admin
22-03-2010, 07:05 AM
LẠY CHA, XIN THA CHO HỌ, VÌ HỌ KHÔNG BIẾT VIỆC HỌ LÀM
SUY NIỆM PHÚC ÂM (III C 21); (28.03.2010), (Lc 22, 14- 23, 56).
CHÚA NHẬT LỄ LÁ, NĂM C
NGUYỄN HỌC TẬP
Vì không thể chú giải hết bài Phúc Âm Thánh dài hôm nay của Thánh Luca, Chúa Nhật Lễ Lá, chúng ta chỉ giới hạn suy niệm một vài ý nghĩa về mầu nhiệm Phục Sinh của cuộc Khổ Nạn và Tử Nạn của Chúa Giêsu, đặc tâm chú ý đến sự đau khổ và cái chết. Và sau cùng, chúng ta liệt kê một vài đặc điểm của đoạn Phúc Âm Thánh Luca hôm nay, khác với các Phúc Âm Nhất Lãm khác.
1 - Mầu nhiệm Phục Sinh.
Chúa Nhật Lễ Lá và đoạn Phúc Âm tường thuật lại cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu đưa chúng ta vào những giây phút quyết định cuộc đời Người. Nếu cả cuộc đời Chúa Giêsu có giá trị cứu rổi, thì với mầu nhiệm Phục Sinh, biến cố khổ nạn, cái chết và cuộc phục sinh, Phúc Âm hướng dẫn chúng ta đến thượng đỉnh và trung tâm điểm của sứ điệp, mà cuộc đời Chúa Giêsu muốn giảng dạy cho chúng ta.
Không có Phúc Âm, nếu không có mầu nhiệm Phục Sinh.
Đoạn Phúc Âm tường thuật lại những gì chúng ta đọc hôm nay trong Chúa nhật Lễ Lá không phải chỉ là những trang sách thời sự, thông tin để thỏa mãn tính hiếu kỳ cho những ai muốn biết, nhưng là những trang được viết lên với đức tin tràn đầy để loan báo. Đó là những trang ghi lại tâm tình và đức tin của các tín hữu, để nói với các tín hữu khác, hay nói với những ai đang muốn mở tâm hồn mình ra lắng nghe những gì Thiên Chúa muốn làm cho mình.
Hiểu như vậy, chúng ta hiểu được ngay cả hôm nay đối với chúng ta, đón nhận những dòng chữ trên Phúc Âm về cuộc khổ nạn, tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu một cách có hiệu quả và hữu ích, tùy theo tâm thức tham dự nội tâm của mình biết lắng nghe và đón nhận.
Cộng đồng Kitô giáo tiên khởi không bao giờ rao giảng cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu, mà không kèm liền theo sau đó biến cố Phục Sinh của Người.
Không có Phục Sinh, Chúa Giêsu chết đi như Socrate hay như một trong các nhà đại hiền triết Hy Lạp trong quá khứ cũng đã ra đi, có lẽ chúng ta có thêm một vị tử đạo, chớ không phải một Đấng Cứu Thế đến cứu nhân loại.
Không có biến cố Phục Sinh, có lẽ Chúa Giêsu cũng chỉ là người bị thất bại, một nạn nhân vô tội thêm nữa đối với bạo lực của hệ thống độc tài và giết người lúc đó. Có lẽ như vậy Người cũng chỉ là một nạn nhân trong luật chung, không có gì phải đặc tâm chú ý và đời sống của Người không có gì là “Tin Mừng” hay “Phúc Âm” cho con người.
Trái lại cuộc đời của Người, với các biến cố xảy ra, là một cái gì phi thường và bởi đó bao nhiêu người sống đồng thời với Người, các môn đệ Người, các cộng đồng Khi Tô hữu tiên khởi đều tuyên bố và loan truyền ra cho mọi người biết.
Cuộc đời của Chúa Giêsu đã ghi dấu vào lịch sử nhân loại một cách sống lý tưởng mới mẻ, được lưu truyền và tồn tại đến ngày nay, sau trên 2000 năm lịch sử.
