PDA

View Full Version : Anh giáo có từ lúc nào?


admin
16-03-2010, 09:20 PM
Anh giáo có từ lúc nào?

Lời dẫn: trong thời gian gần đây, chúng ta nghe nhiều tin tức nói đến các tín đồ Anh Giáo muốn trở về hiệp nhất với giáo hội Công Giáo, và những đặc ân giáo hội Công Giáo dành cho những người này. Trong ba bài tới, linh mục Nguyễn Khắc Hy sẽ trình bày lịch sử Anh Giáo, những tiến triển dẫn đến việc Hiệp Nhất, những khác nhau về tín lý và luân lý giữa hai bên (nhất là chức linh mục của Anh Giáo không được giáo hội Công Giáo công nhận ra sao), và những hình thức tổ chức cho những tín đồ Anh Giáo sau khi gia nhập giáo hội Công Giáo mà vẫn được giữ những tập tục, truyền thống Anh Giáo thế nào.
Lịch sử cộng đồng Anh Giáo
Ngày 20 tháng 10 năm 2009, Toà Thánh đã công bố một Tông Hiến nhằm giúp đỡ những người tín đồ theo Anh giáo muốn trở về gia nhập giáo hội Công Giáo La Mã. Trong bài này, chúng ta cùng nhau tìm hiểu một chút về lịch sử Anh Giáo, và những điều kiện dẫn đến Tông hiến này.[1] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/anh-giao-va-lich-su/#_ftn1_8355)
Danh Xưng, Số Liệu và Chủ Trương Cải Cách
Khi tách mình ra khỏi giáo hội Công Giáo La Mã vào đầu thế kỷ 16, những người Anh gọi họ là “Giáo hội nước Anh – the Church of England”.[2] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/anh-giao-va-lich-su/#_ftn2_8355) Sau này danh từ Anh Giáo (Anglican), được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1851, dùng để chỉ những tín đồ tin vào Giáo Hội Anh Quốc này. Ngày nay có chừng gần 37 nhóm khác nhau hợp thành một cộng đồng gọi là Anh Giáo (Anglican Communion). Anh Giáo ngày nay có chừng gần 80 triệu tín hữu, trong đó chỉ có khoảng 26 triệu tín đồ ở nước Anh, và gần 40 triệu ở Phi Châu, 7 triệu ở Á Châu, số còn lại ở Mỹ, Canada, Úc và Tân Tây Lan.
Những giáo phái trong Anh Giáo mang những tên khác nhau trong những vùng khác nhau trên thế giới. Ví dụ, ở Mỹ, người theo Anh Giáo gọi họ là Episcopalian, ở Ireland họ gọi là Church of Ireland, ở Scottland là Scottish Episcopal church, ở Nhật bản có tên Hội Thánh Công Giáo Nhật Bản (the Holy Catholic Church of Japan), ở Trung Hoa họ gọi là Hội Thánh Công Giáo Trung Hoa (The Holy Catholic Church of China) v.v…
Khác với giáo hội Công Giáo La Mã là mọi nơi trên thế giới đều có một tên gọi Công Giáo La Mã, Anh Giáo là tên gọi chung của nhiều giáo phái tự trị khác nhau, nhưng có một điểm chung là những giáo phái này cùng hiệp thông với tổng giám mục Canterbury, Anh quốc.
Vì tự trị nên Anh Giáo từng vùng (thường là trong một quốc gia) có những sinh hoạt và quyết định về tổ chức giáo hội địa phương khác nhau, và không có một tổ chức giáo hội cấp trên điều hành khi có những bất đồng xảy ra. Vì thế, hình thức “cá mè một lứa” hay “cá đối bằng đầu” là nguyên nhân đem đến chia rẽ khi không đồng nhất về những quyết định quan trọng. Chúng ta sẽ có dịp nói đến hình thức mục vụ của Anh Giáo trong bài tới nhiều hơn.
Về chủ trương cải cách, Anh Giáo có phải là một nhánh của anh em Cải Cách Tin Lành không?
Nhiều người trong chúng ta thường hay đồng hoá Anh Giáo với Tin Lành.[3] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/anh-giao-va-lich-su/#_ftn3_8355) Điều này không hẳn là đúng, vì Anh Giáo khác với các giáo phái Tin Lành ở Thụy Sĩ và Đức Quốc rất nhiều. Nhiều người Anh Giáo ngày nay vẫn xưng họ là người Công Giáo, nhưng là những người Công Giáo gốc Anh (tiếng Anh là Anglo-Catholics) vì họ không nhận mình là Tin Lành. Chính vì thế, những người theo Anh Giáo ở Nhật hay Trung Quốc gọi họ là Hội Thánh Công Giáo Nhật hay Hội Thánh Công Giáo Trung Hoa.[4] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/anh-giao-va-lich-su/#_ftn4_8355)
Không như những giáo phái Tin Lành tách khỏi giáo hội Công Giáo La Mã vì nguyên nhân là vấn đề tín lý hay những cải tổ về mặt luân lý, Anh Giáo tách khỏi giáo hội Công Giáo La Mã bắt đầu với việc tranh chấp giữa nhà vua và Toà Thánh. Để dễ hiểu, chúng ta có thể chia tiến trình hình thành Anh Giáo theo ba giai đọan khác nhau.
Giai Đoạn Một:
Vào đầu thế kỷ 16, vua Henry VIII (1491-1547) nước Anh là một tín hữu Công Giáo trung thành với giáo hội trong khi phong trào Cải Cách (Tin Lành) đang hình thành bên Đức, Thụy Sĩ và những nước bắc Âu. Đức giáo hoàng Leo X đã phong cho vua Henry VIII tước Fidei Denfensor-Người Bảo Vệ Đức Tin của giáo hội Công Giáo vào ngày 11 tháng 10 năm 1521 vì nhà Vua đã viết The Defense of the Seven Sacraments – Bảo Vệ Bảy Bí Tích, chống lại Luther và những người theo cải cách của Luther.
Nhưng quan hệ giữa nhà Vua và Toà Thánh bắt đầu xuống dốc từ năm 1527, khi vua Henry VIII nhờ đức hồng y Wolsey xin đức giáo hoàng cho ông được tiêu hôn với vợ là bà Catherine of Aragon vì bà không sinh con trai nối dõi, để cưới bà Anne Boleyn.
