PDA

View Full Version : Chữ Hòa trong văn hóa Việt


admin
03-10-2006, 05:57 AM
Trước thềm năm mới, ai cũng khao khát hai chữ bình an. Mỗi lần hiện ra với các môn đệ, Ðức Kitô cũng cầu chúc bình an. Khi kết thúc thánh lễ, linh mục ( hoặc phó tế ) cũng cầu chúc mọi người ra về bình an. Tuy nhiên, hai chữ bình an nhiều khi chỉ nằm trong khát vọng. Thế giới càng văn minh, chiến tranh và khủng bố càng nhiều. Con người càng giàu có, lo toan và bệnh tật lại càng chồng chất. Vì thế, để tìm được một giấc ngủ yên suốt năm canh dài, sau khi đã xem những gì đã và đang diễn biến trên thế giới qua các chương trình thời sự không phải là một chuyện dễ dàng, bởi vì những gì đang diễn ra quanh ta đều tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới ta. Chính vì thế, với bề dày kinh nghiệm, cha ông ta dù không biết tới những phi thuyền bay vào vũ trụ nhanh như chớp hay các máy vi tính siêu hạng, vẫn quả quyết rằng con người chỉ thực sự được bình an khi sống chữ HÒA : Hòa với Trời-Ðất, hòa với người, và cuối cùng là hòa với chính mình.

1- Hòa với Trời- Ðất

Sống giữa một vũ trụ bốn mùa đổi thay, người Việt tìm cách sống hòa hợp, thích nghi với môi trường sống quanh mình. Họ quan niệm con người là một tiểu vũ trụ. Tiểu vũ trụ muốn vận hành tốt thì bắt buộc phải theo quy luật của đại vũ trụ, mà đại vũ trụ thì vận hành theo ý Trời, vì thế, con người cũng cần thiết phải học hỏi để sống theo ý Trời, nếu không, sẽ bị tiêu tan: «Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong» :

« Cứ trong nghĩa lý luân thường
Làm người phải giữ kỷ cương mới mầu
Ðừng cậy khỏe, chớ khoe giàu
Trời kia còn ở trên đầu còn kinh »

Ðối với những người nông dân Việt nam, chính sự nối kết hài hòa giữa Trời với đất đã sinh ra con người và vạn vật. Vì thế, họ gọi Trời là Cha, đất là Mẹ (Thiên vi phụ, địa vi mẫu). Trời cho con người bốn mùa đổi thay, cho mặt trời mọc lên sưởi ấm ban mai, rồi lại cho mưa tưới mát ruộng đồng ; còn đất làm mọc lên cây cối xanh tươi để nuôi dưỡng con người. Thế nên, khi Trời «lỡ» quên đất, thì họ liền chấp tay nguyện cầu :

« Lạy Trời mưa xuống,
Lấy nước tôi uống,
Lấy ruộng ôi cày,
Lấy đầy bát cơm,
Lấy rơm đun bếp. »

Cũng như Ðất-Trời kết hợp hài hòa như âm và dương, những cô gái Việt vẫn thiết tha có một « một nửa kia » cho đời thêm vui, vì thế khi lên tuổi « hăm » hoặc « băm » mà chưa có được tấm chồng, các cô thường than vãn với Trời và Ðất :

« Ðôi cô vác gậy chòi đào
Cô lớn cô bé cô nào với ai ?
Cô lớn vuốt bụng thở dài :
Trời ơi đất hởi lấy ai đỡ buồn ! »

Còn những anh chàng trai trẻ mà chưa kiếm được một Eva để cho mùa đông đỡ băng giá, cũng phân bì Ông Trời không kém các cô gái.

« Trời sao Trời ở chẳng công
Người ba bốn vợ, người không vợ nào»

Và rồi, một khi đã « kết tóc se duyên », những cặp bồ câu trẻ vẫn không quên cám ơn Ông Trời

« Nhờ ơn cô bác giúp lời,
Chị em giúp của, Ông Trời định đôi »

Với những ai muốn « dứt nợ đời » thì Trời là người chứng dám lời thề ước trăm năm :

« Vô chùa thắp một nén nhang
Miệng Nam Mô A Di Ðà Phật
Nguyện cùng Trời chùa chật cũng tu ” .