Sau 2000 năm, đời sống và lời giảng dạy của Chúa Giêsu vẫn còn làm cho bao nhiêu người ngạc nhiên, và điều đáng chú ý hơn nữa, số người vâng nghe Người, những môn đệ của Người, càng ngày càng thêm nhiều. Mặc cho nhãn quan của chúng ta vẫn còn bị giới hạn ở chân trời của thực trạng cuộc sống đầy đau khổ và chết chóc, nhưng viễn ảnh của sự sống và xoá tan đi cách hành xử đê tiện hoá con người của sứ điệp Phúc Âm khiến chúng ta ngước mắt ngưỡng mộ và mong ước.
Cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu khởi đầu từ cơn hấp hói trong vườn Giêtsêmani, tiếp đến là cuộc phản bội của Giuđa làm cho người ta có thể bắt Người dẫn đi, trước tiên đến trước quyền lực Do Thái, kế đến trước quyền lực Roma. Rồi lời kết án của uy quyền Roma, chiều theo lời la lối của dân chúng, đem Chúa Giêsu đi, sau nhiều lần chịu đau khổ và hạ nhục, đến núi Calvario, nơi xử án tử hình.
Bài Phúc Âm tưòng thuật lại khá dài và đôi khi kể cả chi tiếc, để nói lên cho người tín hữu đâu là giá trị của cuộc xử và kết án. Bởi đó Phúc Âm nhấn mạnh đến những gì được kể là thực hiện các điều đã được Cựu Ước xác định.
* Chúa Giêsu bị lên án, vì Người xưng mình là Con Thiên Chúa:
- “Mọi người liền hỏi: Vậy ông là Con Thiên Chúa hay sao?".
- "Người bảo: “Đúng như các ông nói, chính tôi đây".
- "Họ liền nói: “Chúng ta cần gì lời chứng nữa? Chính chúng ta vừa nghe miệng hắn nói” (Lc 22, 70-71).
* Ngoài ra sự kiện vừa kể, có thể đó chỉ là một viện cớ, dưới mắt các nhà quyền năng Do Thái, nhứt là giới tôn giáo, chính con người của Chúa Giêsu là mối doạ nạt cho sự sống còn của dân và Do Thái giáo, bởi lẽ Người chỉ trích Lề Luật, đúng hơn là cách áp dụng Lề Luật của Chúa.
Chúa Giêsu hành xử và giảng dạy ngược lại với truyền thống họ, làm cho dân chúng mất tin tưởng họ là dân được tuyển chọn, làm cho dân chúng không còn tin tưỏng vào giới lãnh đạo của họ nữa,lãnh đạo đạo - đời cũng vậy.
Là một con người bất tiện, ông Giêsu là kẻ phải bị loại trừ.
* Cả tiến trình xử kiện làm cho ai cũng thấy được nguyên cớ tố cáo đưa đến việc xử án Chúa Giêsu là những lý chứng vô căn cứ.
Tuy vậy, với một cách lý luận mà chúng ta không thể hiểu được theo cách suy nghĩ “hợp tình hợp lý” của chúng ta, Chúa Giêsu cúi đầu tuân theo lề luật của họ, Người không phản đối. Người ý thức và sáng suốt chấp nhận những gì xảy đến, đúng hơn như những gì đã được tiên đoán.
Cuộc Khổ Nạn không phải là lịch sử của một kẻ tử tội bị kết án, mà là một tiến trình cứu chuộc của Chúa Giêsu, một biến cố Chúa tỏ ra vinh quang của Người. Nhận xét đó làm cho chúng ta hiểu được cuộc tường thuật không phải được viết lại bởi những ai ngoại cuộc, không can dự gì, mà do những người chính mình tham dự hoàn toàn vào các hậu quả của biến cố. Bởi đó cuộc Khổ Nạn được tường thuật lại bằng những lời đầy kích động của sự sống: ánh sáng Phục Sinh đã bắt đầu ló dạng, xuyên qua các thảm trạng đau khổ Chúa Giêsu đang chịu.
2 - Khổ nạn và đau đớn.
Khổ Nạn là một bài tường thuật cô đọng lại những cơn đau đớn của Chúa Giêsu.
Trong cuộc sống trần thế của mình, Chúa Giêsu tìm cách lau nước mắt cho những ai đau khổ mà Người gặp được trên lộ trình thực hiện sứ mạng cứu độ của mình. Người đã
- hoàn phục lại sức khoẻ cho những người bệnh tật,
- làm cho no lòng những ai đói khát,
- tha thứ cho những ai lỗi lầm, cả những kẻ vì lầm lỗi đã giết Người, “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 22, 34).