Đức giáo hoàng Clement VII (1523-1534) không cho phép nhà Vua tiêu hôn, nên nhà Vua đã loại bỏ đức hồng y Wolsey (năm 1529) và bắt đầu chuyển quyền hành trước đây thuộc giáo hoàng qua tay nhà Vua, như quyền thuyên chuyển tu sĩ, quyền quản lý tài sản các nhà thờ, các cơ sở tu viện v.v…
Năm 1532, vua triệu tập Quốc Hội và sai quan Thomas Cromwell soạn thảo những sắc lệnh để tách nước Anh ra khỏi ảnh hưởng chính trị của đức giáo hoàng, thiết lập Quyền Tối Cao thuộc về nhà vua, và công bố nhà vua cũng là người lãnh đạo cộng đồng giáo hội Anh Quốc.[5] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/anh-giao-va-lich-su/#_ftn5_8355)
Henry VIII cũng chọn Thomas Cranmer, một người nhiệt thành theo phong trào Cải cách của Luther, và phong ông làm tổng giám mục của Canterbury. Chính tổng giám mục này cho phép Vua Henry VIII được tiêu hôn với Catherine of Aragon và cưới bà Anne Boleyn.
Nhiều sử gia đã công bằng nói rằng, ngay từ đầu vua Henry VIII không có ý định thiết lập một giáo hội riêng hay loại bỏ quyền đức giáo hoàng, nhưng ý định muốn có con trai nối nghiệp là động lực khiến ông tách mình ra khỏi giáo hội Công Giáo La Mã.
Hai bổ nhiệm làm thay đổi hoàn toàn cục diện giáo hội là việc nhà vua chọn Thomas Cromwell (1458-1540) làm Quan Toàn Quyền lo việc chính trị, và việc chọn Thomas Cranmer (1489-1556) làm tổng giám mục của Canterbury.
Là quan Toàn Quyền, và là người theo Cải Cách lại ghét giáo hội Công Giáo, Thomas Cromwell đã quyết tâm theo đuổi lý tưởng tùng phục Vua là người đứng đầu Anh Giáo, tách Anh Giáo ra khỏi giáo hội Công Giáo, bắt ép các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ và giáo dân Công Giáo tùng phục quyền hành nhà vua. Chính Cromwell là người đã bỏ tù nhiều tín hữu Công Giáo, và đã chém đầu giám mục Fisher của Rochester và quan Thomas More (năm 1535) vì họ từ chối chấp nhận quyền tối thượng của nhà vua trên quyền đức giáo hoàng.
Với uy quyền trong tay Cromwell cũng bắt đầu áp bức các dòng tu (từ 1535-1540), giải thể hơn chín ngàn (9,000) tu sĩ nam nữ, và kiểm soát tài sản các cơ sở tôn giáo, dòng tu.
Điều làm nhiều người ngạc nhiên là trong khi bản thân vua Henry VIII không là một người muốn chối bỏ giáo lý Công Giáo, ông lại quá nhu nhược khi để cho quần thần lợi dụng làn sóng Cải Cách lúc bấy giờ và tinh thần Chống Công Giáo của nhiều người để thôn tính giáo hội Công Giáo.
Vì áp lực chính trị, vua Henry VIII đã bất đắc dĩ cho công bố sắc lệnh Mười Điều Khoản (Ten Articles) năm 1536, và cho ra lệnh là các nhà thờ trong nước Anh phải có bản dịch Kinh Thánh bằng tiếng Anh.
Tuy nhiên, trong Sáu Điều Khoản (Six Articles) ban hành năm 1539, vua Henry VIII lại khẳng định những giáo lý của giáo hội Công Giáo La Mã, và ông ra lệnh phạt những ai từ chối không tin vào sự hiện diện thật của Chúa Giêsu Kitô qua mầu nhiệm Biến Đổi Bản Thể (transubstantiation) của bí tích Thánh Thể,[6] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/anh-giao-va-lich-su/#_ftn6_8355) hay không tin vào Thánh Lễ riêng (được linh mục cử hành riêng lẽ hoặc một mình, hoặc với vài người). Chính nhà Vua cũng tôn trọng luật Độc Thân cho tu sĩ, và chấp nhận việc cầu nguyện với các Thánh, và cầu nguyện cho người chết.[7] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/anh-giao-va-lich-su/#_ftn7_8355)
Giai Đoạn Hai:
Chỉ khi người con lên ngôi năm 1547 là vua Edward VI (1537-1553) lúc chưa được 10 tuổi, quần thần đem ảnh hưởng Tin Lành, đặc biệt là của giáo phái Calvin, khống chế Anh Giáo, và đàn áp Công Giáo khắt khe hơn.
Về tín lí, Anh Giáo bấy giờ theo Calvinism nên từ chối tính Hy Sinh trong thánh lễ, coi thánh lễ là một buối tưởng niệm cái chết của Chúa Giêsu Kitô nhưng Ngài không thật sự Hy Sinh dâng mình làm của lễ như giáo lý Công Giáo. Về tổ chức tôn giáo, họ bắt ép các giám mục và tu sĩ phải tuyên thệ tin theo 42 Điều khoản Tôn Giáo (42 Articles of Religion) mà nội dung hoàn toàn Tin Lành.
Năm 1549, cuốn Sách Kinh Nguyện Chung (Book of Common Prayer) được tổng giám mục Thomas Cranmer (người do vua Henry VIII chọn) biên soạn, trở nên sách Phụng Vụ của Anh Giáo. Sách này lấy nhiều nghi thức phụng vụ của Công Giáo thời trung cổ nhưng lồng vào những giáo lý của Tin Lành. Đến 1552, sách được soạn lại để hợp với Phụng Vụ Tin Lành (giáo phái Calvin) và loại bỏ những nghi thức Công Giáo còn sót lại.
Khi Edward VI chết năm 1553, nữ hoàng Mary Tudor lên ngôi, và bà muốn đưa Anh Quốc về lại với giáo hội Công Giáo La Mã. Bà dẹp những giáo phái Tin Lành và bắt giam tổng giám mục Thomas Cranmer. Nhưng bà chỉ làm nữ hoàng vỏn vẹn 5 năm.