Hiện nay, dù các nhà nghiên cứu đang tranh cãi về chữ Thiên trong nho giáo hay chữ Trời trong tiếng Việt. Dẫu biết rằng chữ trời có nhiều ý nghĩa khác nhau, song ta có thể tóm tắt chữ trời với ba ý nghĩa sau đây:

- Chữ trời mang ý nghĩa không gian và thời gian: ví dụ “ trời cao bể rộng ”, “ chân trời cá nước ”, “ gần đất xa trời ”, ...
- Chữ trời gắn liền với yếu tố thời tiết: “ trời nóng”, “ trời lạnh”,“ trời mưa”, “ trời nắng “,...
- Tuy nhiên chữ Trời mà người Việt quan tâm hơn cả, đó là một Ðấng vô hình cai quản trời đất mà họ hay gọi là Trời ( viết hoa ), hay Ông Trời.

Trời hoặc Ông Trời là tên gọi đặc thù của người Việt. Dù ảnh hưởng ngàn năm bởi văn hóa Tàu, ít khi người Việt gọi Trời là “Ông Thiên ” hay “ Thượng Ðế ” theo ngôn ngữ của khổng giáo, hoặc “ Ngọc Hoàng” hay “ Ngọc Hoàng Thượng Ðế ” theo ngôn ngữ của lão giáo.

Dẫu chữ trời có ý nghĩa nào thì người Việt vẫn tập sống hòa hợp với chự trời đó. Với trời mang ý nghĩa thời tiết hay vũ trụ, người Việt cũng học sống với trời:

“ Trời hè làm trận mưa rào,
gặt sớm phơi sớm liệu sao cho vừa.”

Còn với Ông Trời mang tính thần linh, người Việt phó thác tất cả: “ trăm sự nhờ Trời ”, “Sống chết ở Trời ”, bởi vì “ Trời luôn có mắt ” và không bao giờ phụ người, và bởi vì sự cao cả của con người là ý thức được giới hạn của mình :

« Khó giàu muôn sự tại Trời
Nhân sinh ai cũng kiếp người mà thôi. »

Và rồi trong cái kiếp người vừa vĩ đại vừa nhỏ bé này, con người không chỉ phải học hỏi không ngừng để tìm ý Trời, để ý người hòa vời ý Trời như bản tình ca mùa xuân của vạn vật, mà còn phải tập để sống kiếp người này với những người khác, bởi lẽ con người chi thực sự hòa với Trời Ðất khi họ biết sống hòa bình với những người xung quanh mình.

admin
03-10-2006, 05:59 AM
2- Hòa với người


Có lẽ ai cũng biết tới câu nói nổi tiếng của Hobbe : « Con người là hổ thú của con người ». Người Việt, khi tiếp nhận triết lý của Ðức Khổng, không xem người khác là kẻ thù của mình, song đối với họ, « bốn bể đều anh em một nhà » ( Luận ngữ, XII, 5 ). Bằng một sự so sánh rất đơn sơn, họ đã kêu gọi lòng nhân nơi con người :


« Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống song chung một giàn »

Không phải ngẫu nhiên mà trong tiếng Tàu, chữ Nhân ( lòng nhân) được ghép bởi chữ Nhân ( con người) với hai dấu gạch sát bên cạnh ( hai dấu này muốn nói tới những người khác). Như vậy, nhìn vào ý nghĩa của chữ này, các hiền giả đã cho chúng ta biết rằng con người chỉ thực sự trở thành người khi biết cách sống hòa hợp với người khác.