- xác nhận rằng không có mối tương quan hâu quả máy móc và trực tiếp giữa bệnh tật, bất hạnh và tội lỗi, “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhận thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh" (Jn 9, 3).
- không đứng ra trực tiếp loại trừ hoàn toàn các nỗi đau khổ, trái lại, và đây là lần đầu tiên, không ai trong chúng ta chưa hề nghe thấy trước đó “Phúc cho ai sầu khổ, vì sẽ được Thiên Chúa ủi an...Phúc cho ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5, 4.10).
Chúa Giêsu không lẫn trốn khỏi những cơn đau khổ và chính Người cũng phải chịụ đau khổ trong nhiều trường hợp. Người đau khổ
- trước đoàn lũ cứng tin,
- trước thái độ từ chối của những kẻ không đón tiếp Người,
- khóc trước cảnh đổ nát sắp đến của thành Giêrusalem.
Nhưng chính trong cuộc Khổ Nạn là thời điểm tập trung lại tất cả các đau đớn của con người với nhân tính của Người,
- từ cảnh phản bội của Giuda đến thái độ chối bỏ của Phêrô,
- bị cô độc và hoàn toàn bỏ rơi đối với tất cả,
- sau khi bị nhạo báng, xỉ vả, quân lính cởi chiếc áo đỏ mà họ đã choàng lên Người, để coi như Người là vua, và đánh đập, nhạo báng, sỉ vả Người,
- họ mặc lại y phục của Người, để dẫn Người ra bên ngoài, đến nơi để đóng đinh Người,
- Người bị xử án thập giá, một loại cực hình dành cho hạng nô lệ, đã phạm trọng tội,
- Người bị dẫn đi đoạn đường lên núi Calvario, nơi chịu cực hình, vác trên vai “patibulum”, thanh gỗ ngang, để sau đó được gắn vào thanh gỗ đứng (stipes hay staticulum ), đã được chôn sẵn ở đó để thành cây thập giá,
- đến nơi hành huyết, Chúa Giêsu bị lột áo quần ra và đóng đinh vào thập giá.
Tuy vậy sự đau khổ của Người không phải là sự đau khổ của những ai thất chí, bại trận, đành chịu vậy, bó tay trước số phận, nhưng là một cuộc đau khổ chấp nhận và được chuẩn định, đánh giá trước.
Chúa Giêsu có thể khước từ cách kết thúc hung bạo cuộc sống như vậy, chọn một cái chết xứng đáng hơn.
Nhưng Người không làm,
- trước tiên bởi vì Người muốn đồng chung số phận, chia xẻ cảnh ngộ với tất cả mọi người chúng ta, nhứt là với những ai phải chiu đựng cái chết tàn ác, bất công và vô nhân đạo. Ngay cả trong cái chết của Người, Người luôn luôn trung thành với chương trình đứng về phía những ai rốt cùng, những kẻ bị khinh bỉ, bị loại ra bên lề xã hội, không có một giá trị nào;
- kế đến, Người cũng muốn dạy cho chúng ta biết rằng ngay cả từ những đau khổ nhục nhả và từ cái chết hèn hạ đáng khinh bỉ trước mặt xã hội con người, cũng có thể thoát xuất ra cách sống chính đáng và nguồn mạch sự sống.
- và sau cùng sự đau khổ của Người là cái chết chấp nhận ý muốn của Chúa Cha, làm cho cuộc đau khổ mang đầy ý nghĩa.
Trên đỉnh Calvario sự đau khổ của Chúa Giêsu làm cho phân biệt ra hai hạng người:
- một số người nhận thấy đó là lý do để chối bỏ sự hiện diện của Thiên Chúa,
- những người khác cảm nhận được Thiên Chúa hiện diện một cách bí ẩn, mặc dầu không phải dễ nhận ra.
3 - Cái chết.
Cái chết, đoạn cuối cùng của cuộc đau khổ, đã kết thúc cơn đau đớn của Chúa Giêsu, giây phút cuối của cuộc đời Người.
Một mình chết trên thập giá, bị lên án như là một tên tội đồ ác độc, Chúa Giêsu gánh lấy trên Người tất cả tội lỗi của nhân loại, kết thúc cuộc sống trần gian của mình.