Năm 1558, Elizabeth I lên ngôi.[8] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/anh-giao-va-lich-su/#_ftn8_8355) Dưới thời Elizabeth, Tin Lành Calvinism phát triển mạnh. Một nhóm người lấy tên là Puritans – Phái Thanh Giáo, đã tìm cách “thanh lọc” giáo hội bấy giờ khỏi những điều mà họ cho là dị đoan, tà thần, nghĩa là còn những vướng mắc với giáo hội Công Giáo như vẫn còn những ảnh tượng trong nhà thờ, hay còn cầu nguyện cho người chết. Nhóm Thanh Giáo sống nghiêm khắt với chính mình, nhưng họ chống Công Giáo ra mặt.
Vì thế, Sách Kinh Nguyện lại được sửa đổi lần thứ ba (năm 1559) để hợp với cải cách này. Ví dụ, trong Sách Kinh Nguyện không còn gọi danh từ Bàn Thờ (altar) để chỉ nơi làm lễ, không nói đến Hy Lễ của Chúa Giêsu mà là Bữa Ăn để nhớ về kỷ niệm Ngài chết mà thôi, không treo tượng ảnh trong nhà thờ, nếu có thánh giá thì trên đó không có thân xác Chúa Giêsu Kitô v.v….
Nhóm theo Calvinism này cũng muốn xoá bỏ chức giám mục để thay vào đó hình thức các mục sư với các cộng đoàn như ở Scotland lúc bấy giờ. Nhưng nữ hoàng Elizabeth I lại thích giữ lại chức vụ giám mục vì bà nghĩ chức vụ này cần cho trật tự của triều đại hoàng gia. Vì thế, Elizabeth cũng dễ dãi cho Nghi thức Cũ hoạt động bên Nghi thức mới. Bà cũng cho một số tu sĩ Công Giáo được phục hồi chức vụ như thời Henry VIII, và được trở lại tu viện. Bản thân bà cũng không từ chối tín lí Sự Hiện Diện Thật của Chúa Giêsu Kitô trong Thánh Thể.
Với toàn thể Anh Giáo, Elizabeth I cho sửa 42 Điều Khoản Tôn Giáo lại thành 39 Điều Khoản (năm 1563) với nội dung hoàn toàn Tin Lành, xa hẳn giáo hội Công Giáo La Mã.
Giai đoạn Ba:
Từ đầu thế kỷ 17 trở đi, Anh Giáo luôn bị giằng co nội bộ giữa những người muốn trở lại với giáo hội Công Giáo La Mã và những người muốn xoá bỏ mọi vết tích của giáo hội Công Giáo La Mã. Trong khi Nhóm Thanh Giáo (Puritans) muốn cắt đứt với mọi quá khứ Công Giáo trong giáo hội của họ, nhiều giám mục Anh Giáo vẫn coi trọng các Giáo Phụ, các trường phái Thần Học thời trung cổ, Triết Học và Thần Học Kinh Viện v.v…
Dưới thời vua James I (1603-1625) và Charles I (1625-1649), Anh Giáo được khuyến khích trở lại với truyền thống Công Giáo xưa, và chống lại Thanh Giáo. Năm 1645, tổng giám mục Anh Giáo Willam Laud đã mở một cuộc vận động phục hồi giá trị Công Giáo truyền thống trong giáo hội, và ép buộc nhóm Thanh Giáo theo, nếu không sẽ có những hình phạt nghiêm trọng.
Nhóm Thanh Giáo không chịu được những áp bức của Nhóm Truyền Thống thời đó nên một số lớn đã tìm cách di dân qua Tân Thế Giới (một số ở Mỹ ngày nay).[9] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/anh-giao-va-lich-su/#_ftn9_8355)
Trong thế kỷ 18, tinh thần truyền giáo được nhiều người trong nhóm chịu ảnh hưởng Calvinism, gọi là Evangelicals, phục hồi và phát triển mạnh trong các thuộc điạ của Anh. Sang thế kỷ 19, một phong trào Về Nguồn tìm lại căn tính giá trị thần học trong giáo hội từ thời các Thánh Giáo Phụ do nhiều nhà trí thức bảo thủ phát động ở Oxford đã phục hồi “Công Giáo tính” trong Anh Giáo, nghĩa là họ phục hồi lại Thánh Lễ với nghi thức Công Giáo, quy tụ lại những Tu sĩ trong các Tu Viện đã bị đóng cửa, các dòng tu nam nữ được thiết lập v.v… [10] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/anh-giao-va-lich-su/#_ftn10_8355)

admin
16-03-2010, 09:21 PM
Tiến Trình Hiệp Nhất:
Thế kỷ 18, William Wake, tổng giám mục Canterbury, đã cố gắng hợp nhất Anh Giáo với Công Giáo La Mã, nhưng không thành công. Đến 1870, công đồng Vatican I tuyên bố tín lý quyền bính đức giáo hoàng và ơn Bất Khả Ngộ của đức giáo hoàng khiến cố gắng về hợp nhất giữa hai giáo hội gặp khó khăn hơn.
Thêm vào đó, tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (1854) và Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời (1950) cũng làm cho đối thoại giữa Anh Giáo và Công Giáo thêm bế tắc.
Đến 1908, Công Giáo La Mã bắt đầu tổ chức Tuần Cầu Nguyện cho Hiệp Nhất cúa Giáo Hội, nhắm đến những người theo lạc giáo và những người đã tách khỏi giáo hội.[11] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/anh-giao-va-lich-su/#_ftn11_8355)
Về phía Anh Giáo, đại hội Lambeth 1920 cũng kêu gọi sự hiệp nhất Kitô giáo. Năm 1928, đức giáo hoàng Piô XI ra tông thư “Mortalium animos” (Nuôi Dưỡng Sự Hiệp Nhất Tôn Giáo Thật), trong đó không cho phép các thành viên Công Giáo tham gia những Hội Thảo Hiệp Nhất do Anh Giáo hay các giáo phái khác tổ chức. Nhưng giáo hội Công Giáo luôn đón nhận những cá nhân hay cộng đoàn tách khỏi giáo hội Công Giáo nay muốn quay về “với một giáo hội của Chúa Kitô.” (Mortalium animos, no. 10).
Đến năm 1948, đức giáo hoàng Piô XII không cho phép giáo hội Công Giáo là thành viên của tố chức World Council of Churches (một tổ chức bao gồm các giáo phái Kitô giáo trên thế giới).
