PDA

View Full Version : Đời ta đời người


admin
03-10-2006, 06:03 AM
Đời ta đời người

Tháng mười một gần trôi qua. Chúng ta đang tiến gần đến những ngày cuối của tháng mà lịch phụng vụ của Giáo Hội dùng để đặc biệt kính nhớ các anh hùng tử đạo vì đức tin vào Chúa Giê Su KiTô. Ðồng thời cũng trong dòng thời gian này, Giáo Hội mời gọi chúng ta tưởng nhớ và hiệp thông cầu nguyện cách riêng cho những người con đã rời khỏi đời này. Vì vậy, đối với mỗi người chúng ta, quãng thời gian đặc biệt quí giá này là một hồng phúc, là một món quà vô giá để chúng ta sống mãnh liệt hơn bao giờ hết với ông bà tổ tiên, với cha mẹ, với bà con thân quyến, với tất cả những ai đã khuất. Thời gian quí báu này đã hồi tưởng nhiều đến họ, đã giúp tôi sống gần họ hơn, đã hướng lòng tôi về với cội nguồn văn hóa dân tộc của mình, đã mở cửa lòng tôi để dành cho những người đã ra đi một vị trí trong lòng mà tôi nhiều khi quên lãng họ. Gửi anh em bài chia sẻ dưới đây như để nói lên tấm lòng của Hào đối với bất cứ ai đã lìa cõi thế, đã an giấc ngàn thu trong sự sống và bình an của Thiên Chúa. Chính vì thế, suy nghĩ về đời người, về kinh nghiệm sống của cuộc đời người khác, chính là suy nghĩ về đời ta.

Từ truyền thống văn hóa quê hương

Văn hóa Việt Nam chúng ta đúng là một thứ văn hóa nhuốm màu linh thiêng. Tôi muốn nói đến hai chữ « linh thiêng » này khi đề cập đến văn hóa do cha ông chúng ta truyền lại, bởi một trong những nét trong bản sắc văn hóa đất Việt là lòng thảo hiếu, việc tưởng nhớ không những đến những người còn sống, mà đến cả những con người đã khuất bóng khỏi cuộc sống trần thế này. Ðó chính là cái dệt nên giá trị văn hóa của đời sống thực tiễn và đời sống tinh thần của chúng ta. Là người con đất Việt, bất cứ ai mang cái nôi « chôn rau cắt rốn » này, dù muốn hay không, cũng không bao giờ có thể phủ nhận điều linh thiêng của văn hóa truyền thống. Tôi muốn mở đầu bài viết này bằng việc đề cập đến nguồn cội quê hương, đến việc biết tôn trọng cái quí giá của phong tục tập quán vốn đã ăn sâu vào trong tâm khảm của mỗi nhân vị chúng ta. Ðể cụ thể hóa vấn đề, tôi muốn nói về phong tục qui tổ bái tiên.

Phong tục « thờ cúng » ông bà tổ tiên có thể nói là cao điểm của điều tôi mới đề cập đến. Hai chữ « thờ cúng » tôi để trong ngoặc kép vừa muốn chỉ nét riêng, vừa để phân biệt với ngôn từ « thờ phượng » hay « tôn thờ » mà tôi sẽ dùng để nói về Thiên Chúa. Từ lâu lắm rồi, việc thực hành này lan rộng và được con người Á Châu, trong đó có dân tộc Việt Nam đón nhận và trở nên một yếu tố trọng yếu trong cuộc sống, đã biến thành xương cốt và tủy sống của cả dân tộc đa văn hóa. Việc thờ cúng ông bà tổ tiên hay đạo ông bà chỉ khác nhau trong cách nói mà thôi. Người Tây Phương, khi nghe nói hoặc khi thấy tập tục này, tỏ ra hoàn toàn lạ lẫm. Họ không hiểu ý nghĩa của nó. Tuy nhiên họ tôn trọng sự khác biệt trong đặc thù của mỗi nền văn hóa loài người. Thành ngữ « thờ cúng » hay chữ « đạo » hàm chứa biết bao điều thâm thúy. Trong tiếng pháp, chữ « religion », thường được hiểu và dịch sang tiếng việt là « tôn giáo, đạo », diễn tả trước hết những sợi dây liên kết giữa cái thần thánh và con người, và xa hơn nữa là giữa con người với Thượng Ðế, với Ông Trời theo cách xưng hô quen thuộc của con người việt nam, hoặc nói cách khác nữa là giữa loài người với Thiên Chúa theo danh xưng trong Kitô giáo.

Một kinh nghiệm về tính hữu hạn của con người qua đau khổ và sự chết

Phạm trù về sự liên kết, về quan hệ giữa hai hữu thể sống đã được đúc kết nhờ kinh nghiệm sống. Con người sinh ra, ốm đau, già nua và chết : sinh, bệnh, lão, tử. Qui luật nhân quả này không xuất phát từ những ý tưởng hão huyền. Nó chỉ nói lên một thực tại không chối cãi được. Một người giác ngộ về vấn đề hiển sinh này chính là Ðức Phật Ðạt Lai Lạt Ma. Sinh ra trong một gia đình quí tộc, giàu sang, có địa vị trong xã hội, nhưng con người này sớm nhảy cảm với thực tế bi thương của cuộc đời, khi chứng kiến những cảnh ốm đau, những cảnh tang thương, những người gia nua. Con người mà ta gọi là Ðức Phật lúc bấy giờ đang trẻ trung. Cuộc sống sung túc hơn so với bao dân thường khác. Song anh đã đau nỗi đau của người khác. Nói đúng hơn, anh bắt đầu nhận thức về thân phận con người nói chung và bởi vậy anh đau cho chính số phận chung của kiếp phàm nhân, trong đó có anh. Giác ngộ về thế giới đau khổ đã làm nảy sinh trong con người này khao khát đi tìm sự thật của đau khổ, đi tìm con đường thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn của bốn sự thật đáng sợ mà anh đã khám phá. Vì điều này, anh đã từ bỏ tất cả, gia tài, danh vọng, gia đình vợ con để đi tìm nguyên lý cho thực tại này. Một điều rất thú vị trong bước đường khám phá này là những bậc thầy có thanh danh, của cải vật chất, kể cả những khổ luyện của cá nhân đều không đáp lại mong mỏi trong việc tìm kiếm sự thật. Cuối cùng chỉ có sự giác ngộ hay nhờ Vị giác ngộ đã thức tỉnh và chỉ cho anh hiểu sự thật của đau khổ con người, đồng thời chỉ cho anh bí quyết để tránh thực tại ấy. Bí quyết ấy chính là sự từ bỏ gắn bó với mọi mong muốn, mọi khát vọng. Chúng ta hiểu như thế nào về lời dạy này trong Phật Giáo ? Tôi không muốn phân tích sâu điều này trong bài viết này. Ý định của tôi khi đề cập đến trải nghiệm này là nhằm rút ra một điều là con người, dù sử dụng hết mọi khả năng, sức lực, cố gắng của riêng mình, vẫn không giải mã được điều bí nhiệm của vấn đề đau khổ, của vấn đề hạn hữu của các hữu thể sống.

Xem tiếp: Đời ta đời người (http://www.assomption.org/Vietnam/chiase/hao1.htm)