View Full Version : Đại Hội Truyền Giáo Á Châu
admin
08-10-2006, 08:43 AM
Đại Hội Truyền Giáo Á Châu 2006 (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/MainGH_AChau.htm)
Chủ đề: “Kể lại câu chuyện của Chúa Giêsu tại Á Châu”
Đại Hội Truyền Giáo Á Châu năm 2006 sẽ được tổ chức tại Chiang Mai, Thái Lan từ ngày 18 đến ngày 22 tháng 10 năm 2006 với chủ đề “Kể lại câu chuyện của Chúa Giêsu tại Á Châu”.
Đại Hội này là do sáng kiến của Bộ Truyền Bá Phúc Âm và được Văn Phòng Truyền Giáo tổ chức với sự cầu phúc của Uỷ Ban Trung Ương Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu và sự cộng tác của Hội Đồng Giám Mục Thái Lan.
Hướng Về Đại Hội (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/01HuongVeDaiHoi.htm)
Logo Đại Hội (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/logoFABC.jpg)
Đức Tin và Sự Sống (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/08DucTinVaSuSong.htm)
Tình Yêu Thiên Chúa (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/09TinhYeuTC.htm)
VN Và ĐH Truyền Giáo (1) (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/10VNvaFABC.htm)
VN Và ĐH Truyền Giáo (2) (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/10VNvaFABC2.htm)
Kinh Truyền Giáo Á Châu (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/11KinhCauFABC.htm)
Đai Hội TGAC Là Gì? (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/05SoLuocToChucFABC.htm)
Mục Tiêu Đại Hội TGAC (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/06MucTieuFABC2006.htm)
Đổi Mới Về Truyền Giáo (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/04DoiMoiTruyenGiao.htm)
CÁC DÂN TỘC BẢN XỨ (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/12CacDanTocBanXu95.htm)
Thư Mời Đoàn VN (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/13ThuMoi.htm)
GH Á Châu Ngày nay (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/GiaoHoiAC/02GHACHienTai.htm)
Công Giáo Tại Á Châu (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/GiaoHoiAC/01CacGiaoHoiAC.htm)
Loan Báo Tin Mừng Mới (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/TaiLieu/01new_Evangelization.htm)
Liên HĐGM Á Châu Là Gì? (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/02FABC.htm)
Quan Tâm Thần Học (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/03QuanTamThanHoc.htm)
Sứ Điệp Á Châu 1998 (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/HoiDongGMAC/01SuDiepGuiDanChua1998.htm)
Gia đình Á Châu hướng đến nền văn minh sự sống toàn diện. (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=1172)
Sứ Mạng Truyền Giáo Của Giáo Hội Tại Á Châu (http://www.trungtamhocvanthomai.com/Van%20Hoa%20Than/sumangtruyengiao.htm)
Việt Nam & ĐHTG Á Châu I (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/15PhaiDoanVNThamDuDH.htm)
NB. Trong Danh sách Phái đoàn Việt Nam được mời dự Đại hội lần này có 2 thành viên thuộc Giáo phận Nha Trang:
11. Chị Têrêsa Trần Thị Mười, Tu Hội Đời, Giáo Phận Nha Trang ;
12. Thầy Biển Đức Lê Huy Mỹ, Dòng Phanxicô.
Chúng ta cùng cầu nguyện và chúc phái đoàn chia sẻ và gặt hái được những điều hay và tốt đẹp cho Giáo Hội Việt Nam, cho Giáo Hội Á châu nói riêng và cho Giáo Hội toàn cầu nói chung.
Nguồn: simonhoadalat
admin
12-10-2006, 06:54 AM
Xem Trực Tiếp Truyền Hình Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu (Live Broadcast) (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/veritastv.htm)
Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu đã được long trọng khai mạc tại Thái Lan (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/truyen22.htm)
Nghe Bài Hát Chủ Ðề Ðại Hội Truyền Giáo (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/nhacchude.htm) (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/download.gif (http://www.chanlyviet.org/mp3b2006/truyengiao.mp3))
Lời Bài Hát Chủ Ðề Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/nhactruyen.jpg)
Huy Hiệu của Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu 2006 (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/truyen00.htm)
Chương Trình Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/truyen13.htm)
Hướng Về Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/truyen01.htm)
Chủ Ðề Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu 2006 (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/truyen03.htm)
Câu Chuyện Chúa Giêsu Tại Á Châu (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/truyen02.htm)
Kinh Cầu Cho Việc Truyền Giáo Á Châu (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/truyen07.htm)
Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu Là Gì? (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/truyen08.htm)
Mục Tiêu Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu 2006 (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/truyen09.htm)
Kể Cho Thế Giới Về Tình Yêu Thiên Chúa (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/truyen04.htm)
ÐTC bổ nhiệm ÐHY Sepe làm đặc sứ tại Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/06news/6news230.htm)
Sự Hiểu Biết Ðổi Mới Về Truyền Giáo (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/truyen10.htm)
Hội Nghị THÐGM Á Châu Về Vấn Ðề Các Dân Tộc Bản Xứ (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/truyen11.htm)
Giáo Hội Công Giáo tại các Quốc Gia Á Châu (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/truyen14.htm)
Thư Mời Phái Ðoàn Giáo Hội Việt Nam Tham Dự Ðại Hội Truyền Giáo Á châu (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/truyen12.htm)
Nguồn: Chân Lý Á Châu (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/truyengiao.htm)
admin
18-10-2006, 09:24 AM
Lời Việt Bài Hát Chủ Ðề
Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu 2006
Nào ta hãy đi kể về Tình Yêu Chúa
(x. Lc 1,47; 6,19 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%201:47; 6:19&FontSize=Txt10))
Thầy: Brooncharat Suksawang 19/12/2006
Chủng viện Lux Mundi, Thái Lan
Lời Việt: Gia Nhân
1. Lòng trí tôi hớn hở, Hồn ngây ngất với Chúa là tình
Và nơi nao tôi đi đến, Thở hít hơi gió thoáng bay,
Những gì tôi đang có, Tôi biết Chúa đang hiện diện.
2. Mình kể cho các bạn, về tình yêu Chúa đã tặng mình
Rằng nơi đâu ta đi đến, hoặc ta đang sống ở chốn nao.
Bạn ơi hãy nên biết Chúa, Chúa yêu thương chúng mình, dù chúng ta luôn hèn yếu.
3. Nào đi đến với mọi người, kể lại điều bạn thấy hay nghe
Bạn chạm đến, hiểu suy giữa đời, rằng Giê-su Ki-tô đã gặp bạn.
Nào đi khắp gian trần, Kể dân tộc Á Châu: “Chúa luôn hiện diện chốn đây”.
Sớt chia tình. Hết mọi người hợp nhất trong tình của Chúa Giê-su Ki-tô.
Nghe bài hát Lời tiếng Anh (http://www.gpnt.net/thanhnhac/Bai Hat Chu De Dai Hoi Truyen Giao A Chau.htm)
Xem nhạc (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/nhactruyen.jpg)
Go And Tell God's Love
For Asian Mission Congress
Based On Luke 1:47; 6:19
Bro. Brooncharat Suksawang
19/12/2005
Lux Mundi Seminary, Thailand
1. My heart fills with joy. My soul is filled with God's love,
and eve-ry where I go, and eve-ry time I breath,
for eve-ry thing I have, I know that you are there.
2. I will tell my friends 'bout the love you gave to me
that wher-eve-r I go, or wher-eve-r I live.
If you want to know God love us all, no mat-ter who we are!
3. Go and tell eve-ry-one, what you hear and see,
what you touch and what you know. Je-sus Christ who we've met.
Go and tell the world, tell A-sin's peo-ple that "God is al-ways here"
Share His love, eve-ry-one in u-ni-ty with Je-sus Christ our Lord.
admin
18-10-2006, 05:39 PM
Chương Trình Chi Tiết về Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu tại Thái Lan (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/truyen13.htm)
từ ngày 18 đến 22 tháng 10 năm 2006.
- Ngày 18/10/2006:
12:00 - 18:00 : Tiếp đón các phái đoàn đến từ khắp nơi. Ðăng ký, ghi danh.
18:30 : Ăn tối
19:30 : Trình diễn văn hóa Hàn Quốc (tại tiền đường Khách Sạn)
19:45 : Vũ điệu Chúc Phúc của dân tộc Thái Lan (Tại tiền đường Khách Sạn)
20:00 : Khai trương phòng triển lãm (do Ðức Hồng Y Crescenzio Sepe chủ sự)
20:30 : Họp mặt thân hữu.
21:30 : Ngủ nghỉ.
- Ngày 19/10/2006:
7:00 : Ăn sáng.
9:00 : Thánh Lễ Khai Mạc
- Trước thánh lễ Ðức Tổng Giám Mục Salvatore Pennacchio, Sứ Thần Tòa Thánh tại Thái lan chào mừng mọi người và đọc thư của ÐTC bổ nhiệm Ðức Hồng Y Crescenzio Sepe làm đặc sứ của ÐTC trong Ðại Hội,
- Ðức Hồng Y Crescenzio Sepe đọc Diễn văn chào mừng và tuyên bố khai mạc Ðại Hội.
- Thánh lễ do Ðức Hồng Y Ivan Dias chủ tế.
10:30 : Nghỉ giải lao.
11:00 : Nghi thức Khai Mạc Ðại Hội
- Diễn văn chào mừng của Ðức Hồng Y Michael Kitbinchu, Tổng Giám Mục Bangkok,
- Diễn văn chào mừng của Ðức Tổng Giám Mục Orlando Quevedo, Tổng Thư Ký Liên Hội Ðồng Giám Mục Á Châu,
- Linh mục Mario Sturmino Dias, Thư Ký Liên Hội Ðồng Giám Mục Á Châu giới thiệu tổng quát về mọi sinh hoạt trong Ðại Hội,
- Giới thiệu các Ðại Biểu của Ðại Hội.
12:00 : Ăn trưa.
Các Bài Diễn Văn, Thuyết Trình
14:30 : Giới thiệu Khái quát nội dung Ðại Hội: Tổng quát về Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo tại Á Châu.
15:00 : Chia sẻ đức tin về những cộng đoàn Kitô hữu lão thành, cơ bản.
16:00 : Linh hoạt, Thảo luận.
(16:30 : Ðức Hồng Y Ivan Dias họp cùng với các Giám Mục Á Châu)
18:00 : Suy Tư về Tổng Hợp Thần học.
19:15 : Ăn tối
20:30 : Xem triển lãm Giáo Hội Thái Lan: Lịch sử Giáo Hội Công Giáo tại Thái Lan.
21: 30: Ngủ nghỉ.
- Ngày 20/10/2006:
6:00 : Thánh Lễ (do Ðức Hồng Y Michai Kitbunchu chủ tế)
7:30 : Ăn sáng
8:30 : Linh hoạt.
9:00 : Cụ thể hoá nội dung Ðại Hội trong cuộc sống hôm nay: Giới thiệu tổng quát sinh hoạt các tôn giáo tại Á Châu.
9:15 : Thuyết trình nhóm: Chia sẻ về Ðức Kitô đối với Hồi Giáo, Phật Giáo, Ấn Ðộ Giáo, và trong các tôn giáo dân gian.
11:00 : Linh hoạt.
11:30 : Suy Tư về Linh đạo Thần Học Truyền Giáo.
12:30 : Ăn trưa.
14:00 : Thảo luận.
17:00 : Linh hoạt, Thảo luận, và đúc kết.
17:30 : Suy Tư về Tổng Hợp Thần học.
19:00 : Ăn tối.
20:30 : Giờ Thánh & Lần chuỗi Mân Côi.
21:30 : Ngủ nghỉ.
- Ngày 21/10/2006:
6:00 : Thánh Lễ (do Ðức Hồng Y Ricardo Vidal chủ tế).
7:30 : Ăn sáng.
8:30 : Linh hoạt.
9:00 : Cụ thể hoá nội dung Ðại Hội trong cuộc sống hôm nay: Giới thiệu tổng quát các truyền thống Văn Hóa Á Châu.
9:15 : Chia sẻ đức tin
9:45 : Chia sẻ đức tin về những hoạt động tông đồ trong thế giới Truyền Thông (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=3961#post3961)(do Ðức Ông Peter Nguyễn Văn Tài, Giám Ðốc Chương Trình Ðài Phát Thanh Chân Lý Á Châu, phụ trách).
10:15 : Chia sẻ đức tin về những hoạt động tông đồ trong các cộng đoàn di dân.
10:30 : Linh hoạt.
11:15 : Chia sẻ đức tin về những hoạt động với giới trẻ và công cuộc đối thoại liên tôn.
12:30 : Ăn trưa.
14:00 : Thảo luận.
14:30 : Linh hoạt.
17:00 : Ðúc kết thảo luận.
17:30 : Suy Tư về Tổng Hợp Thần học.
19:00 : Ăn tối
20:30 : Họp mặt thân hữu.
21:30 : Ngủ nghỉ.
- Ngày 22/10/2006
7:00 : Ăn sáng.
8:15 : Linh hoạt.
8:30 : Chia sẻ về công cuộc truyền giáo cho các dân tộc thiểu số Thái Lan.
10:00 : Ðúc kết Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu 2006 tại Thái Lan.
10:15 : Nghi thức Bế Mạc Ðại Hội.
11:00 : Thánh Lễ Bế mạc Ðại Hội (do Ðức Hồng y Crescenzio Sepe chủ tế, cùng với sự đồng tế của Ðức Hồng Y Ivan Dias).
12:30 : Ăn trưa.
14:00 : Ðại Hội kết thúc. Du lịch: viếng thăm các thắng cảnh vòng quanh Thành Phố.
Chia tay và hẹn gặp lại
* Ghi chú: Chương trình trên có thể được thay đổi để có thể thích ứng với các sinh hoạt của Ðại Hội. Chúng tôi sẽ update hằng ngày chương trình trên để quý vị có thể theo dõi mọi sinh hoạt hằng ngày của Ðại Hội.
Trích : http://www.fabc.org/asian_mission_congress/amcTheme.html (http://www.fabc.org/asian_mission_congress/amcTheme.html)
Chuyển ngữ : Martin Nguyễn, CSSp.
Cách kể chuyện và chuyện kể về Đức Giêsu như là một cách truyền giáo
Hiểu biết về cách kể chuyện và chuyện kể về Đức Giêsu như là một cách truyền giáo là những chủ đề của bài tham luận chính của Đức Cha Luis Antonio G. Tagle trong ngày khai mạc (19/10/2006) Đại hội Truyền giáo Á châu lần I.
Ở phần đầu của bài trình bày, vị Giám mục giáo phận Imus, Philippin, cho rằng cuộc sống con người có một cấu trúc mang tính 'kể chuyện'.
(1) Những câu chuyện hay, hữu ích dựa trên kinh nghiệm và (2) bộc lộ căn tính cá nhân của người kể chuyện, cũng như những con người và biến cố tạo nên căn tính đó. (3) Chuyện kể có tính năng động nghĩa là được sống động và tiếp nối qua nhiều thế hệ. Vì thế, chuyện kể cần được quảng diễn, giải thích, kể lại nhiều lần để tính năng động của câu chuyện ảnh hưởng và biến đổi người kể cũng như người nghe. (4) Chuyện kể cũng cho biết những giá trị, những biểu tượng niềm tin, giáo lý và luân lý đạo đức vì chuyện kể không thể không nói lên ý nghĩa của niềm tin con người và những biểu tượng luân lý. (5) Những đặc tính trên của chuyện kể cũng được áp dụng cho cộng đồng. Chuyện kể cho biết những niềm tin, lễ nghi, phong tục chung của một cộng đồng. (6) Nó biến đổi cả người kể lẫn người nghe. (7) Chuyện kể có nhiều hình thức như thơ, văn, ca nhạc, vũ điệu, hình ảnh, video…, được diễn tả qua cách nói, qua khuôn mặt, điệu bộ ngay cả khi thinh lặng cũng là một hình thức diễn tả câu chuyện. (8) Chuyện kể làm biến đổi người nghe nhưng nhiều khi câu chuyện cũng bị đè nén vì kinh nghiệm đau thương của người kể hay vì áp lực của những nhà độc tài muốn che dấu những tiêu cực của xã hội như áp bức, tham nhũng, tàn phá và giết hại con người. Dù sao, chuyện kể cũng có tác dụng chữa lành những nạn nhân và thay đổi xã hội.
Sang phần thứ hai, Đức Cha Tagle ứng dụng cách hiểu biết về chuyện kể cho Giáo hội. (1) Giáo hội kể chuyện về Đức Giêsu từ chính kinh nghiệm sống của mình về Chúa Giêsu Cứu thế. Vì thế, Giáo hội cần phải gặp gỡ Chúa Giêsu qua việc cầu nguyện, thờ phượng, qua tiếp xúc với con người, nhất là người nghèo, và qua cách đoc dấu chỉ của các biến cố. Như thế, (2) chuyện kể về Đức Giêsu biểu lộ căn tính của Giáo hội giữa người nghèo, các nền văn hoá và tôn giáo Á châu. (3) Giáo hội cần giữ những kỷ niệm về Đức Giêsu một cách sống động, cần chia sẻ và kể lại dưới tác động của Chúa Thánh Thần để câu chuyện về Đức Giêsu có sức sống mới, phù hợp với dân chúng Á châu. (4) Chuyện kể về Đức Giêsu cách trung thực phải mang lại ý nghĩa cho những biểu tượng đức tin của Giáo hội và (5) làm phát sinh Giáo hội. (6) Giáo hội cần lắng nghe Chúa Thánh Thần để biết tôn trọng người nghe và để chính Chúa Thánh Thần tác động trên họ. Giáo hội kể chuyện phải là Giáo hội biết lắng nghe. (7) Giáo hội kể chuyện về Đức Giêsu bằng nhiều cách khác nhau, như kể vế các vị thánh tử đạo, những người lành thánh phục vụ con người như chân phước Mẹ Têrêxa Calcutta, bằng cách bảo vệ sự sống, công lý, môi sinh… (8) Như thế, Giáo hội trở thành tiếng nói của những ai không thể lên tiếng, bị đặt ngoài lề xã hội như di dân, trẻ em nữ, phụ nữ, các dân tộc ít người, các nạn nhân của công lý, của môi sinh.
Đức Giêsu chính là Ngôi Lời, là chuyện kể về Thiên Chúa và là bậc thày kể chuyện về Nước Trời. Chúng ta hãy biết lắng nghe, bắt chước và học hỏi cách kể chuyện của Ngài. Đức Giêsu trao phó câu chuyện của cuộc sống Ngài cho chúng ta. “Hãy lắng nghe chuyện kể của Thày. Hãy tiếp tục ra đi và kể lại câu chuyện này nhiều lần nơi nó đã xuất phát, nơi nhà của Thày và nơi những người thân yêu tại Á châu của Thày”.
Xin đọc bài tham luận "Storytelling as Mission" này tại http://www.fabc.org/asian_mission_congress/amc.htm (http://www.fabc.org/asian_mission_congress/amc.htm)
admin
20-10-2006, 10:40 AM
http://www.fabc.org/gallery5/IMG_0251.jpg
Xem Hình ảnh Đại Hội:
http://www.fabc.org/gallery5/photos.html (http://www.fabc.org/gallery5/photos.html)
admin
21-10-2006, 07:43 AM
Hơn 1,000 người đến tham dự Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu tại Thái Lan (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/truyen24.htm)
Các tham dự viên được chào đón nồng nhiệt tại Hội nghị Truyền giáo Á châu (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/truyen25.htm)
Những ưu tiên dành cho công tác truyền giáo Á Châu (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/truyen26.htm)
Hội nghị Truyền giáo là sự chia sẻ đức tin, chứ không là một loạt bài phát biểu (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/truyen27.htm)
MA CAO Các đại biểu tham dự Hội nghị Truyền giáo hy vọng học hỏi cách thu hút người ta đến với Chúa giữa một xã hội no đủ vật chất (http://www.ucanews.com/html/ucan/f_langdetail.asp?ucalang=Vietnamese&langPath=../news_report/vietnamese/2006/10/w3/th10t3m.txt)
Câu chuyện Đức Giêsu nơi các tôn giáo khác và những giá trị cần học hỏi
Đề tài của ngày thứ ba (20/10/2006) của Đại hội Truyền giáo Á châu lần I là “Câu chuyện về Đức Giêsu nơi các tôn giáo Á châu” gồm phần chia sẻ kinh nghiệm về Đức Giêsu của Hồi giáo, Phật giáo, đạo Hinđu và tôn giáo của các dân tộc thiểu số ở Ấn Độ.
Ông M. Abdus Sabur, tổng thư ký tổ chức Liên kết hành động Hồi giáo Á châu, đến từ một làng Hồi giáo nhỏ ở Bangladesh, chia sẻ kinh nghiệm về việc cộng tác với các Kitô hữu trong nhiều năm qua và cách thức ông nhận ra những điểm song song giữa Hồi giáo và Kitô giáo. Hồi giáo xem Đức Giêsu như một vị ngôn sứ có trước Mahomet. Vì thế ông nói rằng người Hồi giáo phải nhận ra rằng Kitô hữu là những người tiền nhiệm.
Linh mục dòng Đa Minh Jean Tanaka xuất thân từ một gia đình Phật giáo và Thần đạo Nhật Bản, chia sẻ cảm nghiệm về mẫu gương của một nhà truyền giáo nhưng cũng vang vọng những lời tự thú của thánh Augustinô trên con đường đến với Kitô giáo và cuối cùng là đời sống tu sĩ của ngài.
Ông Aravindaksha Menon, một cựu tín đồ đạo Hinđu, kể lại việc ông nhận biết Đức Kitô qua bản văn cổ của Hinđu. Những thất bại trong cuộc đời khiến ông trở thành người vô thần, có ý định tự kết liễu cuộc sống của mình và vợ con. Nhưng nhờ việc đọc Kinh Thánh mượn từ người hàng xóm và việc tham dự tĩnh tâm tại một trung tâm Đoàn sủng Thánh Linh tại Kerala (Ấn Độ) ông nhận ta Chúa kêu gọi ông để rao giảng Tin Mừng cho người khác, một công việc ông đang làm từ 14 năm nay.
Hồng y Telesphore Toppo, là người dân tộc thiểu số và chủ tịch Hội đồng Giám mục Ấn Độ kể lại lịch sử truyền giáo từ năm 1869 và sự trưởng thành của giáo hội người dân tộc thiểu số tại Chotanagpur, Trung Ấn Độ. Giáo hội này hiện nay có 12 giáo phận với các giám mục người điạ phương cũng như có nhiều tu sĩ, linh mục truyền giáo. Sự lớn mạnh này là nhờ sự phục vụ người nghèo của dòng nữ bản xứ và việc giáo dục thanh thiếu niên.
Khoảng hơn 1000 đại biểu của Đại hội được chia thành 20 nhóm mang tên các vị thánh Á châu, mỗi nhóm chia thành nhiều tổ, mỗi tổ có chừng 10 thành viên, để thảo luận về câu hỏi “tôi trân trọng, ngưỡng mộ những gì nơi các tôn giáo khác?”. Đúc kết các buổi hội thảo, làm việc nhóm cho thấy các đại biểu nhận xét là có nhiều điểm tích cực cần học hỏi nơi các tôn giáo khác. Báo cáo của các tổ được tổng kết thành phần trình bày của 3 liên tổ.
Người trình bày của một liên tổ cho rằng “chúng ta có thể học hỏi nhiều điều nơi các tôn giáo khác”. Chúng ta tôn trọng, cởi mở để học hỏi nơi các tôn giáo nhưng chúng ta cũng cần cho người khác thấy căn tính độc đáo của Công giáo chúng ta.
Một liên tổ khác cho rằng những tôn giáo khác có một số giá trị trổi vượt chúng ta, chẳng hạn sự hiếu khách, tính quảng đại và kỷ luật, ý thức về Thượng đế và sự tôn kính đối với các sách thánh của họ. Chúng ta cần phải học hỏi nơi họ nhiều điều hay.
Liên tổ thứ ba cho rằng giáo dân Công giáo cũng không tự tin đủ để chia sẻ câu chuyện của Đức Giêsu cho các tôn giáo khác bởi vì thần học được xem như là một lãnh vực trừu tượng. Người Công giáo có vẻ như được lớn lên trong một truyền thống nơi đó những vấn đề liên hệ đến niềm tin thì dành cho những nhà chuyên môn thành thạo.
Việc thiếu sự nuôi dưỡng niềm tin trong phụng vụ là một lý do khác có lẽ làm cho việc sống đạo của người tín hữu tụt lại đàng sau. Vì thế, liên tổ này mong muốn tu sĩ và giáo sĩ sống chứng tá hơn là rao giảng, đồng thời củng cố những giải pháp, phương tiện giúp cho việc kể chuyện về Chúa Giêsu có thể được chia sẻ trong những nơi, những sinh hoạt thông thường.
Tổng hợp từ http://www.fabc.org/asian_mission_congress/amc.htm (http://www.fabc.org/asian_mission_congress/amc.htm) và http://www.ucanews.com/ (http://www.ucanews.com/)
admin
22-10-2006, 07:18 AM
Trình bày chia sẻ về văn hóa và niềm tin của cộng đoàn Giáo hội Việt Nam
Chiang Mai, Thái Lan - Ngày họp thứ ba (Thứ Bảy 21/10/2006) của Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu.
... Buổi sáng hôm nay, những chia sẻ làm cho nhiều người chú ý đến nhất, đó là những trình bày về văn hóa và niềm tin của cộng đoàn giáo hội Việt Nam. Trong trang phục truyền thống dân tộc, với những nét mỹ miều của chiếc áo dài và của những chiếc quạt nhẹ nhàng đu đưa, đoàn đại biểu Việt Nam đã trình bày niềm tin qua văn hóa của mình với một lòng sắt son bền vững. Với sự giới thiệu và trình bày của Ðức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài, giám đốc chương trình Việt Ngữ của Ðài Phát Thanh Chân Lý Á Châu, Ðức Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn đã kính cẩn nâng cao Tượng Ảnh Ðức Mẹ La Vang, Nữ Vương Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam, biểu tượng cho Niềm Tin sắt son của những người tiền phong mở đầu Giáo Hội Việt Nam, cha ông tổ tiên của người dân Việt, với một lòng hy sinh đổ máu làm nhân chứng cho niềm tin vào Ðức Kitô. Với bao nhiêu thế kỷ, nền văn hóa của dân tộc Việt Nam in đậm nét trong các nghệ thuật điêu khắc ảnh tượng, các kiến trúc của các thánh đường, các ca vũ nhạc điệu trong các nghi lễ tôn kính, dâng hoa... Qua những hình ảnh, những ca khúc, những điệu vũ với những trang phục dân tộc, đoàn đại biểu Việt Nam đã đưa các tham dự viên như thật sự đang tiến về Trung Tâm Hành Hương La Vang được xây dựng từ năm 1798, nơi có tượng Ðức Mẹ với trang phục truyền thống dân tộc của người Việt Nam. Ðức Ông Tài đã trình bày rất đầy đủ về công trình kiến trúc dân tộc của Nhà Thờ Chính Tòa Phát diệm, một công trình đã được bắt đầu từ năm 1875.
Nguồn: Những chia sẻ về văn hóa và niềm tin của cộng đoàn giáo hội Việt Nam (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/truyen28.htm)
http://www.fabc.org/gallery5/IMG_0419.jpg
Ðức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài trình bày về niềm tin của các tín hữu Kitô trong nền văn hóa dân tộc Việt Nam.
http://www.fabc.org/gallery5/IMG_0415.jpg
Ðức Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn đã kính cẩn nâng cao Tượng Ảnh Ðức Mẹ La Vang giới thiệu cùng mọi người.
Câu Chuyện Chúa Giêsu tại Á Châu: Sứ Ðiệp của Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu lần thứ I Chiang Mai, Thái Lan, 18-22/10/2006
Chúa Giêsu đang sống! Ðức Kitô đã sống lại! Ðấng Cứu Thế của chúng ta đang ở với chúng ta, đời sống của Ngài chính là đời sống của chúng ta. Những xác tín này đã dẫn đường cho chúng tôi như là những tham dự viên của Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu năm 2006. Tụ họp nhau tại Thái Lan. Từ ngày 18 đến 22 tháng 10 năm 2006, chúng tôi muốn nói lên cùng một niềm tin hân hoan giống như các môn đệ đầu tiên đã tuyên bố: "Tôi đã thấy Chúa" (Ga 20,18 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%2020:18&FontSize=Txt10)); "Chính Chúa đó" (Ga 21,7 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%2021:7&FontSize=Txt10)); "Ðó là sự thật: Chúa đã sống lại" (Lc 24,34 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%2024:34&FontSize=Txt10)); "Lạy Chúa tôi, lạy Chúa Trời tôi" (Ga 20,28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%2020:28&FontSize=Txt10)). Các môn đệ đầu tiên đã hân hoan vui mừng: người Bạn của họ, Thầy của họ, Tiên Tri của họ, Ðấng cứu chữa của họ, Ðấng yêu dấu của họ đã sống lại cách nhiệm mầu, kỳ diệu. Sợ hãi và thất vọng, lo lắng và sầu não đã trở thành tin cậy và mừng vui. Nào ai có ngờ? Nào ai mơ ước được?
Chính Chúa Giêsu đã hiện ra với các môn đệ của Ngài. Ngài đã gọi rõ từng tên một của họ: Maria Mađalena, Tôma, Phêrô, Giacôbê, Gioan. Họ đã nhận ra Ngài. Ngài đã nói những lời chúc bình an và hoà giải. Những môn đệ yếu tin nay đã được biến đổi. Ðúng vậy, Chúa Giêsu, Người đã chỗi dậy từ Thập Giá tử hình, đã tăng thêm niềm tin cho họ. Ngài đã hướng dẫn họ đi thêm nữa. Ngài sai phái họ đi Rao Giảng: "Hãy đi khắp thế gian, và hãy rao giảng Tin Mừng cho hết mọi tạo vật" (Mc 16,15 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mc%2016:15&FontSize=Txt10)); "Hãy đi và hãy làm cho tất cả mọi dân nước trở thành môn đệ Ta" (Mt 28,19 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Mt%2028:19&FontSize=Txt10)); "Các con sẽ là những chứng nhân cho các điều ấy" (Lc 24,48); "Như Cha đã sai Ta, Ta cũng sai các con" (Ga 20,21). Và từ đó, các môn đệ đã ra đi và kể những câu chuyện về Chúa Giêsu. Họ đi khắp nơi... xa, gần: Giacôbê đi tới Giêrusalem, Phêrô và Phaolô tới Rôma, Tôma tới Ấn Ðộ. Lẽ dĩ nhiên, đi rao truyền việc Chúa đã sống lại chính là thực hiện một sứ mệnh Truyền Giáo.