Năm 1950, lần đầu tiên Toà Thánh công nhận phong trào kêu gọi Hiệp Nhất như một dấu hiệu được linh ứng bởi Chúa Thánh Thần. Lúc này thành viên Công Giáo La Mã được phép tham dự những buổi hội thảo Đại Kết với các giáo phái khác với điều kiện là những hội thảo đó không tranh luận về Tín Điều (thường các đề tài về công tác từ thiện, truyền giáo…).
Trong những buổi hội thảo này, lần đầu tiên Kitô hữu Anh Giáo và Công Giáo đọc kinh Lạy Cha chung với nhau.
Dần dần, các thần học gia và các chức sắc Anh Giáo và Tin Lành được mời họp chung với Công Giáo, và tại công đồng Vatican II (1962-1965), một số đông anh em Tin Lành và Anh Giáo được mời làm Quan Sát Viên.
Năm 1965, tổng giám mục Michael Ramsey của Canterbury gặp đức giáo hoàng Paul VI tại Roma để bàn chuyện Hiệp Nhất. Cả hai đồng ý thành lập một Ủy Ban Quốc Tế Anh Giáo-Công Giáo (the Anglican-Roman Catholic International Commission – ARCIC) để lo việc này.
Năm 1968 Ủy ban ARCIC đệ trình báo cáo Malta (the Malta Report) cho biết nên thường xuyên đối thoại giữa hai giáo hội để tiến đến Hiệp Nhất.
Từ năm 1970-1981, có hơn 13 cuộc họp đối thoại nhắm vào các đề tài “Bí Tích Thánh Thể”, “Mục Vụ và Phong Chức Linh Mục”, “Quyền Hành trong Giáo Hội” v.v…
Năm 1994, một số giám mục Công Giáo Mỹ và các giám mục Anh Giáo Mỹ đã cùng đi hành hưong chung đến Vatican và sau đó đến Canterbury, Anh. Năm 1996, tổng giám mục Canterbury, George Carey, và đức giáo hoàng John Paul II cùng nói đến tầm quan trọng của việc đối thoại về “Quyền Bính trong giáo hội.”
Từ năm 2000 trở đi, nhiều giám mục, linh mục và tín đồ Anh Giáo đã ngõ ý muốn trở lại gia nhập giáo hội Công Giáo, vừa cá nhân, và cộng đoàn.
Tông Hiến ngày 20 tháng 10 năm 2009 là một lời đáp trả những yêu cầu của các tín đồ Anh Giáo này.
<HR align=left width="33%" SIZE=1>
[1] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/anh-giao-va-lich-su/#_ftnref1_8355) Hiến chế (latin: constitutio) là sắc lệnh có thẩm quyền cao nhất được đức giáo hoàng hay công đồng chung ban bố, và thường là về Luật của giáo hội. Tông hiến (hay Hiến Chế Tông Toà – Apostolic Constitution) liên quan đến Anh Giáo lần này là những điều Luật do đức giáo hoàng ban ra. Xưa cũng có Hiến chế Tông Toà như Bộ Luật 85 Điều Khoản ban bố vào thế kỉ 4, nói đến luật truyền chức linh mục, giám mục, luật luân lý của giám mục, linh mục v.v… là tiền thân của giáo luật ngày nay. Công đồng Vatican II có Hiến Chế Tín lí về Giáo Hội (Lumen Gentitum), Hiến Chế Tín lí Mặc khải (Dei Verbum) và Hiến Chế Mục Vụ (Gaudium et Spes). …
[2] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/anh-giao-va-lich-su/#_ftnref2_8355) Từ Anglican bắt nguồn từ tiếng La tinh ecclesia anglicana, nghiã là Giáo Hội Anh Quốc- Church of England. Những tín đồ của giáo hội Anh Quốc được gọi là tín đồ Anh Giáo- Anglican. Từ Anh Giáo không có nghĩa chỉ riêng những tín đồ nói tiếng Anh hay theo văn hoá nước Anh (vì một số lớn tín đồ ngày nay ở Phi Châu và Á Châu), nhưng để chỉ những giáo phái có cùng một nguồn gốc từ Giáo hội Anh Quốc.
[3] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/anh-giao-va-lich-su/#_ftnref3_8355) Tin Lành là danh từ Việt Nam chúng ta dùng để gọi những anh em theo nhóm Cải Cách ở Âu Châu đầu thế kỷ 16. Vì Nhóm Cải Cách (Reformer) có nhiều giáo phái khác nhau, nhưng họ có chung một lý tưởng thời đó là chống lại giáo hội Công Giáo La Mã, nên họ có tên là Thệ Phản (hay là những người chống đối – Tiếng Anh là Protestants, tiếng Pháp là Protestantes). Trong bài này, danh từ anh em Tin Lành được dùng để dịch từ Protestant, và sẽ không dùng từ Thệ Phản vì từ này không quen sử dụng trong cộng đồng Việt Nam chúng ta.
[4] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/anh-giao-va-lich-su/#_ftnref4_8355) Ở Nhật, nếu dùng mẫu tự Latin để ghi tên Hội Thánh Công Giáo Nhật là The Nippon Sei Ko Kai; ở Trung Quốc, Hội Thánh Công Giáo Trung Hoa là Chung-Hua Sheng Kung Hui.
[5] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/anh-giao-va-lich-su/#_ftnref5_8355) Theo thần học của giáo hội Công Giáo, chỉ có giáo hội Công Giáo và giáo hội Chính Thống được chấp nhận danh xưng là Giáo Hội (Church), còn tất cả những giáo phái Tin Lành và Anh Giáo khác chỉ được gọi là Cộng đoàn thuộc về hội thánh (ecclesial communities). Tôi dùng danh xưng giáo hội Anh Giáo trong bài không phải với ý thần học, nhưng để người đọc đã quen với danh từ những cộng đồng Anh Giáo gọi chính họ: Anglican Church – giáo hội Anh quốc.
[6] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/anh-giao-va-lich-su/#_ftnref6_8355) Trong Sáu Điều Khoản Đức Tin (Six Articles of Faith) ban hành năm 1536, vua Henry VIII nói đến sự hiện diện của Chúa Giêsu Kitô khi dùng danh từ “corporal and substantial” (có nhục thể và có thực thể), dù nhà vua không dùng từ “transubstantiation” (biến đổi bản thể).
[7] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/anh-giao-va-lich-su/#_ftnref7_8355) Xem Thomas Bokenkotter, A Concise History of the Catholic Church (Doubleday, 1990), 211.
