PDA

View Full Version : Lạy Chúa Của Con, Lạy Thiên Chúa Của Con


admin
05-04-2010, 06:57 AM
LẠY CHÚA CỦA CON, LẠY THIÊN CHÚA CỦA CON
SUY NIỆM PHÚC ÂM (III C 23); (11.04.2010); (Jn 20, 19-31)
CHÚA NHẬT II MÙA PHỤC SINH, NĂM C
NGUYỄN HỌC TẬP

Đoạn Phúc Âm hôm nay gồm hai phần tách biệt:
- hai lần Chúa Phục Sinh hiện ra (Jn 20, 19-29)
- và đoạn kết thúc lần đầu tiên Phúc Âm Thánh Gioan (Jn 20, 30-31).
Phần đầu lại gồm hai biến cố:
- Chúa Phục Sinh hiện ra lần đầu tiên với các môn đệ, trong lúc Tôma vắng mặt, ủy thác cho các ngài sứ mạng và ban cho Chúa Thánh Thần để tha tội (Jn 20, 19-23),
- mối tương quan giữa Chúa Phục Sinh và ông Tôma. Ngược lại với lòng nghi ngờ của Tôma, Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra lần thứ hai với các môn đệ và mời gọi Tôma hãy vượt thắng những trở ngại của đức tin, cùng với lời tuyên xưng đức tin tuyệt đỉnh của Tôma (Jn 20, 24-29).

1 - Chúa Phục Sinh hiện ra lần thứ nhứt với các môn đệ, Tôma vắng mặt (Jn 20, 19-23).
a) "Vào chiều ấy, ngày thứ nhứt trong tuần” nói cho chúng ta biết thời điểm của biến cố Chúa Phục Sinh hiện ra lần thứ nhứt với các môn đệ, đang lúc Tôma vắng mặt. “Ngày thứ nhứt trong tuần" đó, sau nầy sẽ được gọi là “Chúa Nhật” (ngày của Chúa).
Như vậy, chúng ta đang ở cùng chính ngày Phục Sinh. Chúa Phục Sinh xác nhận Người chính là Chúa Giêsu của các ông, bằng cách tỏ ra cho các môn đệ xem tay và cạnh sườn với những thương tích của cuộc chịu đóng đinh:
- "Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các ông vui mừng vì được thấy Chúa” (Jn 20, 20).
Nhưng đồng thời qua động tác đó, Chúa Giêsu cũng cho thấy Người là Chúa Phục Sinh, thân thể Người khác với thân thể trước đó, bởi lẽ Người vào phòng, khi cửa vẫn còn đóng kín:
- “Vào chiều hôm ấy, ngày thứ nhứt trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Chúa Giêsu đến đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em” (Jn 20, 19).
Trước bối cảnh đó, chúng ta gặp ngay những yếu tố làm cho chúng ta khó hiểu được thân thể Chúa Phục Sinh, một đàng chính là thân thể chính xác của Chúa Giêsu trước đó, nhưng đồng thời cũng là thân thể không còn tùy thuộc vào các điều kiện vật chất của thể xác, sinh lý như trước kia nữa.
Bởi đó chúng ta có thể nói con người, chính là con người đồng nhứt của Chúa Giêsu như trước đó, nhưng là con người có cách sống và thể hiện ra một cách khác.

b) Các lời nói đầu tiên của Chúa Phục Sinh là “Bình anh cho anh em !” (Jn 20, 19b), được hiểu như là món quà phục sinh tặng cho công đồng môn đệ, chớ không phải chỉ là lời chúc lành, như thói quen thông thường, để chào hỏi nhau, chúc nhau, “ước gì bình an” sẽ ở cùng anh em.
Trong bối cảnh chết đi và cuộc phục sinh, “bình an” được hiểu như là món quà cứu rỗi mà Chúa Phục Sinh ban tặng hiện thực cho các môn đệ. Ý nghĩa của quà tặng hiện thực “bình an cứu rỗi” đó, Chúa Giêsu đã tiên báo với một ý nghĩa nào đó ở chương 14 Phúc Âm Thánh Gioan:
- “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi” (Jn 14, 27).
Bình an, mối hoà giải lại giữa trời và đất đã được Chúa Giêsu thực hiện, từ nay tiếp tục và lan rộng ra như là sứ mạng của lòng tha thứ, để tác tạo lại một nhân loại được đổi mới.
Và đó là ý nghĩa cộng đồng Giáo Hội. Giáo Hội là động tác tiếp tục nối dài và lan rộng ra động tác Chúa Giêsu đã thực hiện và Chúa Thánh Thần là động lực thúc đẩy tiến trình.