Với ơn Chúa quan phòng, hơn 1,000 người chúng tôi, những môn đệ thời nay của Chúa Giêsu, tụ họp với nhau trong Kỳ Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu lần thứ I. Khách Sạn mỹ miều, cao sang ở Chiang Mai, miền Bắc Thái Lan, đã trở thành Phòng Lầu Tiệc Ly. Chúng tôi tụ họp để chia sẻ những kinh nghiệm, để kể những câu chuyện, để gặp gỡ nhiều môn đệ khác đến từ khắp mọi miền của lục địa Á Châu mênh mông, từ Li Băng đến Nhật Bản, từ Kazakhtan và Mông Cổ đến Ấn Ðộ. Chúng tôi lắng nghe những lời tâm tình, cùng vô số những câu chuyện, về cuộc sống, về niềm tin, về những anh hùng, những phục vụ, những cầu nguyện, những đối thoại, và những tuyên bố. Với những niềm vui khôn tả. Không ai còn nghi ngờ gì về sự hiện diện thân mật của Chúa Thánh Thần. Cùng nhau, chúng tôi tuyên xưng đức tin và sống hiệp nhất như các mộn đệ của Chúa Giêsu qua những chia sẻ, cầu nguyện và thánh lễ. Những đa dạng của văn hóa và ngôn ngữ đã thêm ánh sáng và tô muôn sắc cho những cử hành phụng vụ trong cùng một đức tin của chúng tôi.
Ðại Hội Mục Vụ có tính Giáo Lý này đã mở ra một con đường hiệp nhất trong việc truyền bá tin mừng: kể chuyện hay chia sẻ niềm tin. Chúng tôi lắng nghe những tường thuật của những người lão thành, từ các gia đình, giới trẻ, thiếu nhi và phụ nữ... Chúng tôi đã nghe biết những hoàn cảnh của Hồi Giáo, Phật Giáo, Ấn Ðộ Giáo, và các tôn giáo dân gian. Với những đề tài nổi bật: bác ái xã hội, truyền thông, di dân, và việc đối thoại liên tôn. Những đề tài này có một ý nghĩa rất đặc biệt trong công cuộc rao giảng tin mừng của thời đại hiện nay, một thời đại đang đầy dẫy những xung đột chủng tộc và những căng thẳng tôn giáo!
Câu chuyện của Chúa Giêsu là một mối hiệp nhất ôm gọn tất cả những kinh nghiệm của cuộc sống trong muôn vàn câu chuyện của mọi người. Tất cả mọi sắc màu, dân tộc, ngôn ngữ, văn hóa, giá trị, tôn giáo, và nghệ thuật, của những người dân Á Châu kết thành một tổng hợp vĩ đại. Lạy Chúa, kỳ diệu thay những công cuộc của Chúa! Sâu sắc thay những sáng tạo của Ngài!
Thế giới có rất nhiều câu chuyện, đời của sống con người càng khó tưởng tượng nổi nếu không có những câu chuyện. Các câu chuyện kể lại cho chúng ta biết chúng ta là ai và giúp chúng ta nối kết với những người khác, trên khắp lục địa Á Châu, và trên toàn thế giới. Nhờ vào những câu chuyện này chúng ta khám phá ra càng sâu xa hơn về mọi phương diện và giá trị của cuộc sống. Chúng tạo thành những cộng đoàn. Các câu chuyện này ẩn dấu những năng lực biến đổi vô lường, đặc biệt từ những kinh nghiệm. Chúng làm cho chúng ta càng dễ ghi nhớ hơn là các bài học ở trường hay từ các sách vở.
Chúa Giêsu được mệnh danh là một người kể chuyện. Là một Sư Phụ (Rabbi), một vị Thầy (teacher), Ngài thích nhất là sử dùng phương pháp kể các Dụ Ngôn, để giải thích những Mầu nhiệm sâu kín của Nước Trời. Có ai mà chưa nghe về câu chuyện của người Samaritanô nhân hậu hay câu chuyện người con hoang đàng? Những dụ ngôn của Chúa Giêsu lôi kéo chúng ta thiết lập một quan hệ mật thiết với Thiên Chúa và với những người anh chị em chung quanh chúng ta. Nhiều tư tưởng của Chúa Giêsu, một Ðấng đã sinh ra ở Á Châu, rất gần gũi với những bậc hiền triết khác của Lục địa Á Châu rộng lớn này, như Khổng Tử, Lão Tử và Gandhi. Nhưng còn kỳ diệu hơn, chúng ta những người Kitô hữu tin tưởng rằng, Ðức Giêsu là một vị Thiên Chúa làm Người, được Thiên Chúa Cha gởi đến. Ngài chính là "Câu Chuyện Tình" của Thiên Chúa trong thân xác loài người - Câu chuyện Thiên Chúa làm Người.
(xem tiếp (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=1254&page=2))
Joseph Trương (dịch)
admin
24-10-2006, 10:23 AM
Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu nói lên lời đáp ứng những kêu gọi trong Tông Huấn "Giáo Hội Tại Á Châu" của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II: "Nói chung, những kiểu tường thuật quen thuộc với những nền văn hóa Á Châu thì rất thích hợp. Quả thực, việc rao giảng Ðức Giêsu Kitô có thể được thực hiện cách hiệu quả nhất bằng cách tường thuật những câu chuyện của Ngài, như Phúc Âm đã làm" (Tông Huấn "Giáo Hội Tại Á Châu" số 20f). Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nói tiếp như sau: "phải theo một khoa sư phạm có tính gợi ý, sử dụng những câu chuyện, những dụ ngôn và những biểu tượng rất đặc trưng theo phương pháp giảng dạy của Á Châu" (Tông Huấn "Giáo Hội Tại Á Châu" số 20g).
Các giáo hội địa phương ở Á Châu có thể trung thành với mệnh lệnh truyền giáo của Ðức Kitô qua việc kể chuyện và kể lại câu chuyện của Chúa Giêsu bằng lời nói và bằng những hành động hữu hiệu của phục vụ. Một lần nữa, Giáo hội thông truyền đức tin của mình, một đức tin có gốc rễ từ kinh nghiệm đức tin của Chúa Giêsu. Chúa Thánh Thần, Vị kể chuyện vĩ đại, hướng dẫn giáo hội trong mọi hoàn cảnh, để kể chuyện, đặc biệt qua những chứng nhân của cuộc sống: "Những gì chúng tôi đã nghe, những gì mắt chúng tôi đã nhìn thấy, những gì chúng tôi đã tìm được và tay chúng tôi đã sờ được"; đó không gì khác hơn là: "Lời của Sự Sống" (x. Ga 1,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%201:1&FontSize=Txt10)). Truyền Giáo nghĩa là gìn giữ cho các câu chuyện của Giêsu được sống mãi, thiết lập mối hiệp thông, bày tỏ lòng thông cảm, trở thành bạn với những người khác, vác thánh giá, làm chứng cho con người đang sống của Ðức Giêsu.
Các môn đệ trên đường đi Emmau đã nhận ra: "Có phải chúng ta đã không cảm thấy lòng chúng ta đã cháy bừng lên khi Ngài nói chuyện với chúng ta trên đường đi và đã giải thích Kinh Thánh cho chúng ta nghe sao?" (Lc 24,32 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%2024:32&FontSize=Txt10)) Ðối với chúng tôi, con đường tới Chiang Mai đã trở thành con đường đi Emmau của chúng tôi. Tại Ðại Hội Truyền Giáo chúng tôi đã chia sẻ những kinh nghiệm đức tin của chúng tôi. Những câu chuyện từ Bangladesh và Hong Kong, từ Thái Lan và Trung Hoa, từ Nhật Bản và Nepal - từ khắp các mọi miền của lục địa Á Châu - đã làm cho lòng chúng tôi cháy bừng lên. Những âm vọng của Tông Huấn "Giáo Hội tại Á Châu" đã lớn tiếng vang dội: "Một ngọn lửa chỉ được cháy lên bằng cái gì đã bén lửa" (Tông Huấn "Giáo Hội Tại Á Châu" số 23b). Giáo Hội tại Á Châu sẵn sàng trở thành "một cộng đồng rực cháy sự hăng say truyền giáo, để làm cho Ðức Kitô được biết đến, yêu mến và đi theo" (Tông Huấn "Giáo Hội Tại Á Châu" số 19a). Chúa Giêsu đã đem lửa đến với thế gian và đã cầu nguyện cho lửa ấy được cháy bừng lên (x. Lc 12:49 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%2012:49&FontSize=Txt10)). "Giáo Hội tại Á Châu chia sẻ niềm ước mong của Người cho ngọn lửa đó giờ đây lại cháy bừng lên" (Tông Huấn "Giáo Hội Tại Á Châu" số 18c). Chúng tôi biết rằng Ðại Hội Truyền Giáo 2006 của chúng tôi, được sự hỗ trợ của Liên Hội Ðồng Giám Mục Á Châu và Văn Phòng Truyền Giáo, nhờ vào ơn Chúa Thánh Thần, có thể làm cho rất nhiều tấm lòng của con người được cháy bừng lên.
Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu, một phần nào từ những trao đổi các câu chuyện đức tin của chúng tôi, đã cung cấp những triển vọng mới cho công cuộc đối thoại với mọi người (đặc biệt với người nghèo), với các tôn giáo, và với các nền văn hóa của Á Châu (x. FABC V:3.1.2). Những câu chuyện về các dân nghèo của Á Châu ngày nay (những người ăn xin, những người mắc bệnh AIDS, những người di dân, những người bị bỏ rơi) phải được nhắc đến trong những câu chuyện của Chúa Giêsu và trong Mầu Nhiệm Vượt Qua của Ngài. Nhiều tôn giáo đáng kính của Á Châu sẽ phải được nhìn thấy trong chương trình cứu độ thế giới của Thiên Chúa - để cho tất cả đều được cứu độ (1Tm 2;4 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=1 Tm%202:4&FontSize=Txt10)). Sự phong phú của các nền văn hóa Á Châu có thể là một chiếc xe thích hợp để thuyên chuyển những câu chuyện của Chúa Giêsu. Công tác này có tính "cấp bách trong hoàn cảnh xã hội đa dân tộc, đa văn hóa, đa tôn giáo của lục địa Á Châu này" (Tông Huấn "Giáo Hội Tại Á Châu" số 21b). Với lối nhìn "đối thoại ba chiều" được đề ra bởi Liên Hội Ðồng Giám Mục Á Châu trong 3 thập niên qua sẽ trở thành hiện thực theo "những phương cách mới và đầy ngạc nhiên" (Tông Huấn "Giáo Hội Tại Á Châu" số 20f) - một trong những phương cách đó là trao đổi quà tặng bằng việc chia sẻ các câu chuyện đời sống của chúng ta.
Tại Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu lần thứ I này chúng tôi khám phá một lần nữa "Tin vui mừng của Phúc Âm", lời của Ðức Thánh Cha Phaolô VI đã trở thành sự thật, công việc truyền giáo hữu hiệu chính là thực hiện "với hết tình yêu thương, sốt sắng và vui mừng" (Evangelii Nuntiandi, EN 1). Các môn đệ của Chúa Giêsu phải "hân hoan rao truyền Tin Mừng mà mọi người sẽ đến để nhận biết qua hồng ân của Chúa" (EN 80).
Chúng tôi, các thành viên của Ðại Hội, tự nhủ, sẽ mang về cho cộng đoàn của chúng tôi những hướng đi mới, bước sâu vào trong các câu chuyện của Chúa Giêsu, cách riêng theo những chiều hướng Á Châu. Chúng tôi tìm cách làm cháy bừng lên, sẵn sàng mang về nhà những câu chuyện sống động và cảm nhận được, những câu chuyện có thể làm bừng cháy lên ngọn lửa truyền giáo trong lòng các người trẻ. Chúng tôi mong muốn tiến bước theo Lời Chúa Giêsu đã dạy (câu kinh thánh được chọn làm châm ngôn cho Ðại Hội): "Anh cứ về nhà với thân nhân, và loan tin cho họ biết mọi điều Chúa đã làm cho anh, và Người đã thương anh như thế nào" (Mc 5:19).
Chúng tôi tìm cách rao giảng Tin Mừng theo những phương thức của Á Châu, cụ thể bằng những câu chuyện kể, các dụ ngôn, các biểu tượng, một phương thức tiêu biểu của lối sư phạm Á Châu, như Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nhắn nhủ. Ðó chính là phương thức chia sẻ đức tin của chúng tôi cho những người khác, một đường lối đối thoại đích thực. Chúng tôi, những người vẫn tin tưởng vào những phương thức truyền giáo hữu hiệu này, cũng sẽ "không còn rụt rè khi Thiên Chúa mở cửa cho chúng tôi để tuyên bố cách rõ ràng rằng Ðức Giêsu Kitô là Ðấng Cứu Thế và là đáp án cho tất cả những thắc mắc cơ bản về sự hiện diện của loài người" (FABC V:4,3).
Trong Ngày Chúa Nhật lễ Khánh Nhật Truyền Giáo này chúng tôi tạ ơn Thiên Chúa đã gởi vô vàn các nhà truyền giáo đến phục vụ tại Á Châu qua biết bao nhiêu thế kỷ nay. Chúng tôi cũng thành khẩn phó thác trong tình yêu và sự che chở của Thiên Chúa, hàng ngàn các nhà truyền giáo Á Châu hiện nay đang phục vụ khắp nơi trên mọi miền của thế giới.
Chúng tôi nài xin Mẹ Maria, Mẹ của chúng ta và là Ngôi Sao sáng của Công Việc Rao Giảng Tin Mừng, cầu bầu cho chúng tôi để lòng chúng tôi luôn bừng cháy với tình yêu của Chúa Giêsu, Con của Mẹ, mà những câu chuyện của Ngài chúng tôi sẽ kể đi kể lại bằng lời nói, việc làm và bằng đời sống chứng nhân sống động của chính chúng tôi.
Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu lần thứ I
Chiang Mai, Thái Lan, Chúa Nhật Truyền Giáo, 22/10/2006
(Joseph Trương chuyển dịch Việt ngữ)
http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/amcclosing.jpg
Ðức Hồng Y Crescenzio Sepe cử hành Thánh lễ Bế Mạc Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu tại Chiang Mai, Thái Lan vào ngày Chúa Nhật Truyền Giáo 22/10/2006.
Bế mạc Đại hội Truyền Giáo Á châu lần I
VietCatholicNews 24/10/2006) Chiang Mai (AsiaNews) – Trong Thánh lễ bế mạc Đại Hội, Đức Hồng Y Sepe đã nêu bật vấn đề cơ bản của truyền giáo vốn không được chú ý trong những ngày làm việc của đại hội: tử dạo. Hàng trăm tân tòng thuộc các sắc tộc của Thái Lan đã đến tham dự Thánh lễ và Thánh lễ được kết thúc bằng mệnh lệnh truyền giáo được trao cho tất cả các đại diện của các cộng đoàn Công Giáo Á Châu
Hôm 22/10/2006, Đại hội Truyền giáo Á Châu lần I (AMC) kết thúc bằng Thánh lễ do Đức Hồng Y Crescenzio Sepe, đặc sứ của Đức Giáo hoàng và cũng là người ban huấn lệnh truyền giáo cho mọi cộng đoàn Á Châu. Đức Hồng Y Sepe đã cầu nguyện rằng “máu của các anh hùng tử đạo Á Châu, bây giờ và luôn mãi, là hạt giống mới cho Giáo Hội ở mọi nơi của lục địa này”.
Trước Thánh lễ, Đức Cha Vincent Conçessao, thư ký về “loan báo Tin Mừng” của Liên Hội đồng Giám Mục Á Châu (FABC) đã đọc Sứ điệp đúc kết đại hội. Đúng ngay Ngày Thế giới Truyền giáo, sứ điệp thúc giục người Công Giáo rao truyền đức tin của mình bằng sự can đảm và tôn trọng trong đối thoại với những người dân, các tôn giáo và các nền văn hoá của lục địa Á Châu. Sứ điệp khẳng định rằng trong một thế giới bị đánh dấu bằng “những xung đột sắc tộc và căng thẳng về tôn giáo”, thì loan báo Tin Mừng là đường hướng để xây dựng sự chung sống ở Á Châu. Những ngày cùng làm việc với nhau đã bộc lộ ra rằng con người Á Châu có thể trở thành “tấm thảm uy nghi” đã được dệt nên bởi “Câu chuyện của Chúa Giêsu”.
Cùng với các đại biểu, các giám mục, hồng y, Thánh lễ bế mạc cũng có sự hiện diện của hàng trăm gia đình từ các sắc tộc của miền Bắc Thái Lan như Karen, Lahu, Miao và Akka với trang phục truyền thống hết sức phong phú của họ. Một làn sóng biến chuyển cũng đang diễn ra ở miền Bắc Thái Lan, Giáo phận Chiang Mai có nghĩa vụ phải mở cửa ít nhật một nhà thờ hàng tháng và tổ chức các hoạt động cầu nguyện và các hoạt động dành cho tân tòng. Dấu hiệu hoa quả của Loan báo Tin Mừng này là một sự khuyến khích cho ngày làm việc kết thúc Đại hội như một lời mời gọi và trách nhiệm “ra đi và kể cho mọi người” rằng Chúa Giêsu là Chúa. Lệnh truyền nhắc lại rằng các môn đệ trên đường Emmau và các tông đồ sau khi gặp mặt Đấng Phục Sinh, ngay tức khắc đã ra đi công bố tin tức bằng “trái tim rực lửa”. Trong những ngày này, trong bản văn mang đặc trưng tương tự của các giám mục và các nhà thần học FABC, việc công bố cái chết và sự chỗi dậy của Chúa Kitô đã nhanh chóng thu hút người dân, các tôn giáo và các nền văn hoá vào “cuộc đối thoại giữa các con chiên”, để lại một ít chỗ trống cho việc công bố đức tin. Đức Giám Mục của Imus, Phi Luật Tân cho Tin Tức Á Châu hay rằng dù sao chăng nữa thì Đại hội này đã phục vụ để nhấn mạnh đến “việc công bố hằng ngày từ người này sang người khác” là cách hiệu quả hơn nhiều so với một lời công bố chung trong một môi trường mà Giáo Hội chỉ chiếm thiểu số và cũng là nơi mà không có bất kỳ kiến thức nào về Chúa Giêsu Kitô là ai.
Một ấn tượng kéo dài là “bài giảng về Thánh Giá” (như Thánh Phaolô đã định nghĩa) nằm trong khuôn khổ suy tư thần học của FABC. Trong những ngày này các từ “bóng tối”, “nỗi khó khăn” xuất hiện để đề cập đến từ Thánh giá. Trong Sứ điệp đúc kết, từ “Thánh giá” chỉ xuất hiện một lần, khi đề cập đến các môn đệ Chúa Giêsu “vác Thánh Giá” như là một trong nhiều cách sống truyền giáo.
Một từ khác không được dùng đến trong Đại hội là từ “tử đạo” mặc dù một số nhóm là việc buổi chiều được mang tên các anh hùng tử đạo Á Châu. Điều này đã được Đức Hồng y Sepe nhắc lại trong bài giảng của ngài rằng một trong những thành quả bậc nhất trên con đường truyền giáo là tử vì đạo, vốn đã ăn sâu vào Giáo Hội Á Châu, trong quá khứ cũng như trong hiện tại. Khi trích dẫn Thông điệp Thiên Chúa là Tình Yêu của Đức Thánh Cha Bênêđictô, ngài nhấn mạnh rằng truyền giáo phải mang sức sống bằng lòng nhân từ, chính là bằng kỳ công của tình yêu Thiên Chúa, “chứ không được làm giảm nhẹ để trở thành hoạt động từ thiện hay công tác xã hội”.
Khi kết thúc Thánh Lễ, Đức Cha Orlando Quevedo, Tổng thư ký của FABC đã đọc điện văn gửi đến Đức Thánh Cha để đoan hứa “cầu nguyện và hoàn toàn trung tín” với ngài cũng như bày tỏ “sự dấn thân truyền giáo” như là một thành quả của Đại Hội.
Khi kết thúc Đại hội, trong không khí nhiệt tình và sôi nổi, mỗi đại diện quốc gia đã được nhận một mệnh lệnh truyền giáo và một Thánh giá gỗ bằng dòng chữ khắc quện vào nhau trên đôi bàn tay “Jesus – Asia” (Chúa Giêsu – Á Châu).
Nguyễn Hoàng Thương
admin
26-10-2006, 05:05 PM
Bài giảng của Đức Hồng y Tổng trưởng Thánh bộ Truyền giáo Ivan Dias trong Thánh lễ Khai mạc Hội nghị Truyền giáo Á châu I tại Chiang Mai, Thái Lan, ngày 19-10-2006
"Đây là ngày Chúa đã chọn, chúng ta hãy hoan hỉ và vui mừng trong ngày ấy".
Tại Thánh lễ khai mạc Hội nghị Truyền giáo Á châu lần thứ nhất này chúng ta hiệp nhất trong Thánh danh Đức Giêsu, người đã hứa sẽ hiện diện khi có hai hoặc ba người tụ tập nhân Danh Ngài. Trong khi chúng ta nhớ lại niềm vui châu Á đã hưởng lợi từ việc đón nhận Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô, chúng ta hãy khiêm tốn cầu xin Thiên Chúa chúc phúc cho các cuộc thảo luận về nhiều thách thức chúng ta gặp phải trong sứ mệnh phổ biến Tin Mừng của Ngài khắp châu Á rộng lớn này và truyền cảm hứng cho chúng ta có những quyết định đúng đắn vì Ngài truyền lệnh cho chúng ta hãy "ra chỗ nước sâu".
Chúng ta tự hào khi nhận thấy rằng châu Á có một vị trí đặc biệt trong ý định của Thiên Chúa suốt từ đó, trong vườn Địa đàng sau khi Adam và Eva phạm tội, Ngài đã hứa ban cho loài người một Đấng cứu chuộc duy nhất và phổ quát. Áp dụng Lời Chúa Giêsu theo Nicodemus, chúng ta có thể thành thật nói rằng Thiên Chúa yêu thương châu Á đến độ đã sai Con Một Ngài nhập thể và thực hiện sứ mệnh cứu chuộc của Ngài ở đó, để tất cả những ai tin vào Ngài không thể chết, nhưng có sự sống đời đời. Vâng, chúng ta thực sự có thể tự hào về "Câu chuyện Chúa Giêsu" bắt đầu tại châu Á cách đây khoảng 2000 năm nay đã trở thành "lịch sử", câu chuyện của Ngài dành cho toàn nhân loại và cho mọi thời đại. Thánh lễ này có nhiều ý định chúng ta muốn dâng lên Thiên Chúa là Cha chúng ta ở trên trời, nhờ Đức Kitô, với Người và trong Người, trong sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần. Nhìn lại quá khứ, có nhiều người chúng ta phải tưởng nhớ - để tỏ lòng biết ơn, thực sự vì lòng biết ơn. Chúng ta nhớ đến tất cả những người từ các thế kỷ đầu của thời đại Kitô giáo, bắt đầu từ các Thánh Tông đồ, đã gieo rắc hương thơm ngọt ngào của Đức Giêsu Kitô ở châu Á. Thông điệp Tin Mừng thực sự đã được loan báo trong các thế kỷ đó - ngay cả trong lúc gặp thử thách và đau khổ - từ nhà tiệc ly ở Giêrusalem đến các quốc gia và vương quốc ở Trung và Nam Á, từ Trung Đông đến Viễn Đông. Chúng ta không thể quên động lực truyền giáo lớn lao từ thế kỷ 16 trở đi của những người có tâm huyết như Thánh Phanxicô Xaviê, Matteo Ricci, Roberto de Nobili, Chân phước Joseph Vaz, các giáo dân đã đem Kitô giáo đến bán đảo Triều Tiên, và nhiều người khác nữa. Và chúng ta nhớ đến những người đã và đang chịu đau khổ dưới các chế độ chống đối hay các nạn nhân của các cuộc bắt đạo trên khắp châu Á: ở Armenia, Nhật Bản, Việt Nam, Hàn Quốc, Ấn Độ, Trung Quốc, ngay cả tại Thái Lan này, và các nơi khác. Họ là những người chuyển cầu cho chúng ta trên thiên quốc và xin cho máu họ đã đổ ra vì Đức Kitô trở thành hạt giống của các Kitô hữu mới (Tertullian).
Nhìn về tương lai, trong hội nghị này chúng ta sẽ nhớ lại nhiệm vụ truyền giáo mà chúng ta đã lãnh nhận từ Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô để rao giảng Tin Mừng cho mọi loài tạo vật, và những thách thức gặp phải khi công bố Tin Mừng trong khuôn khổ đối thoại đại kết và liên tôn. Những thách thức hiện nay là rất nhiều và đa dạng: từ việc đề cao thần vị của Đức Giêsu với những người đang tôn thờ một vị Thần vô danh đến việc thúc giục hội nhập Phúc Âm vào văn hóa và truyền giáo cho các nền văn hóa của chúng ta, và nhớ rằng chúng ta là con cái của các nền văn hóa của chúng ta và là bố mẹ của các nền văn hóa sẽ theo sau chúng ta. Một mặt, chúng ta không thể làm ngơ trước tâm lý Tân Thời quy ngã phổ biến ở châu Á hiện nay, nơi mà Thiên Chúa được xem là không hợp thời. Mặt khác, chúng ta phải cảnh giác với những yêu sách được đưa ra bởi những gì Đức Gioan Phaolô 11, trong tông huấn Redemptoris Missio (số 37), gọi là "Đồi Arê hiện đại" trong đó ngài nói đến các vùng truyền giáo mới vượt qua mọi ranh giới địa lý, văn hóa và xã hội, nghĩa là thế giới văn hóa và nghiên cứu, di dân và nghèo đói, truyền thông xã hội và quan hệ quốc tế - dĩ nhiên, bao gồm công nghệ thông tin và các phương tiện truyền thông dưới mọi hình thức - cam kết với hòa bình, phát triển và giải phóng các dân tộc, quyền lợi của các cá nhân và các dân tộc, đặc biệt là những nhóm thiểu số, trao quyền cho phụ nữ và giáo dục trẻ em, bảo vệ sinh thái của thế giới tạo vật. Tất cả các khu vực này của Đồi Arê hiện đại, theo Đức Thánh cha, cần được chiếu sáng bằng ánh sáng Tin Mừng và rồi tham gia sứ mệnh truyền giáo của Giáo hội. Chúng ta hãy dâng tất cả các ý nguyện này cho Thiên Chúa trong Thánh lễ này.
Cuối cùng, chúng ta hãy tưởng nhớ đến nhiều dân tộc và nhiều người ở châu Á này chưa nhận biết Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô, hay đúng hơn Tin Mừng là Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa thật và là người thật. Chúng ta biết, truyền giáo chính là việc làm của Chúa Thánh Thần, Ngài hoạt động trong tất cả các nền văn hóa từ lúc bắt đầu vũ trụ. Chính Ngài đã chuẩn bị cho sự nhập thể của Con Thiên Chúa và sự hy sinh cứu chuộc của Ngài cách đây 2000 năm trên vùng đất Á châu. Ngài đã để lại nhiều giới răn suốt lịch sử của các nền văn hóa thế giới: đây là "hạt giống của Ngôi Lời" sẽ hướng dẫn những người thành thật tìm kiếm tiến đến sự thật viên mãn nơi Đức Giêsu Kitô. Chúa Thánh Thần đã khởi xướng công tác truyền giáo với lời công bố trực tiếp và gián tiếp vào chính lúc Đức Giêsu Kitô sinh ra ở Bêlem (Lc 2,8-20; Mt 2,1-12). Lời công bố trực tiếp: khi các Thiên Thần thông báo tin vui về Chúa Giêsu ra đời cho các mục đồng chăn chiên vào đêm đó. Lời công bố gián tiếp: khi một ngôi sao xuất hiện ở phương Đông và dẫn đường cho Ba Vua mang đầy tặng phẩm quý báu dâng Chúa Giêsu, Nhà vua mới sinh và là Đấng cứu chuộc thế gian. Áp dụng điều này cho các dân tộc Á châu, chúng ta phải biết ơn và tôn trọng các kho báu di sản văn hóa và tôn giáo mà - như Ba Vua - họ mang trong lòng, cũng như những nỗ lực khám phá Sự thật của họ hiện nay bằng cách bước theo Kinh thánh và các thánh nhân của họ như là các ngôi sao chỉ đường. Giống như Ba Vua bồn chồn thao thức cho đến khi tìm thấy Đức Giêsu và dâng báu vật trước Ngài và thờ lạy Ngài, các dân tộc Á châu, với các truyền thống tôn giáo và văn hóa phong phú đa dạng của mình, cũng sẽ thao thức cho đến khi tìm thấy và thờ lạy Ngài chính là Đường, là Sự thật và là Sự sống. "Lạy Chúa, chính Ngài đã chọn chúng con, và tâm hồn chúng con thao thức cho đến khi an nghỉ trong Ngài". (Thánh Augustinô)
Nguyện xin Đức Mẹ Đồng trinh, Ngôi sao Truyền giáo Mới, chúc phúc cho Hội nghị Truyền giáo Á châu này, các tham dự viên và tất cả những người tận tâm rao giảng "Câu chuyện Chúa Giêsu" trên khắp châu Á thân thương của chúng ta.
UCAN (http://www.ucanews.com/html/ucan/f_langdetail.asp?ucalang=Vietnamese&langPath=../news_report/vietnamese/2006/10/w4/th10t4a2.txt)
admin
26-10-2006, 05:13 PM
Hôn nhân dị giáo là kinh nghiệm 'đau khổ nhưng tuyệt vời'
CHIANG MAI, Thái Lan (UCAN) -- Khi Vishwalingam Visagaran kết hôn với Celine Fernandez, dường như không có thách thức nào quá lớn đối với chàng rể Ấn giáo và cô dâu Công giáo này.
Tuy nhiên, sau 16 năm chung sống và có hai mụn con, cuộc sống hôn nhân của họ vẫn còn đầy gian truân.
"Những bất đồng tôn giáo đã gây thiệt hại cho chúng tôi trong quan hệ vợ chồng, nhưng Chúa đã ở với chúng tôi trong những lúc khó khăn và giúp đỡ chúng tôi".
Vishwalingam và Celine là hai trong năm người chia sẻ kinh nghiệm đức tin của họ trước hội nghị hôm 19-10. Vishwalingam, có mẹ là người Sri Lanka định cư ở Malaysia, kể lại việc anh cải đạo từ Ấn giáo có truyền thống kiên định trở thành một người Công giáo sùng đạo với tên thánh là Lawrence như thế nào.
Tất cả bắt đầu khi anh gặp Celine trong khi đang học ngành kỹ sư hóa tại một đại học ở Malaysia. Ông nói: "Tôi phải lòng cô ấy ngay từ đầu".