[8] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/anh-giao-va-lich-su/#_ftnref8_8355) Elezabeth I không có thiện cảm với Công Giáo vì bà coi bà là người sinh ra không hợp đạo (là con của Edward VI và là cháu của vua Henry VIII với bà Anne Boleyn).
[9] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/anh-giao-va-lich-su/#_ftnref9_8355) Trong thập niên 1630, có chừng hai chục ngàn (20,000) người Thanh Giáo qua Mỹ và tập trung phần lớn ở vùng gọi là New England ngày nay. Giáo phái Calvinist phát triển mạnh trong vùng này từ thòi đó.
[10] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/anh-giao-va-lich-su/#_ftnref10_8355) John Henry Newman (1801-1890) là một nhân vật nổi tiếng thuộc nhóm Về Nguồn này. Sau khi gia nhập giáo hội Công Giáo năm 1845, Ngài trở nên linh mục, rồi làm Hồng Y. Giáo hội đang xét tiến trình phong thánh cho Ngài.
[11] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/anh-giao-va-lich-su/#_ftnref11_8355) Linh mục Paul Wattson là một tín đồ Anh Giáo trở về với Công Giáo, và thiết lập tuần cầu nguyện cho Hiệp Nhất ở New York, Mỹ vào năm 1908. Ở Pháp, tu sĩ Paul-Iréné Couturier cũng tổ chức 3 ngày cầu nguyện cho Hiệp Nhất vào năm 1933. Ngày nay, giáo hội Công Giáo ấn định tuần cầu nguyện cho Hiệp Nhất vào ngày 18-25 tháng giêng hằng năm, kết thúc vào ngày lễ kính thánh Phaolô Tông Đồ Dân Ngoại, 25 tháng 1.
Lm. Matthew Nguyễn Khắc Hy
http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/anh-giao-va-lich-su/

admin
16-03-2010, 09:23 PM
Chức Linh Mục của Anh Giáo
Vấn nạn chính trong tiến trình tìm về hiệp nhất với Giáo Hội Công Giáo của khối Anh giáo mà chúng ta nghe nhiều trong các bài viết ngày nay là câu hỏi về bí tích Truyền Chức Thánh mà các giám mục và linh mục Anh giáo hiện đang có và đang thi hành chức vụ. Chúng ta cùng nhau tìm hiểu: Tại Sao Giáo Hội Công Giáo đặt câu hỏi về Chức Thánh với Anh giáo?
Chức Linh Mục và Bí Tích Thánh Thể
Thật ra, trọng tâm không là bí tích Truyền Chức Thánh nhưng là bí tích Thánh Thể. Theo lý luận của giáo hội Công Giáo, bí tích thánh thể (thánh lễ) là trung tâm đời sống linh đạo của mọi Kitô hữu, và là điều kiện để nhận ra sự hiện diện của giáo hội. Nghĩa là, bí tích thánh thể sản sinh ra giáo hội, và giáo hội tiếp tục bảo trì qua việc cử hành bí tích thánh thể để giáo hội trường tồn.[1] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/chuc-linh-muc-cua-anh-giao/#_ftn1_1466)
Qua linh mục, thánh thể được tiếp tục hiện diện giữa con người. Vì thế, bí tích Truyền Chức Thánh trở nên cần thiết và trọng tâm.[2] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/chuc-linh-muc-cua-anh-giao/#_ftn2_1466) Với bí tích truyền chức, giáo hội công bố sự bảo đảm tính truyền thống được Chúa Giêsu thiết lập nhằm tiếp tục duy trì và làm sống động việc Chúa hiện diện cách cụ thể ở trần gian qua bí tích thánh thể. Hơn nữa, sự bảo đảm tính tông truyền trong tiến trình Truyền Chức là điều cần thiết để một tổ chức còn là Công Giáo.
Câu hỏi đặt ra là: nếu những giám mục tách ra khỏi giáo hội Công Giáo và không được truyền chức một các Hợp Lệ (nghĩa là họ không thực sự là những giám mục dưới cái nhìn của giáo hội Công Giáo), vậy khi họ phong chức cho các linh mục, liệu những linh mục này có là những linh mục thực sự hay không? Và nếu không là linh mục, làm sao có thể có Thánh Lễ (bí tích thánh thể) thực sự được?
Nói cách khác, nếu một số các giám mục Anh giáo không là những giám mục thực sự, chia sẻ chức Giám Mục Tông Truyền trong Giáo Hội, vậy những linh mục được họ phong chức cũng không là những linh mục thực sự. Vì thế, các thánh lễ do các linh mục này dâng cũng không là những Thánh Lễ thực sự.
Giáo lý Công Giáo số 1400 dạy: Các cộng đoàn giáo hội phát sinh từ cuộc Cải Cách, đã ly khai khỏi Giáo Hội Công giáo "không còn giữ được bản chất đích thực và nguyên vẹn của mầu nhiệm Thánh Thể, chủ yếu là vì thiếu bí tích Truyền Chức Thánh". Vì lý do này, Giáo hội Công giáo không thể cùng với họ cử hành bí tích Thánh Thể được. Nhưng khi các cộng đoàn này "tưởng niệm sự chết và sự sống lại của Chúa trong Tiệc Thánh, họ đã tuyên xưng rằng sự sống chỉ có nghĩa nhờ hiệp thông với Chúa Ki-tô và họ mong đợi ngày trở lại vinh quang của Người."
Vì bí tích thánh thể liên quan trực tiếp đến bí tích truyền chức, nên Giáo Hội Công Giáo đã cẩn thận suy xét quá trình hiệp nhất dựa trên bí tích truyền chức.
Giáo Huấn của Giáo Hội Công Giáo và Chức Linh Mục Anh Giáo
Chúng ta có thể bắt đầu bằng lời phán quyết của đức giáo hoàng Leo XIII, rằng: “chức thánh của Anh giáo là vô hiệu (invalid).”
Năm 1894 môt số những nhà lãnh đạo Anh giáo liên lạc với giáo hội Pháp và nói đến việc hợp tác chuyên môn trong nhiều lãnh vực thần học và thánh kinh, và những vị đại diện này cũng lên tiếng là Toà Thánh Roma đã đối xử thiên vị với Anh giáo khi nói đến chức năng giám mục và linh mục không được giáo hội Công Giáo công nhận. Một số các giám mục Pháp đã tường trình lên Toà Thánh ý kiến này, và đức giáo hoàng Leo XIII đã cho mở cuộc điều tra.
