PDA

View Full Version : Thử giải mã các “Ngữ cố định” tiếng Việt trong các bản kinh Công Giáo


admin
03-04-2010, 12:10 PM
Thử giải mã các “Ngữ cố định” tiếng Việt trong các bản kinh Công Giáo.

1. Khái niệm

Ngữ cố định trong tiếng Việt có thể được hiểu là một nhóm từ ngữ (các đơn vị “tiếng”) đi liền kề nhau được cố định hóa, mang tính chất chặt chẽ, sẵn có, bắt buộc …
VD: “Chờ hết nước hết cái” (theo Giáo sư Đỗ Hữu Châu) là một ngữ cố định. Nghĩa của nó không phải nghĩa từng đơn vị “tiếng” cộng lại như thường thấy trong tiếng Việt. Hơn nữa, chẳng ai có thể giải thích rõ từng tiếng “hết nước, hết cái” là gì , song chúng ta vẫn hiểu được nhóm từ này nói lên sự dai dẳng, kéo dài khá lâu vượt mức nhẫn nại, vượt mức nhẫn nại của người chờ, khiến người đó phải sốt ruột, bực dọc nhờ một vị từ (động từ, vị từ) đi trước nó.
Nói cách khác, chúng ta lĩnh hội nghĩa của các “ngữ” như thế theo cách chúng ta lĩnh hội nghĩa của một nhóm từ ngữ có quan hệ chính- phụ thông thường: Lĩnh hội nghĩa của từ trung tâm và lĩnh hội nghĩa bổ sung của các từ phụ (thường làm định ngữ) đi sau nó.
Do tính cố định hóa, do tính chặt chẽ mà các “ngữ cố định” ít hay nhiều đều có tính thành ngữ (idiom).
Ngữ cố định là một lọai phương tiện, một biện pháp mà bất cứ ngôn ngữ nào cũng có nhằm khác phục một phần nào tính hữu hạn của từ (hay” tiếng” trong tiếng Việt), tính không hàm súc, không cô đọng trong lời nói. Vì thế, để xác định được nghĩa các “ngữ cố định”, ta cần đối chiếm nó với các nhóm từ, các từ tự do khác về phương diện ngữ nghĩa. Có đối chiếu như thế, ta thấy hầu như tất cả các ngữ cố định đều có cấu trúc ngữ nghĩa của một nhóm từ tự do. Đây chính là đặc trưng cơ bản của ‘ngữ cố định”.

2. Thử giải thích các “ngữ cố định” trong văn bản kinh Công Giáo.

Chẳng hạn
2.1 “ngã lòng rủn chí”: bỏ cuộc, chán nản, nhụt ý chí.
VD: “Trong phô kẻ ấy chẳng hề có ai ngã lòng rủn chí bao giờ;”(sách kinh Quy Nhơn, tr. 438)
Ngữ cố định “ngã lòng rủn chí” có thể diễn đạt bằng một nhóm từ tự do: “không giữ vững được tinh thần, ý chí do không chịu nổi tác động từ bên ngoài, trở nên rã rời, không tự điều khiển được”. Nhờ thành phần trung tâm là “không giữ vững, không đứng vững” và phần còn lại là phần phụ. Nhờ thành phần trung tâm này mà ta có thể nắm được nội dung ngữ nghĩa của của ngữ cố định này.

2.2. Nền nhân cây đức: việc lành, việc phúc đức, việc nghĩa
VD: “Xưa khao khát việc lành, vun vén nền nhân cây đức” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 459)

2.3. Trăng cùm lòi tói: điều bó buộc , những sự ràng buộc, sự ngăn trở
VD: “Con sẽ nhìn lấy mình như một đứa rốt hèn, đầy dẫy những tội lỗi, đã thóat khỏi trăng cùm lòi tói cùng được thong dong” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 417)
Trong một ngữ cố định, thành phần trung tâm không còn trực tiếp có sẵn trong nữa. Vì thế, nghĩa của nó phải được suy ra từ một số từ trong ngữ với ý nghĩa biểu trưng thông qua các hình thức: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ…

2.4. Dạ tuyết lòng sương: gan lì, cứng lòng, nguội lạnh
VD: “Xin Chúa dạy bình an lành đã, Chưng ấm người dạ tuyết lòng sương”(sách kinh Quy Nhơn, tr. 302)

2.5. Gan chì phổi đá: cứng lòng, không tin
VD: Uốn mềm kẻ gan chì phổi đá” (sách kinh Quy Nhơn, tr.302)
Ta cũng có thể bắt gặp những ngữ cố định Hán Việt như sau:

2.6 Vô nhĩ khả thính: không có tai để nghe được, như người điếc

2.7 Vô ngôn khả đáp: chẳng còn lời gì để thưa, như người câm
VD: “Đã nên ng ười vô nhĩ khả thính, vô ngôn khả đáp” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 497)

2.8. Bì tiên thị nhục: đánh tội bằng roi v ào da thịt mình
VD: Con đã đáng bì tiên thị nhục đau đớn chẳng đừng. (sách kinh Quy Nhơn, tr. 497)

2.9. Vô tâm vô trí: lạt lẽo, không để ý, không giữ gìn
VD: “Ớ người, chớ ở như con ngựa, con lừa vô tâm vô trí” (sách kinh Quy Nhơn, tr.494)

2.10. Hãm khớp gò cương: giữ gìn, kìm hãm lại nh ững gì quá đáng, quá mức
VD: “Xin Chúa hãy hãm khớp gò cương những kẻ lánh xa Chúa” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 494)

Nguyễn Kim Binh

admin
12-04-2010, 05:56 AM
Thử giải mã các “Ngữ cố định” tiếng Việt trong các bản kinh Công Giáo. (tt)

Phân lọai các “ngữ cố định” tiếng Việt là điều hết sức khó khăn vì không có một tiêu chí ngôn ngữ nào : ngữ âm, ngữ nghĩa… có thể minh định rõ ràng ranh giới tuyệt đối giữa các lọai với nhau.