Dẫu biết rằng sống với người khác không phải lúc nào cũng dễ dàng, bởi vì hai từ « người khác» muốn nói rằng người khác ta và ta khác người. Sự khác biệt giữa người và ta đã làm cho xã hội nên phong phú, nhưng cũng chính sự khác biệt này là nguyên do dẫn tới những xung đột thường ngày. Và những lúc xảy ra xung đột, cha ông ta lại nhắn nhủ : « Cơm sôi bớt lửa, chồng giận bớt lời » hay « một sự nhịn chín sự lành ». Sở dĩ « một sự nhịn » gặp được tới « chín sự lành » vì khi nóng giận con người không kìm hãm được « cái tôi » và tính người nhường chỗ cho tính con ( tức con vật ), nên sẽ làm những điều bậy bạ trái với lòng nhân.


Thế nên, thay vì dùng từ « người khác », người Việt lại trở nên rất dễ thương khi dùng từ «người ta». Người ta có nghĩa là trong người có ta và trong ta có người. Người với ta luôn có quan hệ hỗ tương. Những gì người làm đều ảnh hưởng tới ta và những gì ta làm đều ảnh hưởng tới người. Ta với người như cá với nước, như nước với bèo, « nước lên thì bèo nổi ». Vậy nên mới ra đời câu ca dao thật tình tứ:


« Người với ta tuy hai mà một
Ta với người tuy một mà hai ».


Vì người với ta gắn liền khăng khít, nên ta phải « thương người như thể thương thân», nghĩa là «những gì ta không muốn kẻ khác làm cho ta thì ta cũng đừng làm những việc đó cho kẻ khác» như lời Ðức Khổng ( Luận Ngữ XV, 23 ), hoặc theo một cách nói tích như Ðức Kitô : «Những gì ta muốn kẻ khác làm cho mình, thì chính mình cũng phải làm cho kẻ khác» ( Mt 7, 12). Luật vàng lòng nhân của chữ hòa này được áp dụng từ gần tới xa . Trước hết là trong gia đình của mình : « thuận vợ thuận chồng tát Bể Ðông cũng cạn. ». Hay nói cách khác, khi có sự hòa thuận thương yêu, mọi chuyện đều trở nên nhẹ nhàng tốt đẹp :


« Râu tôm nấu với ruột bầu
Chồng chan, vợ húp gật gù khen ngon. »


Râu tôm và ruột bầu là hai thứ bỏ đi, song khi thương yêu thì nó lại ngon làm sao. Sự thuận hòa là nền tảng của cái đẹp, đẹp vì biết thưởng thức cả những « bản nhạc » phát ra từ tiếng ngáy :


« Ðêm nằm nàng ngáy kho kho
Chàng yêu chàng bảo : ngáy cho vui nhà ».


Một khi có sự hòa thuận trong gia đình rồi, cha ông ta lại khuyên nên biết cách ăn ở với xóm làng, đất nước : «Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau». Quan niệm của cha ông ta thật giản đơn, nhưng cũng rất có tình có lý. Nếu gia đình hòa bình thì xóm làng sẽ yên vui, nếu xóm làng yên vui thì đất nước sẽ thái bình, và nếu đất nước thái bình thì thế giới sẽ thịnh vượng. Tuy nhiên để « tề gia, trị quốc, bình thiên hạ », thì trước hết con người phải « tu thân », tức phải tập làm hòa với chính mình.


3- Hòa với chính mình.


Trong các chữ hòa thì có lẽ hòa với mình là khó nhất. Hòa với mình tức là tập chấp nhận chính mình, biết đâu là điểm yếu điểm mạnh của bản thân. Qua lăng kính nho giáo, người biết sống hòa với chính mình là người luôn biết «tu thân», lấy «đức trị» làm gốc trong mọi tương quan của xã hội. Người tu thân là người không ngừng hoàn thiện khả năng làm người của mình qua việc học hỏi. Vì ý thức được sự mỏng dòn của con người, nên nho giáo đã lấy « ngũ thường » làm gốc cho việc minh xét cái tâm. Hàng ngày, con người phải xem tâm mình có an không. Cái tâm chỉ an khi con người biết thực hành « nhân, nghĩa, lệ , trí, tín » với người khác. Cái tâm là căn tính của chữ hòa. Chính vì thế mà người cha mẹ hay thầy cô thường khuyên bảo : «Ăn ở cho có tâm ». Thi hào Nguyễn Du cũng đã đề cao chữ tâm khi viết :


« Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. »


Người Việt lại không để chữ tâm đứng một mình. Họ hay dùng chữ tâm tình, lấy tình làm gốc trong các mối giao hảo. Tuy nhiên, tình cảm dễ dẫn tới cảm tính do sự mù quáng của con tim. Chính vì thế, tình luôn đi đôi với lí. Ông cha ta không chỉ khuyên dạy con cháu « ăn ở cho có tâm » mà còn bảo : « Ăn ở cho có tình có lí. ». Tình làm cho lí đỡ khô khan, còn lí làm cho tình khỏi lạc lối. Vì vậy, tình và lí phải là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của con người. Tâm chỉ an khi con người hành động vì công lý, giống như lời dạy của Ðức Kitô : « Sự thật sẽ giải phóng anh em. » ( Ga 8, 32 ), còn người Việt thì ví von : « Cây ngay thì bóng tròn. »


Khi hành động vì lương tâm, con người được thanh thản. Tuy nhiên, để có một tâm trí lành mạnh, con người cần có một thân xác cường tráng. Vì thế, hòa với mình tức là phải rèn luyện thể năng, phải tập sống với thân xác của mình. Cũng không phải ngẫu nhiên mà vào các buổi sáng mai, chúng ta thường thấy hàng trăm người ra các bờ hồ ở Hà Nội để tập thễ dục hoặc luyện yoga . Ngay cả khi không may gặp bệnh hoạn tật nguyền, con người ngoài việc chữa chạy thuốc men còn phải biết « sống với » bệnh tật, vì ở trên đời này, không ai tránh được bệnh tật cả : "Sống mỗi người mỗi nết, chết mỗi người mỗi tật".


Hòa với chính mình là điều rất khó, tuy nhiên với tính « bản thiện » nơi con người, người Việt không chỉ tin ở Trời, mà còn tin vào chính mình :


“ Trời nào có phụ ai đâu
Hay làm thì giàu, có chí thì nên ”.

admin
03-10-2006, 05:59 AM
Thay lời kết


Ngày hôm nay, nhiều người hay lên tiếng chỉ trích học thuyết « dĩ hòa vi quý » của người Á Ðông, vì theo họ, thuyết này thường dẫn tới một lối sống « giả hình», « bằng mặt mà không bằng lòng». Tuy nhiên, chữ Hòa của người Ðông Phương không đến nỗi mù quáng như họ tưởng, bởi vì nó không chỉ được hướng dẫn bằng cái lí của con người mà còn cả cái lí của vạn vật, của Trời Ðất.


Ít dòng tản mạn nhân dịp đầu năm mới. Xin quý cụ cao niên tha thứ cho hiểu biết nông cạn của một người vừa mới lớn. Khi con viết những dòng này thì tiếng chuông của đêm Noel cũng sắp vang lên. Và không hiểu vì sao con lại nghĩ rằng chỉ có Ðức Giê su Kitô đã sống trọn chữ Hòa trong kiếp làm người của Ngài trong các mối tương quan với Chúa Cha, với những người xung quanh và cả với bản thân Ngài, bởi vì Ngài luôn kết hợp mật thiết với Chúa Cha, Ngài luôn hành động vì hạnh phúc của người khác và Ngài đã chết vì công lý. Ước gì những ai đang mải miết rao giảng Tin Mừng luôn biết kết hợp những giá trị cao đẹp của Tin Mừng với những cái tinh túy của Hồn Việt như cha Ðắc Lộ hoặc nhiều nhà thừa sai khác đã làm để cánh đồng truyền giáo đơm bông và kết trái nhanh hơn. Kính chúc mọi người, mọi nhà một Năm Mới An Hòa.


Fx. Tiến-Dâng

Nguồn:mevetroi.org (http://www.assomption.org/Vietnam/chiase/chuhoa.html)