Ông cho biết, tuy nhiên những điểm bất đồng trong tôn giáo và nhu cầu gìn giữ danh tiếng của gia đình đã làm ông rơi vào tình thế khó xử, và mẹ ông dự định bắt ông kết hôn với "một cô gái Ấn giáo người Sri Lanka tiêu biểu mà bà có thể tin cậy".
Mẹ ông tỏ ra rất giận dữ khi Vishwalingam nghe theo tiếng gọi của con tim và kết hôn với Celine. Gia đình ông xem cô ta là mối đe dọa bởi vì họ chưa bao giờ nghĩ "một người con trai ngoan ngoãn" lại có "một quyết định táo bạo và quyết liệt như thế" và kết hôn với một người Công giáo.
Mặt khác, ông "thật sự yêu" Celine và hy vọng sẽ làm hòa với gia đình một ngày nào đó. Vishwalingam than rằng: "Lúc đó, trông có vẻ rất đơn giản, nhưng tình hình lại xấu hơn sau khi cưới".
Ông cho biết, mẹ ông và vợ ông không thể tha thứ cho nhau vì những nỗi đau mà họ chịu đựng, và khi vợ ông không thể "ủng hộ tôi theo cách như tôi mong đợi", ông bắt đầu mất hy vọng. Celine cũng bị sẩy thai hai lần.
Mặc dù thế, nhưng Vishwalingam đã tự do quyết định trở thành một người Công giáo 5 năm sau khi ông và Celine lấy nhau bởi vì "tôi tin Đức Giêsu Kitô". Nhưng việc ông theo Công giáo càng làm cho gia đình ông xa lánh bởi họ không thể hiểu tại sao ông lại làm như thế và "họ càng ghét vợ tôi hơn".
Câu chuyện của ông giúp minh họa sự tổn thương thỉnh thoảng dính líu đến đối thoại liên tôn cho các tham dự viên hội nghị. Chẳng hạn, ông cho biết câu hỏi đầu tiên mà Celine đã hỏi ông khi họ yêu nhau là ông có chịu theo đạo Công giáo không. Ông cho biết, câu hỏi của cô ấy không làm ông bối rối, bởi vì ông biết cô ấy xuất thân từ một gia đình Công giáo bảo thủ. "Nhưng điều mà lúc đó tôi không hiểu là nhu cầu để tôi cải đạo là gì bởi vì tôi không phải là một người xấu".
Ông đã tham dự các lớp học về Nghi thức Khai tâm Kitô giáo dành cho Người lớn một thời gian, nhưng ông liền bỏ học bởi cảm thấy thật khó hiểu. Ông cho biết khóa học chú trọng việc dạy giáo lý hơn là giúp ông hiểu cách thể hiện nó trong đời sống thật.
Sau đó xảy ra các lần sẩy thai. Một ngày nọ, một phụ nữ tại nhà thờ nói với Vishwalingam rằng vợ ông sẽ có con nếu ông "hoàn toàn" phục tùng Đức Kitô.
Ông nói ông không thể nào hiểu được ông phải phục tùng cái gì. Ngoài ra, ông đã có quan hệ thân thiết với Thần Krishna, một vị thần Ấn giáo, và tin rằng thần Krishna, giống như Chúa Giêsu, là hiện thân của Thiên Chúa.
Tuy nhiên, khi các vấn đề cá nhân của ông gia tăng, ông bắt đầu hiểu được ý nghĩa của việc Chúa Kitô chịu đau khổ và sẵn sàng tha thứ cho những kẻ làm tổn thương Ngài. "Điều đó làm tôi cảm động bởi tôi cũng đang trải qua tình cảnh tồi tệ nhất trong đời". Ông nói thêm, chỉ khi đó tôi mới hiểu được Đức Kitô và thông điệp của ngài, và quyết định hoàn toàn phục tùng Đức Giêsu, và điều này giúp ông phát triển "quan hệ rất thân thiết" với Đức Kitô.
Ông thừa nhận mình đã gặp nhiều cám dỗ và đôi khi đã không chống nổi các cơn cám dỗ đó nhưng ông khẳng định rằng ông sẽ không bao giờ bỏ Chúa Giêsu Kitô. Ông nói, cuộc sống Kitô hữu là một cuộc đấu tranh liên tục để sống Tin mừng của Chúa Kitô.
Vishwalingam cho biết, nhờ nhận thức được chính vì chương trình của Thiên Chúa mà ông đã gặp được Celine và đối diện tất cả những thử thách đó. "Chúa đã dùng tất cả các biến cố đó để đem tôi đến gần với Ngài hơn". Ông kết luận, ông đã trải qua những "đau khổ nhưng hài lòng", và ông sẽ vẫn làm như thế trong những tình huống tương tự.
Celine nói với UCA News sau đó rằng bà chỉ muốn nuôi dạy con cái trong một bầu khí "hoàn toàn Công giáo" bởi vì bà tin rằng đó là bổn phận làm mẹ của bà. Bà sẽ cho phép các con sống theo ý muốn của chúng khi chúng trưởng thành. Nếu chúng chọn một tôn giáo khác khi đến giai đoạn đó, bà sẽ không phản đối, miễn là chúng có lý do chính đáng.
UCAN (http://www.ucanews.com/html/ucan/f_langdetail.asp?ucalang=Vietnamese&langPath=../news_report/vietnamese/2006/10/w4/th10t4a1.txt)
admin
28-10-2006, 07:29 AM
Phái đoàn Việt Nam tại Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu lần thứ I.
Phái đoàn Việt nam gồm 15 thành viên tham dự Ðại hội Truyền Giáo tại Thái Lan đã có mặt tại Chiang Mai Thái Lan lúc 18 giờ ngày 18 tháng 10 năm 2006.
Ðại Hội chính thức khai mạc sáng ngày 19 tháng 10, và kết thúc lúc 14 giờ ngày 22 tháng 10 năm 2006. Phái đoàn Việt nam trở về tới Phi trường Tân Sơn Nhất (Saigòn, Việt Nam) lúc 20 giờ 10 phút ngày 23 tháng 10 năm 2006.
Ðây là Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu lần thứ nhất; và đây cũng là lần đầu tiên Giáo Hội Việt Nam tham dự đại hội với con số đại biểu đáng kể, vì thế các thành viên đã chuẩn bị rất chu đáo để có thể tham gia Ðại Hội cách tích cực nhất.
Trong quá trình Ðại Hội, mọi người đều ý thức tinh thần đồng trách nhiệm, tình đoàn kết, chia sẻ và học hỏi, vì thế khi trở về ai ai cũng đều cảm thấy phấn khởi, vui vẻ và cảm nghiệm được tình yêu thương rất đặc biệt của Chúa Giêsu và sự dìu dắt, nâng đỡ của Ðức Trinh Nữ Maria.
Ðược đánh động bởi kinh nghiệm của Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu lần I: sự thân thiện giữa anh em cùng một nòi giống, những chia sẻ câu chuyện Chúa Giêsu trong đời sống cá nhân, trong phấn đấu và đau khổ, vui tươi và phiền muộn, những cử hành đức tin và hiệp thông nơi bàn tiệc Thánh Thể cũng như các giờ cầu nguyện, những thể hiện các giá trị văn hoá trong đời sống Kitô hữu, và những thái độ hiểu biết và kính trọng đối với các tôn giáo khác v.v..., các thành viên của phái đoàn được khơi dậy lòng nhiệt thành truyền giáo với một cách thức mới: kể lại Chúa Giêsu bằng cách thức Á Châu cho các dân tộc của Á Châu. Sứ mệnh truyền giáo này phải bắt đầu trước hết bằng việc canh tân bản thân mình, sống xả thân phục vụ, nhất là luôn luôn đứng về phía những người nghèo, những người đau khổ và những người bị xã hội loại trừ. Hơn nữa, các thành viên cũng cam kết rằng chính bản thân mình trong mọi nơi và mọi lúc phải là khí cụ hữu hiệu của công cuộc loan báo Tin Mừng, hội nhập văn hoá, và đối thoại liên tôn.
Với chương trình triển lãm về hoạt động truyền giáo của các nước, phái đoàn Việt Nam cũng tham gia rất tích cực trong việc trình bày với những hình ảnh rất ý nghĩa, sâu xa, hấp dẫn và sống động, lịch sử truyền giáo của Giáo Hội Việt nam và các hoạt động truyền giáo trong các Giáo Phận ba miền Bắc, Trung và Nam.
Ngoài ra, trong chương trình văn hoá và truyền giáo, phái đoàn đã trình diễn cuộc dâng hoa tôn vinh Ðức Mẹ trong trang phục truyền thống Việt Nam: áo dài, khăn đóng: 3 đôi dâng 3 sắc hoa, 3 đôi dâng nến, 2 Ðức Cha kiệu Ðức Mẹ, với thánh ca mang nét nhạc dân tộc Việt Nam từ thế kỷ XVIII.
Mọi thành viên cam kết sẽ mang về nhà, về giáo phận, giáo xứ hay cộng đoàn mình phục vụ những câu chuyện sống động về Chúa Giêsu để khơi lên ngọn lửa truyền giáo trong tâm hồn mọi người, và ước mong được sông theo lời Chúa Giêsu nói với người bị quỷ ám: "Anh cứ về nhà với thân nhân, và thuật lại cho họ biết mọi điều Chúa đã làm cho anh, và Người đã thương anh như thế nào" (Mc 5, 19).
Nữ Tu Têrêsa Trần Kim, MTG-DL
http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/photovn/phaidoanvn1.jpg
Nguồn: Chân Lý Á Châu (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/truyen30.htm)
admin
28-10-2006, 07:33 AM
Đức Giám mục của Hồng Kông chia sẻ 'bảy phép lạ trong đời tôi'
CHIANG MAI, Thái Lan (UCAN) -- Bảy phép lạ trong Tin Mừng của Thánh Gioan có ý nghĩa đặc biệt đối với Đức Giám mục phụ tá John Tong Hon của Hồng Kông.
Trong phần trình bày hôm 19-10 tại Hội nghị Truyền giáo Á châu lần thứ nhất, Đức cha Tong nói rằng các đoạn Tin Mừng đó đã giúp ngài hiểu được cuộc đời của mình.
Giống như các buổi "chia sẻ đức tin" nổi bật trong suốt hội nghị từ ngày 18-22/10 tại Chiang Mai, cách Bangkok khoảng 700 kilômét về phía bắc, bài nói chuyện của đức cha phụ tá của Hồng Kông phản ánh chủ đề chung của hội nghị là Câu chuyện Chúa Giêsu tại châu Á: Một Cử hành Đức tin và Sự sống, và còn chú trọng một chủ đề đặc biệt.
Chủ đề của Đức cha Tong là "người cao tuổi", nhưng ngài còn nhắc lại những thời điểm quan trọng trong đời ngài và trong lịch sử gần đây của Giáo hội Trung Quốc.
Ngài nói về lễ truyền chức linh mục của ngài ở Rôma cách đây 40 năm và đức tin của mẹ ngài đã giúp ngài đạt tới cột mốc đó trong đời ngài như thế nào.
Khi Trung Quốc bắt đầu mở cửa năm 1979, vị linh mục của giáo phận Hồng Kông bắt đầu viếng thăm Trung Quốc đại lục và được truyền cảm hứng bởi đức tin của người Công giáo đại lục, họ đã chịu nhiều đau khổ và không được lãnh các bí tích trong một thời gian dài.
Khi còn nhỏ, ngài đã cảm động trước cử chỉ bác ái của một linh mục thừa sai đến độ ngài bắt đầu nhận thấy mình được kêu gọi làm linh mục.
Đức cha Tong cho biết việc Hồng Kông được trao trả cho Trung Quốc vào giữa năm 1997 đã gây nhiều lo âu cho một số giáo sĩ của giáo phận, nhưng Đức cố Hồng y John Baptist Wu Cheng-chung của Hồng Kông đã giúp họ can đảm đối mặt với tương lai, và những nỗ lực truyền giáo của giáo phận đã có kết quả từ đó.
Những suy tư của đức cha còn đề cập đến tình hình khó khăn của thuyền nhân Việt Nam bị kẹt ở Hồng Kông nhiều năm, và dịch SARS (Hội chứng viêm đường hô hấp cấp tính) kinh sợ trong lãnh thổ này hồi năm 2003.
Sau đây là bài tham luận của Đức cha Tong:
Bảy Phép lạ trong Đời Tôi của Đức cha John Tong
Theo cách xếp loại người cao tuổi của Liên Hiệp Quốc, người có tuổi từ 65-74 được xếp vào loại bắt đầu tuổi già, từ 75-84 là tuổi già, và từ 85 tuổi trở lên là loại cao tuổi. Hiện tôi 67 tuổi, vì thế tôi chỉ có tư cách nói thay cho người mới bắt đầu già.
Tôi thích suy niệm Tin Mừng của Thánh Gioan. Tôi không phải là độc giả duy nhất thích chia sách Tin Mừng này thành hai phần, với Ga 11:44 là điểm giữa. Phần đầu ghi chép lại bảy phép lạ của Chúa Giêsu, tất cả đều nói về Mầu nhiệm Vượt qua trong phần hai của Tin Mừng này. Mục đích của phần trình bày này được nói rõ trong Ga 20:31: "Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người".
Tôi muốn đặt cuộc đời của tôi trong bối cảnh của bảy phép lạ này.
Phép lạ thứ nhất: Chúa Giêsu biến nước thành rượu ở Cana (Ga 2,1-11 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%202:1-11&FontSize=Txt10))
Sau khi học tại tiểu chủng viện ở Ma Cao và đại chủng viện ở Hồng Kông, tôi được cử sang Rôma học tại Pontificio Collegio Urbano de Propaganda Fide. Lớp chúng tôi tốt nghiệp năm 1966 có 69 chủng sinh đến từ 25 quốc gia. Chúng tôi giống như một gia đình. Điều đó thể hiện tính Công giáo của Giáo hội. Chúng tôi được cho là sẽ chịu chức trước Giáng sinh năm 1965. Mọi thứ đã được chuẩn bị. Chúng tôi bắt đầu tĩnh tâm để chuẩn bị chịu chức. Chúng tôi thật ngạc nhiên khi một ngày nọ cha giám đốc đến thông báo rằng chính Đức Thánh cha muốn phong chức cho chúng tôi vào ngày 6-1-1966. Tình hình diễn ra như thế chính là nhờ Chúa Quan Phòng. Qua việc dời lễ phong chức từ Giáng sinh sang Lễ Hiển Linh, nhắc nhở tôi rằng tôi phải trở thành chứng nhân của Ngài trước toàn thế giới.
Theo truyền thống, vào ngày 6-1 các Kitô hữu Đông phương kỷ niệm việc Ba Vua đến thờ lạy Chúa Hài Đồng, Chúa Giêsu chịu phép Rửa ở sông Jordan, và phép lạ tại Tiệc cưới Cana. Vì thế khi tôi dâng Thánh lễ đặc biệt vào ngày này, tôi cầu xin Chúa Giêsu, đã hóa nước thành rượu cách đây 2000 năm, sẽ tiếp tục biến tôi thành nhân chứng hữu hiệu của Ngài.
Phép lạ thứ hai: Đức Giêsu chữa con của một sĩ quan cận vệ của nhà vua (Ga 4,46-54 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%204:46-54&FontSize=Txt10))
Giống như đa số người dân Hồng Kông, ông bà tôi thực hành các tôn giáo phổ biến khác nhau bắt nguồn từ đạo Lão, đạo Phật, và kính trọng một số anh hùng trong lịch sử. Mẹ tôi là người đầu tiên trong dòng họ theo đạo Công giáo. Khi bà học tại một trường trung học do các nữ tu quản lý, bà có ấn tượng tốt về những cử chỉ tốt lành của các nữ tu, đặc biệt là của cô hiệu trưởng, nữ tu Mabel Anderson, FDCC, và bà bắt đầu học giáo lý. Mẹ tôi chọn Thánh Mabel làm thánh bổn mạng, như là để tỏ lòng kính trọng đối với người đã mở lòng trí cho bà đến với đức tin và thực hành Kitô giáo. Kết quả là, giống như viên sĩ quan cận vệ và cả gia đình ông, mẹ tôi và gia đình tôi dần dần tin theo Chúa Giêsu.
admin
28-10-2006, 07:37 AM
Phép lạ thứ ba: Đức Giêsu chữa một người bại liệt đã 38 năm (Ga 5,1-9 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%205:1-9&FontSize=Txt10))
Năm 1979, khi Trung quốc bắt đầu mở cửa và cải cách, nhiều người ở Hồng Kông nghĩ rằng chúng tôi cần có một trung tâm về Giáo hội tại Trung Quốc. Về mặt địa lý, dân tộc và văn hóa, không nơi nào có liên hệ chặt chẽ với Trung Quốc đại lục hơn Hồng Kông. Vì thế Đức cố Hồng y John Baptist Wu thành lập Trung tâm Nghiên cứu Thánh Linh năm 1980 để giải quyết những bận tâm này, và tôi được chỉ định làm giám đốc.
Ngay từ đầu, trách nhiệm mới của tôi mang lại cho tôi những thách thức lớn. Lúc đó, tôi đang dạy tại chủng viện, và tôi là chủ tịch Ủy ban Đại kết Giáo phận. Vì thế tôi cùng với các nhóm nghiên cứu Tin lành đến thăm Trung Quốc, và có các cuộc tiếp xúc với Giáo hội Công giáo công khai và với các viên chức của Hội Công giáo Yêu nước. Kết quả là, Trung tâm bị nhiều người chỉ trích. Với sự giúp đỡ của Chúa, sau đó tôi nhận ra rằng chính phủ đã thành lập Hội Công giáo Yêu nước để kiểm soát Giáo hội. Tôi liền cắt đứt quan hệ với hội yêu nước này. Việc chúng tôi làm sau đó tại Trung tâm Nghiên cứu Thánh Linh chứng tỏ rằng chúng tôi quan hệ với toàn Giáo hội Trung Quốc, cả Giáo hội công khai lẫn bí mật, và chúng tôi đã chứng minh sự thật rằng chỉ có một Giáo hội tại Trung Quốc. Vì thế Trung tâm chúng tôi đã có được niềm tin của người Công giáo. Phục vụ Giáo hội Trung Quốc là niềm vui đối với tôi. Những kinh nghiệm quý báu của người Công giáo Trung Quốc đã dạy cho tôi biết làm thế nào để tăng cường đức tin của mình và làm thế nào để làm chứng cho đức tin. Tôi cảm tạ Thiên Chúa về tấm gương tốt của một số linh mục Trung Quốc trung thành đã cử hành Bí tích Thánh Thể hàng ngày trên giường trong mùng lúc nửa đêm trong các trại cải tạo. Tôi tạ ơn Thiên Chúa về tấm gương tốt của một số giáo dân Trung Quốc trung thành đến phòng giải tội được giáo lý viên treo dây các phép của linh mục. Từng người một kể lớn tội lỗi của mình với dây các phép, vì họ không có linh mục trong một thời gian dài. Mặc dù Giáo hội Trung Quốc đã bị tê liệt hơn 30 năm, nhưng nhờ ơn Chúa và với nhiều năm nỗ lực, nhiều giáo phận Trung Quốc đã đầy sức sống. Đây là kết quả của sự đau khổ và bách hại.
Phép lạ thứ tư: Đức Giêsu hóa bánh ra nhiều (Ga 6,1-15 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%206:1-15&FontSize=Txt10))
Tôi sinh ở Hồng Kông năm 1939. Khi tôi hai tuổi, Nhật Bản xâm chiếm Hồng Kông. Gia đình tôi chạy sang Ma Cao. Từ đó chúng tôi đến Quảng Châu, một thành phố ở miền nam Trung Quốc. Tôi bắt đầu học tiểu học ở Quảng Châu sau khi Thế Chiến thứ hai kết thúc. Chẳng bao lâu sau đó, cộng sản dần dần bắt đầu lên nắm quyền kiểm soát Trung Quốc. Nhiều người lính bị thương và người tị nạn chạy từ miền bắc sang miền nam. Mỗi ngày tôi thấy nhiều binh lính bị thương và người tị nạn tụ tập trước nhà thờ. Tôi còn thấy cha xứ của tôi là Bernard Meyer, M.M, một thừa sai ngoại quốc, bận rộn cấp phát thuốc men, hàng cứu trợ và tiền bạc cho những người lạ mặt túng thiếu hàng ngày. Mẹ tôi và tôi thường giúp ngài phát hàng cứu trợ và truyền đơn nói về Công giáo. Việc làm đó trông giống như một phép lạ, nhưng ngày nào ngài cũng có một thứ gì đó để phát cho người ta. Cảm động trước tình thương bao la giống như Chúa Giêsu của cha Meyer dành cho những binh sĩ bị thương và người tị nạn, tôi muốn trở thành linh mục giống như ngài sau này. Tình yêu của cha Meyer là mầm mống phát triển ơn gọi của tôi.
Phép lạ thứ năm: Đức Giêsu đi trên mặt nước (Ga 6,16-21 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%206:16-21&FontSize=Txt10))
Đã gần 2000 năm qua, biển động và gió lớn tượng trưng cho những thách thức mà Giáo hội gặp phải. Trong những năm trước khi Hồng Kông được trao trả cho Trung Quốc vào ngày 1-7-1997, hơn 100.000 dân Hồng Kông sợ hãi và di cư sang nhiều nước khác. Trong giáo phận Hồng Kông chúng tôi, một số linh mục, nữ tu và giáo dân có thiện chí đã viết thư cho Đức Hồng y Wu đề nghị chuyển văn khố, một số nhân viên và tài sản tài chính của giáo phận đến những nơi khác cho an toàn. Tôi là một trong hai tổng đại diện của Giáo phận Hồng Kông từ năm 1992, vì thế một số thư từ đó đã được chuyển qua bàn làm việc của tôi. Sau khi cầu nguyện chung, Đức Hồng y Wu nói với chúng tôi: "Đừng sợ". Ngài cám ơn những người đã có đề nghị đó, nhưng ngài quyết định không thay đổi gì cả. Đến nay, đã chín năm trôi qua trong thời đại mới này, công tác truyền giáo của chúng tôi ở Hồng Kông vẫn suôn sẻ, và giáo phận tiếp tục có 5.000 người theo đạo được rửa tội vào mỗi đêm Vọng Phục sinh. Trong đó một nửa là người lớn, và một nửa là ấu nhi và trẻ em.
Phép lạ thứ sáu: Đức Giêsu chữa một người mù từ thuở mới sinh (Ga 9,1-41 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%209:1-41&FontSize=Txt10))
Từ khi tôi trở thành một trong hai tổng đại diện ở Hồng Kông, tôi làm trưởng ban mục vụ các nhóm Công giáo thiểu số trong Giáo phận. Vì thế tôi đã viếng thăm các trại giam người Việt Nam vào tháng 12-1996. Lễ Giáng sinh được trang trí vui nhộn, nhưng cộng đoàn đã khóc vì lo lắng trong Thánh lễ. Tại sao vậy? Bởi vì họ không thấy một chút ánh sáng tương lai nào. Một số người đã tị nạn suốt cả đời. Khi còn nhỏ, họ tị nạn trong Thế Chiến thứ hai. Năm 1949 họ chạy từ miền nam Trung Quốc sang miền bắc Việt Nam để trốn chế độ cộng sản. Năm 1954, Việt Nam bị chia làm hai miền, và họ lại chuyển đến miền nam Việt Nam. Sau khi Sài Gòn rơi vào tay cộng sản năm 1975, họ bắt đầu tìm cách bỏ trốn bằng thuyền. Một số thuyền may mắn đến được Hồng Kông, nhưng những người đi thuyền này sau đó lại bị giam giữ hơn một thập niên, thậm chí là 20 năm. Họ đã phải chạy trốn bốn lần, để rồi cuối cùng bị giam giữ đằng sau đường dây kẽm gai. Giờ đây cộng sản sắp đến trong nửa năm nữa. Họ khóc và tự hỏi tại sao Thiên Chúa lại đối xử với họ khắc nghiệt như thế. Tôi an ủi họ, và kêu gọi họ nhớ lại Chúa Giêsu hồi nhỏ cũng tị nạn ở Ai Cập. Tôi thúc giục họ tin vào Chúa, sau ngày 1-7-1997, họ được hòa nhập yên ổn vào xã hội Hồng Kông. Mỗi ngày Chúa nhật họ vẫn tụ tập tại Nhà thờ Thánh Giuse ở Kowloon. Sau này, họ không phải chạy trốn nữa. Đức Giêsu đã mở mắt cho họ, và họ thấy được một chỗ ở bảo đảm và một mái ấm tinh thần.
admin
28-10-2006, 07:41 AM
Phép lạ thứ bảy: Đức Giêsu cho Lazarô sống lại từ cõi chết (Ga 11,1-44 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Ga%2011:1-44&FontSize=Txt10))
Hồng Kông hết sức hoảng hốt lo sợ vào năm 2003 khi bệnh dịch SARS bắt đầu lan rộng từ tháng 3-6. Nhiều người bị bệnh và 299 người chết. Chúng tôi không bị buộc tay chân như Lazarô trong mồ, nhưng miệng chúng tôi lại bị bịt khẩu trang trong suốt thời gian đó. Một số người Công giáo đề nghị với Đức cha Zen rằng chúng tôi phải ngưng tất cả các hoạt động ở nhà thờ kể cả lễ Chúa nhật để ngăn ngừa khả năng lây nhiễm virút SARS. Nhưng sau khi cầu nguyện chung với nhau, Đức cha Zen của chúng tôi, nay là Đức Hồng y Zen, trả lời rằng chúng ta cần tin cậy nơi Chúa, và chúng ta cần nuôi dưỡng đời sống đạo đức của mình. Nhờ quyết định này, giáo phận chúng tôi mới có thể tiếp tục cử hành phụng vụ ngay cả trong mùa Chay và Phục sinh. Giờ đây chúng tôi tạ ơn Chúa, giống như Lazarô, chúng tôi đã trở lại từ cõi chết.
Cuối cùng, để trả lời cho những người có thể hỏi: "Chúng ta có thể làm gì cho Giáo hội tại Trung Quốc?" Tôi xin đưa ra ba đề nghị như sau:
Thứ nhất, cầu xin cho người Công giáo ở Trung Quốc đại lục hưởng được tự do hoàn toàn, đặc biệt là tự do tôn giáo.
Hai là, nếu có cơ hội, chúng ta hãy viếng thăm Trung Quốc và gặp gỡ anh chị em Công giáo ở đó một cách khôn ngoan và khéo léo.
Ba là, chúng ta phải tiếp tục hỗ trợ cho việc đào tạo chủng sinh của Trung Quốc và nữ tu ở đó. Việc này có thể được thực hiện bằng cách gởi tài liệu giáo dục, chia sẻ kinh nghiệm đức tin của chúng ta, và tăng cường giao lưu để giúp nhau tốt hơn.
Cuối cùng, tôi muốn chia sẻ với quý vị một lời cầu nguyện, phỏng theo Thánh vịnh 23, do tôi viết để tạ ơn 40 năm linh mục.
Chúa là Mục tử của tôi, tôi thực sự không cần chi nữa.
Nơi người dân và đất cổ xưa của Trung Quốc, Ngài đã sinh ra tôi. Ngài đã dẫn đưa tôi đến với Con Ngài là Đức Giêsu và chọn tôi làm tư tế, vì người dân Trung Quốc đau khổ của Ngài.
Ngài giao cho tôi một sứ mệnh, làm cầu nối hiệp nhất và hòa giải giữa các tín hữu Công giáo Trung Quốc.
Mặc dù tôi gặp khó khăn và buồn rầu, nhưng tôi không sợ thử thách, vì Ngài ở với tôi, là nguồn an ủi và sức mạnh của tôi.
Khi tôi nhìn thấy Giáo hội Công giáo bị kiểm soát chặt chẽ, Ngài ban cho tôi ơn khôn ngoan và nhẫn nại. Khi tôi gặp anh chị em Công giáo Trung Quốc của tôi, Ngài dạy cho tôi biết giá trị của chứng nhân và đau khổ.
Ôi! Bao nhiêu điều tốt lành và thánh thiện theo tôi mọi ngày trong đời. Để tỏ lòng biết ơn và trung thành, tôi sẽ luôn chúc tụng Chúa.
Chắc chắn một ngày nào đó Tin Mừng sẽ trổ hoa kết trái mãi mãi trên quê hương Trung Quốc.
Nguồn: UCAN (http://www.ucanews.com/html/ucan/f_langdetail.asp?ucalang=Vietnamese&langPath=../news_report/vietnamese/2006/10/w4/th10t4a.txt)
admin
28-10-2006, 07:47 AM
Một người Ấn giáo đã cải đạo nói ông biết được Đức Kitô qua một bản kinh Ấn giáo cổ
CHIANG MAI, Thái Lan (UCAN) -- Tiếng hô "Hallelujah!" và "Hãy ngợi khen Thiên Chúa!" vang khắp hội trường khi một người theo Ấn giáo trước đây kể lại "gia đình hoàn toàn tan vỡ" của ông tìm thấy "sự cứu độ toàn diện" nơi Đức Kitô như thế nào.
"Có thay đổi khi Chúa Giêsu chạm vào người bạn", Aravindaksha Menon, một người Ấn giáo thuộc đẳng cấp cao Ấn Độ, khẳng định hôm 20-10 tại Hội nghị Truyền giáo Á châu lần thứ nhất đang diễn ra tại Chiang Mai, cách Bangkok khoảng 700 kilômét về phía bắc, ở Thái Lan.
Menon nằm trong số nhiều người đã kể chuyện Đức Kitô tác động đến đời sống của họ như thế nào cho khoảng 1.000 tham dự viên tại hội nghị từ ngày 18-22/10, có chủ đề Câu chuyện Chúa Giêsu tại châu Á: Một Cử hành Đức tin và Sự sống.
Menon nói với họ rằng ông biết về Chúa Giêsu qua kinh Veda, một bản kinh cổ của Ấn giáo mà ông bắt đầu học sau khi gặp nhiều thất bại trong đời. Cựu công chức Ấn Độ này cho biết cuộc đời của ông sung túc cho đến năm 1986 khi ông bị sa thải vì dính líu đến hoạt động công đoàn. "Trong vòng một vài ngày, cuộc sống của tôi và gia đình tôi đã rơi vào tình trạng hết sức khó khăn về tài chánh", Menon kể lại.
Khi khó khăn ngày càng chồng chất, ông liền tìm đến tôn giáo của mình, ông vốn đã bỏ bê khi trở thành một nhà cộng sản. Cầu nguyện và dâng cúng ở nhiều đền thờ khác nhau vẫn không làm ông thanh thản, vì thế ông tìm đến một nhà chiêm tinh, người đã đưa ra các lý do khác nhau cho những bất hạnh của ông. Sau đó ông phải thực hiện nhiều nghi thức tốn tiền để xua đuổi tà ma tình nghi là đã đe dọa phá hoại tài chánh của ông. Nhưng trước đó rất lâu, "Tôi đã đánh mất niềm tin vào Thượng đế và trở thành một người vô thần", ông cho biết.