Nhưng đồng thời Người đang làm nảy sinh ra một thế hệ nhân loại mới.
Cái chết của Chúa Giêsu bên ngoài như bao nhiêu cái chết của những người khác, nhưng là cái chết khác biệt.
Với cái chết Chúa Giêsu chia xẻ số phận bất lực của nhân loại, ý nghĩa chết là hết, thảm trạng chia tách bỏ lại tất cả mọi người và mọi của cải, chức quyền, tình cảm, tâm tư mình có được lúc sống.
Nhưng khác với cái chết của nhân loại chúng ta, cái chết của Chúa Giêsu là cái chết mang mầm mống chiến thắng khải hoàn của người Kitô hữu. Điều vừa kể, chính viên đội trưởng là người ngoại giáo đã cảm nhận được và lời nói của anh là những lời tuyên xưng đức tin:
- “Mặt trời ngưng chiếu sáng. Bức màn trướng trong Đền Thờ bị xé ngay chính giữa... Thấy sự việc xảy ra như vậy, viên đội trưởng cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa rằng: “Ông nầy đích thực là người công chính!” (Lc 23, 45.47).
Và rồi đoàn lủ dân chúng ra về đấm ngực, thống hối:
- “Toàn thể dân chúng đã kéo đến xem cảnh tượng ấy, khi thấy sự việc đã xảy ra đều đấm ngực ra về” (Lc 43, 28).
Chúa Giêsu tự đặt mình trên đường chạm trán thẳng với quyền lực của xã hội con người lúc đó, Người đã chọn cái chết, hay nói theo ngôn ngữ Phúc Âm, “đã vác lấy thập giá mình". Để giải thoát con người khỏi quyền năng của cái chết do tội lỗi gây nên, Chúa Giêsu đã muốn nhận lấy hoàn cảnh chết của mọi người trên mình Người.
Cái chết của Người không phải là điều bất ngờ, cũng không phải do số phận thảm đạm của cuộc đời Người. Chính Nguời đã tiên báo với các môn đệ, để tránh cho các ông khỏi phải đối phó như là một điều bất ngờ, ô nhục:
- “Con Người phải chịu đau khô nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ trỗi dậy” (Lc 9, 22).
Người cảm thấy bối rối trước viễn ảnh đó, cũng như xúc động trước ngôi mộ của Lazzaro, đã xin Chúa Cha, nếu có thể được cho Người khỏi phải trải qua giây phút đầy hải hùng của cuộc sống con người đó. Nhưng sau cùng, Người chấp nhận chén đắng với một cử chỉ yêu thương không ai có thể so sánh được:
- “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén nầy xa con. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, mà làm theo ý Cha” (Lc 22, 42).
Với Chúa Kitô một thế hệ nhân loại mới được khởi đầu.
Sau cái chết của Người,
- không ai còn được phép lựa chọn giữa đau khổ và hạnh phúc, mà là lựa chọn giữa đau khổ vô ý nghĩa và không được tưởng thưởng với hạnh phúc đạt được qua đau khổ;
- không được chọn giữa cái chết và đời sống khỏi phải chết, mà giữa cái chết không có sự sống, không có được cuộc sống vinh quang và sự sống vinh quang trong đó đau khổ là điều kiện tiên quyết để có được cuộc sống đời đời.
- Chúa Giêsu không được Chúa Cha lắng nghe cho khỏi phải bước đi theo con đường leo lên đỉnh Calvario và được cứu thoát khỏi khổ nạn thập giá, “khỏi uống chén đắng” , nhưng Người được Chúa Cha đón nhận lên ngai bên phải Người trên trời, sau cuộc Khổ Nạn, nơi đó không còn phải chết nữa.
- Sau cái chết của Chúa Giêsu, cái chết vẫn chưa chấm dứt là một thảm trạng cho nhân loại, mà là trở thành một thảm trạng khác hẵn với viễn tượng trước đó.
Chúa Giêsu thể hiện hình ảnh “Người Tôi Tớ đau khổ” đã được Isaia loan báo trước đó. Người đau khổ, nhưng không phải vì lỗi mình, chết đi nhưng không phải chịu đựng cái chết như một hình phạt.
Bằng cách chết đi, Người tỏ ra mối liên đới với con người. Cái chết của Người không phải là hết, mà là cái chết của hạt giống sung mãn được gieo vào lòng đất để sinh ra nhiều hoa trái.