Động tác cứu rổi, hoà giải lại con người với Thiên Chúa và từ nay con người sống với địa vị mới, “con Thiên Chúa” (Mt 6, 9), Chúa Giêsu đã thực hiện, bởi đó Thánh Gioan diễn tả bằng một động từ ở thì quá khứ (aoriste) trong bản văn Hy Lạp, “như Chúa Cha đã sai Thầy” .
Động tác cứu rổi đã được Chúa Giêsu thực hiện cho con người, và hậu quả đó vẫn tiếp tục kéo dài trong lịch sử nhân loại. Bởi đó, Người mới sai bảo các môn đệ, “...thì Thầy cũng sai anh em” (Jn 20, 21):
- " Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em” (Jn 20, 21).
Giáo Hội tiếp tục động tác với kết quả Chúa Giêsu thực hiện trong dòng lịch sử của nhân loại.
Chủ đề “sai đi” (apostéllo ) và “sứ mạng” (pémpo ) là hai chủ đề rất được Thánh Gioan yêu chuộng để nói về Chúa Giêsu. Trong Phúc Âm, ngài dùng động từ “sai đi” đến 28 lần, đề cập cho Chúa Giêsu 16 lần, trong khi đó thì danh từ “sứ mạng” được dùng đến 32 lần, và 28 lần để nói về Chúa Giêsu.

c) Sứ mạng của Chúa Giêsu và được Chúa Giêsu truyền dạy các môn đệ tiếp nối theo, giữa những phận vụ chính là “sáng tạo lại”, làm cho tạo vật Thiên Chúa dựng nên trở nên mới mẻ, tốt đẹp hơn. Điều đó đòi buộc sự hiện diện của Chúa Thánh Thần.
Với Chúa Thánh Thần hiện diện, một cuộc tạo dựng mới được bắt đầu trở lại, như khi Thiên Chúa thổi hơi sức sống vào con người làm cho con người trở nên tạo vật sống động:
- “Chúa là Thiên Chúa lấy đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật” (Gen 2, 7).
Ở đây, trong biến cố Phục Sinh, Chúa Giêsu ban cho các môn đệ Người Chúa Thánh Thần, để Người tiếp tục canh tân đời sống, được thể hiện bằng sứ mạng và bằng động tác tha tội:
- “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha, anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ” (Jn 20, 22-23).

Nền tảng của mối liên hệ giữa Chúa Thánh Thần và ơn tha tội, chúng ta cũng có thể thấy được trong biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa dưới sông Giordano.
Thánh Gioan Tẩy Giả trước đó đã nói cho mọi người biết Chúa Giêsu là “Chiên Thiên Chúa” :
- “Hôm sau ông Gioan thấy Chúa Giêsu tiến về phía mình liền nói : “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian" (Jn 1, 29),
và ngài thấy Chúa Thánh Thần ngự xuống và ở lại trong Chúa Giêsu:
- “Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng đã sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: “Ngươi thấy Thánh thần xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần . Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn” (Jn 1, 33-34).
Giờ đây Chúa Giêsu thực hiện những gì lời tiên tri Ezechiel đã hứa, bằng cách nối kết ơn ban Chúa Thánh Thần và ơn tha tội:
- “Rồi Ta sẽ rảy nước thanh sạch trên các ngươi và các ngươi sẽ được thanh sạch, các ngươi sẽ được sạch mọi ô uế và mọi tà thần. Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt Thánh Thần mới vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi trái tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi và ban cho các người một quả tim bằng thịt. Chính Thánh Thần của Ta, Ta sẽ đặt vào lòng các ngươi, Ta sẽ làm cho các ngươi đi theo thánh chỉ, tuân giữ các phán quyết của Ta và đem ra thi hành” (Ez 36, 25-27).
Điều chúng ta cũng nên biết là Bí Tích Giải Tội được đặt nền tảng trên đoạn Phúc Âm nầy của Thánh Gioan (cfr. Công Đồng Trento, XIV, can. 3).