Theo Cơ sở ngôn ngữ học và Tiếng Việt, Nxb GD, 1997, ngữ cố định được chia ra thành: thành ngữ, quán ngữ và ngữ cố định định danh.

_Thành ngữ là cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa. Nghĩa của chúng có tính hình tượng hay gợi cảm.

- quán ngữ là những cụm từ dược dùng lặp đi lặp lại trong các diễn từ (discourse) thuộc các phong cách khác nhau. Chúng được dùng trong phong cách khẩu ngữ, hội thọai.

Vd: “của đáng tội”, “từ đó suy ra”, “có thể nói rằng”...

_ Ngữ cố định định danh: là những đơn vị vốn ổn định về cấu trúc và ý nghĩa cao hơn “quán ngữ”, nhưng chưa có được ý nghĩa mang tính hình tượng.

Xét trong lãnh địa quán ngữ hay ngữ cố định định danh, ta cũng dễ dàng nhìn thấy ở một số đơn vị nơi chúng , tính thành ngữ vẫn thể hiện rất cao nhưng tính bền chắc, tính chỉnh thể về cấu trúc lại kém ổn định.

Vd: “đắt như vàng”, “quân sư quạt mo”, “buồn như cha chết”…

Ngược lại, có những đơn vị khác, tính ổn định về cấu trúc khá đảm bảo; tức là không thể thêm bớt các thành tố cấu tạo tùy nghi nhưng tính thàng ngữ, tính nhất thể về nghĩa vẫnh chưa cao. Nghĩa là: nghĩa của “ngữ cố định” này vẫn là nghĩa được hiểu nhờ từng thành tố cộng lại.

Vd: “Suy đi tính lại”, “trăng tủi hoa sầu”, “gìn vàng giữ ngọc”, “tính tới tính lui”, “than thân trách phận”…Những “ngữ cố định” như thế lại xuất hiện khá nhiều trong mạch văn của các bản kinh Công Giáo mà chúng tôi khảo sát.

Vd: “chuộc tội cứu thế”, “hằng sống hằng trị”, “cực cao cực trọng”, “chịu khốn chịu khó”…

Dù rằng, chúng ta có thể coi “thành ngữ” là tâm biên của ngữ cố định nhưng những đơn vị mà chúng tôi vừa kể trên đã được tạo lập rất nhiều trong đời sống ngôn ngữ và trong từ ngữ kinh sách.

* Giải mã một số “ngữ cố định”

1. Trừ căn tiễn thảo

_ nghĩa đen: nhổ cỏ phải nhổ cả gốc
- nghĩa bóng: diệt trừ cái ác, điều xấu phải diệt ngay từ cội rễ, căn nguyên

Vd: “Con đã phải trừ căn tiễn thảo, lòng con khô héo chẳng còn nhớ tới bữa ăn” (Sách kinh QN, tr.501).

2.Miêu duệ hậu lai:

_ Con cháu đời sau, ý nói ân phúc kéo dài mãi về sau này

Vd: “Con cháu tôi tá Chúa, sẽ được nhờ phép trọng ấy, và miêu duệ hậu lai sẽ được hưởng chẳng cùng”(sách kinh QN, tr. 503)

3. Vô thủy vô chung: không có chỗ bắt đầu và không có chỗ cuối cùng, vô cùng vô tận.

Vd: “Mà Chúa là vô thủy vô chung, và danh Chúa đỗ bền muôn đời hằng có” (sách kinh QN, tr.502)

4.Thạch bích thố tường:

- nghĩa đen: tường rào vách đá
- nghĩa bóng : chỗ dựa vững chắc, nơi trú ẩn an tòan

Vd: “Vì kẻ có lòng thờ phượng Chúa còn thương nhớ nơi thạch bích thố tường”

5. Phi nhân bất nghĩa : sai trái, thất đức, lỗi đạo nghĩa.

Vd: “ …, thì Chúa liền tha tội lỗi con đã phi nhân bất nghĩa” (sách kinh QN, tr. 494)

* “ngữ cố định” thuần Việt.

6. Gầy guộc da bén cốt:

- Trạng thái ốm yếu gầy gò, xanh xao chỉ còn da với xương.

Vd: “Con hằng sợ hãi, than van, cho nên gầy guộc da bén cốt” (Sách kinh QN, tr. 501)

Lưu ý:- “cốt” (từ Hán Việt): xương

_ Trong tiếng Việt có cách nói khác “ốm da bọc xương”, “ốm giơ xương”

7. Tan bay dường khói: mong manh dễ mất, trạng thái biến mất dần đi, không còn hiện trạng, tản dần ra và mất đi trong không khí.

Vd: “Vì sự sống con đã tan bay dường khói” (sách kinh QN, tr. 501)

8. Tiêu hóa như tro mạt: mất đi, tan biến đi

Vd: “Hài cốt con đã tiêu hóa như tro mạt” (sách kinh QN, tr. 501)

Lưu ý: “tiêu hóa” trong văn bản có nghĩa như “tiêu hao, tiêu tán” không có nghĩa như “tiêu hóa” (là quá trình biến thức ăn thành chất dinh dưỡng) như hiện nay.

