admin
09-10-2006, 04:59 PM
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI với Hội Nghị của Giáo Hoàng Học Viện Về Sự Sống ngày 16/9/2006 về Chủ Đề “Các Thứ Thân Bào: Tương Lai Ra Sao Đối Với Việc Trị Liệu?”
Quí Huynh khả kính trong hàng Giáo Phẩm và Linh Mục,
Quí Tôn Bà Tôn Ông,
Tôi xin gửi lời chào thân ái đến cùng tất cả quí vị. Cuộc gặp gỡ với quí vị, thành phần khoa học gia và học giả dấn thân cho việc nghiên cứu về vấn đề trị liệu những chứng bệnh đang trầm trọng cho phối nhân loại, là một điều làm tôi cảm thấy đặc biệt an ủi.
Tôi xin cám ơn những vị tổ chức đã phát động Hội Nghị này về một đề tài càng ngày càng trở nên hệ trọng trong những năm gần đây. Đề tài đặc biệt của cuộc Hội Luận được cấu trúc một cách thích hợp bằng một vấn nạn hướng về tương lai, đó là: “Các thứ thân bào: tương lai của việc trị liệu ra sao?”
Tôi xin cám ơn Đức Giám Mục Elio Sgreccia, Chủ Tịch của Giáo Hoàng Học Viện Về Sự Sống, về những lời lẽ tốt đẹp của ngài, cũng thay mặt cho cả Liên Hiệp Thế Giới Chư Hiệp Hội Y Khoa Công Giáo (FIAMC: International Federation of Catholic Medical Associations), một hiệp hội đã cộng tác vào việc tổ chức Hội Nghị này và có vị đại diện ở đây là Giáo Sư Gianluigi Gigli, Vị Chủ Tịch sắp mãn nhiệm, và Giáo Sư Simon de Castellvi, Vị Chủ Tịch vừa được tuyển bầu.
Khi khoa học được áp dụng cho việc làm giảm bớt sự đớn đau và khi nó khám phá rằng theo cách thức riêng của nó những phương phát mới, thì nó tỏ ra hai bộ mặt phong phú về nhân loại: ở tính cách khéo léo khả thủ được đầu tư vào việc nghiên cứu, và ở cái lợi ích được loan báo đến cho tất cả những ai bị bệnh nạn hành hạ.
Những ai cung cấp phương tiện tài chính và khuyến khích những cơ cấu cần thiết cho việc nghiên cứu học hỏi là thành phần cũng có công trong việc tiến bộ trên con đường văn minh ấy.
Nhân dịp này, tôi muốn lập lại những gì tôi đã nói ở Buổi Triều Kiến Chung gần đây: “Việc tiến bộ trở thành tiến bộ thực sự chỉ khi nào nó phục vụ con người, và chỉ khi nào con người phát triển, chẳng những về quyền lực kỹ thuật của họ, mà còn về ý thức luân lý của họ nữa” (16/8/2006).
Theo chiều hướng ấy thì việc nghiên cứu thân bào cũng đáng được chấp nhận và khuyến khích khi nó khéo léo hòa hợp lại với nhau kiến thức khoa học, kỹ thuật tân tiến nhất nơi ngành sinh học và lãnh vực đạo lý liên quan tới việc tôn trọng con người ở mọi giai đoạn cuộc đời họ sống.
Những viễn tượng được mở ra bởi khúc quanh mới này là những gì tự chúng lđang lôi cuốn, vì chúng cống hiến một thoáng nhìn thấy việc khả trị những chứng bệnh mô sợi bị suy thoái đi đến chỗ gây nguy hiểm tật nguyền và chết chóc cho những ai bị nhiễm mắc.
Làm sao lại không cảm thấy có nhiệm vụ trong việc ca ngợi tất cả những ai dấn thân cho việc nghiên cứu này cũng như tất cả những ai nâng đỡ tổ chức ấy cùng gánh chịu các thứ tốn kém của nó?
Tôi đặc biệt thiết tha xin các cơ cấu khoa học đã lôi kéo hứng khởi của họ cũng như tổ chức của Giáo Hội Công Giáo hãy gia tăng thứ nghiên cứu này, và hãy thiết lập việc liên hệ chặt chẽ khả dĩ nhất với nhau cũng như với những ai tìm cách làm giảm bớt đi sự đớn đau của con người bằng những đường lối thích đáng.
Trước những cáo buộc phi cảm ứng thường xuyên xẩy ra một cách bất công nhắm đến Giáo Hội, xin cho tôi cũng được nói lên ở đây việc Giáo Hội liên lỉ ủng hộ việc nghiên cứu nhắm đến chỗ chữa lành các thứ bệnh tật để đem lại thiệc ích cho nhân loại qua 2000 năm lịch sử của Giáo Hội.