Khi cuộc sống của ông trở nên khốn khổ hơn bao giờ hết, ông có ý định tự vẫn sau khi đầu độc vợ và hai con gái. Ông kể lại, "tôi đã định ngày giờ" để làm việc này. Tuy nhiên, vào ngày hôm đó, ông được bố trí tham dự một cuộc họp của những người vô thần, và tại đây ông thuyết giảng về đề tài Thượng đế không tồn tại.
Một cựu chánh án của Ấn Độ, theo đạo Bà la môn Ấn giáo, nói với Menon rằng ông đã hai lần đi sai đường trong đời. Ông nói rằng Menon đã quay sang cầu sai thần thánh khi những bất hạnh của ông xảy đến và khi ông trở thành một người vô thần khi cầu nguyện không được nhận lời. Quan tòa này khuyên ông đọc kinh Veda nếu ông muốn tự hào mình là người Ấn giáo.
Khi nghe theo lời khuyên của người theo đạo Bà la môn này, Menon cho biết ông trở nên hiếu kỳ bởi một số câu kinh nói đến một "Prajapati", hay con Thiên Chúa. Kinh Veda nói về một "con Thiên Chúa" sẽ đến thế gian vào thời điểm thích hợp và giúp dân chúng hiểu được sự lành và sự dữ. Kinh Veda còn nói rằng người này sẽ kết thúc sứ mệnh của mình bằng cách hy sinh thân mình để cứu nhân loại.
Cảm thấy khó hiểu, Menon đã hỏi nhà luật học, và người này trả lời rằng các câu kinh đó nói về Đức Giêsu Kitô. Sau đó người theo đạo Bà la môn này nói rằng đã đến lúc để cho Menon học Kinh Thánh.
Khi ông đọc một cuốn Kinh Thánh mượn của một Kitô hữu hàng xóm, ông tình cờ gặp nhiều đoạn văn giúp ông giải tỏa những nghi ngờ trước đây. Menon nói: "Tôi bắt đầu cầu nguyện mặc dù tôi không biết cầu nguyện như thế nào".
Lời cầu nguyện của ông bắt đầu đem lại cho ông sự bình an. Một ngày nọ, một người bạn mời ông đến tham dự một cuộc tĩnh tâm tại Trung tâm Tĩnh tâm Thánh Linh, trung tâm đặc sủng lớn nhất châu Á, ở bang Kerala, miền nam Ấn Độ. Menon cho biết, tại cuộc tĩnh tâm, ông đã nói là Chúa đang kêu gọi ông rao giảng Phúc âm cho tha nhân, và ông đã làm như thế từ đó.
Ông nói thêm, sau đó phúc lành đã đến. Vợ ông hiện có thu nhập đều đặn nhờ làm việc cho một công ty bảo hiểm và các con gái ông đã định cư tại Mỹ.
"Chúa Giêsu đã giữ lời Ngài hứa và đã cứu gia đình tôi, không chỉ về tài chánh mà còn chúc lành nữa", ông kết luận.
UCAN (http://www.ucanews.com/html/ucan/f_langdetail.asp?ucalang=Vietnamese&langPath=../news_report/vietnamese/2006/10/w4/th10t4a3.txt)
admin
28-10-2006, 07:51 AM
Các tham dự viên Hội nghị Truyền giáo Á châu chia sẻ Câu chuyện Chúa Giêsu
CHIANG MAI, Thái Lan (UCAN) -- Các tham dự viên tại Hội nghị Truyền giáo Á châu (AMC) đã chia sẻ rất nhiều câu chuyện về việc họ cảm nghiệm Đức Kitô như thế nào.
Hôm 19-10, nguyên ngày thảo luận đầu tiên, các tham dự viên dành phần lớn buổi chiều trong các cuộc thảo luận để kể cho nhau nghe các câu chuyện của chính họ. Các câu chuyện của họ rất đa dạng, từ ảnh hưởng của một vị linh mục trong việc giúp trẻ em cảm nghiệm được Đức Kitô cho đến biến cố quan trọng trong cuộc đời của tham dự viên.
Khoảng 1.000 người đã tham dự AMC, ngoại trừ khoảng 50 người số còn lại đều đến từ châu Á. Hội nghị từ ngày 18-22/10 đang diễn ra tại Chiang Mai, cách Bangkok khoảng 700 kilômét về phía bắc. Liên Hội đồng Giám mục Á châu tổ chức sự kiện này, cuộc họp đầu tiên thuộc loại này trong châu lục.
Chủ đề đặc trưng của ngày đầu tiên là "Câu chuyện Chúa Giêsu nơi các Dân tộc Á châu", phản ánh chủ đề chung của AMC là "Câu chuyện Chúa Giêsu tại châu Á: Một Cuộc cử hành Đức tin và Sự sống".
Các tham dự viên được phân vào một trong 20 nhóm hội thảo, mỗi nhóm được đặt theo tên của một vị thánh và thánh tử đạo của châu Á, trong đó có một nhóm lấy tên Thánh Andrew Kim Tae-Gon, linh mục Hàn Quốc đầu tiên bị chém đầu năm 1846.
Trong nhóm đó, cha Bandit Thammavong, một trong khoảng 500 người Thái tại AMC, đã kể lại lúc còn thiếu niên ngài thường viếng thăm một linh mục dòng Chúa Cứu Thế tại nhà thờ của ngài ở miền đông bắc Thái Lan như thế nào. Cha Bandit cho biết ngài vẫn còn nhớ đã xem vị thừa sai người Mỹ đó là người "khiêm tốn và giản dị" và tự nhủ đây là mẫu người ngài muốn khi lớn lên.
Cha Bandit cho ơn gọi của mình là do cảm hứng ngài có được từ vị linh mục thừa sai đó trong giáo xứ quê ngài, giáo xứ Đức Kitô Vua, nơi mà ngài và các trẻ em khác thường đi lễ và sau đó học giáo lý. Chàng trai trẻ Bandit trở thành linh mục khi 29 tuổi. Ngài chịu chức năm 1993, sau khi học xong triết học và thần học tại Đại Chủng viện Quốc gia Lux Mundi gần Bangkok.
Giờ đây, với tư cách là chánh xứ Đức Mẹ Trung Gian Các Ơn trong tổng giáo phận địa phương Tharae-Nongsaeng, ngài cho biết ngài vẫn còn dùng kinh nghiệm với tu sĩ dòng Chúa Cứu Thế đó khi chăm sóc mục vụ cho giáo dân, hầu hết là nông dân.
Ngài còn dành thời gian cho thiếu nhi trong giáo xứ, các em thường xuyên ngồi chật kín phía sau xe tải của ngài để đi dạo hay đi picnic.
Theo cha Bandit, một ảnh hưởng nữa trong đời ngài là một nữ tu trong giáo xứ quê nhà của ngài khi ngài còn nhỏ. Ngài không nhớ tên của nữ tu, nhưng không thể quên cách nữ tu thường phát thức ăn cho ngài và các cậu con trai khác khi đi lễ.
Cha Bandit còn thừa nhận: "Chúng tôi mong muốn đi lễ bởi nữ tu thường dành thời gian chơi đùa với chúng tôi".
Christina Kheng, một nhà hoạt động phát triển xã hội ở Singapore, kể với một nhóm khác về câu chuyện của bà, trong đó có một kinh nghiệm đặc biệt về Đức Kitô đã làm thay đổi cuộc đời bà. Người Singapore này cho biết ông nội người gốc Trung Hoa của bà được rửa tội sau khi tìm hiểu về đức tin từ một linh mục Hội Thừa sai Hải ngoại Paris phục vụ ở Sán Đầu, trong tỉnh Quảng Đông thuộc miền nam Trung Quốc.
Bà kể chi tiết cách mà bà được nuôi dạy trở thành người Công giáo. Sau khi tốt nghiệp một trường phổ thông Công giáo và các đại học ở Úc và Singapore, bà làm việc cho một ngân hàng. Có lần bà bị lôi cuốn vào đời sống tu trì nhưng bà cũng trải qua một thời gian tìm kiếm ý nghĩa trong cuộc đời. Bà kể bà "đã xem mọi thứ là chuyện đương nhiên" và "còn nghi ngờ có Thiên Chúa hay không" như thế nào.
Một tai nạn xe môtô xảy ra với bà đã giúp bà tìm lại ý nghĩa và trật tự trong đời. "Tôi có thể cảm nghiệm lại được sự hiện diện của Thiên Chúa, và phần còn lại là thanh luyện", bà nói. Kể từ đó, Kheng hoạt động tích cực trong các dịch vụ Giáo hội và xã hội. Bà bắt đầu giúp đỡ bạn bè và sau đó bắt đầu làm việc với Quỹ Ung thư Trẻ em, một tổ chức phi chính phủ gây quỹ giúp trẻ em ung thư và bố mẹ chúng. Tổ chức này còn tài trợ nghiên cứu ung thư và đào tạo nhân viên y khoa.
Kheng nói: "Tôi thực sự thích làm việc với các nhóm hành động xã hội Công giáo và các tổ chức phi chính phủ, và tôi đang làm việc theo cách kết hợp thần học và quản lý. Tôi đang nghiên cứu các chương trình cải tiến thừa tác vụ Công giáo và tìm cách kết hợp quản lý và đời sống đạo đức".
Trong phần suy tư thần học cuối ngày thứ nhất, cha Julian Saldanha, dòng Tên, nhắc nhở các tham dự viên rằng "Chúa Giêsu là câu chuyện hay nhất của Thiên Chúa", và tất cả đều nói về câu chuyện này, như là một phần trong Giáo hội Kitô.
Cha Saldanha nói người Kitô hữu cần chia sẻ sự thật về nạn nghèo đói và bất bình đẳng, và cũng "cần chia sẻ sự thật về sự giáo dục tạp nham". Ngoài ra, ngài nói, câu chuyện Chúa Giêsu "không phải là câu chuyện tiếc nuối quá khứ, mà phải được sống và thể hiện trong cộng đồng".
Các cuộc thảo luận sử dụng tiếng Anh hoặc các ngôn ngữ khác. Trong một số trường hợp, phần chia sẻ thành công mặc dù tiếng Anh bị dùng sai hay với sự giúp đỡ của một thông dịch viên tình nguyện. Một số cuộc thảo luận không đưa ra định hướng cho tương lai, trong khi các hội thảo khác rất sôi nổi, hăng say đề xuất ý kiến và chân thành góp ý bổ sung. Hầu như luôn kèm theo tiếng vỗ tay sau đó và đôi khi còn có cả tiếng cười.
UCAN (http://www.ucanews.com/html/ucan/f_langdetail.asp?ucalang=Vietnamese&langPath=../news_report/vietnamese/2006/10/w4/th10t4a4.txt)
admin
28-10-2006, 07:55 AM
Ngày thứ hai của Hội nghị Truyền giáo Á châu nhấn mạnh tôn trọng các tôn giáo khác (http://www.ucanews.com/html/ucan/f_langdetail.asp?ucalang=Vietnamese&langPath=../news_report/vietnamese/2006/10/w4/th10t4a5.txt)
'Định hướng và Ưu tiên' của Hội nghị Truyền giáo Á châu (http://www.ucanews.com/html/ucan/f_langdetail.asp?ucalang=Vietnamese&langPath=../news_report/vietnamese/2006/10/w4/th10t4a6.txt)
Bài phỏng vấn - 'Khi nào châu Âu trở thành một Giáo hội nhỏ, họ sẽ nhớ đến châu Á' (http://www.ucanews.com/html/ucan/f_langdetail.asp?ucalang=Vietnamese&langPath=../news_report/vietnamese/2006/10/w4/th10t4a7.txt)
Hội nghị Truyền giáo kết thúc bằng phần chia sẻ đức tin liên quan đến các bộ lạc Thái Lan và cây lúa (http://www.ucanews.com/html/ucan/f_langdetail.asp?ucalang=Vietnamese&langPath=../news_report/vietnamese/2006/10/w4/th10t4a8.txt)
Nguồn: UCAN
admin
29-10-2006, 07:22 AM
Bài Giảng của ÐHY Sepe trong thánh lễ Bế Mạc Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/truyen31.htm)
tại Chiang Mai,Thái Lan vào ngày Chúa Nhật Truyền Giáo 22/10/2006.
Các Hồng Y, Các Ðức Cha, Các Linh Mục, Tu Sĩ và Anh Chị Em thân mến trong Chúa Giêsu Kitô.
1. Chúng ta hãy tạ ơn Thiên Chúa quyền năng vì nhờ vào sự linh động của Chúa Thánh Thần mà Ngài đã một lần nữa hợp nhất chúng ta nơi đây và trên khắp Á Châu để "thuật lại câu chuyện của Chúa Giêsu". Chúng ta phải loan truyền Ðức Giêsu là Chúa, là Ðấng Cứu Thế của nhân loại bằng nhiều phương cách và với kinh nghiệm đa dạng của các nền văn hóa và mục vụ tông đồ. Ðược linh động bởi Ðức Tin, chúng ta tụ họp nơi đây để loan truyền một niềm hy vọng mới cho Châu Á và qua Ðức ái làm chứng nhân cho tất cả mọi người. Ðức cố Giáo Hoàng John Paul Ðệ Nhị, Người Ðầy Tớ của Thiên Chúa, trong Tông Huấn Hậu Thượng Hội Ðồng Giám Mục "Giáo Hội Tại Á Châu" đã nhấn mạnh tầm quan trọng của Giáo Hội tại Á Châu, ngài viết: "Giáo Hội Á Châu cần phải hăng say trong trọng trách công bố Tin Mừng. Chúng ta nên biết rằng qua sự linh động của Chúa Thánh Thần, một số cá nhân và dân tộc mặc dầu có thể chưa ý thức nhưng đang khao khát được biết sự thật về Thiên Chúa, về con người, và về phương cách giúp con người thoát khỏi sự khống chế của tội và sự Chết." (Tông Huấn "Giáo Hội Tại Á Châu" số 20).
2. "Ðức Ái: Linh hồn của Truyền Giáo" là Chủ đề ấn định bởi Ðức Thánh Cha Benedictô XVI cho Ngày Truyền Giáo Thế Giới được cử hành trong ngày Chúa Nhật Truyền Giáo trên toàn cầu trong năm nay (2006). Khởi đầu sứ điệp dành cho ngày lễ này, Ðức Thánh Cha đã nêu ra mối tương quan chặt chẽ giữa Truyền Giáo và Ðức Ái: "Nếu Truyền Giáo không được linh ứng và hỗ trợ bởi Ðức Ái, nói một cách khác, nếu việc truyền giáo không xuất phát từ hành động đậm nét yêu thương thánh thiện thì nó sẽ đơn thuần là một hành động mang tính chất nhân đạo và tính chất xã hội. Thật ra, Tình Yêu Thiên Chúa dành cho mọi người phải trở thành tâm điểm của tất cả các kinh nghiêm sống, của việc công bố Tin Mừng, và của tất cả những ai đã đón tiếp nó để rồi họ cũng sẽ trở nên những Chứng nhân của Tình Yêu này."
3. Ðức Ái thúc đẩy những vị thừa sai tận hiến cả cuộc đời cho Ðức Kitô. Sự Tử Ðạo là một bằng chứng hùng hồn nhất về sự chân thật của niềm tin mãnh liệt đến độ có thể làm cho một con người khi đối diện với những hành hạ đầy hung ác và cái chết đầy hung bạo mà vẫn biểu lộ cái đẹp thánh thiện của Ðức Ái. Trải qua bao nhiêu thế hệ, Á Châu vẫn tiếp tục trao tặng cho Giáo Hội và cho cả Thế Giới những đoàn anh hùng đông vô số làm chứng cho Ðức Tin, và từ Tâm của Á Châu cất lên một bài Ngợi Ca hùng hồn nhất: "Ðoàn người các Anh hùng Tử Ðạo kiên cường Chúc Tụng và Ngơi Khen Ngài!..." Ðây là bài hát của những người đã chịu chết để làm chứng cho Ðức Kitô trên vùng đất Châu Á trong những thế kỷ đầu của Giáo Hội và đây cũng là tiếng reo vui mừng của những người nam nữ trong thời gian gần đây, như của Thánh Paul Miki và đồng bạn, Thánh Lorenzo Ruiz và đồng bạn, Thánh Andrê Dũng Lạc và đồng bạn, Thánh Andrê Kim Taegon và đồng bạn. Mong rằng những đoàn thể các thánh tử đạo Á Châu, trẻ lẫn già, không ngừng dạy Giáo Hội Châu Á ý nghĩa của việc làm chứng cho Con Chiên Thiên Chúa, Ðấng đã dùng chính máu mình "tẩy sạch y phục và làm cho họ trở nên tinh sạch." (x. Khải Huyền 7,14 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Kh%207:14&FontSize=Txt10)). Mong rằng các Ngài mãi mãi hiên ngang đứng làm chứng cho sự thật để mọi Kitô hữu ý thức ơn gọi làm chứng nhân, luôn luôn và ở mọi nơi, cho một điều duy nhất đó là Sức mạnh và quyền năng của Thập Giá Ðức Kitô! Và mong rằng máu của các Thánh Tử Ðạo Châu Á sẽ mãi mãi là hạt giống cho sự sống mới cho Giáo Hội ở khắp cùng bờ cõi của cả lục địa!
4. Ðức Ái vẫn mãi là động lực cho mỗi một thừa sai trong chúng ta. Chúng ta được sai đi bởi Ðức Kitô để nói về câu chuyện cuộc đời Ðức Kitô cho mọi người ở những xó xỉnh và ở mọi phương trời của Châu Á và khắp toàn Cầu. Làm Thừa Sai là yêu Chúa với tất cả con người của mình và nếu cần thiết thì cũng sẵn sàng hiến dâng chính đời mình cho Chúa. Tình Yêu, đó là Bác ái, hy sinh và hiến mình làm của lễ, chính là nguyên tố bí mật tạo ra hoa quả của việc truyền giáo để việc này có thể vượt qua những ranh giới và những phong tục tập quán để mang Tin Mừng đến cho mọi người ở khắp cùng bờ cõi. Ngôn Từ Tình Yêu của Ðấng bị Ðóng Ðinh vẫn đang chiến thắng mọi hiểu lầm và vẫn đang thấm nhập vào tâm của những ai đã tin và bước theo Ngài. Những ai đã cảm nghiệm Tình Yêu Bác Ái hiến mình sẽ trực tiến đi vào Tâm của Thiên Chúa và của Ðấng bị Ðóng Ðinh. Sâu sắc và đẹp biết bao lời thơ của nhà thơ Khalil Gibran: Khi bạn yêu, bạn sẽ không có thể nói, "Tôi có Chúa trong tâm"; nhưng sẽ nói: "Tôi sống trong Tâm của Thiên Chúa."
5. Trong ngày bế mạc này của Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu lần thứ nhất, hiệp nhất với Giáo Hội Mẹ, chúng ta cũng có thể cùng với Thánh Phaolô kêu lên, "Khốn cho tôi, nếu tôi không Rao Giảng Tin Mừng!" Trong tâm tình phó dâng mọi cố gắng của Ðại Hội Truyền Giáo cho Mẹ Maria, Mẹ của các nhà Thừa Sai, chúng ta cùng dâng lên Ðức Kitô lời nguyện cầu:
Ôi Giêsu, Ðấng vì yêu đã Nhập Thể làm Người,
Ðấng đã không có nơi gối đầu,
Ngôi Lời hằng sống của Chúa Cha, Niềm Hy Vọng đời đời,
(còn tiếp)
Ðức Hồng Y Crescenzio Sepe
Ðặc Sứ của ÐTC tại Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu lần thứ I tại Thái Lan
Chúa Nhật Truyền Giáo, 22/10/2006
(Anthony Quách Thế Bình, CSSp, chuyển dịch Việt ngữ)
Nguồn: Chân Lý Á Châu (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/truyen31.htm)
admin
31-10-2006, 04:43 PM
Ðiện văn chào mừng của ÐHY Phạm Minh Mẫn gửi các tham dự viên Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu tại Chiang Mai, Thái Lan 2006
Tất các các tham dự viên của Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu lần thứ I thân mến,
Tôi chân thành gửi đến tất cả quý vị những lời chào mừng thân thiết nhất của tôi và của toàn thể Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.
"Hãy đi và hãy làm cho tất cả các dân nước trở thành môn đệ Ta, hãy rửa tội cho họ nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần" (Mt 28,19). Chúa Giêsu đã ban mệnh lệnh truyền giáo này cho mọi thời đại và cho khắp mọi nơi. Dĩ nhiên, mệnh lệnh này phải được thực hiện cách cụ thể; và các môn đệ của Chúa Giêsu cần phải tìm ra những phương thức hữu hiệu nhất và thích hợp nhất để hoàn thành sứ mệnh này trong môi trường mà họ đang sống. Á Châu là một vùng đất rộng lớn có nhiều tôn giáo và văn hóa kỳ cựu với những tư tưởng vững chắc về vũ trụ quan, về nhân loại và tôn giáo. Chính trong môi trường và hoàn cảnh này mà Giáo Hội Công Giáo tại Á Châu được mời gọi để làm cho ánh sáng của chân lý càng sáng tỏ lên hơn, để giúp mọi người dân Á Châu được nhìn thấy rõ ràng ánh sáng của sự thật và được dõi bước trên Con Ðường của Chúa Giêsu.
Với mục đích đó, Ðại Hội này quả là một cơ hội rất thuận tiện cho tất cả các tham dự viên, đến từ nhiều quốc gia khác nhau của Á Châu, cùng cầu nguyện, chia sẻ với nhau và từ những người khác học hỏi được những phương thức truyền giáo hữu hiệu và thích hợp để hoàn thành sứ mệnh của Chúa Giêsu trên lục địa yêu dấu này, tôi xin chúc cho Ðại Hội sẽ gặt hái được nhiều kết quả tốt cho công cuộc truyền giáo của Giáo Hội.
Với những lời cầu nguyện chân thành và cùng với sự thông hiệp của Ðức Mẹ la Vang và các thánh Tử Ðạo Việt Nam, tôi cầu mong những ơn lành đặc biệt của Thiên Chúa luôn ở mãi cùng với tất cả quý vị.
Ngày 17 tháng 9 năm 2006
+ Gioan Baotixata Phạm Minh Mẫn,
Tổng Giám Mục Saigòn, Việt Nam
Nguồn: Chân Lý Á Châu (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/truyen41.htm)
admin
04-11-2006, 04:50 PM
CẢM NGHIỆM VỀ ĐẠI HỘI TRUYỀN GIÁO Á CHÂU I
Tham dự Đại Hội Truyền Giáo Á Châu I tại Chiang Mai Thái Lan, đối với tôi không phải là một cuộc đi tham quan, cũng không phải là cơ hội đi cho biết đó biết đây, vì dù sao tôi cũng đã một lần được biết và tham quan đất nước Thái Lan rồi ! Vì thế ngay từ lúc bắt đầu được đề nghị đi tham dự Đại Hội, tôi thấy ngại ngùng và không mấy phấn khởi, vì biết rằng phải nỗ lực và vất vả, sợ rằng khả năng cá nhân hạn hẹp không biết có giúp được gì cho phái đoàn không? Có thể tiếp thu được gì từ Đại Hội không, và có hy vọng giúp ích được gì cho Giáo Hội, Giáo Phận, và Cộng Đoàn trong công cuộc Loan Báo Tin Mừng sau Đại Hội này không? Hơn nữa, tự bản chất, tôi không phải là người chiến sĩ trong chiến trường truyền giáo, nhưng chỉ là một người phục vụ âm thầm trong công tác đào tạo của Hội Dòng mà thôi !
Tuy nhiên, với niềm tin tưởng rằng, mọi việc xảy ra trong đời sống không có gì ngoài ý định quan phòng của Thiên Chúa; Chúa không bao giờ kêu gọi ai làm việc gì rồi bỏ mặc cho họ làm. Người luôn luôn hiện diện và hướng dẫn, nhất là đối với những người thấp bé và yếu kém. Chúa chỉ cần thái độ sẵn sàng và biết lắng nghe Người. Điều Chúa muốn không phải là thành quả bên ngoài, nhưng là một tâm hồn biết hoán cải và có thiện chí. Những suy nghĩ này giúp cho tôi có thái độ quyết định đáp lại lời mời gọi của Chúa Giêsu như hai Môn Đệ đã làm khi Người nói : “Hãy đến mà xem” (Ga 1, 39).
Quả vậy, trong quá trình bắt đầu từ lúc chuẩn bị cho đến khi trở về nước sau Đại Hội tại Thái Lan, tôi thấy dần dần cũng hoà nhập được vào bầu khí của Đại Hội, khởi đi từ tinh thần cầu nguyện và những công tác mà mọi người phải chuẩn bị trước: đọc các tài liệu của Đại Hội về bối cảnh và nền tảng thần học cũng như mục đích và đường hướng của Đại Hội; tiếp đến là những hoạt động cụ thể cho việc tham dự tại Đại Hội v.v. Từ những việc làm này tôi cảm thấy khơi lên trong tôi một tinh thần trách nhiệm, sẵn sàng hy sinh vì lợi ích chung. Tôi nhận thấy tinh thần đồng đội, tình đoàn kết, tính khôi hài, dí dỏm, sự xả thân và biết lắng nghe, học hỏi của Quý Đức Cha, Quý Cha và Quý anh chị em trong đoàn. Dù có ở xa xôi mấy, dù có bận rộn và mệt mỏi như thế nào, tất cả cùng bỏ qua một bên ý riêng để làm theo ý chung. Với kinh nghiệm cá nhân, tôi cảm nhận rằng, tinh thần mà Quý Đức Cha, Quý Cha và tất cả anh chị em thể hiện không phải là một việc tự nhiên mà có, nhưng phải phát xuất từ một con tim biết yêu thương, một tấm lòng bác ái vị tha, và sự hăng say làm chứng cho tình yêu của Đức Giêsu. Chính tất cả những điều này là động lực giúp tôi phấn khởi bước vào Đại Hội.
Những ngày Đại Hội thực sự rất là bận rộn và chương trình rất khít khao. Căng thẳng, nhưng được tiếp đón và chuẩn bị nơi ăn chốn ở một cách rất tiện nghi và thoải mái. Khít khao vì tôi có cảm tưởng như Đại Hội muốn dồn hết trong những ngày đó những câu chuyện về Chúa Giêsu từ mọi góc độ đức tin, văn hoá, sứ vụ, môi trường v.v phải được chia sẻ cho tất cả anh chị em trong cùng lục địa Châu Á này. Tuy nhiên những câu chuyện được kể về Chúa Giêsu đã giúp tôi nhận ra sự cấp bách và tầm quan trọng của việc truyền giáo trong một châu lục rộng lớn, đông người, đa tôn giáo, và nhiều nền văn hoá khác nhau: Một phương cách truyền giáo mới—kể chuyện Chúa Giêsu bằng chính kinh nghiệm cá nhân của mình với Đấng được kể về, bằng sự biến đổi con người của mình, bằng việc nhận ra mình là ai trong tương quan với người, với các biến cố, với xã hội, văn hoá, kinh tế v.v. đã thành hình nên căn tính của mình. Suy nghĩ này giúp tôi nhìn lại thái độ truyền giáo của mình và thay đổi lối sống !
Qua những chia sẻ trong các cuộc hội thảo của Đại Hội, tôi cũng cảm nghiệm được sự thân thiện, chân tình và cởi mở của các anh chị em ở các quốc gia khác. Tôi không cảm thấy xa lạ nhưng có cảm giác rất gần gũi vì tất cả đều giống mình—cùng giống nòi, cùng là anh em của Đại Gia Đình Á Châu. Tất cả cùng chia sẻ câu chuyện của mình, và rồi cùng thông cảm, đón nhận và khuyến khích nhau trên con đường phục vụ và yêu thương mà chính Chúa Giêsu đã truyền dạy. Chính trong những buổi chia sẻ này, sự căng thẳng của một ngày dài trở nên nhẹ nhàng hơn, thời gian dường như càng lúc đi nhanh hơn, và mỗi ngày trở nên ngắn dần lại.
Biến cố nào rồi cũng có lúc chấm dứt ! Từ giã ra về với tấm lòng cảm tạ Chúa đã ban cho tôi cơ hội quý hoá này, cơ hội hoán cải và quyết tâm; thành tâm tri ân Mẹ Maria đã che chở và hướng dẫn chúng tôi trong suốt thời gian qua, Mẹ đã biến đổi những điều không may thành những niềm vui nhỏ nhỏ làm cuộc sống thêm vui tươi; ghi ơn Mẹ Giáo Hội đã tạo cho chúng tôi, những người con Á Châu, một thời gian gặp gỡ trong tình thân ái huynh đệ; thương mến những người anh em cùng một sứ mạng phục vụ tại Giáo Hội địa phương, và trong khắp lục địa Á Châu.
Bảo Lộc ngày 30 tháng 10 năm 2006
Nữ tu Têrêsa Trần Kim, MTG Dalat
Nguồn: Cảm Nghiệm Về Đại Hội Truyền Giáo Á Châu (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/16CamNghiem.htm)
admin
04-11-2006, 04:52 PM
Chia sẻ về Đại Hội Truyền Giáo Á Châu lần I
Đại Hội Truyền Giáo Á Châu lần I được tổ chức tại Chiang Mai, Thái Lan từ 18-22/10/2006, với sự tham dự của 1.000 đại biểu gồm các hồng y, giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ và đông đảo anh chị em giáo dân. Tưởng cũng nên nói qua về giáo phận Chiang Mai, nơi đón tiếp các đại biểu đến tham dự Đại Hội. Chiang Mai tiền thân là một giáo phận Đại diện Tông tòa (1959), đã được nâng lên thành Giáo Phận vào năm 1969, cách thủ đô Bangkok 700km, với tổng số dân gần 6.000.000, trong đó chỉ có 42.000 tín hữu công giáo, tức là 0,7%.
Giáo Hội Việt Nam là thành viên của Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu nên từ rất sớm đã được mời tham dự Đại Hội Truyền Giáo, do sáng kiến của Thánh Bộ Truyền Giảng Tin Mừng, được Ủy Ban truyền giáo của Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu tổ chức. Vì là lần đầu tiên có một đoàn đại biểu chính thức tham dự Hội Nghị cấp quốc tế nên Ủy Ban giám mục về việc Loan báo Tin Mừng đã cố gắng giới thiệu một danh sách với 15 thành viên, gồm 2 giám mục, 7 linh mục, 3 tu sĩ và 3 giáo lý viên. Để chuẩn bị, các thành viên đã có rất nhiều cố gắng gặp gỡ và trao đổi, và cuối cùng cũng đem đến cho Đại Hội một nét đặc sắc trong thực hành đạo mang đậm nét Việt nam, đó là dâng hoa kính Đức Mẹ. Tại Đại Hội, trong 10 phút chia sẻ, các thành viên trong y phục áo dài truyền thống đã đưa dẫn mọi người vào bầu khí đạo đức của một thực hành đạo đức bình dân.
