúa. Thực vậy, như quí vị sẽ thấy, kinh Mân Côi không phải là một "của trời rơi" đã hoàn tất, nhưng đã được kiện toàn lần lần, như em bé từ khi bặp bẹ biết nói: "má - má..." cho đến lúc diễn tả nên lời: "má ơi, con thương má lắm".
Một trong những hình thức người Kitô giáo tỏ lòng ngưỡng mộ với Mẹ Maria là lặp lại lời chúc tụng trước là của sứ thần Gabriel, sau là của bà Ysave. Tục lệ ấy xem ra đã có từ lâu đời, vì đã được du nhập vào phụng vụ từ thế kỷ 6, như chúng ta còn thấy ở Ca dâng lễ Chủ Nhật thứ IV Mùa Vọng.
Nhưng cho đến thế kỷ 14, kinh "Kính Mừng Maria" kết thúc với lời chúc của bà Ysave "qủa phúc của lòng bà gồm phúc lạ (benedictus fructus ventris tui) không có danh Thánh Giêsu. Ðến cuối thế kỷ 14, người ta mới thêm danh "Giêsu" vào. Như thế, chúng ta thấy kinh Kính Mừng lúc ra đời chỉ dài bằng nửa kinh chúng ta đọc ngày nay!
Kinh Mân Côi ra đời lúc nào? Thực là khó trả lời, bởi vì nó trải qua rất nhiều chặng trước khi tiến tới hình thức hiện tại. Nhưng chặng chính có thể tóm lại như sau:
1. Kinh Mân Côi gắn liền với tràng chuỗi. Nhiều tôn giáo đã dùng tràng chuỗi với một mục đích hoàn toàn thực tiễn, nghĩa là để đếm nhẩm, cũng như thời đại kỹ thuật ngày nay dùng máy tính vậy! Nguồn gốc kinh Mân Côi như thế này: Vào quãng thế kỷ thứ 11, một số giáo dân sống gần các dan viện muốn tham dự kinh nguyện với các đan sĩ, nhưng khổ nỗi là họ không biết Latinh. Vì vậy, để thay thế 150 Thánh Vịnh - nòng cốt của kinh Nhật Tụng - các giáo dân đọc 150 kinh Lạy Cha. Lần lần những tín hữu có lòng sùng kính Mẹ Maria cũng áp dụng thói thục ấy bằng cách thay kinh Lạy Cha bằng kinh Kính Mừng. Xin nhắc lại là vào thời nay (thế kỷ 11-12), kinh Kính Mừng kết thúc với lời của bà Ysave "benedictus fructus ventris tui".
2. Không nói quí vị cũng đoán dược, nếu đọc liền 150 kinh một lúc thì thấy mau mỏi và chán. Vì vậy mà ở nhiều nơi người ta chia ra từng phần: lúc đầu 3 phần 50 kinh; sau đó 15 phần 10 kinh, với một kinh Lạy Cha ở đầu mỗi chục. Còn kinh Sáng Danh chỉ được thêm vào hồi đầu thế kỷ 17 (năm 1613). Cũng vào thế kỷ 16 hay 17, kinh Kính Mừng mới được thêm phần thứ hai: "Thánh Maria, Ðức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng tôi là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử".