SUY NIỆM PHÚC ÂM (III C 21); (28.03.2010), (Lc 22, 14- 23, 56).
CHÚA NHẬT LỄ LÁ, NĂM C
NGUYỄN HỌC TẬP
Vì không thể chú giải hết bài Phúc Âm Thánh dài hôm nay của Thánh Luca, Chúa Nhật Lễ Lá, chúng ta chỉ giới hạn suy niệm một vài ý nghĩa về mầu nhiệm Phục Sinh của cuộc Khổ Nạn và Tử Nạn của Chúa Giêsu, đặc tâm chú ý đến sự đau khổ và cái chết. Và sau cùng, chúng ta liệt kê một vài đặc điểm của đoạn Phúc Âm Thánh Luca hôm nay, khác với các Phúc Âm Nhất Lãm khác.
1 - Mầu nhiệm Phục Sinh.
Chúa Nhật Lễ Lá và đoạn Phúc Âm tường thuật lại cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu đưa chúng ta vào những giây phút quyết định cuộc đời Người. Nếu cả cuộc đời Chúa Giêsu có giá trị cứu rổi, thì với mầu nhiệm Phục Sinh, biến cố khổ nạn, cái chết và cuộc phục sinh, Phúc Âm hướng dẫn chúng ta đến thượng đỉnh và trung tâm điểm của sứ điệp, mà cuộc đời Chúa Giêsu muốn giảng dạy cho chúng ta.
Không có Phúc Âm, nếu không có mầu nhiệm Phục Sinh.
Đoạn Phúc Âm tường thuật lại những gì chúng ta đọc hôm nay trong Chúa nhật Lễ Lá không phải chỉ là những trang sách thời sự, thông tin để thỏa mãn tính hiếu kỳ cho những ai muốn biết, nhưng là những trang được viết lên với đức tin tràn đầy để loan báo. Đó là những trang ghi lại tâm tình và đức tin của các tín hữu, để nói với các tín hữu khác, hay nói với những ai đang muốn mở tâm hồn mình ra lắng nghe những gì Thiên Chúa muốn làm cho mình.
Hiểu như vậy, chúng ta hiểu được ngay cả hôm nay đối với chúng ta, đón nhận những dòng chữ trên Phúc Âm về cuộc khổ nạn, tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu một cách có hiệu quả và hữu ích, tùy theo tâm thức tham dự nội tâm của mình biết lắng nghe và đón nhận.
Cộng đồng Kitô giáo tiên khởi không bao giờ rao giảng cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu, mà không kèm liền theo sau đó biến cố Phục Sinh của Người.
Không có Phục Sinh, Chúa Giêsu chết đi như Socrate hay như một trong các nhà đại hiền triết Hy Lạp trong quá khứ cũng đã ra đi, có lẽ chúng ta có thêm một vị tử đạo, chớ không phải một Đấng Cứu Thế đến cứu nhân loại.
Không có biến cố Phục Sinh, có lẽ Chúa Giêsu cũng chỉ là người bị thất bại, một nạn nhân vô tội thêm nữa đối với bạo lực của hệ thống độc tài và giết người lúc đó. Có lẽ như vậy Người cũng chỉ là một nạn nhân trong luật chung, không có gì phải đặc tâm chú ý và đời sống của Người không có gì là “Tin Mừng” hay “Phúc Âm” cho con người.
Trái lại cuộc đời của Người, với các biến cố xảy ra, là một cái gì phi thường và bởi đó bao nhiêu người sống đồng thời với Người, các môn đệ Người, các cộng đồng Khi Tô hữu tiên khởi đều tuyên bố và loan truyền ra cho mọi người biết.
Cuộc đời của Chúa Giêsu đã ghi dấu vào lịch sử nhân loại một cách sống lý tưởng mới mẻ, được lưu truyền và tồn tại đến ngày nay, sau trên 2000 năm lịch sử.
Sau 2000 năm, đời sống và lời giảng dạy của Chúa Giêsu vẫn còn làm cho bao nhiêu người ngạc nhiên, và điều đáng chú ý hơn nữa, số người vâng nghe Người, những môn đệ của Người, càng ngày càng thêm nhiều. Mặc cho nhãn quan của chúng ta vẫn còn bị giới hạn ở chân trời của thực trạng cuộc sống đầy đau khổ và chết chóc, nhưng viễn ảnh của sự sống và xoá tan đi cách hành xử đê tiện hoá con người của sứ điệp Phúc Âm khiến chúng ta ngước mắt ngưỡng mộ và mong ước.
Cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu khởi đầu từ cơn hấp hói trong vườn Giêtsêmani, tiếp đến là cuộc phản bội của Giuđa làm cho người ta có thể bắt Người dẫn đi, trước tiên đến trước quyền lực Do Thái, kế đến trước quyền lực Roma. Rồi lời kết án của uy quyền Roma, chiều theo lời la lối của dân chúng, đem Chúa Giêsu đi, sau nhiều lần chịu đau khổ và hạ nhục, đến núi Calvario, nơi xử án tử hình.
Bài Phúc Âm tưòng thuật lại khá dài và đôi khi kể cả chi tiếc, để nói lên cho người tín hữu đâu là giá trị của cuộc xử và kết án. Bởi đó Phúc Âm nhấn mạnh đến những gì được kể là thực hiện các điều đã được Cựu Ước xác định.
* Chúa Giêsu bị lên án, vì Người xưng mình là Con Thiên Chúa:
- “Mọi người liền hỏi: Vậy ông là Con Thiên Chúa hay sao?".
- "Người bảo: “Đúng như các ông nói, chính tôi đây".
- "Họ liền nói: “Chúng ta cần gì lời chứng nữa? Chính chúng ta vừa nghe miệng hắn nói” (Lc 22, 70-71).
* Ngoài ra sự kiện vừa kể, có thể đó chỉ là một viện cớ, dưới mắt các nhà quyền năng Do Thái, nhứt là giới tôn giáo, chính con người của Chúa Giêsu là mối doạ nạt cho sự sống còn của dân và Do Thái giáo, bởi lẽ Người chỉ trích Lề Luật, đúng hơn là cách áp dụng Lề Luật của Chúa.
Chúa Giêsu hành xử và giảng dạy ngược lại với truyền thống họ, làm cho dân chúng mất tin tưởng họ là dân được tuyển chọn, làm cho dân chúng không còn tin tưỏng vào giới lãnh đạo của họ nữa,lãnh đạo đạo - đời cũng vậy.
Là một con người bất tiện, ông Giêsu là kẻ phải bị loại trừ.
* Cả tiến trình xử kiện làm cho ai cũng thấy được nguyên cớ tố cáo đưa đến việc xử án Chúa Giêsu là những lý chứng vô căn cứ.
Tuy vậy, với một cách lý luận mà chúng ta không thể hiểu được theo cách suy nghĩ “hợp tình hợp lý” của chúng ta, Chúa Giêsu cúi đầu tuân theo lề luật của họ, Người không phản đối. Người ý thức và sáng suốt chấp nhận những gì xảy đến, đúng hơn như những gì đã được tiên đoán.
Cuộc Khổ Nạn không phải là lịch sử của một kẻ tử tội bị kết án, mà là một tiến trình cứu chuộc của Chúa Giêsu, một biến cố Chúa tỏ ra vinh quang của Người. Nhận xét đó làm cho chúng ta hiểu được cuộc tường thuật không phải được viết lại bởi những ai ngoại cuộc, không can dự gì, mà do những người chính mình tham dự hoàn toàn vào các hậu quả của biến cố. Bởi đó cuộc Khổ Nạn được tường thuật lại bằng những lời đầy kích động của sự sống: ánh sáng Phục Sinh đã bắt đầu ló dạng, xuyên qua các thảm trạng đau khổ Chúa Giêsu đang chịu.
2 - Khổ nạn và đau đớn.
Khổ Nạn là một bài tường thuật cô đọng lại những cơn đau đớn của Chúa Giêsu.
Trong cuộc sống trần thế của mình, Chúa Giêsu tìm cách lau nước mắt cho những ai đau khổ mà Người gặp được trên lộ trình thực hiện sứ mạng cứu độ của mình. Người đã
- hoàn phục lại sức khoẻ cho những người bệnh tật,
- làm cho no lòng những ai đói khát,
- tha thứ cho những ai lỗi lầm, cả những kẻ vì lầm lỗi đã giết Người, “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 22, 34).