Nếu đã từng xẩy ra việc chống cự nào – và nếu vẫn đang còn xẩy ra việc chống cự ấy – thì đó đã là và đang là những thứ chống đối những hình thức nghiên cứu nhắm đến việc cố tình làm triệt tiêu con người đang hiện hữu, cho dù họ chưa được sinh ra. Trong các trường hợp như thế thì việc nghiên cứu, bất kể có những thành quả trị liệu hiệu năng, thực sự không phải là những gì phục vụ nhân loại.
Thật thế, việc nghiên cứu này đạt được tiến bộ bằng việc triệt tiêu sự sống con người, một sự sống có giá trị tương đương với các sự sống của những cá nhân khác cũng như sự sống của chính thành phần nghiên cứu.
Chính lịch sử đã lên án một thứ khoa học như thế trong quá khứ và sẽ lean án nó trong tương lai, chẳng những vì nó thiếu ánh sáng của Thiên Chúa mà còn vì nó thiếu cả nhân tính nữa.
Tôi xin lập lại ở đây những gì tôi đã viết cách đây ít lâu: Vấn đề ở đây là chúng ta không thể nào cứ chạy loanh quanh; không ai được quyền triệt hạ sự sống con người. Cần phải thiết lập một giới hạn bất khả vượt qua đối với khả năng thực hiện và thí nghiệm của chúng ta. Nhân loại không phải là một đối tượng khả triệt, trái lại, hết mọi cá thể đều cho thấy sự hiện diện của Thiên Chúa trên thế giới này (cf. J. Ratzinger, God and the World, Ignatius Press, 2002).
Không thể nào có vấn đề dung hòa hay lảng tránh trước việc thực sự triệt hạ con người. Người ta không thể nghĩ rằng một xã hội có thể chiến đấu với tội ác một cách hiệu nghiệm khi chính xã hội lại hợp pháp hóa tội ác trong lãnh vực của sự sống được thụ thai.
Vào dịp của các Cuộc Hội Nghị gần đây của Giáo Hoàng Học Viện Về Sự Sống, tôi đã có cơ hội để tái thẩm định giáo huấn của Giáo Hội, một giáo huấn được ngỏ cùng tất cả mọi con người thành tâm thiện chí, về giá trị nhân bản của một con trẻ vừa mới được thụ thai, cũng như vào thời điểm được coi là tiền cấy vào tử cung.
Sự kiện quí vị ở Hội Nghị này đã bày tỏ việc quí vị quyết tâm và hy vọng chiếm đạt được những thánh quả trị liệu mới từ việc sử dụng các thứ tế bào nơi thân thể người lớn mà không cần đến đường lối triệt tiêu những con người mới được thụ thai, và sự kiện hoạt động của quí vị đang được tưởng thưởng bằng những thành quả, là những gì khẳng định tính cách hiệu năng của lời Giáo Hội liên lỉ mời gọi hết sức tôn trọng con người từ khi được thụ thai. Thiện ích của con người chẳng những cần phải tìm kiếm theo những mục đích hiệu năng phổ quát mà còn bằng những phương pháp được sử dụng để đạt tới những mục đích ấy nữa.
Một thành quả tốt đẹp không bao giờ có thể biện minh cho những phương tiện tự bản chất bất hợp pháp. Vấn đề không phải chỉ là vấn đề của một thứ qui chuẩn về sức khỏe liên quan tới việc sử dụng những nguồn tài chính giới hạn, mà còn, trên hết, là vấn đề tôn trọng các thứ nhân quyền căn bản của con người nơi chính việc nghiên cứu khoa học nữa.
Tôi hy vọng rằng Thiên Chúa sẽ làm cho các nỗ lực của quí vị – những nỗ lực chắc chắn được nâng đỡ bởi Thiên Chúa là Đấng tác hành nơi hết mọi con người thành tâm thiện chí và cho thiện ích của tất cả mọi người – niềm vui trong việc khám phá chân lý, khôn ngoan trong việc quan tâm và tôn trọng hết mọi con người, và thành đạt trong việc nghiên cứu những phương dược hiệu nghiệm cho nỗi đớn đau của con người.