9. Trăng trái xuê xoang:

_ Nghĩa đen : hoa quả tốt tươi
_ nghĩa bóng: việc lành, việc phước đức

Vd: “Mẹ là cội thánh gốc thường sinh….Hằng trổ sinh hoa trái xuê xoang” (sách kinh QN, tr. 407)

Lưu ý: “Trăng trái”: hoa trái, cây trái; “Xuê xoang”: tốt tươi (là những từ Việt cổ)

10. Nong nã bức tức : cố gắng, nỗ lực hết sức mình

Vd: “Xin Chúa hãy chịu lấy linh hồn con, như dấu lòng con nong nã bức tức mà đến cùng Chúa” (sách kinh Quy Nhơn, tr.490)

Nguyễn Kim Binh

admin
22-04-2010, 05:03 PM
Thử giải mã các “Ngữ cố định” tiếng Việt trong các bản kinh Công Giáo. (tt)

1. Đầu cội rễ mọi sự: căn nguyên, căn bản, nơi xuất phát, nguồn gốc của mọi sự.
Lưu ý: “cội” có thể đọc “cỗi”.
Vd: “Con hết lòng thờ lạy và nhận thật Chúa là đầu cội rễ mọi sự cùng là sau hết mọi loài” (sách kinh QN, tr.9).

2. Chia trí chia lòng: không tập trung, lí trí phân tán, không chú ý, không để tâm vào việc đang làm.
Vd: “…lại trong Giờ Thánh này cũng lo ra chia trí chia lòng” (sách kinh Quy Nhơn tr.364).
Ghi chú: ngữ cố định tương ứng “lo ra chia trí”.

3. Cao rao danh Chúa: truyền rao danh Chúa, nói lớn cho mọi ng ười đ ược biết về Thiên Chúa, kêu tên Chúa.
Vd: “ai có lòng mến Chúa Cứu Thế, hãy cao rao danh Chúa” (sách kinh QN, tr.507).
Vd: “…cho cao rao danh Chúa trên núi thánh Sion” (sách kinh QN, tr.503).

4.Suy đi gẫm lại: cân nhắc, suy nghĩ kĩ càng, cẩn thận trong lòng.
Vd: “Con tưởng nhớ suy đi gẫm lại những ơn Chúa đã làm cho con mọi ngày thuở trước” (sách kinh QN, tr. 505).
_ Các ngữ cố định tương ứng khác: “suy đi nghĩ lại”, “nghĩ đi nghĩ lại”…
Vd: “Nghĩ đi nghĩ lại quanh co, Phật tiền sẵn có mọi đồ kim. ngân” (Nguyễn Du, Truyện Kiều).

5.Cải dữ về lành: bỏ điểu ác, việc xấu, làm việc thiện, trở về điều tốt, sự lành.
Vd: “Con xin cầu cùng Chúa cho con thần lực cải dữ về lành, giữ cầm đến chết chớ hề sai..” (sách kinh QN, tr.519).
- các ngữ cố định tương ứng: “Cải ác vi thiện”, “cải tà quy chính”, “cải ác hồi lương”…

6. Phù vân thế tục: đám mây trôi nổi dễ tan biến nơi trần gian.
Nghĩa bóng: ý nói mọi sự trên đời, sự sống con người, của cải trên đời đều chóng qua, chóng tàn như đám mây đang trôi nổi kia.
Vd: “Khi con chẳng còn được dùng ngũ quan, và hết hưởng phù vân thế tục, khi linh hồn dọn ra khỏi xác, sự khốn sau hết rất nên cực là thể nào.” (sách kinh QN, tr.490).

7. Thân bằng quyến thuộc: Người thân thích và những người có quan hệ huyết thống, huyết tộc.
Vd: “Và khi đã được hưởng thọ an nhàn, được cùng với thân bằng quyến thuộc về sum họp một nhà trên thiên quốc” (sách kinh QN, tr. 483).

8. Bình an vô sự: yên ổn, an toàn, không gặp trở ngại khó khăn.
Vd: “Con liền được bình an vô sự, Đổi thay tên Tổ Mẫu dịu dàng.” (sách kinh QN, tr.391).
Lưu ý: “bình” cũng có cách đọc “bằng”.

9.Vũ trụ càn khôn: trời đất vạn, mọi thứ trên trời dưới đất.
Lưu ý:
- Vũ: bốn phương và trên dưới.
- Trụ: không gian và thời gian, thế giới.
- Càn khôn ( Kiền): Quẻ càn và quẻ Khôn theo Kinh Dịch Đông phương để chỉ (trời, đất), âm dương, Cha mẹ, con trai và con gái, vua và tôi, chồng và vợ.
Vd: “Lạy Cha chí thánh Đấng tạo thành vũ trụ càn khôn,…” (sách kinh QN, tr. 482).

10. Vô hồi vô số: quá nhiều, không kể hết, không đếm nổi.
Vd: “Con đã chịu ơn Chúa xuống cho con vô hồi vô số” (sách kinh Quy Nhơn, tr.363).

Kim Binh

admin
30-04-2010, 06:03 AM
Thử giải mã các “Ngữ cố định” tiếng Việt trong các bản kinh Công Giáo. (4)

1. Yên lòng yên trí: an tâm, tin tưởng, không lo lắng điều gì.
VD: “Xin ông Thánh Giuse cầu bầu cho chúng con khỏi mọi sự lo sợ bối rối, được yên lòng yên trí giữ đạo thánh…”(sách kinh Địa phận Hải Phòng- Bùi Chu- Thái Bình, tr. 120)

2. Nhắc trí nhắc lòng: đưa tâm hồn thoát khỏi sự ràng buộc nào đó, hướng cảm xúc tập trung vào một điều gì.
VD: “Chúng tôi hãy nhắc lòng nhắc trí chúng tôi cho khỏi những sự hèn hạ thế gian mà theo chân Đức Chúa Giêsu lên Thiên đàng là chốn vui vẻ…” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 93)