- xác nhận rằng không có mối tương quan hâu quả máy móc và trực tiếp giữa bệnh tật, bất hạnh và tội lỗi, “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhận thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh" (Jn 9, 3).
- không đứng ra trực tiếp loại trừ hoàn toàn các nỗi đau khổ, trái lại, và đây là lần đầu tiên, không ai trong chúng ta chưa hề nghe thấy trước đó “Phúc cho ai sầu khổ, vì sẽ được Thiên Chúa ủi an...Phúc cho ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5, 4.10).
Chúa Giêsu không lẫn trốn khỏi những cơn đau khổ và chính Người cũng phải chịụ đau khổ trong nhiều trường hợp. Người đau khổ
- trước đoàn lũ cứng tin,
- trước thái độ từ chối của những kẻ không đón tiếp Người,
- khóc trước cảnh đổ nát sắp đến của thành Giêrusalem.
Nhưng chính trong cuộc Khổ Nạn là thời điểm tập trung lại tất cả các đau đớn của con người với nhân tính của Người,
- từ cảnh phản bội của Giuda đến thái độ chối bỏ của Phêrô,
- bị cô độc và hoàn toàn bỏ rơi đối với tất cả,
- sau khi bị nhạo báng, xỉ vả, quân lính cởi chiếc áo đỏ mà họ đã choàng lên Người, để coi như Người là vua, và đánh đập, nhạo báng, sỉ vả Người,
- họ mặc lại y phục của Người, để dẫn Người ra bên ngoài, đến nơi để đóng đinh Người,
- Người bị xử án thập giá, một loại cực hình dành cho hạng nô lệ, đã phạm trọng tội,
- Người bị dẫn đi đoạn đường lên núi Calvario, nơi chịu cực hình, vác trên vai “patibulum”, thanh gỗ ngang, để sau đó được gắn vào thanh gỗ đứng (stipes hay staticulum ), đã được chôn sẵn ở đó để thành cây thập giá,
- đến nơi hành huyết, Chúa Giêsu bị lột áo quần ra và đóng đinh vào thập giá.
Tuy vậy sự đau khổ của Người không phải là sự đau khổ của những ai thất chí, bại trận, đành chịu vậy, bó tay trước số phận, nhưng là một cuộc đau khổ chấp nhận và được chuẩn định, đánh giá trước.
Chúa Giêsu có thể khước từ cách kết thúc hung bạo cuộc sống như vậy, chọn một cái chết xứng đáng hơn.
Nhưng Người không làm,
- trước tiên bởi vì Người muốn đồng chung số phận, chia xẻ cảnh ngộ với tất cả mọi người chúng ta, nhứt là với những ai phải chiu đựng cái chết tàn ác, bất công và vô nhân đạo. Ngay cả trong cái chết của Người, Người luôn luôn trung thành với chương trình đứng về phía những ai rốt cùng, những kẻ bị khinh bỉ, bị loại ra bên lề xã hội, không có một giá trị nào;
- kế đến, Người cũng muốn dạy cho chúng ta biết rằng ngay cả từ những đau khổ nhục nhả và từ cái chết hèn hạ đáng khinh bỉ trước mặt xã hội con người, cũng có thể thoát xuất ra cách sống chính đáng và nguồn mạch sự sống.
- và sau cùng sự đau khổ của Người là cái chết chấp nhận ý muốn của Chúa Cha, làm cho cuộc đau khổ mang đầy ý nghĩa.
Trên đỉnh Calvario sự đau khổ của Chúa Giêsu làm cho phân biệt ra hai hạng người:
- một số người nhận thấy đó là lý do để chối bỏ sự hiện diện của Thiên Chúa,
- những người khác cảm nhận được Thiên Chúa hiện diện một cách bí ẩn, mặc dầu không phải dễ nhận ra.
3 - Cái chết.
Cái chết, đoạn cuối cùng của cuộc đau khổ, đã kết thúc cơn đau đớn của Chúa Giêsu, giây phút cuối của cuộc đời Người.
Một mình chết trên thập giá, bị lên án như là một tên tội đồ ác độc, Chúa Giêsu gánh lấy trên Người tất cả tội lỗi của nhân loại, kết thúc cuộc sống trần gian của mình.
Nhưng đồng thời Người đang làm nảy sinh ra một thế hệ nhân loại mới.