Một ủy ban gồm tám người dưới quyền đức hồng y Mazzella đã nghiên cứu lịch sử và những điều kiện liên quan đến vấn đề Chức Thánh. Sau sáu tuần, ủy ban đã đệ trình lên cho đức giáo hoàng Leo XIII kết quả điều tra. Dựa vào kết qủa điều tra và với ý kiến đồng nhất của tám thành viên, đức giáo hoàng Leo XIII đã đi đến quyết dịnh qua Sắc Chỉ Apostolicae Curae được công bố ngày 18 tháng 9 năm 1896, trong đó Ngài phán quyết: “Chức thánh của Anh giáo vô hiệu.”
Từ sau phán quyết của đức giáo hoàng Leo XIII, giáo hội Công Giáo luôn thi hành nguyên tắc là nếu một linh mục Anh giáo nào muốn gia nhập giáo hội Công Giáo, họ phải được Phong Chức Thánh lại (vì giáo hội không công nhận chức linh mục Anh giáo).
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, nhất là từ sau công đồng Vatican II, khi có nhiều người Anh giáo muốn trở về với giáo hội Công Giáo, nhiều sử gia, nhiều thần học gia Công Giáo và Anh giáo, và nhiều giám mục Công Giáo cũng đã lên tiếng về việc xét lại quyết định “vô hiệu” của chức thánh Anh giáo.
Nguyên nhân của những đòi hỏi này dựa trên cơ sở là giáo hội Công Giáo đã quá khắt khe khi đánh giá những yếu tố lịch sử và bỏ qua những thay đổi quan trọng mà những yếu tố này có thể là nguyên nhân để Chức Thánh Anh giáo được xem là có hiệu lực. Những đòi hỏi này không nhằm chống lại lời phán quyết của đức giáo hoàng Leo XIII nhưng muốn giáo hội Công Giáo Roma tái cứu xét vấn đề vì có nhiều yếu tố lịch sử đã không được giáo hội quan tâm đúng mức trong quá khứ, và những yếu tố này có cơ sở cho Chức Thánh Anh giáo được xem là có hiệu lực.
Đây cũng là tiền đề của việc Toà Thánh ban bố Tông Hiến với những chi tiết được Thánh Bộ Tín Lý soạn thảo để đón nhận những anh em linh mục Anh giáo muốn về hiệp nhất với giáo hội Công Giáo Roma trong tháng 10 năm 2009 vừa qua.
Lý Do Chức Thánh Anh Giáo Không Được Công Nhận
Ta bắt đầu bằng sự hiểu biết và phán quyết của giáo hội về Chức Thánh trong các giáo phái Tin Lành trước khi nói đến Anh giáo.
Theo tín lý của giáo hội, giám mục là người kế vị các tông đồ của Chúa Giêsu, và là người duy nhất có thể Truyền Chức cho các giám mục hay linh mục khác. Vì thế, việc bảo đảm một giám mục trong truyền thống các Tông Đồ (tông truyền) là điều tối cần thiết để đánh giá một giám mục hay linh mục nhận Chức Thánh có hiệu lực hay không. Nghĩa là, nếu một giám mục được phong chức thành sự và có hiệu lực (valid), Ngài là giám mục của giáo hội (không nhất thiết phải là giáo hội Công Giáo, nhưng là một giám mục của giáo hội Chúa Kitô). Vì thế, Ngài duy trì tính Tông Truyền và những yếu tố căn bản tín lý được Chúa Giêsu thiết lập.
Ví dụ, các giám mục của Chính Thống giáo là những những giám mục thực sự, dù các Ngài không tùng phục đức giáo hoàng, vì giáo hội Chính Thống tách rời khỏi giáo hội Công Giáo từ 1054. Nhưng trước khi tách rời khỏi Công Giáo, những giám mục này thực sự được phong chức có hiệu lực, vì thế, các Ngài tiếp tục phong chức cho những giám mục của giáo hội các Ngài, và những giám mục mới này vẫn được coi là Có Hiệu Lực và Thành Sự (hay nói đơn giản là giám mục thực sự).
Theo cách thức đó, các giám mục Chính Thống vẫn tiếp tục truyền thống các Tông Đồ. Do dó, những linh mục Chính Thống được phong chức là những linh mục Có Hiệu Lực và Thành Sự (hay nói đơn giả là linh mục thực sự). Vì thế, những thánh lễ các do các linh mục Chính Thống dâng là những thánh lễ Có Hiệu Lực (thánh lễ thực sự). Vì lý do này, những linh mục Chính Thống khi hiệp nhất với giáo hội Công Giáo không cần được Phong Chức lại (vì theo giáo lý Công Giáo, bí tích Chức Thánh cũng như bí tích thanh tẩy, chỉ được lãnh nhận một lần trong đời và có dấu ấn suốt đời; cử hành bí tích hai lần cho một người là Phạm Thánh.)[3] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/chuc-linh-muc-cua-anh-giao/#_ftn3_1466)
Với các giáo phái Tin Lành, từ thời Cải Cách (thế kỷ 16) về sau, giáo hội Công Giáo không công nhận những Chức Thánh trong các giáo phái này vì họ đã công khai từ chối vai trò giáo huấn của giáo hội, và không chấp nhận vài nghi thức và lời dạy cúa giáo hội về chức giám mục và linh mục.
Về tín lý, một số giáo phái công nhận vai trò của những người làm công tác mục vụ từ thời các Tông Đồ, nhưng loại bỏ chức năng giám mục và chỉ hoạt động với chức năng tư tế (hay Việt Nam ta hay gọi là Mục Sư) và phó tế mà họ tìm thấy trong Tân ước mà thôi. Một số giáo phái khác công nhận chức năng giám mục nhưng từ chối nền tảng thần học của chức năng này, và thay đổi nghi thức để hợp với những cải cách thần học của họ. Với họ, chức năng tư tế cộng đồng (nghiã là mọi người đều có thể làm mục sư/ linh mục) là nền tảng thần học.
Về nghi thức, họ xem việc đặt tay trong lễ Truyền Chức là biểu tượng đơn giản hơn là ý nghĩa thần học truyền thống như giáo hội Công Giáo giảng dạy.
Vì những quan điểm này hoàn toàn khác với giáo huấn của Công Giáo nên giáo hội Công Giáo không công nhận những chức thánh (giám mục, mục sư/ linh mục, phó tế) này của các giáo phái Tin Lành.