3. Sanh thuận tử an: mọi sự đều được bình an, suôn sẻ khi còn sống cũng như lúc qua đời.
VD: “…cùng cậy nhờ công ơn Người giúp đỡ sanh thuận tử an, hầu được phước trên nước Thiên đàng đời chẳng cùng.” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 113)

4. Đứt ruột đòi cơn: đau đớn trong lòng, tình trạng đau đớn tột độ, cùng cực như xé thịt, đứt ruột.
VD: “thật khi ấy, Đức Mẹ khốn cực như đứt ruột đòi cơn vậy” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 137)

5. Vô cùng vô tận: không có cuối cùng, không thể hết được, không bị giới hạn.
VD: “Và Người sẽ lại đến trong vinh quang, để phán xét kẻ sống và kẻ chết, triều đại Người sẽ vô cùng vô tận” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 150)

6. Sấp mặt làm ngơ: quay mặt làm ngơ, không quan tâm, không thèm để ý đến.
VD: “Con ở một nơi không hề ai han hỏi một lời, thấy thì sấp mặt làm ngơ, tưởng đến lại châu mày thêm ghét” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 177)

7. Tứ cố vô thân:
- ở trong tình trạng không có người thân, không có nơi nương tựa.
VD: “Lạy Chúa, con bấy lâu nay đã xiêu lạc tứ cố vô thân, nhưng mà Chúa hãy còn thương, hãy tìm đến ở làm một cùng con…” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 183)
VD: “Trái lại, những thằng tứ cố vô thân giết chúng nó thì đễ, nhưng giết được chỉ còn có xương” (Chí Phèo, Nam Cao, Văn học lớp 12, tr.85).
*Lưu ý: ngữ cố định này vốn là một tập hợp gồm các yếu tố Hán: tứ (bốn), cố (nhìn, ngoảnh), vô (không có), thân (thân thích).
Những ai không có cha mẹ, anh em, bà con, không có bạn bè thân thích, không nơi nương tựa, sống cô độc một mình đều được gọi là người tứ cố vô thân
-Dùng để nói về những vùng xa lạ, nơi "đất khách quê người".
VD: "Đang đâu lại bỏ chỗ có anh em mà đi đến nơi tứ cố vô thân thế này! (Nguyễn Đức Thuận. "Bất khuất").

8. Quy chánh khử tà: thay đổi, từ bỏ điều xấu, đàng tội lỗi trở về đàng lành, điều tốt.
VD: “Xin mẹ cầu thay nguyện giúp, cho dân đều quy chánh khử tà” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 387)
Lưu ý: có “ngữ cố định” tương ứng : “cải tà quy chánh”, “cải ác vi thiện”…

9. Chuộc tội cứu thế: đền tội thay cứu giúp người đời khỏi khổ sở trầm luân.
VD: “chúng con tin thật Chúa chuộc tội cứu thế hằng sống…” (sách QN, tr. 523)

10. Trời đất muôn vật: toàn thể thế giới này, hết thảy muôn vật, muôn loài trong vũ trụ.
VD: “Chúng con lạy ơn Đức Chúa Trời phép tắc vô cùng dựng nên trời đất muôn vật” (sách Quy Nhơn, tr. 522)

Như đã nói trước đây, các “ngữ cố định” tiếng Việt thường có tính thành ngữ. Nói cách khác, người Việt chúng ta thường hay dùng thành ngữ trong giao tiếp. Thay vì nói "đêm ấy, trời rất tối", chúng ta nói "đêm ấy, trời tối đen như mực"; thay vì nói "ông ta suốt ngày làm việc khổ cực", chúng ta nói "ông ta suốt ngày đầu tắt mặt tối".

Do vậy, có thể nói, việc sử dụng “các ngữ cố định” trong giao tiếp bằng tiếng Việt không phải là một cách phát biểu duy nhất đúng, cũng không phải là cách nói bắt buộc, mà là một cách nói thường được chọn lựa. Người Việt dùng thành ngữ là muốn lời phát biểu có chỗ dựa, mong người nghe hiểu tắt theo lối ước lệ. Chẳng hạn, khi sử dụng “ngữ cố định” "chim sa cá lặn", thì chẳng ai muốn thắc mắc rằng trước nhan sắc của một người đàn bà đẹp, chim có sa và cá có lặn thật không, mà ai cũng hiểu ngay là người nói muốn cực tả cái nhan sắc của người đàn bà kia.

Dùng “ngữ cố định” không phải là giải pháp tiết kiệm chữ viết trong giao tiếp, bởi lẽ, ý nghĩa từ vựng của nó vẫn thường xem như một từ nhưng kết cấu của chúng thì thường 3, 4 tiếng (chữ) trở lên .“Ngữ cố định” phải được hiểu là cách sử dụng từ ngữ ý nhị hơn, hàm súc hơn và mang hình thức tu từ
VD: Ta vẫn có thể viết: “Sự sống con đã cạn kiệt” nhưng trong bản kinh Công Giáo, ta lại thấy: “Tan bay dường khói”
Xem: “sự sống con đã tan bay dường khói” (sách kinh QN, tr. 501)

Hay, người ta cũng có thể viết “Hài cốt con đã tan biến đi” bản kinh Công giáo vẫn chuộng kiểu nói: “Hài cốt con đã tiêu hoá như tro mạt” (sách kinh QN, tr. 501)

Nhận ra tính cách ước lệ của chúng tức là chúng ta hiểu những nhóm chữ tu từ ấy có nghĩa bóng hơn là nghĩa thực. Không ai hiểu thành ngữ "bị đè đầu cỡi cổ" theo nghĩa đen là bị kẻ mạnh đè đầu xuống và ngồi lên cổ, mà chỉ hiểu theo nghĩa bóng là bị áp bức.