Để niêm ấn niềm hy vọng này, cùng với lời hứa nguyện cầu của mình, tôi thân ái ban Phép Lành cảm mến cho tất cả quí vị, cho những người hợp tác với quí vị và cho thân quyến của quí vị, cũng như cho các bệnh nhân là thành phần sẽ được lợi ích bởi sự khéo léo và tài xoay sở của quí vị cùng với các thành quả nơi hoạt động của quí vị.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo - Thoidiemmaria.net
Quí Huynh khả kính trong hàng Giáo Phẩm và Linh Mục,
Quí Tôn Bà Tôn Ông,
Tôi xin gửi lời chào thân ái đến cùng tất cả quí vị. Cuộc gặp gỡ với quí vị, thành phần khoa học gia và học giả dấn thân cho việc nghiên cứu về vấn đề trị liệu những chứng bệnh đang trầm trọng cho phối nhân loại, là một điều làm tôi cảm thấy đặc biệt an ủi.
Tôi xin cám ơn những vị tổ chức đã phát động Hội Nghị này về một đề tài càng ngày càng trở nên hệ trọng trong những năm gần đây. Đề tài đặc biệt của cuộc Hội Luận được cấu trúc một cách thích hợp bằng một vấn nạn hướng về tương lai, đó là: “Các thứ thân bào: tương lai của việc trị liệu ra sao?”
Tôi xin cám ơn Đức Giám Mục Elio Sgreccia, Chủ Tịch của Giáo Hoàng Học Viện Về Sự Sống, về những lời lẽ tốt đẹp của ngài, cũng thay mặt cho cả Liên Hiệp Thế Giới Chư Hiệp Hội Y Khoa Công Giáo (FIAMC: International Federation of Catholic Medical Associations), một hiệp hội đã cộng tác vào việc tổ chức Hội Nghị này và có vị đại diện ở đây là Giáo Sư Gianluigi Gigli, Vị Chủ Tịch sắp mãn nhiệm, và Giáo Sư Simon de Castellvi, Vị Chủ Tịch vừa được tuyển bầu.
Khi khoa học được áp dụng cho việc làm giảm bớt sự đớn đau và khi nó khám phá rằng theo cách thức riêng của nó những phương phát mới, thì nó tỏ ra hai bộ mặt phong phú về nhân loại: ở tính cách khéo léo khả thủ được đầu tư vào việc nghiên cứu, và ở cái lợi ích được loan báo đến cho tất cả những ai bị bệnh nạn hành hạ.
Những ai cung cấp phương tiện tài chính và khuyến khích những cơ cấu cần thiết cho việc nghiên cứu học hỏi là thành phần cũng có công trong việc tiến bộ trên con đường văn minh ấy.
Nhân dịp này, tôi muốn lập lại những gì tôi đã nói ở Buổi Triều Kiến Chung gần đây: “Việc tiến bộ trở thành tiến bộ thực sự chỉ khi nào nó phục vụ con người, và chỉ khi nào con người phát triển, chẳng những về quyền lực kỹ thuật của họ, mà còn về ý thức luân lý của họ nữa” (16/8/2006).
Theo chiều hướng ấy thì việc nghiên cứu thân bào cũng đáng được chấp nhận và khuyến khích khi nó khéo léo hòa hợp lại với nhau kiến thức khoa học, kỹ thuật tân tiến nhất nơi ngành sinh học và lãnh vực đạo lý liên quan tới việc tôn trọng con người ở mọi giai đoạn cuộc đời họ sống.
Những viễn tượng được mở ra bởi khúc quanh mới này là những gì tự chúng lđang lôi cuốn, vì chúng cống hiến một thoáng nhìn thấy việc khả trị những chứng bệnh mô sợi bị suy thoái đi đến chỗ gây nguy hiểm tật nguyền và chết chóc cho những ai bị nhiễm mắc.
Làm sao lại không cảm thấy có nhiệm vụ trong việc ca ngợi tất cả những ai dấn thân cho việc nghiên cứu này cũng như tất cả những ai nâng đỡ tổ chức ấy cùng gánh chịu các thứ tốn kém của nó?
Tôi đặc biệt thiết tha xin các cơ cấu khoa học đã lôi kéo hứng khởi của họ cũng như tổ chức của Giáo Hội Công Giáo hãy gia tăng thứ nghiên cứu này, và hãy thiết lập việc liên hệ chặt chẽ khả dĩ nhất với nhau cũng như với những ai tìm cách làm giảm bớt đi sự đớn đau của con người bằng những đường lối thích đáng.
Trước những cáo buộc phi cảm ứng thường xuyên xẩy ra một cách bất công nhắm đến Giáo Hội, xin cho tôi cũng được nói lên ở đây việc Giáo Hội liên lỉ ủng hộ việc nghiên cứu nhắm đến chỗ chữa lành các thứ bệnh tật để đem lại thiệc ích cho nhân loại qua 2000 năm lịch sử của Giáo Hội.