Trường hợp của Anh giáo thì không hoàn toàn như vậy. Khi ly khai với giáo hội Công Giáo (mà nguyên nhân là chính trị hơn là tín lý), Anh giáo thời kỳ đó vẫn có những giám mục thực sự của giáo hội, nghĩa là những vị này được phong chức có hiệu lực và thành sự. Vì thế, nếu các ngài phong chức cho một giám mục khác, vị giám mục đó cũng là một giám mục có hiệu lực.
Trong thời kỳ đầu của Anh giáo, khi vua Henry VIII còn sống, tổng giám mục Canterburry là Thomas Cranmer (người được Henry VIII chỉ định) vẫn giữ nguyên những công thức trong nghi lễ của các phụng vụ và phong chức của giáo hội Công Giáo, dù ông là người ủng hộ chủ trương của giáo phái Luther và Calvin, và tán đồng viêc thay đổi những tín lý của giáo hội Công Giáo cho thích hợp với hoàn cảnh nước Anh.[4] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/chuc-linh-muc-cua-anh-giao/#_ftn4_1466)
Sau khi Henry VIII chết (năm 1547), Cranmer được tự do hơn để sứa đổi thần học và diễn dịch thần học hợp với giáo hội Anh, cụ thể nhất là các bí tích và chức linh mục.
Lúc Henry VIII chết năm 1547, Edward I lên ngôi nhưng chỉ mới 9 tuổi, vì thế một Hội Đồng Cố Vấn được chọn để cai trị đất nước. Hội Đồng này theo Cải Cách Tin Lành và tìm mọi cách ngăn cản ảnh hưởng trở lại với giáo hội Công Giáo. Trong hoàn cảnh này, Cranmer xuất bản cuốn Sách Nguyện Chung (Book of Common Prayer) năm 1550 và 1552, trong đó ông sửa đổi nghi thức phong chức mới, loại bỏ chức nhỏ (minor orders) để hợp với Tân Ước hơn, gồm có phó tế, linh mục và giám mục. Dù giữ lại nghi thức đặt tay trong nghi lễ Truyền Chức linh mục, Cranmer loại bỏ những câu có liên hệ đến tính hy sinh của chức năng linh mục hay của thánh lễ, xoá những đoạn có liên quan đến linh mục là người dâng Thánh Lễ (thay vào đó bằng Chúa Giêsu là vị Thượng Tế duy nhất, và cộng đoàn là những người thực sự dâng lễ còn linh mục chỉ là người hướng dẫn), và không nói đến việc xức dầu trong nghi thức phong chức linh mục. Chính những thay đổi này đã làm cho vấn đề Chức Thánh của Anh giáo phải được xét lại.[5] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/chuc-linh-muc-cua-anh-giao/#_ftn5_1466)
Edward I chết năm 1553 lúc mới 15 tuổi. Với sự hướng dẫn của những người cố vấn chống giáo hội Công Giáo, ông chỉ định người bà con là công nương Jane Grey lên ngôi và loại bỏ hai người chị em cùng cha khác mẹ là Mary (Công Giáo) và Elizabeth (Tin Lành). Nhưng Lady Jane Grey chỉ làm nữ hoàng được 9 ngày, Hội Đồng Cố Vấn Quốc Gia đã quyết định đưa Mary I làm nữ hoàng, vì bà là con vua Henry VIII. Chính Mary I đã làm mọi cách để đem nước Anh trở lại với giáo hội Công Giáo Roma trong 5 năm bà cai trị. Sau Mary I, Elizabeth lên ngôi và bà ủng hộ việc theo chủ trương cải cách Tin Lành và tách rời khỏi giáo hội Công Giáo Roma.
Dưới thời Edward, hai yếu tố chính làm cho Chức Thánh của Anh giáo bị đặt nghi vấn là: (1) công thức dùng để phong chức giáo hội và linh mục được thay đổi, và (2) có giám mục đã được phong chức không đúng theo những tiêu chuẩn của giáo hội Công Giáo.

admin
16-03-2010, 09:24 PM
Trường Hợp Cụ Thể
Nữ hoàng Elizabeth I lên ngôi và muốn tách nước Anh khỏi ảnh hưởng của giáo hội Công Giáo, và theo Cải Cách Tin Lành. Bà muốn chọn Matthew Parker, người được bà tin tưởng, làm tổng giám mục của Canterbury. Bà muốn dùng Parker để xây dựng một hàng giáo phẩm ở Anh theo đường lối Cải Cách và dưới quyền điều khiển của bà. Nghĩa là, nếu Parker được làm giám mục, thì Parker có thể tiếp tục Truyền Chức giám mục cho những giám mục khác. Điều quan trọng là làm thế nào tìm được các vị giám mục thực sự để truyền chức cho Parker.
Lúc bấy giờ không một vị giám mục Công Giáo nào, cho dù không đồng ý với Toà Thánh về những quyền hành chính trị, muốn đứng ra phong chức cho Parker. Elizabeth I đã nhờ cậy đến bốn vị giám mục trong đó có ba vị (William Barlow, John Scory, và Miles Coverdale) là những người bị nữ hoàng Mary I cách chức vì công khai theo Cải Cách Tin Lành, và John Hodgkins, một giám mục phản bội giáo hội Công Giáo và chạy theo những biến đổi của xã hội.
Ngày 17 tháng 12 năm 1559, tại nguyện đường ở Lambeth, Matthew Parker được truyền chức giám mục theo nghi thức Edward, nghĩa là nghi thức đã sửa đổi, và không còn mang nội dung và nghi thức Công Giáo nữa.
Ba ngày sau khi được truyền chức, Parker đã truyền chức cho bốn giám mục khác của giáo hội Anh quốc. Từ đó, đa số những giám mục trong Anh giáo được truyền chức bởi những giám mục đến từ nhóm này.
Câu hỏi là: liệu Chức Thánh của Parker có hiệu lực và thành sự không? Đây cũng chính là nguyên nhân của những tranh luận xoay quanh tính hiệu lực của Chức Thánh Anh giáo.
Leo XIII và Chức Thánh của Anh giáo
Với Sắc Chỉ Apostolicae Curae, đức giáo hoàng Leo XIII phán quyết là “Chức Thánh của Anh giáo vô hiệu.”