Không biết từ đời nào, ông cha chúng ta ghép những từ ấy lại thành nhóm với nhau để nói lên cái ý nghĩa kia, người đồng thời và người đời sau nghe thuận tai, bắt chước nói theo. Ngày nay, chúng ta tiếp tục dùng, và gọi tên những nhóm từ đó là "thành ngữ". Thành ngữ tiếng Việt là một phần trong toàn bộ cơ cấu ngôn ngữ của tiếng Việt. Nói về tính cách thông dụng của nó trong sinh hoạt hằng ngày, thành ngữ chiếm một tỉ lệ khá cao so với tục ngữ hay ca dao. Nó chỉ đứng sau những cách nói đơn giản thông thường. Nó phản ảnh lối suy nghĩ, cách tư duy và cả nếp sinh hoạt của người Việt, nhất là giới bình dân.
Tóm lại, cố gắng giải mã những thành ngữ tiếng Việt không những mang ý nghĩa việc tìm hiểu nghĩa từ vựng mà còn xác định phong cách diễn đạt rất riêng trong giao tiếp của dân tộc Việt. Đặc biệt hơn, tìm hiểu những đặc điểm từ ngữ cũng như các thể lọai phong cách tiếng Việt trong các bản văn Công giáo tuy vẫn còn xa lạ với nhiều người nhưng đó lại là con đường đưa ta đến với đời sống đức tin, đến với tâm hồn và tư duy của người Công giáo Việt Nam nhẹ nhàng nhất.

Kim Binh

admin
07-05-2010, 02:55 PM
Thử giải mã các “Ngữ cố định” tiếng Việt trong các bản kinh Công Giáo. (tt)

1. Bịt mắt tháo lui: mắc cỡ, xấu hổ không dám nhìn, không dám đến gần, trốn chạy xa.
Vd: “Kẻ đưa lời phỉ báng hãy bịt mắt tháo lui” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 507)

2. Dẫu sống dẫu chết: chấp nhận, chịu đựng mọi điều, thể hiện sự cương quyết, trung thành.
Vd: “Vậy từ rày về sau con quyết lòng dẫu sống dẫu chết, thì đền ơn Chúa đã thương con dường ấy” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 118)

3. Vác thánh giá theo chân Chúa: bắt chước, hiệp thông, thông phần cuộc khổ nạn cùng Chúa.
Vd: “Lạy Chúa, con dốc lòng không dám nữa, mà lại quyết chí hằng ngày vác Thánh giá theo chân Chúa mà chớ” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 120)

4. Cực cao cực trọng: nơi rất cao cả, rất được kính trọng
Vd: “Bây giờ Đức Mẹ đã ngự trên tòa cực cao cực trọng, xin đoái thương chúng con” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 521)

5. Một lòng vàng đá: chung thủy, trước sau như một, rất trung thành
Vd: “Xưa dương gian các Thánh ở chốn đày, Nhiều nỗi chông gai, một lòng vàng đá” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 459)

6. Chẳng hay hết chẳng hay cùng: không thể nào thấu hiểu hết, nhận thức được hết.
Vd: “Xin Chúa rước lấy con cho được hiệp làm một cùng Chúa mà ngợi khen lòng nhân từ Chúa chẳng hay hết chẳng hay cùng. Amen.” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 491)

7. Lộc ban phỉ dạ: ơn thánh tràn đầy, thỏa mong ước
Vd: “Nay lộc ban phỉ dạ, thong dong cõi thọ lâu dài” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 459)

8.Tật dữ bệnh hung: bệnh nặng, nguy cấp
Vd: “Cứu các người mắc cơn tật dữ bệnh hung, cho được an lành mạnh khỏe”

9. Báo ơn trả nghĩa: đền đáp công ơn, trả ơn người đã giúp đỡ, làm ơn cho mình
Vd: “…mà con thấy người ta chẳng lo báo ơn trả nghĩa cho Rất thánh trái tim Đức Mẹ hay thương xót quá hậu” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 414)
_ Các ngữ cố định tương ứng: “đền ơn trả nghĩa”, “đền ơn đáp nghĩa”…

10. Chỉ đường dẫn nẻo: chỉ ra phương hướng, đường đi và biện pháp thực hiện để tới đích.
Vd: “Xin soi sáng chỉ đường dẫn nẻo, được đến nơi vui vẻ thanh nhàn” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 408)
- Các “ngữ cố định” tương ứng: “Chỉ đường vạch lối”, “chỉ đường mách nẻo”, “chỉ nẻo đưa đường”, “đưa đường chỉ lối”, “dẫn lối đưa đường”…

Kim Binh

admin
13-05-2010, 12:35 PM
Thử giải mã các “Ngữ cố định” tiếng Việt trong các bản kinh Công Giáo. (tt)

1. Mỹ vị trọng tốt: những thứ ngon quý sang trọng
Vd: “…chúng con sẽ lấy lòng trung nghĩa dâng lên bàn thờ Chúa, các giống mỹ vị trọng tốt mà tế lễ, thì Chúa sẽ nhận lấy hết.” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 500)

2. Lo buồn sầu não: lo lắng buồn phiền trong lòng quá sức.
Vd: “Con là đứa rất hèn, cúi lưng chịu nặng nề quá sức, trót ngày những lo buồn sầu não” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 496)
Vd: “Lạy Chúa Giêsu là Chúa chuộc tội, xưa đã lo buồn sầu não trong vườn Giếtsêmani, xin Chúa hãy nhỏ một giọt mồ hôi máu Chúa vào lòng con…” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 479)