2 - Chúa Giêsu và Tôma: hiện ra lần thứ hai (Jn 20, 24-29).
a) Các câu (Jn 20, 24-29) là thành phần nguyên vẹn cuộc tường thuật biến cô Phục Sinh của Phúc Âm Thánh Gioan, nói một cách nào đó, là thượng đỉnh của ngành Kitô Luận, của đức tin.
Ở đây lần đầu tiên chúng ta chứng kiến được bản tính Thiên Chúa của Chúa Giêsu: Người đi ngang qua các cửa đang đóng kín, đọc được tư tưởng của các môn đệ và được Tôma gọi bằng Chúa:
- “Tám ngày sau, các môn đệ Chúa Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Tôma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Chúa Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em” (Jn 20, 26).
- "Rồi Người bảo ông Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin” (Jn 20, 27).
- "Ông Tôma thưa Người: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con” (Jn 20, 28).
Chi tiếc sự vắng mặt của Tôma hôm buổi chiều Phục Sinh và lòng cứng tin của ông đối với kinh nghiệm các môn đệ khác được chứng kiến là lý do để Thánh Gioan viết phần thứ hai của đoạn tường thuật:
- “Chúng tôi đã được thấy Chúa !” (Jn 20, 25).
Đó là lời tuyên bố bùng nổ của nhóm Tông Đồ đã gặp Chúa và nhận ra Chúa Giêsu đang sống. Đó là điều cộng đồng Kitô giáo tiên khởi bắt đầu tuyên xưng đức tin của mình vào Chúa Phục Sinh.
Đã thấy Chúa là điều quan trọng, bởi lẽ đó là nền tảng của nhân chứng (cfr. 1 Jn 1, 1-2).
Nhưng “đã thấy Chúa” ở đây không chỉ hạn hẹp ở ý nghĩa nhận thấy của giác quan, nhưng còn là một kinh nghiệm sâu xa và phức tạp. Kinh nghiệm đó không thể có được vì nghe nói tới hay được ai có kinh nghiệm thay cho.
Điều đó cho chúng ta hiểu được phản ứng của Tôma:
-" Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin” (Jn 20, 25).
Từ ngữ “đinh” (Hy Lạp, êlos ), trong cả Tân Ước chỉ được đề cập đến ở đây. Và như vậy chỉ có bản văn Phúc Âm Thánh Gioan cho chúng ta biết trong cuộc Chúa Giêsu chịu đóng đinh, người ta đã dùng đinh, ít nhứt đối với hai bàn tay Người.
Đối với Tôma, “thấy” vẫn còn là một động tác thuộc giác quan. Bởi đó “thấy” không có nghĩa là tin, bởi lẽ đó là những đông tác dẫn đến đức tin nằm ơ tầm mức khác nhau. Hiểu theo ý nghĩa đó, Tôma là đại diện cho nhiều người đòi buộc muốn có đức tin, cần phải có một cái gì xác thực hơn nữa.

b) “Tám ngày sau” , tức là cũng vào ngày Chúa Nhật, Chúa Giêsu hiện ra lần thứ hai với nhóm các Tông Đồ, cả Tôma cũng có mặt. Chúa Giêsu đón nhận những gì Tôma đòi buộc phải có để tin. Những đòi buộc đó được trình bày tuần tự dưới ba hình thức càng lúc càng tiến cao hơn:
- “nếu tôi không thấy” ,
- “nếu tôi không xỏ (Hy Lạp, bállo : ném, đẩy) ngón tay vào lỗ đinh",
"và không đặt bàn tay vào cạnh sườn”.
Chúa Giêsu lập lại nguyên văn những gì Tôma kỳ vọng trước đó:
- “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhín xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy” (Jn 20, 27).
Và rồi Chúa Giêsu còn đi xa hơn nữa bằng cách thêm:
- “Đừng cứng tin nữa, nhưng hãy tin” (Jn 20, 27b),
để nói cho chúng ta biết rằng động tác “thấy đích thực” là liên kết, hội nhập và đồng thuận chấp nhận.
Kinh nghiệm “thấy” hay “đụng chạm cảm giác” thôi, không có ích gì, nếu không hội nhập, thông hiệp với con người mình muốn hiểu biết và tin tưởng.
Cuộc chuyển hoá từ “thấy” nhưng không hiểu đến “thấy” được mở rộng ra trong mối liên hệ để có được đời sống với Chúa, chúng ta có thể có được khi nghe lời Người nói với chúng ta.
Điều đó làm cho chúng ta “thấy” được, nghĩa là gặp được Chúa Phục Sinh, như Maria Magdala nhận ra Chúa Giêsu, khi Người gọi bà bằng tên.
Lời Chúa Giêsu đặt vào tâm hồn Tôma mầm mống đức tin. Và mầm mống đó nảy sinh ra câu trả lời:
- “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con".
Thánh Gregorio bình luận như sau về Tôma:
- “Tôma đã thấy một điều, nhưng đã tin vào một điều khác; ông đã thấy một người với những vết thương và, bởi đó, ông đã tin vào bản tính của Chúa Phục Sinh".
Cám ơn Thánh Tôma, ngài đã dạy chúng con hiểu biết thái độ phải có để tin.
Và cũng chính vì đó mà Chúa Giêsu chúc phúc:
- “Phúc thay những người không thấy mà tin” (Jn 20, 29).