Nếu đã từng xẩy ra việc chống cự nào – và nếu vẫn đang còn xẩy ra việc chống cự ấy – thì đó đã là và đang là những thứ chống đối những hình thức nghiên cứu nhắm đến việc cố tình làm triệt tiêu con người đang hiện hữu, cho dù họ chưa được sinh ra. Trong các trường hợp như thế thì việc nghiên cứu, bất kể có những thành quả trị liệu hiệu năng, thực sự không phải là những gì phục vụ nhân loại.
Thật thế, việc nghiên cứu này đạt được tiến bộ bằng việc triệt tiêu sự sống con người, một sự sống có giá trị tương đương với các sự sống của những cá nhân khác cũng như sự sống của chính thành phần nghiên cứu.
Chính lịch sử đã lên án một thứ khoa học như thế trong quá khứ và sẽ lean án nó trong tương lai, chẳng những vì nó thiếu ánh sáng của Thiên Chúa mà còn vì nó thiếu cả nhân tính nữa.
Tôi xin lập lại ở đây những gì tôi đã viết cách đây ít lâu: Vấn đề ở đây là chúng ta không thể nào cứ chạy loanh quanh; không ai được quyền triệt hạ sự sống con người. Cần phải thiết lập một giới hạn bất khả vượt qua đối với khả năng thực hiện và thí nghiệm của chúng ta. Nhân loại không phải là một đối tượng khả triệt, trái lại, hết mọi cá thể đều cho thấy sự hiện diện của Thiên Chúa trên thế giới này (cf. J. Ratzinger, God and the World, Ignatius Press, 2002).
Không thể nào có vấn đề dung hòa hay lảng tránh trước việc thực sự triệt hạ con người. Người ta không thể nghĩ rằng một xã hội có thể chiến đấu với tội ác một cách hiệu nghiệm khi chính xã hội lại hợp pháp hóa tội ác trong lãnh vực của sự sống được thụ thai.
Vào dịp của các Cuộc Hội Nghị gần đây của Giáo Hoàng Học Viện Về Sự Sống, tôi đã có cơ hội để tái thẩm định giáo huấn của Giáo Hội, một giáo huấn được ngỏ cùng tất cả mọi con người thành tâm thiện chí, về giá trị nhân bản của một con trẻ vừa mới được thụ thai, cũng như vào thời điểm được coi là tiền cấy vào tử cung.
Sự kiện quí vị ở Hội Nghị này đã bày tỏ việc quí vị quyết tâm và hy vọng chiếm đạt được những thánh quả trị liệu mới từ việc sử dụng các thứ tế bào nơi thân thể người lớn mà không cần đến đường lối triệt tiêu những con người mới được thụ thai, và sự kiện hoạt động của quí vị đang được tưởng thưởng bằng những thành quả, là những gì khẳng định tính cách hiệu năng của lời Giáo Hội liên lỉ mời gọi hết sức tôn trọng con người từ khi được thụ thai. Thiện ích của con người chẳng những cần phải tìm kiếm theo những mục đích hiệu năng phổ quát mà còn bằng những phương pháp được sử dụng để đạt tới những mục đích ấy nữa.
Một thành quả tốt đẹp không bao giờ có thể biện minh cho những phương tiện tự bản chất bất hợp pháp. Vấn đề không phải chỉ là vấn đề của một thứ qui chuẩn về sức khỏe liên quan tới việc sử dụng những nguồn tài chính giới hạn, mà còn, trên hết, là vấn đề tôn trọng các thứ nhân quyền căn bản của con người nơi chính việc nghiên cứu khoa học nữa.
Tôi hy vọng rằng Thiên Chúa sẽ làm cho các nỗ lực của quí vị – những nỗ lực chắc chắn được nâng đỡ bởi Thiên Chúa là Đấng tác hành nơi hết mọi con người thành tâm thiện chí và cho thiện ích của tất cả mọi người – niềm vui trong việc khám phá chân lý, khôn ngoan trong việc quan tâm và tôn trọng hết mọi con người, và thành đạt trong việc nghiên cứu những phương dược hiệu nghiệm cho nỗi đớn đau của con người.
Để niêm ấn niềm hy vọng này, cùng với lời hứa nguyện cầu của mình, tôi thân ái ban Phép Lành cảm mến cho tất cả quí vị, cho những người hợp tác với quí vị và cho thân quyến của quí vị, cũng như cho các bệnh nhân là thành phần sẽ được lợi ích bởi sự khéo léo và tài xoay sở của quí vị cùng với các thành quả nơi hoạt động của quí vị.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo - Thoidiemmaria.net