3. Oai gia thịnh nộ: luật pháp nghiêm minh
Vd: “Lạy Chúa, xin chớ lấy oai gia thịnh nộ mà quở trách sửa phạt chúng con” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 495)

4. Tợ đá bàn: chỉ sự vững chãi, cứng rắn , không gì lay chuyển được
Vd: “Nắm giữ đức tin vững bền, tợ đá bàn, dạ chẳng đơn sai” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 452)

5. Thon von rũ liệt: ở vào tình cảnh mệt mỏi,vất vả, cô đơn
Vd: “Lạy Đức Chúa Giêsu… khi lòng yếu đuối con thon von rũ liệt, sẽ mắc phải những quái tượng hóa sanh bởi sự chết, cùng tiêu hao mòn mỏi vì đã gắng sức chống trả kẻ nghịch thù cùng phần rỗi.” (Sách kinh Quy Nhơn, tr. 489)

6. Quái tượng hóa sanh: hình ảnh khác lạ, kì dị.

7. Trở trăn máy động: nhúc nhích , cử động
Vd: “khi chân con chẳng còn trở trăn máy động, ấy tin bảo con rằng: đàng đi dưới thế đã cùng, đã hết cho con rồi” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 487)

8. Vui cửa vui nhà: gia tăng thêm niềm vui, niềm hạnh phúc trong gia đình.
VD: “ước gì họ được hưởng trọn vẹn hạnh phúc lứa đôi có con cháu làm vui cửa vui nhà, và làm cho Giáo Hội được thêm phong phú” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 482)

9. Ngã lòng trông cậy: nản lòng, nhụt ý chí, mất sự tin tưởng vào ai đó.
Vd: “…hầu cho con ngã lòng trông cậy Chúa” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 489)

10. Thường bữa ăn năn: luôn trong tình trạng day dứt về những lỗi lầm của mình
Vd: “Suy lỗi xưa thường bữa ăn năn, Nước mắt chảy đã mòn hai má” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 452)

Nguyễn Kim Binh

admin
22-05-2010, 08:15 AM
“Ngữ cố định” tiếng Việt trong các bản kinh Công Giáo. (tt)

1.Kinh oai sợ khiếp : sợ hãi, hốt hỏang quyền uy, uy lực
Vd: “Mà các công vương tể tướng cùng dân ngoại đạo sẽ kinh oai sợ khiếp kính tôn danh Chúa” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 502)
_ Các ngữ tương ứng:
“hãi hùng kinh khiếp”, “khiếp đảm kinh hồn”, kinh hồn khiếp vía”…
Vd: “Trái tim chúa đã chịu trong vườn Giếtsêmani và các sự khốn khó Chúa chịu, khi chịu nạn chịu chết, thì con hãi hùng kinh khiếp” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 363)

2. Châu lụy chan hòa: khóc nhiều, rơi nước mắt
Vd: “Con thở than đã lạo lực từng đêm châu lụy chan hòa, giường chiếu chỗ con nằm, con mắt con mờ mịt vì lo buồn, con đã bạc đầu ở giữa kẻ thù” (sách kinh Quy Nhơn, tr.392- 393)
Vd: “Lạc mất ngày đi Đền Thánh, Chưa gặp Con châu lụy chan hòa;” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 386)
- tương ứng : “lụy ngọc nhỏ sa”
Vd: “Cất tiếng ngợi lòng son hớn hở, Nức dạ mừng lụy ngọc nhỏ sa” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 462)

3. Hèn hạ tàn bại: thấp kém, không có giá trị
Vd: “ Xin Chúa nhận lấy thân hèn hạ tàn bại này, như dấu con vâng kính phép oai nghi Chúa” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 490)

4. Gia hình kiềm thảo: chịu những cực hình khổ sở
_ kiềm : kìm kẹp ; thảo : đánh đập bằng roi
Vd: Dầu phải gia hình kiềm thảo, chết dữ dằn độc ác thế nào vì đạo Chúa; thì con sẵn lòng mà chịu những sự ấy,….” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 471)

5. Phước lộc thiên gia : Phúc lộc Nước Trời, lên Thiên Đàng
Vd: “Nay khỏi thế hiệp về chầu Chúa, Hưởng muôn đời phước lộc thiên gia” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 464)

6. Gội nhuần trăm họ: thấm đẫm mọi người, mọi nhà (ý nói ơn Chúa tràn trề trên mọi người)
Vd: “Xuống phước gội nhuần trăm họ, lòng tin mến xứng niềm hiếu tử” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 465)
7. Dõi tràng bát phước: Tuân giữ luật Chúa, đi theo tám mối phúc
Vd: “Lỗi trước hằng thống hối, Noi chính lộ dõi tràng bát phước” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 451)

8. Lập công đền tội: làm nên công trạng để bù lại tội lỗi trước
Vd: “Thưở trước đà khóc lóc ăn năn, Ra sức lập công đền tội.” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 458)
_ tương ứng : “Đái công chuộc tội”
9. Hằng bữa hằng dồi: thường xuyên tập tành , rèn luyện, trau dồi
Vd: “Gương phước đức hằng bừa hằng dồi” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 385)

10. Nguội lạnh trễ tràng: thờ ơ, xao lãng, không sốt sắng tích cực
Vd: “… những nguội lạnh trễ tràng, khi dọn mình rước Chúa, lại trong Giờ Thánh nầy cũng lo ra man mác chia trí chia lòng” (sách kinhh Quy Nhơn, tr. 364).