Đại Hội đã kết thúc đến nay được 10 ngày và chúng tôi ở nhà cũng nao nức muốn đón nhận những chia sẻ của vị chủ chăn cũng là trưởng phái đoàn, nhưng ... vì công việc mục vụ liền sau khi trở về nhà, với thánh lễ cung hiến nhà thờ Kim Phát hạt Đức Trọng (25/10), giỗ mãn tang cha Giuse Phùng Thanh Quang (26/10) và giỗ 100 ngày của cha Phêrô Nguyễn Công Linh (27/10), rồi chuẩn bị để khai mạc Năm Thánh mừng kỷ niệm 80 năm truyền giáo cho anh chị em người bản địa vào chúa nhật 29/10, và hôm sau lại cử hành Giỗ lần 33 Đức cha Gioan Cassaigne vị thừa sai đã rửa tội cho người tín hữu Kơho đầu tiên ngày 07/12/1927. Thế đó, một chương trình khá dày lại phải di chuyển thường xuyên đã làm cho Đức cha Phêrô bận rộn.
Nay, trong những ngày chuẩn bị cho hai tuần lễ thường huấn linh mục - một sinh hoạt đã trở nên thường xuyên và đều đặn của Giáo Phận từ năm 1994 -, ngài đã dành cho chúng tôi những giây phút thật thoải mái và chân thành để chia sẻ về Đại Hội mà chắc chắn có liên hệ đến tất cả và từng người tín hữu.
1/ Xin Đức cha cho biết ý nghĩa và mục đích của Đại Hội Truyền Giáo Đại Hội lần này "Câu chuyện Chúa Giêsu ở Châu Á : một cử hành đức tin và cuộc sống".
Theo thống kê thì dân số tại Á châu đã lên tới con số 3 tỷ rưỡi, chiếm 60% dân số toàn thế giới, tuy nhiên số tín hữu Kitô chỉ là một đàn chiên nhỏ bé. Vùng đất Á châu cũng là vùng đất của đa ngôn ngữ, đa văn hóa, đa tôn giáo, nhưng cũng là nơi Con Thiên Chúa đã chọn để nhập thể làm người, để cứu chuộc con người. Vì Ngài là người Á Đông và đối tượng trước mắt cũng là những người Á Đông, cho nên Ngài hành xử theo cách người Á Đông, có nghĩa là đi đến con tim trước rồi từ soi sáng cho lý trí, dùng những câu truyện và dụ ngôn làm nền, rồi sau đó dẫn đến chân lý, lấy chứng tá cuộc sống để chứng minh trước khi dùng lý luận để thuyết phục, v.v…
Vì thế, Đại Hội Truyền Giáo Á Châu lần I làm nổi bật việc “tường thuật câu chuyện Chúa Giêsu” như là cách thức thích hợp nhất để truyền giáo cho người Á Châu, trong đó có người Việt Nam.
Là Thiên Chúa, nhưng Ngài đã nhập thể làm người để ở giữa loài người và đối thoại với con người. Chủ đề “đối thoại” nổi bật trong các bài tham luận, các chứng từ : đối thoại với con người, cách riêng với người nghèo, đối thoại với các tôn giáo và đối thoại với các nền văn hóa. Nơi con người, tôn giáo và văn hóa đều có dấu vết của sự mạc khải, cho nên cần phải đối thoại để làm sáng tỏ những khía cạnh chứa đựng Tin Mừng. Trong đối thoại, vừa có khía cạnh tôn trọng người khác, phong phú cho bản thân mình và thể hiện việc loan báo Tin Mừng.
2/ Xin Đức cha cho biết những sinh hoạt chính của Đại Hội.
Trong bốn ngày Đại Hội, có những bài thuyết trình, những bài chia sẻ và những chứng từ. Trong phần này thì phải giỏi về Anh văn mới có thể bắt được hết. Rõ ràng có những bài thuyết trình được các tham dự viên hoan nghênh cách đặc biệt, nhưng cũng phải công nhận có một vài bài mà sự hưởng ứng không được nhiệt tình lắm.
Đối với tôi, các buổi chia sẻ nhóm (từ 8 đến 12 người, trong vòng từ 60 – 90 phút) mang lại nhiều lợi ích hơn, vì việc trao đổi dễ hiểu hơn, cụ thể hơn và sống động hơn.
Tôi cũng rất thích các buổi cử hành Kinh Sáng theo chủ đề: Ánh Sáng, Nước và Màu Sắc. Dùng biểu tượng, hình ảnh và bài hát để ca tụng Thiên Chúa qua các kỳ công của Ngài và cũng để gây ý thức: con người cần tin vào Thiên Chúa để sống dồi dào.
Thánh lễ khai mạc và bế mạc đưa chúng tôi vào trong lòng một Hội Thánh duy nhất nhưng đa sắc tộc, ngôn ngữ, văn hóa… Tất cả mọi sinh hoạt đều luôn luôn hướng đến chủ đề phải loan báo Tin Mừng và loan báo Tin Mừng trước hết là việc tường thuật câu chuyện Chúa Giêsu, một Chúa Giêsu đã phục sinh và đang ở giữa chúng ta, Ngài hiện diện đặc biệt nơi người nghèo, và chúng ta cũng bắt gặp Ngài ở một khía cạnh nào đó nơi các nền văn hóa và tôn giáo khác. Và trên hết mọi sự, chính bầu không khí huynh đệ, cởi mở, vui vẻ, phục vụ… bao trùm cả Đại Hội trong suốt thời gian sinh hoạt, và phải nói là làm việc cật lực với một chương trình dầy đặc.
admin
04-11-2006, 04:53 PM
3/ Phần đóng góp của phái đoàn thuộc Giáo Hội Việt Nam.
http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/Photos/pic66.jpg
Trước hết, phải công nhận đoàn đã có một sự chuẩn bị rất kỹ, vì nhận thức rằng đây là một biến cố lớn, vượt quá hiểu biết và khả năng của mình. Có nhiều cuộc họp chung và ai được phân công việc gì thì hết lòng thực hiện. Đoàn giữ một sự liên lạc với Ban Tổ Chức liên tục trong 6 tháng trước Đại Hội, nhờ thế đoàn được hướng dẫn rất tỉ mỉ và được giải đáp rõ ràng các thắc mắc. Tuy chỉ có 15 thành viên, nhưng đoàn đã tham dự rất tích cực : đóng góp logo, gửi bài ca chủ đề, đăng ký tham dự triển lãm, đăng ký dâng hoa, làm tập sách lưu niệm bằng hình ảnh, viết tiếng Anh, 20 trang khổ 15x20, trình bày lịch sử truyền giáo ở Việt Nam (Đức hồng y cựu Tổng trưởng Thánh Bộ Phúc Âm Hóa Crescenzio Sepe và tân Tổng trưởng Ivan Dias dừng lâu ở gian hàng triển lãm Việt Nam, sung sướng đón nhận tập sách lưu niệm, và ngợi khen). Việt Nam cũng tham dự vào việc công bố Lời Chúa trong thánh lễ, xướng kinh Truyền Tin và đặc biệt cũng được chọn để hướng dẫn nhóm hội thảo. Nhưng kỷ niệm nổi bật nhất vẫn là việc dâng hoa cho Đức Mẹ, được Đại Hội rất tán thưởng vì cả 15 thành viên trong đó có 2 giám mục cùng bước lên sân khấu dâng hoa, và 13 thành viên còn lại trong y phục khăn đóng áo dài, múa hoa múa nến rất nhịp nhàng, dựa trên một bài vãn dâng hoa có từ thế kỷ 19….
4/ Xác tín của Đức cha trong nỗ lực cộng tác truyền giáo.
Trước khi đi tham dự, tôi rất lo lắng, vì trách nhiệm trưởng phái đoàn và vốn liếng Anh văn còn yếu kém, nhưng dần dần vào cuộc, bị cuốn hút bởi bầu khí đạo đức, cởi mở, đón nhận… nên dần dần tan biến những mối lo âu và đã thật sự tham gia với lòng sốt sắng và niềm tin Đức Kitô phục sinh đang hiện diện và đồng hành với chúng tôi. Tôi cũng được một phần nào kinh nghiệm của hai môn đệ trên đường Emmaus, sau khi được Lời Chúa làm nóng bỏng tâm hồn để trở về nhà chia sẻ câu chuyện Chúa Giêsu.
Thụ Nhân
Nguồn: Chia sẻ về Đại Hội Truyền Giáo Á Châu lần I (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/23ChiaSeDHTGAC.htm)
admin
10-11-2006, 07:09 AM
Các linh mục Thái Lan nói rằng cách kể chuyện về tình yêu của Đức Kitô là 'bày tỏ' tình yêu của Ngài
BANGKOK (UCAN) -- Người Công giáo có thể chuyển tải đức tin cách hữu hiệu nhất trong xã hội có đa số Phật tử này bằng cách bày tỏ tình yêu của Chúa Giêsu qua các việc làm vì lợi ích của tha nhân, các linh mục trên khắp Thái Lan cho biết sau Hội nghị Truyền giáo Á châu gần đây.
Khoảng 150 linh mục Thái Lan đã nhóm họp tại trung tâm đào tạo mục vụ của tổng giáo phận Bangkok để tham dự cuộc họp từ ngày 23-27/10, với chủ đề: Kể Truyện về Chúa Giêsu tại Thái Lan. Đây là cuộc họp tiếp theo sau hội nghị, được tổ chức từ ngày 18-22/10 tại Chiang Mai, miền bắc Thái Lan, có gần 1.000 giáo dân, giáo sĩ và tu sĩ chú tâm vào chủ đề Câu chuyện Chúa Giêsu tại Á châu: Một Cử hành Đức tin và Sự sống.
Cha Vorayuth Kitbamrung, thư ký Ủy ban Giáo sĩ Công giáo của các giám mục Thái Lan, tổ chức cuộc họp này. Ủy ban tổ chức họp hàng năm cho tất cả các linh mục trong nước để giúp các ngài cập nhật những phát triển của Giáo hội và tạo cơ hội cho các ngài cùng nhau suy nghĩ về tu đức và các vấn đề khác liên quan đến thừa tác vụ của các ngài.
Ở Thái Lan, các tu viện Phật giáo nằm rải rác khắp nơi và hầu hết người ta xem người Thái đều theo Phật giáo, tôn giáo có hơn 90% dân số, đạo Công giáo thường được xem là sasana farang, tôn giáo của người Tây phương.
Là một cộng đoàn nhỏ và ít được biết tới, người Công giáo nên để cho hành động của mình nói thay mình, theo cha Vuthilert Haelom đến từ giáo phận Chiang Mai, một trong các linh mục nói chuyện với UCA News sau khi cuộc họp kết thúc.
Ngài giải thích hôm 1-11: "Chúng ta sống trong một xã hội Phật giáo -- không ai nghe tiếng nói của chúng ta. Tốt hơn là hãy tự thể hiện mình là người tốt. Chúng ta không cần mọi người cải đạo theo Công giáo. Chúng ta nên bày tỏ tình bằng hữu và tình yêu chân thật -- tình yêu cho đi mà không đòi hỏi bất cứ điều gì, giống như tình yêu của Chúa Giêsu".
Cha Chai Khanthahom thuộc dòng Chúa Cứu Thế viện dẫn cố Chân phước Têrêsa thành Kolkata, người làm việc với người nghèo và người bị bỏ rơi trong đó có bệnh nhân phong, như là tấm gương sống thực sự chứng tỏ tình yêu của Đức Kitô hơn là chỉ công bố tình yêu của Ngài.
Đối với cha Gustav Roosens thuộc dòng Salesian, điều này có nghĩa là xây dựng các trường hướng nghiệp để người nghèo có thể học miễn phí và học các kỹ năng giúp họ tìm việc làm hay mở một doanh nghiệp. Cha Roosens làm việc ở miền nam, nơi mà "hầu hết người dân không được học hành, không có việc làm và nghèo khổ". Ngài cho biết, đôi khi làm việc với các tôn giáo khác có thể khó khăn.
Cộng đồng Hồi giáo chiếm thiểu số ở Thái Lan sống tập trung dọc biên giới với Malaysia. Họ chiếm đa số ở Pattani và Yala, nơi cha Roosens làm việc, và cận tỉnh Narathiwat. Tình hình bất ổn trong ba tỉnh này, chính phủ đổ lỗi cho người Hồi giáo ly khai, đã làm hơn 700 người thiệt mạng từ tháng 1-2004. Ngay cả các tu sĩ và giáo viên địa phương cũng trở thành mục tiêu của các vụ bắn giết, đánh bom và một vài vụ chặt đầu.
Cha Joseph Chusak Sirisut của giáo phận Ratchaburi đồng ý rằng "kể truyện" không phải là biện pháp đầu tiên, nhưng ngài nhận thấy rằng chia sẻ về các vấn đề tôn giáo là việc làm bình thường đối với người Thái. Vị linh mục đến từ miền tây Thái Lan nói: "Người Thái luôn hiếu kỳ khi một điều thú vị được chia sẻ với họ".
Cha Chusak đề nghị: "Trước khi chúng ta nói, chúng ta phải lắng nghe. Chúng ta nên đi từng bước một, hãy để người khác mở tâm trí họ và chia sẻ suy nghĩ của họ. Đối thoại liên tôn nên bày tỏ lòng tôn trọng, và lòng tôn trọng sẽ được đáp đền".
Ngài nói thêm: "Trong quá khứ, chúng ta có 'cái nhìn của phương Tây' vốn xem tất cả các tôn giáo khác đều là lầm lạc. Nhưng sau Công đồng Vatican II, chúng ta đã thay đổi".
Nhiệt huyết của hội nghị truyền giáo vẫn còn hấp dẫn đối với cha Pornthavee Sorint của tổng giáo phận Tharae-Nongseng, đông bắc Thái Lan. Ngài nói: "Chúng ta phải chia sẻ Tin mừng cách hấp dẫn, hứng thú và sinh động".
Theo cha Vorayuth, cuộc họp nhằm mục đích giúp các linh mục truyền cảm hứng cho nhau bằng cách chia sẻ và cam kết.
Ngài nói: "Tại các cuộc họp này chúng tôi cần tất cả các linh mục tha thiết với công tác truyền giáo. Chúng tôi không lên kế hoạch phải làm gì tiếp theo, nhưng để cho các linh mục khám phá và thảo luận những thử thách, và suy nghĩ xem có thể áp dụng kiến thức hiểu biết như thế nào tại địa phương".
Thành viên ủy ban này nói thêm rằng Giáo hội cần tất cả các thành viên "làm chứng nhân và công bố Tin mừng, và bổn phận của linh mục là hỗ trợ họ".
Nguồn: UCAN (http://www.ucanews.com/html/ucan/f_langdetail.asp?ucalang=Vietnamese&langPath=../news_report/vietnamese/2006/11/w2/th11t2w.txt)
admin
11-11-2006, 07:59 AM
Truyền giáo, một công việc tiếp nối
và tham gia vào câu chuyện của Chúa Giêsu
Bài Giảng của Ðức Hồng Y Ricardo J. Vidal, Tổng Giám Mục Sebu, Philippines, trong thánh lễ ngày thứ ba của Ðại Hội Truyền Giáo Á Châu tại Thái Lan, (thứ Bảy 21/10/2006).
(Cv 13,44-49; Mc 7,24-30 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Cv%2013:44-49; Mc 7:24-30&FontSize=Txt10))
Trọng kính quý Hồng y, quý Giám mục, quý linh mục, tu sĩ nam nữ và toàn thể anh chị em trong Ðức Kitô.
Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và người đàn bà xứ Ca-na-an cho chúng ta một cái nhìn sâu sắc về câu chuyện của Chúa Giêsu khai mở thế nào trong khi Ngài thực thi sứ vụ rao giảng của Ngài. Người đàn bà xứ Ca-na-an đến gặp Chúa để xin Ngài chữa lành đứa con gái của bà đang bị quỷ ám. Bà đến với Chúa không do niềm tin thúc đẩy. Nhưng đến với Chúa trong tình huống hết sức ngặt nghèo. "Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con", Chúa Giêsu trả lời. Ở đây, Chúa đã dùng câu chuyện của dân Do Thái, một dân tộc luôn hãnh diện là dân được tuyển chọn của Thiên Chúa. Ðối với dân Do Thái, dân ngoại bị khinh bỉ như là "lũ chó". Ðiều này tưởng như chấm dứt cuộc đối thoại, nhưng người đàn bà vẫn một mực nài xin. Bà khéo léo đưa chuyện của mình vào câu chuyện của Chúa Giêsu. "Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống".
Chúa Giêsu đã không ngăn cản bà. Ngài cho phép bà tham gia vào câu chuyên của Ngài. Vì thế, câu chuyện của bà đã thành một phần của câu chuyện của Chúa Giêsu để mỗi khi chúng ta kể về Chúa Giêsu là chúng ta cũng nhắc đến chuyện của bà. Giả như Chúa chỉ kể riêng chuyện của dân Israel nói về chính họ thì chuyện của người đàn bà này đã không được nhắc lại trong Phúc Âm. Và không ai trong chúng ta biết được Chúa Giêsu đã làm những gì. Và chúng ta cũng không thể tham dự vào câu chuyện của Chúa Giêsu.
Trong bài đọc một hôm nay chúng ta cũng thấy cùng một tác động như vậy. Các tông đồ không thể rao giảng cho chính dân của mình. Các ngài bị từ chối và vì thế các ngài đã quyết định đến với những người ngoại giáo. Nếu các tông đồ nghĩ rằng câu chuyện về Chúa Giêsu chỉ xứng đáng kể lại cho những người cùng văn hóa với mình, cùng tôn giáo với mình thì câu chuyện ấy đã chấm dứt ở đây. Nhưng các ngài đã rao truyền câu chuyện của Chúa Giêsu cho mọi dân tộc đến tận cùng trái đất.
Khi Chúa Giêsu cho phép câu chuyện của người đàn bà trở thành một phần câu chuyện của Ngài, Câu chuyện của Ngài không hề bị thay đổi nhưng câu chuyện đã được tiếp nối. Cũng vậy, một khi chúng ta cho phép nền văn hoá khác trở nên một phần của câu chuyện của Chúa Giêsu là chúng ta đưa câu chuyện mở rộng thêm ra và vì thế câu chuyện được mãi mãi tiếp nối. Lịch sử Giáo Hội Á Châu được kể lại vào thứ Năm (19/10/2006) vừa qua là sự nối dài câu chuyện của Chúa Giêsu. Câu chuyện được diễn tả lại bởi các em thiếu nhi vào chiều thứ Năm (19/10/2006) vừa qua cũng là sự tiếp nối câu chuyện của Chúa Giêsu, lần này ở đây tại Thái Lan. Ðiều nguy hiểm không phải là câu chuyện của Chúa Giêsu sẽ bị biến đổi vì sự đồng hóa của các nền vân hóa. Trái lại câu chuyện của Chúa Giêsu không bao giờ đổi thay bởi vì người kể chuyện không ai khác chính là Chúa Thánh Thần. Tuy nhiên, chính do sự từ chối đón nhận những ưu điểm của các nền văn hóa khác sẽ có thể làm cho câu chuyện của Chúa Giêsu không được rao truyền nữa.
Các Kitô hữu được mời gọi để nói về Chúa Giêsu, nhưng trong khi kể chuyện, chúng ta cần phải lắng nghe những câu chuyện của các anh chị em từ các nền văn hoá khác nữa. Chúa Giêsu đã không chỉ lưu tâm đến câu chuyện của dân Ngài nói về chính mình. Ngài đã lắng nghe câu chuyện của người đàn bà và cho phép câu chuyện của bà được nối tiếp với câu chuyện của Ngài. Trong Tin Mừng có một từ để diễn tả về loại lắng nghe này. Ðó là "lòng thương". Lòng thương có nghĩa là "cảm xúc với - đồng cảm với". Có nghĩa là chúng ta cho phép người khác góp phần vào câu chuyện của chúng ta. Trong dụ ngôn người Samaritanô tốt lành, Chúa Giêsu hỏi người thanh niên rằng, "Ai là anh em của người bị cướp hành hung?" Câu trả lời "đó là người đã tỏ lòng thương với người đó" (Lc 10,36.37 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lc%2010:36-37&FontSize=Txt10)). Và người Samaritanô tốt lành đó đã tỏ lòng thương như thế nào? Anh ta đã vượt ra khỏi cách ứng xử đời thường để săn sóc cho người bị nạn. Bằng cách đưa người bị nạn đến quán trọ và hứa với người chủ quán sẽ lo trả hết phí tổn cho việc săn sóc người này. Lòng thương chính là sự vượt ra khỏi cách ứng xử thường ngày để giúp đỡ anh chị em khi họ cần đến. Vị tư tế đã đi qua nhưng ông không muốn bất cứ ai có thể ngăn cản ông thi hành chức vụ tư tế của mình. Vì thế, ông đã tránh sang bên lề khác và bỏ đi. Người Lêvi cũng chẳng khá gì hơn. Chỉ có người Samaritanô là muốn đưa câu chuyện của người bị nạn trở thành câu chuyện của chính mình.
admin
11-11-2006, 07:59 AM
Ðể câu chuyện của Chúa Giêsu được mãi tiếp nối, chúng ta phải cho phép câu chuyện của những người khác trở thành chuyện của chính mình. Việc mời gọi người khác bước vào thế giới của riêng mình không luôn là việc làm ta dễ chịu tí nào. Chúng ta bố thí cho người ăn xin để họ khỏi phiền hà chúng ta. Cho đi thì dễ hơn là lắng nghe câu chuyện của người khác. Lắng nghe chuyện của người khác có thể làm chúng ta khó chịu, phiền nhiễu bởi vì chuyện của họ đòi hỏi chúng ta phải dây mình vào. Chúng ta không muốn dây dưa vào chuyện của người khác và thế là chúng ta bố thí cho những hội từ thiện nào đó. Chúng ta thích để đồng tiền lên tiếng nói cho chúng ta hơn là sẵn lòng đối diện trực tiếp với những ai cần chúng ta giúp đỡ.
Lắng nghe chuyện người khác còn có nghĩa là đôi khi chúng ta phải từ bỏ những câu chuyện mà chúng ta đã dựng nên cho chính mình. Chúng ta cũng có thể quy hướng về tương lai và kể chuyện của chúng ta ngay khi chúng chưa được hoàn tất trọn vẹn. Một nhà truyền giáo nào đó sẵn sàng làm theo ý bề trên ngay cả khi điều đó đi ngược lại với những ước vọng mong muốn của mình, cũng là một cách lắng nghe đòi hỏi sự tự hiến.
Mẹ chân phước Têrêsa Calcutta, trong một bài nói chuyện của mẹ, đã gây ấn tượng mạnh nơi một người ngoại giáo, một người (syncretist) đàn bà Mỹ, đến nỗi sau này chị ta đã trở thành người một thiện nguyện viên đắc lực cho Dòng của Mẹ tại thành phố Los Angeles. Ðây là những lời của mẹ Têrêsa đã đánh động tâm hồn chị:
"Tôi phải nói với các bạn rằng cả thời trẻ của tôi, tôi đã luôn băn khuăn buồn rầu về sự đau khổ của người nghèo. Bây giờ tôi đã là một người già và tôi có thể chia sẻ với các bạn điều tôi đã khám phá ra và điều này đã mang lại sự bình an cho trái tim tôi. Ðó chính là sự chiêm niệm, bởi vì trong thinh lặng bạn sẽ thấy rằng cầu nguyện là tiếng nói khiêm cung tận đáy lòng thì thầm với Chúa. Với Chúa bạn sẽ tìm ra một tình yêu vô biên và niềm khát vọng nẩy sinh từ tình yêu này sẽ hướng dẫn bạn đến việc phục vụ Ðấng Toàn Năng qua việc phục vụ dân Chúa. Trong tình yêu cho đi cách vị tha này sẽ cho bạn sự bình an."
Cầu nguyện sẽ dẫn chúng ta khám phá ra tình yêu vô biên của Chúa. Từ tình yêu vô biên này, niềm khát vọng phục vụ dân Ngài sẽ trổ hoa và chính trong tình yêu cho đi cách vị tha này cuối cùng chúng ta sẽ tìm ra sự bình an. Và cũng chính qua sự kinh nghiệm về lòng vị tha trong sự cho đi của chúng ta mà những người chúng ta phục vụ hy vọng sẽ tìm gặp được Thiên Chúa --- một Thiên Chúa yêu thương, lắng nghe, một Thiên Chúa qua mầu nhiệm nhập thể, cho phép câu chuyện của chúng ta dự phần vào chuyện của Ngài.
Xin Ðức Trinh Nữ Maria, ngôi sao của Tân Phúc Âm Hóa, luôn luôn soi đường cho chúng ta trong việc chia sẻ câu chuyện của Chúa Giêsu với các nền văn hoá khác.
Ðức Hồng Y Ricardo J. Vidal,
Tổng Giám Mục Sebu, Philippines
Thứ Bảy, 21/10/2006
(Peter Nguyễn Hùng Cường, MM, chuyển dịch Việt ngữ)
Nguồn: Chân Lý Á Châu (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/truyengiao/truyen44.htm)
admin
13-11-2006, 05:05 AM
Tường trình của Phái đoàn “Loan Báo Tin Mừng” Việt Nam về HNTGAC lần I tại Thái Lan
Gs Trần Bá Nguyệt
Lm Ngô Quang Tuyên tổng hợp thông tin
Hội Nghị được tổ chức tại Chiang Mai, Thái Lan, từ ngày 18 đến hết ngày 22/10/2006. Tổng số người tham dự là 1047 người đại diện cho 25 nước thuộc các vùng Trung Á, Nam Á, Đông Á và Đông Nam Á. Có 5 vị Hồng Y, 69 Tổng Giám Mục và Giám Mục, 13 Đức Ông, 385 linh mục, 190 nam nữ tu sĩ và 396 giáo dân (trong đó số nữ là 205 người). 43% người tham dự là người Thái. Ngoài ra còn có đại diện các tôn giáo bạn và các quan sát viên đến từ những quốc gia khác trên thế giới. Hội nghị được tổ chức tại Khách sạn Lotus Pang Suan Kaew Hotel, với hai sảnh đường lớn, nhà nguyện ở tầng 5, thính đường nơi diễn ra hội nghị có sức chứa hơn 2000 người cũng là phòng triển lãm của các quốc gia. Văn phòng thư ký hội nghị và phòng báo chí nằm tại lầu 4. Trên tầng 5 cũng có một thính đường lớn tương tự như tầng 4. Vì khách tham dự khá đông nên các phòng ăn nằm trên cả bốn tầng được chia theo nhóm thảo luận. Lotus là một khách sạn lớn có 4 khu. Khu cao nhất là 13 tầng. Ngoài ra còn có một tháp đậu xe 10 tầng kế bên.
Chủ đề của Hội Nghị là “Kể chuyện của Chúa Giêsu tại Châu Á”.
Đức Tổng Giám Mục Salvatore Pennachio, Sứ Thần Tòa Thánh tại Thái Lan nói, “Hội Nghị lần này là một cơ hội hiếm hoi cho tất cả những ai tin Chúa tại Á Châu. Họ có dịp chia sẻ niềm vui và niềm phấn khởi của họ trong niềm tin vào Đấng Kitô”.
Còn Đức Hồng Y Paul Poupard, Chủ tịch Ủy Ban Giáo Hoàng về Văn Hóa lại cho rằng “Chủ đề của hội nghị thực sự thích hợp và thực tế. Ngài nói chủ đề đó sẽ thúc đẩy đời sống và sự phát triển của Giáo Hội tại Châu Á”.
Đức Thánh Cha Bênêđíctô 16, trong thư gửi cho Đức Hồng Y Crescenzio Sepe, Tổng Giám Mục Thành Naples, Đặc Sứ của Đức Thánh Cha tại Hội nghị, đã viết như sau:
“Hiền Đệ kính mến,
Do lòng thương của Vị Mục Tử, chúng ta là những người theo ý Chúa được trao cho nhiệm vụ tiếp nối công việc của Thánh Phêrô hướng dẫn Giáo Hội của Chúa. Chúng ta nhìn về Châu Á với niềm hy vọng lớn lao.
Tôi đã được thông báo về Hội Nghị Truyền Giáo Á Châu tại Thái Lan. Tôi rất sung sướng về sự kiện trọng đại này. Tôi gửi tới tất cả những vị lãnh đạo cũng như toàn con dân Thiên Chúa tại đó trái tim, trí óc và những lời chúc tốt đẹp nhất của tôi đến Hội Nghị.
Tôi cũng vô cùng sung sướng chấp nhận lời đề nghị của Hiền Đệ kính mến, Hồng Y Michael Michai Kitbunchu, Tổng Giám Mục Bangkok. Hiền đệ đã khẩn thiết yêu cầu tôi gửi một Vị Hồng Y đại diện chính thức của Giáo Triều Roma tại Hội Nghị. Tôi tin rằng Hiền Đệ sẽ là vị Đặc Sứ thích hợp nhất của tôi. Hiền Đệ Hồng Y Michai Kitbunchu cũng đã chính thức đề nghị Hiền Đệ vì kinh nghiệm trong lãnh vực truyền giáo của Hiền Đệ. Vì thế qua bức thư này, tôi bổ nhiệm chính thức Hiền Đệ là Đặc Sứ của tôi tại Hội Nghị Truyền Giáo Á Châu được tổ chức tại Chiang Mai, Thái Lan từ ngày 19 đến hết ngày 22 tháng 10 năm 2006.
Hiền Đệ sẽ là Đại Diện Chính Thức của tôi cho sự kiện hệ trọng này. Hiền Đệ cũng sẽ chủ tọa những Nghi Lễ Phụng Vụ, trình bày về sự quan trọng của Hội Nghị và gửi tới phần đất Á Châu này tình yêu thương của tôi. Hiền Đệ cũng sẽ thay mặt tôi chào đón các đại diện các Tôn Giáo và thành phần niềm tin khác tại Hội Nghị.
Về phần tôi, Hiền Đệ thân mến, tôi ủy thác quyền đại diện của Hiền Đệ trong tay Mẹ Đồng Trinh Vô Nhiễm Nguyên Tội. Tôi cầu xin Người bảo vệ những Dân Tộc của lục địa vĩ đại này và nhờ Đức Mẹ cầu xin Thiên Chúa Con của Mẹ ban ơn cho các dân tộc ấy sự đoàn kết dồi dào trong tinh thần.