3. Cho đến nay, ta chỉ mới thấy kinh Mân Côi là một kinh lặp đi lặp lại các lời chào kính Mẹ Maria. Ðối với tâm tình một người con thảo, hay đối với một người đã biết yêu là gì, thì việc lặp đi lặp lại những lời chúc khen như vậy không bao giờ nhàm chán! Tuy nhiên, con tim không luôn luôn ở một nhiệt độ bất biến! Ðàng khác, đời sống đạo không phải chỉ thuần túy tâm tình hay thuần túy lý luận, nhưng phải biết dung hòa cả hai phương diện. Vì vậy mà bên cạnh việc lặp đi lặp lại các lời chúc khen Mẹ Maria, lần lần được gắn liền một nội dung đạo lý với mục tiêu huấn giáo. Các sử gia cho rằng thánh Ðaminh, hoặc những tu sĩ đầu tiên của Dòng tỉ như thánh Phêrô Verona, đã góp phần không nhỏ trong kế hoạch đó. Nói khác đi, bên cạnh việc lặp đi lặp lại kinh Kính Mừng, họ thêm vào việc suy ngắm các mầu nhiệm cứu chuộc nữa. Việc xen lẫn các mầu nhiệm được thực hiện bằng hai cách chính như sau:
- hoặc sau danh thánh "Giêsu", người ta thêm một đoạn Kinh Thánh, hoặc một tước hiệu của Ngài. Thí dụ: Giêsu Ðấng Cứu Thế; Giêsu con Ðavid, Giêsu Ðấng đã chết trên thập giá. Vào thế kỷ 15, người ta đếm được gần 300 các danh hiệu được thêm như vậy.
- hoặc là nhắc nhớ một mầu nhiệm ở đầu mỗi .... vị 50 hay 10 kinh. Cũng có thể là người ta đọc một kinh Kính Mừng sau khi nhắc nhớ một mầu nhiệm, tỉ như cách ngắm 7 sự đau đớn Ðức Bà, lưu hành ở vài họ đạo Việt Nam.
Nên biết rằng việc suy gẫm các mầu nhiệm đau thương thực hiện muộn hơn. Lúc đầu khi đọc kinh Kính Mừng, người ta nghĩ trước tiên đến các niềm vui của Mẹ Maria: "Hãy vui lên, Maria. Thiên Chúa ở cùng Mẹ!" Các niềm vui ấy được lấy từ các lễ kính Chúa và Mẹ: Truyền Tin, Giáng Sinh, Phục Sinh, Thăng Thiên, Mông Triệu. Việc suy niệm các mầu nhiệm đau thương được phát triển cùng lúc với sự phát triển lòng sùng kính cuộc Tử Nạn của Chúa Cứu Thế.
4. Kinh Mân Côi theo hình thức chúng ta đọc hiện nay có thể nói được là do tu sĩ Alano de la Roche (1428-1478) Dòng Ðaminh, xác định. Cha Alano chia tràng chuỗi kính Ðức Mẹ thành 3 chu kỷ đều nhau, mỗi chu kỷ dành cho việc suy niệm các mầu nhiệm Nhập Thể, Tử Nạn và Vinh Hiển của Ðức Kitô và Mẹ Maria. Chúng ta thấy có sự tiến triển đáng kể của kinh Mân Côi: từ một chuỗi kinh tán dương Ðức Mẹ, nó lồng thêm việc suy niệm ác mầu nhiệm Cứu Chuộc do Ðức Kitô thực hiện với sự hợp tác của Mẹ Maria. Việc phổ biến hình thức đọc kinh Mân Côi được bành trướng nhờ các Hội Ðoàn Mân Côi do chính Cha Alano lập ở Douai (Bắc Pháp) năm 1470, và Cha Jacopo Sprenger, cũng Dòng Ðaminh, lập ở Colonia (Ðức) năm 1474. Với Ðức Thánh Cha Piô V, người cải tổ các sách Phụng Vụ theo lệnh của Công Ðồng Tridentinô, kinh Mân Côi mang một hình thức cố định. Thực vậy, trong thông điệp "Consueverunt Romani Pontifices" (17/9/1569), Ðức Piô V đã cố định những thành phần cốt yếu của kinh ấy, tức là: 150 kinh Kính Mừng chia ra 15 chục; mỗi chục suy ngắm một mầu nhiệm của cuộc đời Ðức Kitô; trước mỗi chục kinh Kính Mừng, thêm kinh Lạy Cha. Sau cùng, vào năm 1613, người ta thêm vào cuối mỗi chục một kinh Sáng Danh.