Nguyễn Kim Binh

admin
30-05-2010, 09:14 PM
Thử giải mã các “Ngữ cố định” tiếng Việt trong các bản kinh Công Giáo. (tt)

1. Tam cừu oan gia: ba kẻ thù, ba mối họa (thế gian, ma quỷ và xác thịt)
Vd: “Cây Thánh giá thật là gươm giáo diệt giặc linh hồn, khử trừ đánh diệt tam cừu oan gia, sát phạt tà ma thịt mình thế tục” (sách kinh Quy Nhơn, tr.108)
Lưu ý: tương ứng “tà ma thịt mình thế tục”

2. Dể duôi sỉ nhục : Khinh thường, khinh dể
Vd: “Từ ấy về sau chịu khốn chịu khó; ba mươi ba tuổi chịu những gian nan, chịu người ta dể duôi sỉ nhục,..” (sách kinh Quy Nhơn, tr.73)
Tương ứng : “khinh mạn dể duôi” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 355)

3. Uống giấm chua mật đắng: Giấm thì có vị chua và mật thì đắng. Ý nói chịu đựng sự cay nghiệt, chấp nhận tủi nhục, bị ngược đãi.
Vd: “Miệng Chúa chịu uống giấm chua mật đắng.” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 74)

4. Chí thiết thảm tình: có lòng yêu mến chân thật
Vd: “Vậy Chúa xem lòng bà ấy chí thiết thảm tình, Người liền in mặt vào trong khăn bà ấy, mà trả ơn hậu đại để dấu muôn đời” (sách kinh Quy Nhơn, tr.122- 123)

5. Nằm gối cỏ nệm rơm : Gối được làm bằng cỏ và nệm làm bằng rơm. Ý nói chịu sự nghèo hèn, thiếu thốn về vật chất.
Vd: “Chúa thương tôi mà mà chịu vì tôi, thân tất tưởi đụt nhờ xó tiện, thâu đêm chịu lạnh lẽo căm căm, nằm gối cỏ nệm rơm, mở miệng khóc thương dần xiêu lạc”. (sách kinh Quy Nhơn, tr. 180)

6. Mạnh hồn khoẻ xác: thân xác mạnh khỏe và tâm hồn được bình an
Vd: “Xin Chúa lòng lành phù hộ Đức giám mục chúng con, được mạnh hồn khỏe xác, mà làm mọi việc phước đức nhân lành,” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 79)

7. Học ít hay nhiều: thông minh vượt trội, thông thái, khôn ngoan
Vd: “Mẹ là Mẹ Thánh, biết lẽ học thông, tính hơn cõi thế, Chúa Trời cho Mẹ học ít hay nhiều” (sách kinh Quy Nhơn, tr.77)

8. Trên hết mọi sự: ưu tiên nhất, duy nhất, ở vị trí cao nhất không gì sánh được
Vd: “Mẹ những đêm ngày sốt sắng bồi hồi, kính yêu một Chúa trên hết mọi sự” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 77)
Vd: “Lạy Chúa, con kính mến Chúa trên hết mọi sự, vì Chúa là đấng trọn tốt trọn lành vô cùng;” Sách kinh Quy Nhơn, tr. 11)

9. Chết tươi ăn năn tội chẳng kịp : chết bất ngờ, đột ngột
Vd: “kẻo phải chết tươi ăn năn tội chẳng kịp” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 18)
Vd: “…Hay là chết tươi ăn năn tội chẳng kịp” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 23)
Tương ứng : chết bất đắc kỳ tử

10. Dốt nát tối tăm: không hiểu gì, kém hiểu biết
Vd: “Lạy Chúa, dầu mà con dốt nát tối tăm, chẳng hiểu được những ơn Đức Chúa Thánh Thần đã ban cho con, là ơn rất trọng thể nào,…” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 474)

Nguyễn Kim Binh

admin
08-06-2010, 10:47 PM
Ngữ cố định” tiếng Việt trong các bản kinh Công Giáo (tt)

1. Bá hài tử thể : đầy đủ hình dáng, tứ chi
Vd: “Sinh phần xác muôn dân, Đủ bá hài tứ thể” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 304)

2. Dựng chư hoa bá thảo: đủ mọi giống lòai hoa thơm, cỏ lạ
Vd: “Dựng chư hoa bá thảo, Để giải buồn phòng liệu bệnh giúp lòai người” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 303)

3. Rày đây mai đó: lang thang, không cư trú ổn định
Vd: “Tủi bấy rày đây mai đó! Thương thay mưa tạt, gió lồng, Chẳng lựa là tân khổ trước bấy nhiêu.” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 307)

4. Mưa tạt gió lồng: trải qua tác động gay gắt của thời tiết; kinh qua những thay đổi khắc nghiệt. Ý nói chịu vất vả, gian truân.
Tương ứng: “mưa sa gió táp”. “ mưa dập gió vùi”…

5. Rồng mây cá nước : Diễn tả hình ảnh sum họp trong hạnh phúc, vui sướng, thỏa mãn như rồng gặp mây như cá gặp nước.
Vd: “Rồng mây cá nước sum hiệp một nhà, Khóai lạc thiên gia muôn đời ngàn kiếp” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 341)

6. Dĩ đức báo oán : lấy đức báo óan, phản bội, đáp trả lại lòng tốt bằng điều ác.
Vd: “Ai ngờ dĩ đức báo oán, Dân kêu la: Xin hãy đóng đinh!” (sách kinh Quy Nhơn, tr 284)

7. Thông minh quá khứ vị lai: thông hiểu những việc đã xảy và những gì sẽ đến.
Vd: “Sau sẽ lãnh Thánh Thần Thiên Chúa. Được thông minh quá khứ vị lai” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 298)