Cuối cùng, tôi nhờ Hiền Đệ chuyển giao Phép Lành Tòa Thánh biểu tượng cho Ân Sủng của Thiên Chúa làm chứng cho thiện ý của tôi và Nhân Danh tôi cho tất cả những người tham dự Hội Nghị với tất cả tình cảm rất trìu mến của tôi.
Làm tại Cung Điện Gandolfo, ngày 20 tháng 9 năm 2006
Năm Thứ Hai của Triều Đại Giáo Hoàng của tôi.
Giáo Hoàng Benedictus XVI”.
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã từng nhận định : “Thiên niên kỷ thứ nhất Thánh Giá được trồng trên đất Âu Châu, Thiên niên kỷ thứ hai Thánh Giá được trồng trên đất Mỹ Châu và Phi Châu, thì chúng ta có thể cầu xin trong Thiên niên kỷ thứ ba, Giáo Hội sẽ gặt được một mùa gặt lớn trên lục địa vừa rộng lớn vừa tràn trề sức sông (là Á Châu) này” (GHAC 1). Tổng số người Công Giáo tại Châu Á như sau:
Năm 1978
Công giáo Châu Á/ công giáo toàn thế giới 63,2 triệu
% Công giáo Châu Á 8,35 %
% Dân số thế giới 2,53 %
Năm 1990
Công giáo Châu Á/ công giáo toàn thế giới 86,0 triệu
% Công giáo Châu Á 9,26 %
% Dân số thế giới 2,73 %
Năm 2002
Công giáo Châu Á/ công giáo toàn thế giới 100,2 triệu
% Công giáo Châu Á 10,30 %
% Dân số thế giới 2,90 %
7-2006
Công giáo Châu Á/ công giáo toàn thế giới 113,489 triệu (1.098.366.000)
% Công giáo Châu Á 10,33 %
(Nguồn: Newsletter of the Catholic Bishops’ Conference of Thailand, issn. 1905-6257 - Oct. 2006)
admin
13-11-2006, 05:06 AM
NGÀY TIẾP ĐÓN, 18-10
Các phái đoàn lục tục kéo đến Bangkok rồi Chiang Mai trong ngày 18-10. Đoàn Việt Nam gồm 15 người: 2 giám mục, 7 linh mục, 2 nữ tu, 1 thầy dòng Phanxicô và 3 giáo dân lên đường vào sáng ngày 18, đến Bangkok lúc 2 giờ và lên đường đi CMI lúc 3 giờ 25 phút. Đoàn đến CMI lúc 4 giờ 35 phút. Ban tổ chức tiếp đón tại sân bay và tặng mỗi người một vòng hoa nhài chưa nở. Vì khách quá đông nên hai vị giám mục ở tại Lotus còn các vị còn lại lên xe tút tút về khách sạn Chiang Kum cách Lotus 10 phút taxi. 6 giờ chiều cùng ngày hội nghị tập trung dùng bữa ăn tối. 7 giờ 30, giờ trình diễn âm nhạc Thái lan.
8 giờ tối, Đức Hồng Y Sepe khánh thành khu triển lãm của các nước tại phòng họp chính. 9 giờ tối đại diện các nước (do ban tổ chức chọn) tiếp xúc với ban tổ chức hội nghị để thông qua những hướng dẫn cơ bản.
Phần đóng góp của đoàn Việt Nam tại phòng triển lãm gồm sáu posters đứng theo khổ qui định 0,9 x 1,8 m, một tượng Đức Mẹ La Vang và một tập sách hình 20 trang, khổ 20x20 cm giấy cứng in nhiều màu và hình ảnh giới thiệu về lịch sử giáo hội VN và các hoạt động truyền giáo mang tựa đề “JESUS IN VIETNAM”. Tập sách này được chia sẻ cho các thành viên tham dự hội nghị và các khách tham quan. Đức Hồng Y Sepe ngừng tại bàn triển lãm của phái đoàn Việt Nam mở tập sách hình xem từng trang và nói chuyện với các Đức Cha và các thành viên trong đoàn. Ngài cảm ơn một lần nữa về chuyến viếng thăm Việt Nam của Ngài vào tháng 12/2005 vừa qua. Ngày thứ nhất trôi qua, toàn phái đoàn trở về khách sạn tập dượt dâng hoa cho đến 11 giờ đêm.
admin
13-11-2006, 05:07 AM
LỄ KHAI MẠC, ngày 19-10
Chủ đề : Câu Chuyện Chúa Giêsu nơi các dân tộc Châu Á.
Ngày 19-10, Hội Nghị đã khai mạc trọng thể. Thánh Lễ do Đức Hồng Ivan Dias, Tổng trưởng Thánh bộ Loan Báo Tin Mừng Chủ tế. Trong bài giảng, ĐHY đã cầu xin Thiên Chúa ban phước lành cho những tham dự viên hội nghị. Ngài nói “Thiên Chúa đã quá yêu thương thế giới đến nỗi đã ban Con Một của mình xuống thế tại Á Châu”. ĐHY cũng nhấn mạnh đến sự có mặt của con dân Thiên Chúa trên một lục địa rộng lớn nhất để “đối thoại với những người thiếu thốn, với những nền văn hóa khác nhau, cũng như những tôn giáo khác nhau. Chúng ta là những giáo hội còn trẻ, rất trẻ; những quốc gia còn trẻ, và những người Con Thiên Chúa còn rất trẻ so với thế giới”. Ngài nói tiếp: “Hội nghị sẽ không phải là nơi đặt vấn đề tại sao, nhưng sẽ là nơi chứng minh sự hiện diện của Giáo hội trong khung cảnh phức tạp của Châu Á với nhiều tôn giáo, nhiều chủng tộc và nhiều nền văn hóa khác nhau. Tất cả con dân Thiên Chúa vì thế chỉ có một nhiệm vụ cùng theo chân Chúa Kitô, một người Á Châu, để tiếp nối con đường của Người tại Châu Á”.
Đặc Sứ Tòa Thánh, Đức Hồng Y Crescenzio Sepe đã tuyên bố khai mạc Hội Nghị trước Nghi Thức Thánh Thể. Ngày đầu tiên Hội Nghị đã tập trung vào Chủ đề “Kể chuyện Chúa Giêsu tại Châu Á” đặc biệt về “Vai trò của những Cộng Đồng Kitô Hữu Cao Niên và Cơ Bản (BEC, Elderly and Basic Christian Communities). Đức Cha Lui Antonio G. Tagle, Giám Mục Imus, Phi-luật-tân, trong bài nói chuyện linh động và hấp dẫn đã nhắc lại câu nói của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II: “Truyền giáo như một sự chia sẻ ánh sáng đức tin vào Chúa Giêsu, một món quà được trao ban và một món quà được chia sẻ với tất cả các dân tộc Châu Á (EA, 10). Vị Giám Mục trẻ tuổi (ĐC sinh ngày 21-6-1957), thành viên của Ủy Ban Thần Học Quốc tế tại Vatican, đã lôi cuốn khán giả bằng bài nói chuyện thâm thuý, đầy hấp dẫn với tám đặc tính của việc kể truyện, và tám phương cách đề nghị để “Kể Chuyện Chúa Giêsu ­cho những dân tộc Châu Á” dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.
Buổi chiều bắt đầu lúc 2giờ 30 với hoạt cảnh trình bày Tiến trình Kitô Giáo có mặt tại Châu Á ; 3 giờ chiều, Đức Cha John Tong Hon, Giám mục Giáo Phận Xianggang, Hongkong, một nhân chứng cho giới cao tuổi của “Câu Chuyện Chúa Kitô”, trình bày “Bảy Phép Lạ trong đời tôi”. Đức Cha đã cho khán thính giả thấy “phép lạ đầu tiên về cuộc đời tận hiến của ngài, phép lạ thứ hai liên can đến sự trở lại đạo của mẹ ngài, những việc làm cho những người thiếu may mắn, và đặc biệt những gian truân của cuộc đời những đồng bào Trung Quốc, trong đó có ngài, khi phải lưu lạc từ quê hương Trung Quốc sang Bắc Việt Nam, rồi Nam Việt Nam, rồi lại rời Việt Nam lên đường ngược về phương bắc, một số đến được Hongkong sau bao gian khổ. Đức Cha nói: “Trước những nỗi thống khổ của cuộc sống phiêu lưu, nhiều người kêu khóc và tự hỏi tại sao Thiên Chúa lại thử thách họ nhiều như vậy. Tôi đã an ủi họ và tôi nói với họ rằng Chúa Giêsu cũng đã từng là một người tị nạn tại Ai Cập”. Mỗi một “phép lạ” có thật trong cuộc đời thực sự của “Chứng nhân lớn tuổi John Tong” là một câu chuyện có thật lưu dấu chân Chúa Kitô. Đức Cha kết luận: “Những chứng nhân tôi đã gặp hiện nay nhiều người đã 80 hay 90 tuổi, vẫn đang rong ruổi trên con đường gieo rắc Niềm Tin theo Dấu Chân Chúa Cứu Thế. Rất nhiều người vẫn như những Môn Đệ Emmaus đã nhận ra Chúa trong những cố gắng hết sức nhiệt tình của những môn đệ già để giúp đỡ những người tin Chúa”. Bài nói chuyện rất xúc động của Đức Cha thay cho giới người cao tuổi được kết thúc với lời nhắn nhủ: “Ba điều quan trọng Giáo Hội tại Á Châu phải làm để chu toàn trách nhiệm phục vụ dân Chúa đó là phải dấn thân, phải đối thoại, và phải là những sứ giả của Tin Mừng”.
Sau bài nói chuyện của Chứng Nhân sống, ĐGM John Tong, bốn vị khác cũng đăng đàn để chia sẻ những kinh nghiệm sống niềm tin nơi những gia đình, cộng đồng cơ bản, với người lớn tuổi, và gia đình. Đó là Nữ tu Margret Pereira, người Mã Lai, phụ trách cộng đoàn BEC tại Tổng Giáo Phận Kuala Lumpur và Giáo phận Penang và Melaka. Đó là ông Lawrence Visagaran và vợ là bà Celine Fernandez, một người gốc đạo Hindu, cả hai đều làm việc cho những BEC tại Mã lai. Ông bà đã kể về những gian nan khi hai tôn giáo khác nhau, Hồi Giáo và Ấn Độ Giáo phải hòa hợp với nhau như thế nào trong một gia đình. Đó là cô Edna Quinquero-Khoo, người Phi-luật-tân, cũng làm việc cho các nhóm BEC tại Phi kể về những việc làm để giúp các gia đình xây dựng tổ ấm Nazarét.
Vào lúc 4 giờ chiều cùng ngày, thành viên 20 nhóm thảo luận đã gặp nhau bao gồm những thành viên chính thức và những quan sát viên tại những phòng họp đã được sắp sẵn. Ngày đầu tiên này nhắm vào việc giới thiệu và chia sẻ những kinh nghiệm riêng về câu chuyện Chúa Kitô trong đời sống thực của mỗi người. Trong lúc đó các vị Giám Mục gặp gỡ với ĐHY Dias.
6 giờ chiều ngày 19-10, Linh mục Julian Saldanha, người Ấn Độ, trình bày bài SUY TƯ THẦN HỌC về việc theo chân Chúa Kitô để làm chứng nhân Tin Mừng nơi Châu Á. Ngài cũng kêu gọi tất cả chúng ta “chia sẻ kinh nghiệm sống đạo trong khung cảnh Á Châu, đưa ra những chứng từ cá nhân về sự khác biệt mà niềm tin đã đem đến cho mỗi người, những thí dụ trong đó Thánh Thần đã tác động đến các cá nhân, các nền văn hóa và các tôn giáo, cũng như làm sao để bảo tồn những giá trị tôn giáo, văn hóa và gia đình Á Châu”.
7 giờ 15 cơm tối.
8 giờ, hội nghị xem phần trình diễn văn nghệ của các học sinh sinh viên Thái về “Sự hình thành Giáo Hội tại Thái Lan”. Một buổi trình diễn xúc tích và đầy màu sắc.
admin
13-11-2006, 05:07 AM
THỨ SÁU, 20-10
Chủ đề : Câu chuyện Chúa Giêsu nơi các tôn giáo Á Châu
Toàn thể tham dự viên hôm nay sẽ hướng sự chú tâm của mình vào vai trò của Chúa Giêsu nơi các tôn giáo khác của Châu Á. Sau Thánh lễ lúc 6 giờ và giờ ăn sáng, Hội nghị bắt đầu nghe trình bày về “Các tôn giáo tại Châu Á” lúc 9 giờ và sau đó là phần chia sẻ của đại diện bốn tôn giáo chính. Những tâm tình của các tín hữu Hồi Giáo, Phật Giáo, Ấn Giáo, Tôn giáo các bộ tộc và tôn giáo nguyên thủy. Những chứng nhân niềm tin lần lượt được trình bày với ông M. Abdus Sabur, người Bangladesh, một nhà khoa học và một người hoạt động tích cực cho việc loan báo Tin Mừng trong nhiều tổ chức quốc tế cổ vũ cho đối thoại giữa các niềm tin, các bộ tộc và các nền văn hóa khác nhau. Linh mục người Nhật Jean Tanaka, OP, gốc Shinto (Thần Đạo) sau theo Đạo Phật và chuyển sang Công giáo, đã kể chuyện nước Nhật với 1% người Công Giáo trong tổng số 223 triệu người Nhật. Chính giáo lý của Đạo Phật như một khái niệm siêu nghiệm đã giúp Cha tìm về Công giáo. Chứng nhân thứ ba là ông Arvindaksha Menon, người Ấn Độ trong một gia đình Ấn Giáo sau lấy bà Omana Menon và cả gia đình theo đạo Công giáo vào năm 1997. Chứng nhân thứ tư là Đức Hồng Y Telesphore Placidus Toppo, Tổng Giám Mục Ranchi (Jharksand) sinh tại Chainpur, theo tôn giáo bộ tộc Adhivasi. ĐHY Toppo là người Adhivasi Á Châu đầu tiên được phong chức Hồng Y. Ngài đã từng là Chủ Tịch HĐGM Ấn Độ và là Chủ Tịch của Văn Phòng Loan Báo Tin Mừng FABC. Buổi sáng chấm dứt với SUY TƯ THẦN HỌC về Sứ Mệnh của Giáo Hội do Giáo Sư Prosper (Stanley) Grech, OSA, Giáo sư Thần Học tại Học Viện Kinh Thánh và Văn Chương các Giáo Phụ tại Vatican.
Phần chính trong ngày 20-10 của Hội Nghị bắt đầu lúc 2 giờ là họp nhóm thảo luận về kinh nghiệm sống chung với các tôn giáo khác cũng như những hoạt động liên tôn giáo của thành viên. Tiếp theo là hai bài SUY TƯ THẦN HỌC của Linh Mục Savio Hon Tai Fai, SDB, Tiến sĩ thần học, một nhà thần học Á Châu, và Linh Mục James Kroeger, MM., một người chuyên hoạt động trong các cộng đồng Á Châu hải ngoại. Linh mục là người Mỹ hoạt động tại Phi-luật-tân. Sau bữa ăn tối là giờ cầu nguyện cho việc Truyền giáo bằng Chuỗi Mân Côi với các thứ tiếng Pháp, La-tinh, Tây-ban-nha, Anh, Thái và chầu Thánh Thể.
admin
13-11-2006, 05:08 AM
THỨ BẢY, 21-10
Chủ đề : Câu chuyện Chúa Giêsu nơi các nền văn hóa Á Châu.
Ngày thứ ba của hội nghị tiếp tục câu chuyện đối thoại với các nền văn hóa Á Châu. Buổi sáng có năm nhân chứng chia sẻ niềm tin về năm lãnh vực khác nhau: chủ nghĩa tiêu thụ, truyền thông, di dân, thanh niên, và các quan hệ liên tôn giáo. Ông Paul Mary Suvij Suvaruchiporn, một nhà hóa học đã trình bày về khuynh hướng tiêu thụ trong xã hội hiện nay. Tiến sĩ Maruja Asis, người Phi-luật-tân, trình bày về vấn đề di dân. Cô Sherlyn Khong, người Singapore, trình bày về công tác với thanh thiếu niên qua các nhóm nhỏ tại giáo xứ. Ông Albertus Ajisyksmo, một nhà giáo người Indonesia thuộc Đại học Công Giáo Atmajaya, trình bày về những cuộc đối thoại với các tôn giáo khác.
Trong buổi sáng thứ bảy này, một sự kiện dành cho đoàn Việt Nam đó là trình bày về văn hóa dân tộc trong giáo hội tại Việt Nam.
Phái đoàn Việt Nam là phái đoàn duy nhất chào mừng hội nghị bằng một diễn nguyện mang màu sắc văn hóa: Dâng hoa.
Mười lăm phút diễn nguyện này được thực hiện bởi toàn đoàn 15 người: 2 Đức Giám Mục nâng cao tượng Đức Mẹ La Vang cao 95cm bằng gỗ pơmu, trước tượng là 12 thành viên trong quốc phục (áo dài khăn đống màu xanh cho nam, màu hồng - vàng cho nữ) xếp hàng từ cuối hội trường bước lên bục trong khi cha Joseph Bùi Hoàng được phân công đọc bài giới thiệu đã được phái đoàn sửa chữa lần chót ngày 16/10 trước khi lên đường dự hội nghị. Trích đoạn lời chào và giới thiệu dịch ra tiếng Việt như sau:
“Các bạn thân mến, trước hết chúng tôi xin hân hạnh gửi đến tất cả các bạn những lời chào nồng ấm nhất của phái đoàn Việt Nam.
Hiện diện ở đây, chúng tôi hy vọng được chia sẻ đôi điều với các bạn trong ngọn lửa cháy bừng của đức tin, đức cậy và đức mến. Chúng tôi ghi nhớ rằng Đại Hội Truyền Giáo Á Châu hôm nay là một Đại Hội tràn đầy ánh sáng và niềm vui. Ánh sáng của lời chúa, và niềm vui của Ơn Cứu Chuộc mà Thiên Chúa đã tuôn đổ trên loài người, nhất là trên các dân tộc Châu Á chúng ta.
Để nói lên tâm tình xúc động của chúng tôi về Đại Hội này, chúng tôi mời các bạn cùng hiệp thông với chúng tôi trong một cử hành tiêu biểu của lòng đạo đức bình dân Việt Nam: Dâng Hoa.
Người Công giáo Việt Nam thường dâng lời chúc tụng Thiên Chúa và Đức Maria với một cử hành gồm nhạc, nến, hoa. Cử hành này được cha ông chúng tôi sáng tác từ thế kỷ 18, như một cố gắng hội nhập văn hóa, một phương cách “kể chuyện của Thiên Chúa” bằng màu sắc.
Cuộc Dâng Hoa gồm có ba phần:
Trong phần thứ nhất, chúng tôi chúc tụng Thiên Chúa Ba Ngôi, Đức Mẹ và toàn thể các thiên thần và các thánh. Đây là phần “ngũ bái”.
Phần thứ hai là việc dâng năm sắc hoa: đỏ, trắng, xanh, vàng, tím. Mỗi màu hoa là biểu tượng của một nhân đức của Đức Maria mà mọi người công giáo cố gắng bắt chước Mẹ trong cuộc sống của mình.
Phần thứ ba là lời tạ ơn, và xin Đức Mẹ chuyển cầu để chúng tôi có thể sống xứng đáng là con cái Thiên Chúa, ở “dưới đất cũng như trên trời”.
Hôm nay, chúng tôi chỉ trình bày trích đoạn của phần hai: dâng ba sắc hoa đỏ, trắng, xanh. Xin mời các bạn cùng hiệp thông với chúng tôi”.
Hơn một ngàn tham dự viên thinh lặng dõi theo tiếng hát và những điệu múa của các diễn viên dâng hoa “đã không còn trẻ” với tiếng vỗ tay không ngớt và những lời khen tặng tại các cuộc họp nhóm và hành lang hội nghị sau đó.
Buổi chiều dành phần lớn thời giờ cho các nhóm trao đổi về kinh nghiệm giao lưu văn hóa Kitô Giáo trong lòng dân tộc. Các nhóm đã trình bày những đổi thay của giáo hội theo các hoạt động và sinh hoạt văn hóa cũng như thay đổi lễ nghi, y phục để cùng hòa mình vào cộng đồng dân tộc.
5 giờ 30 chiều là bài SUY TƯ THẦN HỌC do Linh Mục John Mansford Prior, SVD, người Indonesia, Cố Vấn Cho Hội Đồng Giáo Hoàng về Văn Hóa và là thành viên của văn phòng Loan báo Tin mừng FABC. Linh mục nhấn mạnh, “Trong khi toàn cầu hóa đang đe dọa nhấn chìm những nét văn hóa của các dân tộc về phương diện tôn trọng con người, đức từ bi, lòng trắc ẩn, sự lương thiện và yêu thương lẫn nhau như anh em một nhà thì Lời Chúa giúp con người thực thi một nền văn hóa đầy nhân bản tính. Một nền văn hoá hướng về tha nhân ngõ hầu có thể thoát khỏi một thứ trật tự xã hội (gọi là) thịnh vượng dựa trên “chủ nghĩa tiêu thụ đần độn” (crass-crass-consumerism) và chủ nghĩa tư bản dựa vào lòng tham” (greed-induced capitalism)”. Chính bên cạnh những xã hội đầy vật chất đó mà con người tìm thấy niềm tin như câu chuyện của một phụ nữ người Singapore có một cuộc sống máy móc và đầy đủ nhưng buồn chán đã kể về việc đi tìm Chúa sau khi đến thăm một khu nhà ổ chuột. Để có thể làm được điều đó, diễn giả đề nghị mỗi một Kitô hữu Á Châu nên diễn tả niềm tin của mình không phải bằng ngôn từ của “triết học Hy Lạp”, nhưng bằng ngôn từ và triết học Á Châu bởi vì “chính nền văn hóa Á Châu sẽ làm phong phú niềm tin khi được diễn tả bởi chính nền văn hóa đó”. Linh mục đề nghị “người Á Châu đọc Kinh Thánh theo cái nhìn của người Á Châu thay vì đặt mình trong cái nhìn và nhận thức của người phương Tây”. “Chúng ta nên đọc Kinh Thánh trong đối thoại trực tiếp với đời sống, đặc biệt là với những người cùng khổ, thêm vào đó là một nhận thức sâu xa về tương quan văn hóa”. Giữa những anh em thuộc tôn giáo khác tại Châu Á, người Kitô hữu sẽ nhận ra chính mình khi họ cùng với những anh em Hồi Giáo, Phật Giáo, Ấn Giáo... sống với nhau qua những việc xã hội cùng làm với những người anh em đó. “Chúng ta không bảo bọc niềm tin của mình, nhưng đem niềm tin đó vào đời sống với những anh em thuộc các niềm tin khác”, linh mục kết luận.
Người Công Giáo Á Châu phải tạo lập một giáo hội không phải là Giáo Hội “trái chuối” (Banana Church), hay “trái dừa” (Coconut Church), nhưng phải tạo lập một Giáo Hội “Trái Xoài” (Mango Church) để cả bên trong và bên ngoài đều cùng một màu vàng như nhau, một giáo hội với sự cảm thông bên trong cũng như bên ngoài, một giáo hội “nối-kết mọi-niềm-tin” vươn ra với xã hội bên ngoài, một giáo hội theo kiểu của tâm hồn người Châu Á. “Chính niềm tin Công Giáo giúp con người tìm thấy hạnh phúc trong sự đa diện của các nền văn hóa, và của các xã hội con người. Giáo Hội phải đi tìm “khuôn mặt của Chúa Kitô trong và qua các nền văn hóa Á Châu, phải cùng sống với những người nghèo khổ đang chiếm số đông tại Châu Á chúng ta”. Trong cuộc hành trình đi tìm đất sống và phẩm giá của mình, “chúng ta thấy nơi các bộ tộc, các dân tộc thiểu số tiếng gọi Tông Đồ để làm chứng nhân cho Tin Mừng của công lý, an bình, sự chính trực để sáng tạo”. Cha Prior nói tiếp: “Những nhà truyền giáo làm việc với những người anh em khốn cùng đó đã khám phá ra rằng chính những giá trị văn hóa dân gian của các cộng đồng thiểu số ấy và giá trị của Tin Mừng có liên hệ mật thiết và soắn chặt với nhau”.
7 giờ chiều là bữa ăn tối tại Hội Trường Đại Hội. Sau đó là cuộc gặp gỡ giao lưu giữa các quốc gia với nhau trong quốc phục của từng nước, cuộc gặp gỡ thân mật dường như không muốn dứt.
admin
13-11-2006, 05:09 AM
CHỦ NHẬT 22-10, NGÀY BẾ MẠC HỘI NGHỊ
Chủ nhật 22-10 là ngày của nghi thức bế mạc chính thức. Hơn một ngàn nam phụ lão ấu thuộc Giáo Phận Chiang Mai đã có mặt. Và để tôn trọng người dân địa phương nhằm giao lưu dễ dàng, một vài phần trong nghi lễ được tổ chức bằng tiếng Thái.
6 giờ 45 là giờ cầu nguyện.
7 giờ ăn sáng.
8 giờ 15 những sinh hoạt văn nghệ chuẩn bị.
8 giờ 30, Linh mục Niphot Thienviharn và đoàn vũ Thái Lan trình bày Bước Chân Chúa Giêsu trên đất Thái và ba thế hệ người Thái, người công giáo bộ tộc và các nền văn hóa. Sau đó là phần tổng kết Hội Nghị bằng tiếng Thái.
10 giờ 15, nghi lễ bế mạc bắt đầu. Đức Hồng Y Orlando Quevedo, OMI, đọc bản tổng hợp Hội Nghị. Linh mục Mario Saturnino Dias, Thư ký Văn phòng Loan Báo Tin Mừng thuộc FABC đọc lời cảm tạ.
11 giờ, Thánh Lễ Bế Mạc Hội Nghị do ĐHY Crescenzio Sepe chủ tế.
Ngày cuối đầy màu sắc. Như những môn đồ đầu tiên của Chúa Giêsu, sứ điệp mang tên của những tham dự viên từ Liban tới Nhật Bản, từ Kazakhstan và Mông Cổ tới Indonesia đều nghe được vô số những câu chuyện đầy hứng thú, cho đến những câu chuyện về cuộc sống, niềm tin, tính cách anh hùng, gương phục vụ, cầu nguyện, đối thoại và lời rao giảng: “Cả một tâm trạng tràn ngập niềm vui đến với mọi người”.
“Câu chuyện của Chúa Giêsu là ‘xương sống’ của mọi kinh nghiệm tạo nên một kho tàng truyện kể vĩ đại. Tất cả mọi màu sắc, con người, ngôn ngữ, văn hóa, các giá trị dân gian cũng như các sinh hoạt tôn giáo và nghệ thuật của con người Á Châu được diễn ra trên một tấm thảm vĩ đại. Giá trị của những câu chuyện Á Châu giúp xây dựng các quốc gia và cải đổi đời sống có liên quan dựa vào Tông huấn Giáo Hội tại Á Châu (Ecclesia in Asia) của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II”.
Chính Thánh Thần là “người kể truyện vĩ đại nhất”. Người hướng dẫn Giáo Hội trong mọi tình huống để liên tiếp kể truyện qua những chứng từ làm thay đổi cuộc sống. “Nhiệm vụ của Giáo Hội là làm cho câu chuyện của Chúa Kitô sống động, tạo nên những cộng đồng, biểu lộ tình yêu thương, thân mật với mọi người, để sẵn sàng vác Thánh Giá và làm chứng nhân sống động cho Con Người Giêsu”.
Hội Nghị AMC đã cung cấp một cái nhìn mới cho nhiệm vụ đối thoại với các dân tộc, các tôn giáo, các nền văn hóa của Á Châu. Mọi tham dự viên đều tự hứa “đem về quê hương mình những dấu ấn mới trong Câu Chuyện của Chúa Giêsu đặc biệt theo chiều hướng của người Á Châu.
12 giờ 30, bữa ăn trưa cuối cùng.
2 giờ chiều, Hội Nghị chia tay bế mạc.
Hội nghị Truyền giáo Á Châu do Liên hiệp HĐGM Châu Á
tổ chức tại Chiang Mai, Thailand từ 18 - 22/10/2006
Nguồn: Simonhoadalat (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/BanBaoCaoCuaPhaiDoanVN.htm)
admin
17-11-2006, 07:19 AM
Người cao tuổi nhất tại Hội nghị Truyền giáo Á châu sững sờ tầm cỡ quốc tế của hội nghị
CHIANG MAI, Thái Lan (UCAN) -- Cụ Peter Chun Lahsom đáp: "Ông muốn đi dự, ông muốn đi dự!" khi cháu cụ kể cho cụ nghe về Hội nghị Truyền giáo Á châu.
Ông lão 101 tuổi người Thái này là người cao tuổi nhất trong khoảng 1.000 đại biểu và nhà quan sát giáo dân, giáo sĩ và tu sĩ tại hội nghị. Sự kiện được tổ chức từ ngày 18-22/10 tại Chiang Mai, cách Bangkok khoảng 700 kilômét về phía bắc, và có chủ đề "Câu chuyện Chúa Giêsu tại Á châu: Một Cử hành Đức tin và Sự sống".
Cụ Chun thuộc giáo xứ Đức Mẹ Fatima trong làng Pa-kwang, thuộc giáo phận Chiang Mai, cách Chiang Mai khoảng 50 kilômét về phía bắc. Ngày nào cụ cũng thức dậy trước bốn giờ sáng và đi gần hai tiếng đồng hồ để tới nơi hội nghị đúng giờ. Cháu trai 40 tuổi của cụ là Robert Anon Iamthaisong, lái xe và Têrêsa Vilai Rattanaviengpha, con gái cụ, 52 tuổi, luôn đi cùng cụ.
Cụ Chun không ngồi chung với các đại diện và giới quan sát khác trong các phiên họp của hội nghị. Cụ có chỗ đặc biệt phía sau khu triển lãm của Thái Lan trong hội trường chính, để có thể thoải mái ngồi tựa trên tấm chăn màu hồng do bà Vilai chuẩn bị.
Cụ vẫn có thể thấy và nghe rõ tất cả các phiên họp bên trong hội trường hay trên sân khấu phía trước, cách nơi cụ ngồi khoảng 100 mét.
Mặc dù cụ Chun không tham gia một hội thảo nào, nhưng cụ theo dõi và dùng headphone để nghe các phiên họp bằng tiếng Anh qua các thông dịch viên người Thái.
Chỉ có ít người nhận ra cụ. Tuy nhiên, Đức Giám mục Joseph Sangval Surasarang của Chiang Mai, và các linh mục, nữ tu và giáo dân địa phương, cũng như các đại diện đến từ Ấn Độ, Philippines và Singapore đã chào hỏi cụ. Cụ cho những người cụ gặp xem các kỷ vật và ảnh chụp gia đình.