Cái chết của Chúa Giêsu bên ngoài như bao nhiêu cái chết của những người khác, nhưng là cái chết khác biệt.
Với cái chết Chúa Giêsu chia xẻ số phận bất lực của nhân loại, ý nghĩa chết là hết, thảm trạng chia tách bỏ lại tất cả mọi người và mọi của cải, chức quyền, tình cảm, tâm tư mình có được lúc sống.
Nhưng khác với cái chết của nhân loại chúng ta, cái chết của Chúa Giêsu là cái chết mang mầm mống chiến thắng khải hoàn của người Kitô hữu. Điều vừa kể, chính viên đội trưởng là người ngoại giáo đã cảm nhận được và lời nói của anh là những lời tuyên xưng đức tin:
- “Mặt trời ngưng chiếu sáng. Bức màn trướng trong Đền Thờ bị xé ngay chính giữa... Thấy sự việc xảy ra như vậy, viên đội trưởng cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa rằng: “Ông nầy đích thực là người công chính!” (Lc 23, 45.47).
Và rồi đoàn lủ dân chúng ra về đấm ngực, thống hối:
- “Toàn thể dân chúng đã kéo đến xem cảnh tượng ấy, khi thấy sự việc đã xảy ra đều đấm ngực ra về” (Lc 43, 28).
Chúa Giêsu tự đặt mình trên đường chạm trán thẳng với quyền lực của xã hội con người lúc đó, Người đã chọn cái chết, hay nói theo ngôn ngữ Phúc Âm, “đã vác lấy thập giá mình". Để giải thoát con người khỏi quyền năng của cái chết do tội lỗi gây nên, Chúa Giêsu đã muốn nhận lấy hoàn cảnh chết của mọi người trên mình Người.
Cái chết của Người không phải là điều bất ngờ, cũng không phải do số phận thảm đạm của cuộc đời Người. Chính Nguời đã tiên báo với các môn đệ, để tránh cho các ông khỏi phải đối phó như là một điều bất ngờ, ô nhục:
- “Con Người phải chịu đau khô nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ trỗi dậy” (Lc 9, 22).
Người cảm thấy bối rối trước viễn ảnh đó, cũng như xúc động trước ngôi mộ của Lazzaro, đã xin Chúa Cha, nếu có thể được cho Người khỏi phải trải qua giây phút đầy hải hùng của cuộc sống con người đó. Nhưng sau cùng, Người chấp nhận chén đắng với một cử chỉ yêu thương không ai có thể so sánh được:
- “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén nầy xa con. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, mà làm theo ý Cha” (Lc 22, 42).
Với Chúa Kitô một thế hệ nhân loại mới được khởi đầu.
Sau cái chết của Người,
- không ai còn được phép lựa chọn giữa đau khổ và hạnh phúc, mà là lựa chọn giữa đau khổ vô ý nghĩa và không được tưởng thưởng với hạnh phúc đạt được qua đau khổ;
- không được chọn giữa cái chết và đời sống khỏi phải chết, mà giữa cái chết không có sự sống, không có được cuộc sống vinh quang và sự sống vinh quang trong đó đau khổ là điều kiện tiên quyết để có được cuộc sống đời đời.
- Chúa Giêsu không được Chúa Cha lắng nghe cho khỏi phải bước đi theo con đường leo lên đỉnh Calvario và được cứu thoát khỏi khổ nạn thập giá, “khỏi uống chén đắng” , nhưng Người được Chúa Cha đón nhận lên ngai bên phải Người trên trời, sau cuộc Khổ Nạn, nơi đó không còn phải chết nữa.
- Sau cái chết của Chúa Giêsu, cái chết vẫn chưa chấm dứt là một thảm trạng cho nhân loại, mà là trở thành một thảm trạng khác hẵn với viễn tượng trước đó.
Chúa Giêsu thể hiện hình ảnh “Người Tôi Tớ đau khổ” đã được Isaia loan báo trước đó. Người đau khổ, nhưng không phải vì lỗi mình, chết đi nhưng không phải chịu đựng cái chết như một hình phạt.
Bằng cách chết đi, Người tỏ ra mối liên đới với con người. Cái chết của Người không phải là hết, mà là cái chết của hạt giống sung mãn được gieo vào lòng đất để sinh ra nhiều hoa trái.