8. Gần bóng xế : gần cuối đời người, về già, gần chết
Vd: “Lạy Chúa, xin hãy đến cho kíp, vì đời chúng con đã gần bóng xế” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 374)

9. Thói tục nết hoang: tính nết xấu xa, tội lỗi
Vd: “Đã hay Mẹ tiết thanh gương sáng, Chẳng bỏ con thói tục nết hoang” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 400)

10. Tiết thanh gương sáng: lòng thanh sạch, thánh thiện, tốt lành.

Nguyễn Kim Binh

admin
29-06-2010, 08:29 PM
“Ngữ cố định” tiếng Việt trong các bản kinh Công Giáo. (tt)

Một ý một lòng : đồng tình đồng thuận, hiệp nhất, thống nhất ý chí
Vd: “Ta cùng nhau một ý một lòng” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 193)
- tương ứng : “đồng tâm nhất trí”

Con thảo tôi ngay : kẻ trung hiếu, người tốt lành
Vd: “Ớ con thảo tôi ngay, Hãy vui mừng vì bởi gần đến ngày ban thưởng” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 201)

Đồng máu đồng loài: cùng chung giống loài, hình dạng
Vd: “Nay làm người đồng máu đồng loài” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 205)
- tương ứng : “đồng hình đồng dạng”

Van đất kêu trời: than van lớn tiếng quá mức, làm lớn chuyện
Vd: “Ôi! Gai kia một chút đâm phải chân tôi, Van đất kêu trời, tôi chẳng chịu được” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 212)

Bưng cơm trao nước: Sống sung sướng, có người phục dịch, hầu hạ.
Vd: “Lại dầu những đứa tù rạc ngục hình, Có kẻ thương tình bưng cơm trao nước,” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 213)
Tương ứng: “Cơm bưng nước rót”, “cơm hầu nước dẫn”
Vd: “Nó chẳng bắt làm gì cả, chỉ nhong nhóng suốt ngày, cơm bưng nước rót đến tận mồm” (Nam Cao, “Truyện ngắn”)

Ngó trước xem sau: Thái độ thận trọng, quan sát kĩ càng
Vd: “Chúa chịu khốn cực, ngó trước xem sau, Chẳng thấy người nào cho một giọt nước” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 214)

Hết sức hết hơi: cạn cùng sức lực
Vd: “Hết sức hết hơi không ai giúp đỡ, còn một giây nữa Con chết mà thôi” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 216)

Cách bạn xa thầy: xa người thân yêu, sống xa những người mình quý mến
Vd: “Cha biết con dại tất tưởi thế này, Cách bạn xa Thầy, mồ côi cô độc” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 218)

Mồ côi cô độc: bơ vơ, sống buồn bã một mình, không nơi nương tựa

Cực chẳng đã: Không cách nào khác, đành phải làm vậy
Vd: “Cha cực chẳng đã mới lìa các con” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 221)
tương ứng: “Vạn bất đắc dĩ”, “Cùng bất đắc dĩ”

Ý nghĩa biểu trưng của các “ngữ cố định” trong tiếng Việt.

Nhiều người sẽ thắc mắc làm sao có thể nắm được ý nghĩa của lối nói của những “ngữ cố định” trong các bản kinh Công giáo như: “bưng cơm trao nước”, “gan chì phổi đá”, “dạ tuyết lòng sương”, “van đất kêu trời”…
Trước hết, chúng ta nhận thấy rằng : các ngữ cố định vừa kể trên có cấu tạo 4 tiếng để nói lên một ý nghĩa chung nào đó mà không có ở riêng từng tiếng một, hay từng tổ hợp hai tiếng. Nghĩa của nó cũng không hề phụ thuộc vào thứ tự sắp xếp của các cặp từ. Có thể nói: “Cơm bưng nước trao”, “bưng nước trao cơm”; hay “phổi chì gan đá”, “dạ sương lòng tuyết”…
Mặt khác, các ngữ cố định này có cấu tạo sóng đôi. Nếu bỏ đi một nửa thì nghĩa khái quát của những cố định này không còn, chỉ còn nghĩa đen. Nếu đứng riêng, hai tiếng “bưng cơm” hay “nước rót” thì nghĩa : được sống sung sướng, được phục dịch, hầu hạ không còn. Như thế, hai vế của lọai ngữ cố định 4 tiếng này song hành tồn tại, dựa vào nhau để làm nên một nghĩa chung.

Con đường hình thành nghĩa của các ngữ cố định tiếng này dựa theo quy luật biểu trưng.

Trong cách nói thường ngày, người Việt thường dùng các bộ phận bên trong cơ thể con người (lục phủ ngũ tạng) để biểu trưng cho ý chí, tâm tư, tình cảm…những suy nghĩ thầm kín của con người. Trong ngữ cố định, “gan chì phổi đá” mà chúng ta quan sát gồm 2 cặp từ thuộc cùng một trường nghĩa, chúng có ý nghĩa giống nhau theo một cách nào đó. “Gan” và “phổi” giống nhau ở chỗ biểu trưng cho tình cảm, tâm tư, còn “ chì” và “đá” biểu trưng cho dạng vật chất cứng rắn, nặng nề, khó dịch chuyển, khó thay đổi. Trong ngữ “dạ tuyết lòng sương”, cặp từ “ tuyết, sương” là hình ảnh biểu trưng cho sự lạnh lẽo, băng giá, “lòng, dạ” biểu trưng cho tâm tư, tình cảm bên trong con người.

Như vậy, “gan chì phổi đá” dùng để chỉ dạng ng ười “cứng lòng, không tin”. Còn “dạ tuyết lòng sương” thì dùng để chỉ lọai ng ười “lạnh lẽo, khô khan, trễ nãi”

Nguyễn Kim Binh