Cụ Chun nói với UCA News: "Cuộc rước các giám mục trong Thánh lễ khai mạc làm tôi có ấn tượng nhất bởi tôi chưa bao giờ nhìn thấy nhiều giám mục như thế".
Cụ cho biết cụ muốn gặp người Công giáo tại hội nghị vì cuộc gặp gỡ của những người đến từ khắp châu Á là một cuộc họp mặt Công giáo hoàn toàn khác.
Cụ Chun nói: "Cộng đoàn Công giáo tôi gặp ở đây mới hơn và lớn hơn cộng đoàn ở giáo xứ tôi. Tôi không sợ khi nói chuyện với các đại diện khác. Chúng ta đang sống. Chúng ta phải suy nghĩ. Chúa Thánh Thần ở với chúng ta và sẽ uốn lưỡi chúng ta".
Cụ Chun, sinh năm 1905, là con một trong gia đình. Bố mẹ cụ mất khi cụ còn nhỏ. Những người láng giềng nhận cụ làm con nuôi và cho cụ đi học ở chùa Phật giáo trong làng. Cụ ở đó với tư cách là tập sinh Phật giáo và đã làm thầy tu khi 20 tuổi. Nhưng hai năm sau cụ xuất tu và lập gia đình.
Những năm sau đó, cụ Chun gặp cha P. Elie, một thừa sai người Pháp thuộc Dòng Tư tế Thánh Tâm Chúa Giêsu Betharram. Hội giáo sĩ tông đồ này do Thánh Michael Garicoits sáng lập có trụ sở ở Betharram, cách thánh địa Đức Mẹ Lộ Đức một vài kilômét.
Vị thừa sai truyền cảm hứng cho cụ Chun nhiều đến độ cụ đã trở thành người Công giáo ở tuổi 47. Cha Elie qua đời năm 1981 và được mai táng tại nghĩa trang giáo xứ của cụ Chun.
Năm 1974, cụ Chun dâng lô đất rộng 1,44 hecta để xây nhà thờ giáo xứ. Thánh lễ chỉ được cử hành vào một ngày Chúa nhật mỗi tháng cho bảy gia đình Công giáo của giáo xứ. Vào các Chúa nhật khác, cụ Chun và gia đình cụ đến giáo xứ Thánh Michael Garicoits ở Chiang Dao, cách làng cụ 22 kilômét về phía bắc.
Người con lớn nhất trong 13 người con của cụ Chun nay đã 73 tuổi, người con út 52 tuổi, và sáu người đã chết. Gia đình cụ, tính tới chít, hiện có 156 người. Cụ có hai cháu gái là nữ tu.
Nguồn: UCAN (http://www.ucanews.com/html/ucan/f_langdetail.asp?ucalang=Vietnamese&langPath=../news_report/vietnamese/2006/11/w3/th11t3a.txt)
admin
25-11-2006, 08:52 PM
Đức Cha Luis Antonio G. Tagle
Giám mục Imus, Philíppin
------------------------------------------------------------
Đại Hội Truyền Giáo Châu Á lần I
Chiang Mai, Thái Lan
19 tháng 10, 2006
Đại Hội Truyền Giáo Châu Á là một dịp kỷ niệm ơn gọi truyền giáo của Hội Thánh. Với tâm tình biết ơn, Đại hội nhắc nhớ lại các nẻo đường truyền giáo mà Hội Thánh đã đi tại Châu Á. Đại hội vui mừng trước các nỗ lực truyền giáo vẫn đang tiếp diễn, với các chứng tá về lòng dũng cảm, đức tin và đức mến. Nó mời gọi chúng ta một lần nữa dấn thân thực thi lệnh truyền từ ngàn xưa của Chúa Giêsu Kitô là đem Tin Mừng Nước Thiên Chúa tới tận cùng thế giới. Nó thúc giục chúng ta tìm kiếm những đường lối mới để hiểu và làm việc truyền giáo, trung thành với Truyền Thống phong phú của Hội Thánh nhưng đồng thời đáp ứng các thực tại mà các dân tộc Châu Á đang đối diện.
Có thể nói lịch sử của Hội Thánh là lịch sử của truyền giáo. Lịch sử đa tầng và đa sắc này, mở đầu từ thời Tân Ước, làm chứng cho chúng ta về nhiều cách thức mà Hội Thánh hiểu và thực hành việc truyền giáo. Chúng ta có thể thêm sự kiện này là, trong khi Hội Thánh là một và phổ quát, Hội Thánh tồn tại trong các Hội Thánh địa phương có các lịch sử và hoàn cảnh khá độc đáo, và vì thế có các kinh nghiệm và khái niệm khá độc đáo về truyền giáo. Trong Redemptoris Missio (RM), Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II khẳng định một nhận thức cơ bản của Ad Gentes (AG)[1] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftn1) rằng truyền giáo là một thực tại duy nhất nhưng phức tạp, được phát triển theo những cách thức khác nhau.[2] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftn2) Tiếp nối công cuộc tìm kiếm năng động của Hội Thánh về các cách hoạt động truyền giáo thích hợp với các thời đại và nơi chốn khác nhau, Đại hội chúng ta đề nghị một lối hiểu và thực hành truyền giáo tập trung vào câu truyện Chúa Giêsu tại Châu Á.
Truyện không bao giờ chỉ đơn thuần là truyện. Truyện là truyện thực sự khi được kể lại hay thuật lại, và mong được người ta lắng nghe. Ngày nay, một trong các tên gọi của kể truyện là chia sẻ. Trong Ecclesia in Asia (EAs), Đức Gioan Phaolô II mô tả truyền giáo như là sự chia sẻ ánh sáng đức tin vào Chúa Giêsu, một món quà nhận được và một món quà cần phải chia sẻ cho các dân tộc Châu Á.[3] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftn3) Sự chia sẻ ấy có thể mang hình thức kể truyện Chúa Giêsu. Tôi tin rằng dạng kể truyện cung cấp một bộ khung sáng tạo cho sự hiểu biết về việc truyền giáo tại Châu Á, một châu lục có các nền văn hoá và tôn giáo ăn rễ sâu trong các đại truyện hay các thiên anh hùng ca. Đức Gioan Phaolô II cũng nhìn nhận các phương pháp thuật truyện tương tự với các hình thức văn hoá Châu Á là phương pháp nên được sử dụng để loan báo Đức Giêsu tại Châu Á (EAs 20).
HiỂu ‘Câu TruyỆn’ và KỂ TruyỆn
Không thể nào tưởng tượng ra được đời người mà không có các câu truyện. Cuộc đời tự nó có một cấu trúc thuật truyện. Truyện đóng vai trung gian giữa cuộc đời và ý nghĩa của cuộc đời. Kể truyện là điều quá tự nhiên đối với chúng ta khiến chúng ta không suy tư đủ về ý nghĩa của nó đối với đời sống chúng ta. Những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã tái phát hiện vai trò của thuật truyện trong các lãnh vực chuyên môn của họ. Thần học và linh đạo đã được hưởng lợi từ trào lưu “quay về với câu truyện” này.[4] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftn4) Truyền giáo cũng có thể được hưởng lợi như thế. Chúng ta hãy dành ít thời gian suy tư về truyện và việc kể truyện. Bài trình bày của tôi không thể nói hết mọi khía cạnh của vấn đề. Mục đích bài này là một lời mời gọi suy tư và thảo luận xa hơn, vì thế nó chỉ nêu lên các khía cạnh có thể có một ảnh hưởng đối với việc hiểu truyền giáo như là kể truyện Chúa Giêsu.
1. Các truyện hay đều dựa trên kinh nghiệm.
Có các truyện hay và cũng có các truyện dở. Nhưng sự khác biệt không luôn luôn là do kiểu cách của người kể truyện hay kết cục của câu truyện. Cơ bản chúng ta muốn có một câu truyện đáng tin, một câu truyện có thể tin được vì nó thật. Cơ sở mạnh nhất của sự thật là kinh nghiệm trực tiếp của người kể. Tuy người ta có thể tin vào những người thuật lại kinh nghiệm của một người khác, nhưng không gì có thể sánh được với câu truyện của một người thực sự có mặt khi sự kiện xảy ra, vì bây giờ sự kiện đã là một phần của người ấy. Chúng ta kể những câu truyện hay nhất của mình khi chúng nói về kinh nghiệm của chúng ta. Các câu truyện hay nhất của chúng ta là về chúng ta là ai.
2. Các câu truyện tỏ lộ tính cách cá nhân và những người và sự kiện làm nên tính cách ấy.
Các câu truyện bộc lộ chúng ta là ai, dòng chảy và ý nghĩa cuộc đời chúng ta và chúng ta đang đi về đâu. Truyện của tôi là tiểu sử tự thuật của tôi, bản ngã của tôi trong toàn thể cục diện của sự vật.[5] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftn5) Khi tôi kể các câu truyện nhỏ của tôi, câu truyện cơ bản của đời tôi được tỏ lộ không chỉ cho người nghe nhưng còn cho chính tôi và chủ yếu cho chính tôi, người kể. Tôi hiểu chính mình. Nhưng đồng thời tôi nhận ra rằng câu truyện không chỉ là về tôi. Nó cũng luôn luôn nói về những người khác, gia đình và bạn bè tôi, xã hội, văn hoá, kinh tế, hay cái mà chúng ta gọi là ‘thời đại’. Câu truyện của tôi không diễn ra trong một khoảng trống không. Tôi là người như thế này bởi vì tôi chìm ngập trong các câu truyện của những người khác và các câu truyện của thời đại tôi. Nếu tôi làm ngơ hay phủ nhận các câu truyện ấy, tôi không có câu truyện cá nhân nào để kể. Khi kể truyện đời tôi, tôi cũng hiểu ý nghĩa của thế giới tôi đang sống.
admin
25-11-2006, 08:53 PM
3. Các câu truyện có tính năng động, có thể cắt nghĩa lại và kể lại, và biến đổi.
Tính cách cá nhân được hình thành bởi sự tương tác với thế giới được đưa vào trong ký ức. Nhớ lại là yếu tố quyết định nếu chúng ta muốn tăng trưởng về sự hiểu biết chính mình. Nhưng chúng ta nhớ lại bằng cách kể các câu truyện.[6] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftn6) Ký ức được tạo thành bởi các câu truyện chứ không phải chỉ là chuỗi thứ tự thời gian, và các câu truyện làm sống lại kinh nghiệm trong tâm trí.[7] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftn7) Khi nhớ lại, chúng ta nhận ra rằng quá khứ hoàn toàn không đứng yên. Nó tiếp tục hình thành nên chúng ta. Nó cũng có thể được nhìn trong một ánh sáng mới từ nhãn giới do các kinh nghiệm mới cung cấp. Trên thực tế, chúng ta kể cùng một câu truyện bằng những kiểu các nhau. Các câu truyện tỏ lộ cho chúng ta thấy cái gì đã làm chúng ta trở nên như chúng ta hiện có trong khi làm chúng ta khác với chúng ta trước kia và mở ra các khả thể cho tương lai. Qua các câu truyện, chúng ta tiếp xúc được với năng động của sự biến đổi tính cách cá nhân: chúng ta đã thay đổi bao nhiêu và còn thay đổi bao nhiêu nữa. . .
4. Các câu truyện là cơ sở để hiểu các biểu tượng thiêng liêng, tôn giáo và đạo đức.
Các câu truyện tỏ lộ tính cách cá nhân bằng việc phơi bày các giá trị, các qui luật đạo đức và các ưu tiên của một người. Đời sống thiêng liêng của một người được lộ ra trong câu truyện của người ấy. Các biểu tượng đạo đức, thiêng liêng và tôn giáo quí giá đối với một người được rút ra từ các câu truyện cuộc đời người ấy. Các biểu tượng sống động và sâu xa ấy chỉ có thể hiểu được khi câu truyện được biết đến và được nghe kể.[8] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftn8) Các câu truyện là yếu tố không thể thiếu để hiểu ý nghĩa của các biểu tượng đức tin và đạo đức của một người.
5. Các câu truyện hình thành cộng đoàn.
Những gì chúng ta nói cho tới đây về câu truyện và tính cách cá nhân thì cũng đúng cho tính cách của một cộng đoàn. Kinh nghiệm và các ký ức chung nối kết các cá nhân khác nhau thành một tập thể duy nhất. Câu truyện mà một cộng đoàn yêu thích trở thành hạt nhân của các giá trị, nền đạo đức và linh đạo của cộng đoàn ấy.[9] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftn9) Chúng ta chỉ có thể hiểu được các niềm tin, các nghi lễ, các cuộc cử hành, các tục lệ và lối sống đặc trưng của một cộng đoàn nếu chúng ta tìm về với các câu truyện mà các thành viên của cộng đoàn ấy cùng lưu giữ và quí chuộng.
6. Các câu truyện khi được đón nhận có thể biến đổi người nghe.
Các kinh nghiệm quan trọng được đặt tên và kể lại trong các câu truyện.[10] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftn10) Khi chúng ta kinh nghiệm một điều gì có ý nghĩa tích cực hay tiêu cực, chúng ta nóng lòng muốn kể lại cho một ai đó. Năng động này cho chúng ta thấy rằng câu truyện đòi có người nghe, có ai đó để chia sẻ. Câu truyện của một người có thể đánh thức các ký ức về các kinh nghiệm tương tự nơi một người nghe, mở ra các ý nghĩa mới, tạo ra điều kỳ diệu và lay động tình trạng ù lỳ. Sự dấn thân và đáp ứng từ phía người nghe bắt đầu xảy ra khi người kể truyện kết thúc câu truyện.[11] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftn11) Câu truyện của người kể được đan kết với câu truyện của người nghe để tạo ra các câu truyện mới. Một người nghe giỏi thường sẽ trở thành một người kể truyện hay. Người nào từng kinh nghiệm việc se kết các câu truyện của người khác thành câu truyện của chính mình nhờ nghe kể thì sẽ cảm thấy đủ vững tâm để chia sẻ câu truyện của mình như một sợi chỉ trong câu truyện của một người khác.
7. Các câu truyện có thể được kể bằng nhiều cách.
Một câu truyện có thể được kể bằng nhiều cách, cả khi không phải là bằng thể kể truyện đúng nghĩa. Kể bằng miệng vẫn là phổ biến nhất. Nhưng cũng có thể kể các câu truyện bằng viết thư, tiểu thuyết, hay làm thơ. Các sản phẩm nhiếp ảnh và video là những phương thức kể truyện nhờ kỹ thuật. Các điệu bộ, kiểu cách, giọng nói, các biểu hiện trên khuôn mặt và dáng điệu của một người cũng hiện thực như bất cứ nhân vật nào trong một câu truyện. Cái im lặng của một người cũng có thể là một cách kể truyện có sức mạnh. Suy rộng ra, các thái độ, nếp sống và các quan hệ của một người cũng là kể truyện và tạo những câu truyện mới. Các điệu vũ, âm nhạc, nghệ thuật, kiến trúc và phong cách ăn uống của một cộng đoàn là các yếu tố cơ bản của câu truyện về cộng đoàn ấy. Các câu truyện có cấu trúc quá phong phú khiến chúng có thể được kể bằng nhiều cách khác nhau.
8. Các câu truyện có thể bị loại bỏ.
Tuy rằng việc kể truyện đến với chúng ta rất tự nhiên, một số yếu tố có thể khiến người ta loại bỏ câu truyện. Sự đau đớn do một ký ức xót xa, nỗi xấu hổ hay cảm giác tội lỗi có thể ngăn cản nạn nhân kể lại đầy đủ câu truyện của mình. Để giữ lại một chút thể diện sau một kinh nghiệm chua xót, một nạn nhân có thể phủ nhận rằng một câu truyện nào đó là một phần của tính cách và ký ức cá nhân của họ. Các nhà độc tài thường cấm kể các truyện về tham nhũng, áp bức, giết người và tàn phá, vì sợ nguy hại đến chế độ của họ. Họ đút lót các giới truyền thông và đe doạ những ai muốn phơi bày sự thật. Họ cho viết một sách lịch sử quốc gia xoá hết mọi ký ức nào có thể làm xấu mặt họ. Một số câu truyện nếu kể ra sẽ quá nguy hiểm, vì người nghe có thể nghe theo lời hô hào cải tổ. Các trận chiến khốc liệt nhất đang diễn ra hằng ngày là các trận chiến về các câu truyện. Nhưng vẫn có khả năng chữa lành. Ở đâu các nạn nhân được phép kể lại câu truyện của họ cho bạn bè, các nhà tư vấn hay các nhà chuyên môn biết thông cảm và hiểu họ, thì phẩm giá của họ sẽ dần dần được hồi phục. Ở đâu các cộng đồng giành được câu truyện thật của họ, thì họ cũng giành được sức mạnh để biến đổi xã hội.
Chúng ta đã dành thời giờ suy tư về truyện và việc kể truyện để khám phá ra các tiềm năng của nó cho việc hiểu và thực hành truyền giáo.
admin
25-11-2006, 08:54 PM
TruyỀn giáo là kỂ truyỆn Chúa Giêsu tẠI Châu Á
Ngay từ đầu, chúng ta cùng với Ad Gentes của Vaticanô II khẳng định rằng Hội Thánh tự bản chất là truyền giáo bởi vì Hội Thánh bắt nguồn từ sứ mạng của Chúa Giêsu Kitô và sứ mạng của Chúa Thánh Thần theo ý muốn cứu độ của Chúa Cha (AG 2). Để những gì Chúa Giêsu đã hoàn thành vì sự cứu rỗi của mọi người có thể đúng lúc đạt được hiệu quả trong mọi người, Ngài đã sai Thánh Thần từ Cha đến để thi hành công trình cứu rỗi của Ngài trong các tâm hồn và trong Hội Thánh (AG 3-4). Vì vậy quả là thích hợp khi gọi Chúa Thánh Thần là tác nhân chính của việc Truyền Giáo, như Đức giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã gọi (x. RM, chương III). Chính Chúa Thánh Thần là đấng làm cho Hội Thánh có khả năng hoàn thành sứ mạng được uỷ thác cho mình (EA s. 43).
Trong viễn tượng này, sứ mạng của Chúa Giêsu và sứ mạng của Chúa Thánh Thần có thể được coi là câu truyện của chính Thiên Chúa. Thiên Chúa là “người kể truyện”.[12] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftn12) Chúa Thánh Thần sẽ kể câu truyện của Chúa Giêsu cho Hội Thánh. Chúa Giêsu đã hứa, “Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần, Đấng Cha sẽ phái đến nhân danh Thầy, sẽ dạy anh em mọi điều và cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em” (Ga 14:24). Ba Ngôi Thiên Chúa thậm chí còn được Chúa Giêsu mô tả như là “kể truyện” cho nhau. “Khi Thần Khí Sự Thật đến, Người sẽ dẫn đưa anh em đến sự thật toàn vẹn; Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng Người sẽ nói lại những gì Người nghe, và sẽ loan báo cho anh em những điều sẽ xảy đến. Người sẽ tôn vinh Thầy, vì Người sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em. Mọi sự Chúa Cha có đều là của Thầy. Vì thế, Thầy đã nói: Người lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em.” (Ga 16:13-15). Sứ mạng của Hội Thánh là kết quả của Câu Truyện mà Chúa Thánh Thần nói ra từ Chúa Giêsu và Chúa Cha. Nguồn gốc sứ mạng của Hội Thánh là Chúa Thánh Thần, Người Kể Truyện Vĩ Đại mà Hội Thánh phải lắng nghe để có thể chia sẻ điều mình đã nghe. Hội Thánh là Người Kể Truyện của Thiên Chúa về Chúa Giêsu Kitô vì Hội Thánh lắng nghe Chúa Thánh Thần.
Hội Thánh phải kể truyện Chúa Giêsu, đó là điều đương nhiên. Nhưng, như Đức Gioan Phaolô đã nêu lên một cách chính xác, câu hỏi lớn đối với Châu Á là chia sẻ câu truyện này như thế nào (EAs 19). Khía cạnh ‘như thế nào’ của việc truyền giáo đã từng là mối bận tâm của nhiều nhà thần học Châu Á, như Michael Amaldoss, S.J.[13] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftn13) Sử dụng một số suy tư của chúng ta về việc hiểu câu truyện, chúng ta hãy nhìn vào việc truyền giáo như là kể câu truyện Chúa Giêsu dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.
1. Hội Thánh kể câu truyện Chúa Giêsu từ kinh nghiệm của mình về Chúa Giêsu.
Kể câu truyện Chúa Giêsu tại Châu Á sẽ hiệu quả hơn nếu phát xuất từ kinh nghiệm của người kể truyện. Đức Phaolô VI trong Evangelii Nuntiandi[14] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftn14)nhận xét rằng người thời nay tin tưởng vào các chứng nhân nhiều hơn là vào các thầy dạy, nhận xét này đúng cho mọi nơi nhưng càng đúng hơn tại Châu Á nơi mà các nền văn hoá nhấn mạnh đặc biệt vào sự chân thật của các chứng nhân được xác minh bởi kinh nghiệm. Các tông đồ đầu tiên, là những người Châu Á, đã nói về kinh nghiệm của họ—điều họ đã nghe, đã thấy tận mắt, đã chứng kiến và đã sờ bằng tay về Lời Sự Sống (1 Ga 1:1-4). Đối với Hội Thánh đương thời tại Châu Á thì không có cách nào khác. Không có một kinh nghiệm sâu xa về Chúa Giêsu như là Đấng Cứu Thế, làm thế nào tôi có thể kể câu truyện của Người một cách thuyết phục như một phần của câu truyện cá nhân của tôi? Kinh nghiệm của thánh Phaolô là cội nguồn thực sự của việc truyền giáo khi ngài nói, “không còn là tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi; hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi” (Gl 2:20). Kể truyện Chúa Giêsu tại Châu Á đòi hỏi sự gặp gỡ sống động của Hội Thánh với Chúa Giêsu trong kinh nguyện, thờ phượng, tương tác với con người, đặc biệt người nghèo, và các sự kiện tạo thành các “dấu chỉ thời đại.”
2. Câu truyện Chúa Giêsu bộc lộ tính cách của Hội Thánh giữa người nghèo, các nền văn hoá và các tôn giáo của Châu Á.
Cũng như một câu truyện bộc lộ tính cách của một người, thì câu truyện đức tin vào Chúa Giêsu cũng bộc lộ tính cách của người kể như là một người tin. Một chứng nhân kể câu truyện về cuộc gặp gỡ của mình với Đức Giêsu thì không thể và không nên che giấu thân phận mình là một môn đệ của Đấng Cứu Thế. Nhưng cũng như câu truyện của một người hay tính cách của người ấy là kết quả của một mạng lưới các mối quan hệ với con người, văn hoá và các trào lưu xã hội, thì cũng thế, câu truyện Kitô giáo phải được kể trong tương quan với những người khác. Tính cách và câu truyện Kitô giáo tại Châu Á luôn luôn tồn tại cùng với và không tách biệt khỏi tính cách và câu truyện của các nền văn hoá và tôn giáo khác. Câu truyện Chúa Giêsu phải được kể bởi những người Kitô Châu Á sống giữa và sống với người nghèo, các nền văn hoá và các tôn giáo khác nhau, là những yếu tố xác định một phần các tính cách và các câu truyện của họ trong tư cách là người Châu Á. Thực tại Châu Á đã gợi hứng cho Yun-Ka Tan đề nghị rằng missio ad (hướng tới) gentes bây giờ phải được hiểu theo phạm trù mới là missio inter (giữa hay với) gentes.[15] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftn15) Nhưng tôi cho rằng missio ad gentes không thể bị loại bỏ mà phải được thực hiện inter gentes. Không bao giờ có thể có truyền giáo đích thực hướng tới các dân mà không đồng thời là truyền giáo với các dân. Và truyền giáo đích thực với các dân lại khích lệ truyền giáo hướng tới các dân. Với và giữa người nghèo, các văn hoá và các tôn giáo, các Kitô hữu Châu Á là người Châu Á. Đến và cho người nghèo, các nền văn hoá và tôn giáo, các Kitô hữu Châu Á là Kitô hữu. Tôi tin rằng sự đan kết các câu truyện này có thể làm phong phú nhiều suy tư của FABC (Liên Hội Đồng Giám Mục Châu Á) về truyền giáo như là cuộc đối thoại với người nghèo, các văn hoá và tôn giáo của Châu Á.[16] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftn16)
admin
25-11-2006, 08:54 PM
3. Hội Thánh lưu giữ ký ức sống động và năng động về Chúa Giêsu.
Giữa và cho các người Châu Á khác, Hội Thánh kể câu truyện Chúa Giêsu theo kiểu lưu giữ ký ức sống động về Chúa Giêsu. Lưu giữ ký ức về Chúa Giêsu không có nghĩa là khoá chặt ký ức ấy trong một khu vực hiện hữu không thể chạm tới. Ký ức này được lưu giữ khi nó được tái thích nghi và chia sẻ. Tin tưởng vào Chúa Thánh Thần và trung thành với ký ức bảo đảm trong Truyền Thống của Hội Thánh Phổ Quát, Hội Thánh tại Châu Á phải có can đảm tái khám phá các cách thức mới để kể truyện Chúa Giêsu, tìm ra sinh lực của câu truyện và giải toả các tiềm năng của nó cho việc đổi mới các thực tại Châu Á.
Câu truyện Chúa Giêsu, nếu được cất giữ trong một nhà bảo tàng, thì không thể ban sự sống. Trong Ecclesia in Asia (EAs 19-20, 22) Đức Gioan Phaolô II kêu gọi, đặc biệt đối với các nhà thần học, cố gắng tìm ra khoa sư phạm có thể làm cho câu truyện Chúa Giêsu gần gũi với não trạng của người Châu Á hơn. Ngài tin tưởng rằng cùng một câu truyện có thể được kể trong các viễn tượng mới và trong ánh sáng của các hoàn cảnh mới.
4. Câu truyện Chúa Giêsu cung cấp ý nghĩa cho các biểu tượng đức tin của Hội Thánh.
Chúng ta đã nói rằng các câu truyện chứa đựng ý nghĩa của đời sống thiêng liêng, đạo đức và các xác tín của một người. Có thể xảy ra tình trạng Hội Thánh có thể bị đồng hoá quá mạnh với một số biểu tượng “tiêu chuẩn” hay cổ hủ nào đó về giáo lý, đạo đức và việc thờ phượng khiến cho người ta quên mất chính câu truyện là nguồn gốc của các biểu tượng ấy. Rồi các biểu tượng tự nó đánh mất sức mạnh đánh động người ta. Các biểu tượng đức tin phải được ăn rễ trở lại trong câu truyện nền tảng của Chúa Giêsu. Ví dụ nghi thức bẻ bánh trong Thánh Thể phải được nhìn thấy trong nhiều câu truyện về sự chia sẻ, chăm lo và hiệp thông, không có các điều này thì nghi thức trở thành vô nghĩa. Nhẫn giám mục phải bắt nguồn từ một câu truyện sống động về sự phục vụ cộng đoàn, thiếu điều này thì chiếc nhẫn chỉ còn là một đồ trang sức. Biểu tượng linh mục như là đại diện Chúa Giêsu phải bắt nguồn từ câu truyện về sự sẵn sàng phục vụ dân, thiếu nó thì chức linh mục trở thành một bậc sống hơn là một ơn gọi. Các biểu tượng đức tin phải được tìm trở về với câu truyện nền tảng của Chúa Giêsu. Một sự trở về với câu truyện của Chúa Giêsu cũng sẽ có thể giúp cho Hội Thánh tại Châu Á sửa sai các ấn tượng về tính chất ngoại bang vốn gắn liền với giáo lý, nghi thức và biểu tượng của Hội Thánh (EAs 20). Tách rời với câu truyện cội nguồn của Chúa Giêsu, các biểu tượng của Hội Thánh rất có thể kể về một câu truyện xa lạ với chính Chúa Giêsu.
5. Câu truyện Chúa Giêsu phát sinh Hội Thánh.
Các câu truyện cũng làm nên một cộng đoàn, như chúng ta đã nói. Trong kinh nghiệm và ký ức chung, các cộng doàn tìm được sự gắn kết và giá trị chung. Ký ức chung về câu truyện Chúa Giêsu được phát sinh bởi Chúa Thánh Thần phải là nguồn cơ bản cho sự hiệp nhất và bản sắc trong đức tin của Hội Thánh tại Châu Á. Kinh Thánh, các bí tích, đặc biệt Thánh Thể, giáo lý, các nghi thức và toàn thể Truyền Thống là những cách khác nhau để không ngừng kể lại câu truyện Chúa Giêsu hầu giữ cho ký ức về Người luôn luôn là nòng cốt của cộng đoàn Kitô hữu. Nhưng ý nghĩa này của cộng đoàn không phải là lý do để Hội Thánh sống tách biệt với mục đích có thể duy trì được bản sắc riêng của mình. Câu truyện Chúa Giêsu làm nên cộng đoàn Kitô giáo cũng là câu truyện mà cả cộng đoàn phải chia sẻ ra bên ngoài. Trong mẫu kể truyện, Hội Thánh sẽ đánh mất bản sắc của mình nếu không kể được câu truyện là chính bản sắc của nó. “Vì ai muốn giữ mạng sống mình thì sẽ mất; và ai liều mất mạng sống mình vì Thầy và vì Tin Mừng thì sẽ cứu được nó,” Chúa Giêsu nói (Mc 8:35-36). Liên Hội Đồng Giám Mục Châu Á đã có niềm xác tín rằng toàn thể Hội Thánh được kêu gọi truyền giáo.[17] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftn17) Các Hội Thánh địa phương cần phân định rõ và phát triển nhiều tài năng do Chúa Thánh Thần linh hứng để có thể góp phần vào việc kể truyện Chúa Giêsu. Là kết quả của câu truyện Chúa Giêsu, toàn thể Hội Thánh trở thành người kể lại câu truyện ấy.