Nguyên tắc được dùng là: để một bí tích được thành sự và có hiệu lực, giáo hội đòi hỏi Mô Thức Hữu Hiệu (valid form) và một Chất Thể Hữu Hiệu (Valid Matter).[6] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/chuc-linh-muc-cua-anh-giao/#_ftn6_1466) Bên cạnh hai yếu tố này, Chủ Ý (intention) là điều quan trọng.
Trong Sắc Chỉ Apostolicae Curae, đức giáo hoàng Leo XIII lý luận rằng chúng ta không thấy được Chủ Ý (suy nghĩ) của con người. Vì thế, chúng ta đánh giá việc làm của họ qua hình thức bên ngoài. Qua hình thức và chất thể, chúng ta phán đoán Chủ Ý của người ban các bí tích.
Trong trường hợp Anh giáo, họ tự ý thay đổi một vài lời trong nghi thức Truyền Chức, nhất là ý nghĩa Hy Sinh của thánh lễ, và chức năng của linh mục.[7] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/chuc-linh-muc-cua-anh-giao/#_ftn7_1466) Vậy khi dùng một công thức khác với công thức được giáo hội cộng nhận, Leo XIII phán quyết là những các giám mục Anh giáo đã không nhận cùng một bí tích được giáo hội Công Giáo Roma hiểu.[8] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/chuc-linh-muc-cua-anh-giao/#_ftn8_1466) Nghĩa là, những Chức Thánh này không có hiệu lực.
Điều khó khăn là không phải nghi thức này được luôn dùng trong mọi lễ nghi phong chức giám mục của Anh giáo, mà chỉ xảy ra trong khoản thời kỳ từ thời Edward cho đến thời Charles II (khoảng năm 1552 đến 1662). Dù chỉ một vài giám mục được phong chức Vô Hiệu (không thực sự là giám mục theo tiêu chuẩn giáo hội Công Giáo Roma), nhưng khi các Ngài tham dự lễ phong chức cho các giám mục khác trong lịch sử, làm thế nào để phân định chính xác Ai là người được vị Giám Mục nào phong chức?
Nói cách khác, 500 năm lịch sử của Anh giáo đã không cho phép các sử gia đi vào chi tiết để tìm hiểu cặn kẻ Ai là Giám Mục Thực Sự và Ai là không. Vì thế, phán quyết của đức giáo hoàng Leo XIII là chung cho mọi giám mục và linh mục của Anh giáo cho đến ngày nay.[9] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/chuc-linh-muc-cua-anh-giao/#_ftn9_1466)
Kết Luận
Giáo hội Công Giáo Roma luôn trân trọng truyền thống sống đạo của Anh giáo, và vui mừng đón nhận những thành viên muốn tìm về hiệp nhất với giáo hội Công Giáo Roma. Tuy nhiên, vì lịch sử đã chứng minh là Chức Thánh của Anh giáo không thực sự tiếp tục truyền thống của giáo hội từ thời các Tông Đồ qua nhưng cố tình thay đổi nghi thức Truyền Chức, giáo hội Công Giáo Roma đã không công nhận chức giám mục và linh mục của Anh giáo.
Dù vậy, giáo hội Công Giáo luôn tạo điều kiện dễ dàng để những linh mục Anh giáo, sau khi hiệp nhất với giáo hội Công Giáo Roma, nếu muốn tiếp tục thi hành chức vụ linh mục, cũng được giúp đỡ để tiếp tục mục vụ cho những người tín hữu Anh giáo gia nhập giáo hội Công Giáo.
<HR align=left width="33%" SIZE=1>
[1] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/chuc-linh-muc-cua-anh-giao/#_ftnref1_1466) Thánh Iraneaus dạy rằng Thánh Thể thiết lập Giáo Hội, và Giáo Hội tiếp tục bí tích thánh thể. Tư tưởng này được lặp lại nhiều lần trong tông thư John Paul II, Ecclesia de Eucharistia (17 April 2003), 1: AAS 95 (2003), 433.
[2] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/chuc-linh-muc-cua-anh-giao/#_ftnref2_1466) Chức thánh được nhắc đến trong giáo hội gồm chức Giám mục, Linh mục và Phó tế. Trong bài này, vì nội dung liên hệ trực tiếp đến bí tích Thanh thể nên chức thánh được nhấn mạnh ở đây là chức Giám mục vá chức Linh mục.
[3] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/chuc-linh-muc-cua-anh-giao/#_ftnref3_1466) Ví thế, những ứng viên đã lãnh nhận bí tích thanh tẩy ở những giáo phái Tin Lành, khi gia nhập giáo hội Công Giáo, họ không được Rửa Tội lại, mà chỉ được mời đón nhận bí tích thếm sức và thánh thể như một bước trọn vẹn gia nhập giáo hội Công Giáo.
[4] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/chuc-linh-muc-cua-anh-giao/#_ftnref4_1466) George H. Tavard. A Review of Anglican Orders: The Problem and the Solution. (Collegeville: Liturgical Press, 1990) 19
[5] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/chuc-linh-muc-cua-anh-giao/#_ftnref5_1466) Nghi thức phong chức này được gọi là Edwardine Order. Xem George H. Tavard. A Review of Anglican Orders, 24.
[6] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/chuc-linh-muc-cua-anh-giao/#_ftnref6_1466) Ví dụ, bí tích thanh tẩy (rửa tội) cần có Mô thức Hữu Hiệu là công thức: Cha-Con-Thánh Thần; và Chất Thể Hữu Hiệu là Nước. Nếu rửa tội mà không có Nước hay đọc không đúng công thức Cha-Con-Thánh Thần thì bí tích đó vô hiệu.
[7] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/chuc-linh-muc-cua-anh-giao/#_ftnref7_1466) Apostolicae Curae, nos. 12 và 13
[8] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/chuc-linh-muc-cua-anh-giao/#_ftnref8_1466) George H. Tavard. A Review of Anglican Orders, 103; và Apostolicae Curae nos. 31, 33
[9] (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/chuc-linh-muc-cua-anh-giao/#_ftnref9_1466) Apostolicae Curae, 26
Lm. Matthew Nguyễn Khắc Hy
http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/chuc-linh-muc-cua-anh-giao/ (http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/03/16/chuc-linh-muc-cua-anh-giao/)

admin
16-03-2010, 09:26 PM
http://gpnt.net/diendan/showthread.php?t=12390