6. Một Hội Thánh lắng nghe cũng là Hội Thánh kể lại câu truyện Chúa Giêsu.
Các câu truyện được hoàn thành nơi người nghe. Nhưng các câu truyện bị áp đặt thì không được lắng nghe. Hội Thánh tại Châu Á phải tin tưởng vào sức sống của câu truyện mình cống hiến, mà không được nghĩ tới việc ép buộc nó trên người khác. Nó đã là một câu truyện đẹp nên sẽ chắc chắn đánh động những ai có chút ít sự cởi mở cõi lòng. Đức Gioan Phaolô II nói với chúng ta trong Ecclesia in Asia rằng chúng ta chia sẻ ơn huệ của Chúa Giêsu không phải là để chiêu nạp người ta mà là vì vâng lời Chúa và để phục vụ các dân tộc Châu Á (EAs 20). Hãy để câu truyện tự nó nói lên và đánh động. Hãy để Chúa Thánh Thần mở cõi lòng và các ký ức của những người nghe và mời gọi họ biến đổi. Đông đảo các dân tộc nghèo khổ của Châu Á có thể tìm thấy sự thương cảm và niềm hi vọng trong câu truyện Chúa Giêsu. Các nền văn hoá của Châu Á sẽ vang lên cùng với sự thách thức về tự do đích thực trong câu truyện Chúa Giêsu. Các tôn giáo khác nhau của Châu Á sẽ kinh ngạc thán phục và kính trọng đối với những người tìm kiếm Thiên Chúa và sự thánh thiện chân chính trong câu truyện Chúa Giêsu. Hội Thánh tại Châu Á được kêu gọi khiêm tốn để Chúa Thánh Thần đánh động các người nghe câu truyện của mình. Là người kể truyện của Chúa Thánh Thần, Hội Thánh tại Châu Á phải đi vào các thế giới và các ngôn ngữ của người nghe và kể câu truyện Chúa Giêsu từ trong đó giống như ngày Lễ Ngũ Tuần.[18] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftn18) Nhưng điều đó có nghĩa là Hội Thánh tại Châu Á phải là một người thực sự biết nghe Chúa Thánh Thần và người nghèo, các nền văn hoá và tôn giáo, nếu Hội Thánh muốn nói điều gì có ý nghĩa. Một Hội Thánh kể truyện phải là một Hội Thánh lắng nghe.[19] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftn19)
admin
25-11-2006, 08:56 PM
7. Hội Thánh kể câu truyện Chúa Giêsu bằng nhiều cách khác nhau.
Các câu truyện có thể kể bằng nhiều cách khác nhau. Câu truyện Chúa Giêsu cũng thế. Hội Thánh tại Châu Á, với di sản kể truyện phong phú có được từ các gia đình, làng xóm, tôn giáo và các sự khôn ngoan truyền thống, có thể tỏ ra sáng tạo trong việc kể truyện Chúa Giêsu. Chứng tá về một đời sống thánh thiện, đạo đức và chính trực vẫn là câu truyện hay nhất về Chúa Giêsu tại Châu Á.[20] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftn20) Cuộc đời của các người nam người nữ thánh thiện và các tử đạo chứng tỏ câu truyện Chúa Giêsu đã được khắc ghi nơi những con người và những cộng đoàn như thế nào.[21] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftn21)Những người nam người nữ đã hiến dâng đời mình để phục vụ tha nhân, như Chân phước Têrêxa Calcutta, là những câu truyện sống động mà những dân Châu Á thích nghe. Bênh vực người nghèo, hoạt động cho công lý, cổ võ sự sống, chăm lo người bệnh, giáo dục trẻ em và thanh niên, hoạt động hoà bình, giảm nợ nước ngoài và phục vụ sáng tạo là một số cách kể truyện Chúa Giêsu tại Châu Á hôm nay.[22] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftn22) Nhưng Hội Thánh cũng phải sẵn sàng để chấp nhận những cách kể truyện Chúa Giêsu bất ngờ do Chúa Thánh Thần linh hứng.
8. Hội Thánh là tiếng nói của những câu truyện không được kể.
Tình trạng một số câu truyện không được kể xảy ra hằng ngày tại nhiều vùng ở Châu Á là một chuyện đáng xấu hổ. Những người nghèo, trẻ gái, phụ nữ, dân tị nạn, di dân, các dân thiểu số, các dân bản xứ, các nạn nhân của các loại bạo lực gia đình, chính trị và sắc tộc và môi trường mới chỉ là một số ít trong những câu truyện không được kể ra. Nhiều người sợ các câu truyện họ sẽ kể. Hay họ sợ nghe sự thật và các đòi hỏi của nó? Hội Thánh kể câu truyện Chúa Giêsu mà các lời của Người thường bị người ta giả điếc làm ngơ và người ta đã giết chết Người để ngăn cản không cho Người kể câu truyện của Người. Vì thế tại Châu Á Hội Thánh tôn vinh Người bằng cách để cho chính mình trở thành người kể truyện thay cho những người không thể nói để tiếng nói của Chúa Giêsu có thể được nghe trong các câu truyện mà họ bị cấm không được kể.
KẾt luẬn
Truyền giáo như là kể truyện Chúa Giêsu đã đang diễn ra tại Châu Á. Chúng ta ca ngợi nhiều người kể truyện của Chúa Thánh Thần mà các câu truyện của họ, tuy kín ẩn, nhưng đã sinh ra những câu truyện mới trong cuộc đời của nhiều anh chị em Châu Á.
Để kết bài này, tôi hướng về Chúa Giêsu, là Logos hay Câu Truyện của Thiên Chúa và là nhà kể truyện bậc thầy về Nước Thiên Chúa. Chúng ta hãy nhìn lên Người. Chúng ta hãy lắng nghe Người. Chúng ta hãy học với Người. Chúng ta hãy mở lòng đón nghe câu truyện của Người và cách kể truyện của Người. Câu truyện của Người là về Abba Đấng Người đã kinh nghiệm và về sự sống sung mãn mà Cha đã ban tặng. Cuộc đời và tính cách của Người ăn rễ sâu trong sự hiệp nhất liên tục với Abba. Thế nhưng Người đã sống như một người Do Thái bình thường, một người Châu Á bình thường, với gia đình, bạn bè, các phụ nữ, trẻ em, người ngoại bang, các tư tế đền thờ, các thầy dạy luật, các người nghèo, các bệnh nhân, những người cô thế cô thân, những người tội lỗi và những kẻ địch thù. Tất cả họ là một phần con người hiện thực của Người. Người đã qui tụ một cộng đoàn, một gia đình mới gồm những người muốn lắng nghe và thi hành lời Thiên Chúa. Người kể cho họ các câu truyện về Abba và đời sống trong Abba. Người sử dụng ngôn ngữ của họ. Các dụ ngôn của Người đơn sơ nhưng hiệu quả mãnh liệt. Người kể cho họ các câu truyện về Abba qua việc Người ăn uống, chữa bệnh, cảm thông, thương xót, tha thứ, và chỉ trích thái độ đạo đức giả. Câu truyện của Người đã dẫn Người đến một bữa ăn tối trong đó Người trở thành của ăn và Người rửa chân cho các bạn Người. Không gì có thể ngăn cản Người kể câu truyện của Người, cả trên thập giá. Cái chết nhục nhã của Người lẽ ra đã kết thúc câu truyện của Người. Nhưng Abba còn muốn nói thêm một điều gì, “Con của Ta – Người đã sống lại thực sự”. Tuôn đổ ơn Chúa Thánh Thần vào lòng chúng ta, Đức Giêsu uỷ thác câu truyện của Người cho chúng ta. Tôi nghe Người nói, “Hãy nghe câu truyện của Thầy. Hãy đi và kể đi kể lại câu truyện của ta tại nơi mà tất cả đã bắt đầu – tại quê hương Thầy, Châu Á yêu dấu của Thầy!”
Lm. Đaminh Ngô Quang Tuyên, chuyển ngữ
xem Trang Mục Lục (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/MainGH_AChau.htm)
admin
25-11-2006, 08:58 PM
Ghi chú
[1] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftnref1) Vaticanô II, Ad Gentes 6.
[2] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftnref2) Xem Gioan Phaolô II, Redemptoris Missio 41.
[3] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftnref3) Xem Gioan Phaolô II, Ecclesia in Asia 10.
[4] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftnref4) Một trong nhiều ví dụ là Michael L. Cook, S.J., Christology as Narrative Quest (Collegeville, MN: 1997).
[5] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftnref5) Xem Richard Woods, O.P., “Good News: The Story Teller as Evangelist”, New Blackfriars 81 (2000): 206.
[6] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftnref6) Như trên, tr. 205.
[7] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftnref7) Xem Richard Bayuk, C.P.P.S., “Preaching and the Imagination”, Bible Today 38 (2000): 289, 292.
[8] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftnref8) Xem Cook, tr. 31.
[9] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftnref9) Xem Jose Mario C. Francisco, S.J., “The Mediating Role of Narrative in Inter Religious Dialogue: Implications and Illustrations from the Philippines Context”, East Asian Pastoral Review 41 (2004): 164.
[10] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftnref10) Xem Bayuk, tr. 289.
[11] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftnref11) Như trên, tr. 290.
[12] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftnref12) Cook, tr. 39.
[13] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftnref13) Xem các tác phẩm sau đây của Michael Amaldoss, S.J., “Images of Jesus in India”, East Asian Pastoral Review 31 (1994): 6-20 và “‘Who Do You Say that I Am?’ Speaking of Jesus in India Today”, East Asian Pastoral Review 34 (1997): 211-224.
[14] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftnref14) Paul VI, Evangelii Nuntiandi 41.
[15] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftnref15) Jonathan Yun-Ka Tan, Missio Inter Gentes: Towards a New Paradigm in the Mission Theology of the FABC, FABC Papers No. 109.
[16] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftnref16) Văn kiện cơ bản là FABC I (1974), “Evangelization in Modern Day Asia”, đặc biệt # 12, 14, 20, G. Rosales and C.G. Arevalo, editors, For All the Peoples of Asia, Vol. I (Quezon City: Claretian Publications, 1997), tr. 11-25. Nhiều phiên họp toàn thể và cơ quan của FABC là những minh hoạ thêm cho nhận thức cơ bản của FABC I trong các hoàn cảnh đang thay đổi.
[17] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftnref17) Xem BIMA III (Third Bishops’ Institute for Missionary Apostolate, 1982, #5, Ibid.,, tr.. 104.
[18] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftnref18) Xem BIRA IV/12, (Twelfth Bishops’ Institute for Interreligious Affairs on the Theology of Dialogue, 1991) #42-47, Ibid., tr. 332.
[19] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftnref19) Xem BIRA I (First Bishops’ Institute for Interreligious Affairs , 1979), #11-14, Ibid., tr. 111
[20] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftnref20) Xem BIRA III (Third Bishops’ Institute for Interreligious Affairs, 1982), #10, Ibid., tr. 105.
[21] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftnref21) Xem Francisco, tr. 167.
[22] (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm#_ftnref22) Xem EAs #33-41.
nguồn: simonhoadalat (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/25DCLuisTagle.htm)
admin
03-12-2006, 01:47 PM
Đã đến lúc dân Chúa lên tiếng về sứ mệnh của Giáo hội
Chuyên mục "Giáo hội Hoạt động tại châu Á" của Hector Welgampola
BRISBANE, Úc (UCAN) -- Hội nghị Truyền giáo Á châu mới kết thúc gần đây là hội nghị tầm cỡ ít ra là về mặt hậu cần và số khách mời. Khoảng 650 giám mục, linh mục và tu sĩ, cùng khoảng 400 giáo dân, đã tham dự. Giờ đây, gần một tháng sau sự kiện diễn ra từ ngày 18-22/10 này tại Chiang Mai, Thái Lan, có thể thích hợp để bắt đầu xem xét kết quả của hội nghị.
Theo các phương tiện truyền thông đại chúng và các tài liệu hiện có, các tham dự viên hội nghị đã kêu gọi tổ chức các hội nghị cấp quốc gia và khu vực. Đúng vậy, các cuộc họp quốc tế của Giáo hội thường kết thúc kèm theo đề nghị tổ chức các cuộc họp tiếp theo, khiến cho một số người hoài nghi gạt bỏ những đề xuất giống như cách sống của giới giàu sang.
Nhưng lời kêu gọi tổ chức các hội nghị tại địa phương của hội nghị truyền giáo này đáng chú ý vì nhiều lý do. Thứ nhất là cần vượt ra ngoài chương trình nghị sự còn dang dở của hội nghị toàn châu Á gần đây. Ngoài ra, các chương trình ở địa phương có thể rút kinh nghiệm từ các ưu và khuyết của sự kiện khổng lồ này.
Chẳng hạn, điều đáng tuyên dương là việc dành chỗ cho một số người được mời làm cho hội nghị sinh động bằng các bài tham luận về cuộc gặp gỡ giữa cá nhân họ với Chúa Giêsu, dù được biết một số trong phần chia sẻ bị mất đà do bị sao lãng bởi các bản báo cáo của ban tổ chức và những hạn chế về mặt hậu cần.
Nếu một dân tộc Á châu đồng lòng thật sự thông qua một hội nghị từ dưới lên trên, thì các hội nghị địa phương phải tránh cách suy nghĩ và kiểu cách của sự kiện hướng trực tiếp lên đỉnh điểm ở Thái Lan. Các nhà thần học đã lên tiếng tại Chiang Mai, vì thế các hội nghị địa phương giờ đây có thể tham gia tìm kiếm câu chuyện về Chúa Giêsu được chôn kín trong lòng và tâm trí của những người siêng năng đi lễ và người không năng đi lễ cách nhiệt huyết hơn.
Và trước khi chúng ta dự định kể câu chuyện Chúa Giêsu cho người khác, chúng ta có thể thôi tự tán dương mình và tự hỏi làm thế nào và tại sao các thành viên của Giáo hội cứ tiếp tục xa lánh dần?
Theo các câu trả lời trong cuộc khảo sát hỏi hơn vài chục giáo dân có hiểu biết trên khắp châu Á, dường như việc giáo dân chuẩn bị cho hội nghị là quá ít. "Hội nghị truyền giáo nào?" một số người đã hỏi khi được tôi hỏi công chúng có biết sự kiện này không. Nhiều người khẳng định, lẽ ra công tác chuẩn bị nên được thông báo đến các giáo xứ ít ra là qua các bài giảng lễ Chúa nhật và các phương tiện truyền thông.
Các hội nghị địa phương cũng có thể làm tốt hơn sự kiện Á châu này trong việc khai thác lẽ phải của các truyền thống Ấn giáo, Hồi giáo, Khổng giáo và Phật giáo ở châu Á. Các hội nghị địa phương hy vọng sẽ tạo môi trường tốt hơn cho cuộc đối thoại chân thật về kinh nghiệm sống giữa các truyền thống đa văn hóa và đa tôn giáo của các dân tộc Á châu.
Đối thoại với tín đồ chân chính của các tôn giáo khác, không đối thoại với những người cải đạo, là rất cần thiết để thấy rõ người khác nhận biết Chúa Giêsu như thế nào. Chúng ta cần tìm hiểu tại sao một số người thờ kính Chúa Giêsu như một hiền nhân lại nhìn Giáo hội một cách khác.
Khi hội nghị Á châu đánh bóng chương trình nghị sự về đối thoại với các tôn giáo khác, việc hội nghị thinh lặng không bàn về bài nói chuyện của Đức Thánh cha tại Regensburg, Đức, hôm 12-9 là không có gì ngạc nhiên. Xảy ra ngay trước hội nghị Á châu, cuộc tranh cãi do bài thuyết trình của Đức Thánh cha khơi lên là một cơ hội may mắn để chia sẻ với Giáo hội hoàn vũ sự khôn ngoan của Giáo hội Á châu về những vấn đề liên quan đến các tôn giáo khác.
Tuy nhiên, ngoại trừ một hay hai người lên tiếng, diễn đàn Á châu không hề bàn đến vấn đề này. Trong khi giấu biệt vấn đề ở Regensburg, chúng ta đã quên mất các tôn giáo anh em. Và do liều lĩnh như thế, chúng ta còn bỏ mất tâm điểm bài thuyết trình của Đức Thánh cha về quan tâm của các tôn giáo Á châu -- cụ thể là, người theo chủ nghĩa thế tục Tây phương làm những việc bôi nhọ tính thiêng liêng.
Tôn trọng tính thiêng liêng là cốt lõi lòng sùng đạo của người Á châu. Tính thiêng liêng vẫn còn coi là trung tâm trong Kitô giáo tại châu Á, như được giới thiệu bởi một số Giáo hội Đông phương, trong đó có các Giáo hội địa phương Ấn Độ. Chúng ta cần biết điều này và học hỏi nhiều hơn nhiều từ sự sáng suốt của các Giáo hội này. Hiển nhiên, các Giáo hội Á châu địa phương có ít hay không có chỗ đứng tại hội nghị toàn Á châu ở miền bắc Thái Lan.
Nếu thông điệp tình yêu của Chúa Giêsu tiếp tục được phổ biến và sống theo Kitô giáo sau Công đồng Êphêsô năm 431, thì cuộc sống và việc làm chứng tá của những người theo Chúa Giêsu sẽ không thiếu hương vị kể câu chuyện của châu Á. Nhưng do lại rơi vào tình trạng nguyên tội, tính tham lam đã làm nảy sinh các hệ thống thờ cúng quyền lực và chính trị hóa thông điệp này. Bản dịch tiếng Hy lạp về câu chuyện Chúa Giêsu được chào bán song song với chủ nghĩa thực dân.
Bản dịch này khác với câu truyện trước đó được những người Á châu bắt gặp khi đi qua Syria và Ba Tư và đi xuống Con đường Tơ lụa. Được tóm lược bằng biệt ngữ của Aristốt, câu chuyện Đức Kitô được kể lại thiếu phong vị địa phương và nghệ thuật kể truyện Á châu.
Châu Á không cần có một tóm lược khác về hình ảnh Đức Giêsu. Thay vì thế, châu Á cần có chỗ đứng để phổ biến lại Tin Mừng gốc, vốn liên quan đến lối sống thần bí, tác phong cầu nguyện và văn hóa Á châu hơn là liên quan đến chủ nghĩa duy lý hay lối sống Âu châu. Trong thời đại này, khi mà một số lãnh đạo Giáo hội tìm cách phục hồi cộng đoàn Kitô giáo trong một châu Âu mới, Giáo hội Á châu phải chú ý đến hậu quả của việc dùng quyền lực để đạt mục tiêu như thế, cũng như khuynh hướng làm giảm thiểu tầm quan trọng của Đức Giêsu lịch sử.
Trong viễn cảnh này, các hội nghị địa phương cũng có thể sẽ nhận ra nhu cầu phân tích sự hậu thuẫn chính của các cơ cấu mục vụ. Đó có thể là bước hướng tới tái sinh một Giáo hội của tình yêu và phục vụ đáp ứng được nhu cầu của thời đại.
Mùa Vọng là cơ hội để rút ra bài học từ những sai sót của hội nghị to lớn trong tháng 10 và bắt đầu kêu gọi dân Chúa tham gia chuẩn bị cho các hội nghị địa phương sau này.
------
Hector Welgampola, nhà báo người Sri Lanka, cựu tổng biên tập của UCA News từ năm 1987 đến khi về hưu tháng 12-2001.
Nguồn: UCAN (http://www.ucanews.com/html/ucan/f_langdetail.asp?ucalang=Vietnamese&langPath=../news_report/vietnamese/2006/11/w5/th11t5a1.txt)
admin
03-12-2006, 08:42 PM
Đại Hội Truyền Giáo Á Châu
http://www.ofmvn.org/chiase/2006/Cs-11-06_files/image008.jpg
Ngày 18-10 anh Biển Đức Lê Huy Mỹ, vẫn quen gọi là bác sĩ “Mỹ”, mà là người Việt Nam, thuộc cộng đoàn Đất Sét lên đường đi Thái Lan. Anh được Tỉnh Dòng cử tham dự “Đại hội Truyền Giáo Á Châu” tại Chiang Mai, Thái Lan, từ ngày 18 đến 22 tháng 10 năm 2006 do Liên Hội Đồng Giám mục Á châu (FABC) tổ chức. “Chủ đề của Đại Hội là ‘Kể chuyện về Chúa Giêsu’ ”. Bắt đầu từ ngày 18 tháng 10, hằng trăm đại biểu đã hào hứng kể những câu truyện rất thú vị và thực tế trên bước đường làm chứng và sống Tin Mừng trên cánh đồng truyền giáo mênh mông khắp Á Châu. Đây là một cuộc gặp gỡ để lại nhiều ảnh hưởng sâu rộng. Một cuộc gặp gỡ giữa Tin Mừng và văn hóa, tôn giáo, xã hội. Qua những trao đổi giữa các chứng nhân từ những miền văn hóa khác nhau, một sứ điệp đầy tình thương và hy vọng đã vang lên” (Lm Đỗ Lực OP).Để tham dự Đại hội nay, anh Mỹ đã dành ra khoảng 3 tháng để chuẩn bị và trước khi lên đường anh đã ở lại nhà Đakao hai ngày để tham gia tập dượt một số “điệu múa” cùng với các giám mục và anh chị em thuộc nhóm Việt Nam để đóng góp các tiết mục cho Đại hội. Chắc chắn anh sẽ đón nhận được nhiều kinh nghiệm qua những chia sẻ và nhất là dịp tiếp cận với các tham dự viên của nhiều nước, để chia sẻ cho anh em trong Tỉnh Dòng khi trở về.
http://www.ofmvn.org/chiase/2006/Cs-11-06_files/image009.jpg
http://www.ofmvn.org/chiase/2006/Cs-11-06_files/image014.jpg
Góc Việt trên đất Thái, tại Đại Hội Truyền Giáo Á Châu 18-22.10.2006
Nguồn: Chiasẻ (http://www.ofmvn.org/chiase/2006/Cs-11-06.htm)
http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/Report/Pic_01.jpg
Vài Hình Ảnh Sinh Hoạt Của Phái Đoàn Việt Nam Tại Đại Hội Truyền Giáo Á Châu Lần I (http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/PhucAmHoa/GiaoHoiAChau/FABC/Report/HinhPhaiDoanVN.html)
admin
19-02-2007, 03:41 PM
GẶP GỠ
Bài chia sẻ của Linh Mục Jean Tanaka, người Nhật, Dòng Đa Minh
Tại Hội Nghị Truyền Giáo Á Châu tại Chiang Mai Thái Lan, 18-22/2006
Tôi sẽ bắt đầu bài chia sẻ này bằng một câu chuyện về một tu sĩ Phật Giáo. Trong một chuyến hành hương, vị tu sĩ này gặp một nông dân. Người nông dân nhờ vị tu sĩ khâu dùm chiếc quai dép của anh ta bị đứt. Vị tu sĩ khâu chiếc quai dép cho anh ta. Sau đó anh ta bỏ đi mà chẳng một lời cám ơn vị tu sĩ. Nhìn người nông dân đi xa, vị tu sĩ chắp hai tay biểu lộ lòng biết ơn sâu xa.
Nước Nhật có dân số 127 triệu người, trong đó khoảng 1% là người Thiên Chúa Giáo. Số còn lại là những người theo đạo Phật hay Thần Đạo (Shinto). Nhiều người là tín đồ của hơn một tôn giáo vì thế nếu tính tổng số người có tín ngưỡng thì con số lên tới hơn 200 triệu người.
Kitô Giáo lần đầu tiên có mặt tại Nhật cách đây khoảng 450 năm khi Thánh Phanxico Xavie đến xứ Phù Tang. Nếu đếm cả người Tin Lành và Công Giáo, con số sẽ lên tới 1.3 triệu người. Gần đây nhiều người Kitô Giáo đến Nhật từ những vùng khác tại Á Châu, Phi Châu, Mỹ La Tinh và họ là những tín đồ tích cực.
Tôi sinh ra trong một gia đình theo hai tôn giáo : Đạo Phật và Đạo Shinto. Tôi lớn lên trong một gia đình khắt khe về đạo đức. Khi còn nhỏ tôi được cha mẹ đưa đến các ngôi Chùa Phật Giáo và những đền thờ Thần Đạo và tham gia những sinh hoạt nơi đó mặc dù tội chẳng quan tâm gì tới niềm tin cả. Nói ra thì các bạn sẽ thấy khó tin, nhưng gia đình chúng tôi có cả hai bàn thờ Đạo Phật và Đạo Shinto. Thực ra đó là chuyện thông thường tại các gia đình bên Nhật. Mỗi buổi sáng, cha tôi đặt những lễ vật trên bàn thờ như nước và cơm. Khi tôi lớn lên, tôi tự nhiên nghĩ về một điều gì đó lớn hơn là con người. Chính điều này dạy tôi về sự tha thứ, chấp nhận, bình an và hài hòa trong tâm hồn. Tôi lớn lên giữa sự thanh vắng của các Ngôi Chùa Phật Giáo, khung cảnh thiên nhiên của các đền thờ Thần Đạo và sự hài hòa với thiên nhiên.
Năm 1960, lúc đó tôi là một học sinh trung học 16 tuổi. Tôi cùng năm người bạn thành lập một nhóm riêng mục tiêu để gặp gỡ và nghe người lớn nói về những vấn đề của họ.Chúng tôi chơi với nhau như vậy suốt trong thời gian ba năm. Chúng tôi đặt những câu hỏi tỷ như : Con người là gì? Tự do là gì? Đâu là thiện và ác? Trên con người là gì? Ảnh hưởng của cuộc chiến tranh Việt Nam lúc đó thật ấn tượng và chúng tôi đặt rất nhiều câu hỏi. Tôi đã cảm thấy nhục nhã khi tôi thấy trên màn hình TV hàng ngày những xe tăng của Mỹ cày nát những cánh đồng lúa. Tôi cũng thấy những hình ảnh lính Mỹ trong những thánh lễ và tôi tự hỏi “trời đất ơi họ cầu nguyện cái gì thế nhỉ”?
Lúc đó , tôi đến thăm một nhà thờ Công Giáo và gặp một tu sĩ truyền giáo nơi đó. Ông là một người nhân đức. Khi tôi hỏi ông về cuộc chiến tranh tại Việt Nam, ông nói, “Chúng tôi đã bỏ bom nguyên tử trên đất nước Nhật, và bây giờ chúng tôi lại làm y như thế tại Việt Nam. Hãy tha thứ cho chúng tôi. Cho dù mọi chuyện trên đời có thể diễn ra như thế nào, chúng ta phải là những người xây dựng hòa bình. Chúng ta phải là cánh tay đắc lực của Thiên Chúa”. Sau cuộc gặp gỡ ấy, tôi bắt đầu đến các thánh đường. Tôi đã gặp gỡ lần đầu tiên đạo Công Giáo như thế đó. Tôi nghiên cứu Kinh Thánh, nhưng bất cứ khi nào tôi thắc mắc, tôi luôn luôn nhận được câu trả lời, “Bạn sẽ hiểu khi nào bạn có niềm tin.”Có nhiều lúc câu trả lời như thế dường như đối với tôi là một sự từ chối, vì vậy tôi quyết định chôn sâu trong lòng những thắc mắc đó. Nhưng mặc dù tôi không biết gì hết về đạo Công Giáo, những người tôi quen vẫn mời tôi đến dự các thánh lễ. Bây giờ khi tôi nghĩ lại, tôi thấy mình đã nhận được rất nhiều từ các buổi thánh lễ đó.
Có một lần, một thày dòng Bênêdictô đến nói chuyện trong một buổi tĩnh tâm, tôi hỏi thày là tôi phải làm gì để trở thành một tu sĩ. Thày dòng trả lời, “Trước hết, bạn phải rửa tội đã.” Tôi bị lôi cuốn bởi lối sống của những vị tu sĩ đạo Phật cũng như đạo Công Giáo. Tôi nghĩ rằng những yếu tố chính là vì tôi đã được dưỡng dục trong một gia đình Phật Giáo và nhờ tôi đã đọc sách rất nhiều.
Ở trường đại học, tôi chọn môn triết học. Thời đó, chủ nghĩa hiện sinh đang rất thịnh hành. Tôi nghiên cứu về Thánh Augustine. Những tiếp xúc của tôi với những bài tự thuật của Ngài viết trong Confessions (Lời thú tội) đã làm tôi xúc động vô cùng. Lý do là vì những cách thức đơn giản mà thánh nhân đã dùng để trình bày sự tìm kiếm của Ngài về chính mình và về sự hòa hợp cũng như những cố gắng của Ngài về việc đi tìm những vết tích của sự gặp gỡ giữa con người và đấng tối cao. Qua triết học phương Tây, tôi suy tư theo cách riêng của mình sự khác biêt giữa Kitô giáo và Phật Giáo. Người Kitô giáo nhận biết mọi sự trong tương quan với Thượng Đế, trong khi người Phật Tử giải thích mọi chuyện mà không đề cập gì đến một đấng tối cao, một Thượng Đế, nào cả. Người Kitô giáo đặt ưu tiên những quan hệ giữa con người với nhau trên những kinh nghiệm cá nhân trong khi người Phật Tử lại chỉ nhấn mạnh đến kinh nghiệm cá nhân. Kitô giáo coi những kinh nghiệm quan trọng nhất của cá nhân là một cuộc sống đặt trên nền tảng mọi người là anh em chị em với nhau. Dựa vào đó “tha thứ” là nền tảng cho sự phát triển mọi quan hệ giữa con người với nhau. Tôi cho rằng điều này vô cùng quan trọng sau khi suy nghĩ rất kỹ về câu trả lời của Giêsu được ghi chép lại trong Gioan 8 về người đàn bà bị bắt gặp ngoại tình. Những Kinh Sư và những người Pha-ri-siêu đã thử Chúa Giêsu bằng cách hỏi rằng, “Luật Mai-sen dạy chúng tôi phải ném đá người này. Còn Ngài, Ngài dạy phải làm sao?” Họ tìm một lời giải thích nào đó để bắt tội Người. Nhưng Chúa Giêsu cúi xuống và viết một cái gì đó trên mặt đất. Họ kiên nhẫn chờ đợi. Cuối cùng Chúa Giêsu đứng dậy và nói, “Trong các vị, ai là người sạch tội thì hãy cầm hòn đá mà ném người này trước đi.” Sau đó Người lại cúi xuống và viết những gì đó trên mặt đất. Lần lượt từng người một trong đám người đó bỏ đi cho đến khi chỉ còn lại mình Người và người đàn bà bị bắt tội. Người đứng lên và hỏi, “Họ đi đâu cả rồi? Không có ai lên án chị hay sao?” Người đàn bà trả lời, “Thưa Ngài, không có ai cả.” Và Chúa nói với người phụ nữ, “Tôi cũng vậy, tôi chẳng lên án chị. Hãy đi và đừng phạm tội nữa.” (Ga 7, 53; 8,11). Đây là một minh chứng của một tình yêu tuyệt vời. Tôi tự hỏi chính mình, trong xã hội loài người, ai là người định đoạt tội lỗi của một con người. Có phải là những kẻ có quyền thế và những kẻ có địa vị? Trong sách Xuất Hành, Sách Nhị Luật và Thánh Vịnh 139, Thiên Chúa không phải chỉ có mặt ở những nơi tôn vinh Người, nhưng Người xuống ở bên cạnh chúng ta. Giêsu cúi xuống với chúng ta và đứng lên cùng chúng ta. Người viết cái gì đó trong yên lặng trên mặt đất. Chung quanh Thập Tự của Giêsu cũng có một “sự yên lặng” nào đó. Tôi tự cho rằng đó chính là một “nền văn hóa của sự yên lặng” được nuôi dưỡng trong con người
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.