Chúa Giêsu đón nhận thân tình câu tuyên xưng của Tôma, “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con ", bởi đó Người tuyên bố mối phước thật thứ hai trong Phúc Âm Thánh Gioan, qua câu chúc phúc vừa kể.
Trong khi đó thì mối phước thật thứ nhứt, được Thánh Gioan ghi lại ở chương 13:
- “Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau...Anh em đả biết những điều đó, nếu anh em thực hành, thì thật phúc cho anh em” (Jn 13, 14.17).
Câu (Jn 20, 29) chúng ta vừa đọc là câu tuyên bố quan trọng đối với các tín hữu Chúa Kitô trong tương lai và đối với những ai đọc Phúc Âm, nhưng không có được cơ hội “mặt giáp mặt” với Chúa Phục Sinh, tuy vậy họ vẫn cảm nhận mình được đức tin.
Gặp gỡ được Chúa Giêsu, nhờ đức tin. Đó là mục đích để Phúc Âm được viết ra. Và đó là chủ đề kết thúc của đoạn Phúc Âm hôm nay.

3 - Lời kết luận thứ nhứt của Phúc Âm Thánh Gioan (Jn 20, 30-31).
- “Chúa Giêsu đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách nầy. Còn những điều đã được ghi chép ở đây là để anh em tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người” (Jn 20, 30-31).
Lời kết luận vừa kể được gọi là lời kết luận thứ nhứt, để phân biệt với lời kết luận thứ hai (Jn 21, 24-25), kết luận chương cuối và cả Phúc Âm Thánh Gioan.
Nhiều học giả cho rằng chương 21 được viết bởi một bàn tay khác với những gì được viết ra ở các chương trước. Nhưng chương 21 cũng là đoạn văn toàn phần của Phúc Âm Thánh Gioan, bởi lẽ Phúc Âm Thánh Gioan chưa bao giờ được phổ biến mà mất đi chương 21.
Như những gì Thánh Gioan đã chứng thực cho biết (Jn 20, 30), các phép lạ (hay đúng hơn “các dấu chỉ” ) còn rất nhiều hơn những gì được ghi lại. Hiều như vậy, chúng ta hiểu được định ý của Thánh Gioan không phải là viết Phúc Âm để kể lại chi tiếc các động tác phép lạ của Chúa Giêsu. Chỉ cần một ít “dấu chỉ”, được lựa chọn cẩn thận, để chứng minh cho chủ đề mà Thánh Gioan có ý cho chúng ta biết. Thật vậy, Thánh Gioan chỉ kể lại bảy phép lạ, con số tượng trưng cho sự hoàn hảo.
Câu (Jn 20, 31) cho chúng ta biết mục đích, mà Thánh Gioan viết Phúc Âm. Phúc Âm được viết ra là để mọi người nhận chân được đầy đủ căn tính (identité) của Chúa Giêsu.
Đối với Người chúng ta phải chấp nhận thực tại lịch sử, sứ mạng của Đấng Cứu Thế, bởi vì Chúa Kitô (Đấng Cứu Thế) đã được loan báo và mong đợi trong Cựu Ước, và căn tính của Người là bản tính Thiên Chúa, bởi vì Người là “Con Thiên Chúa".
Chấp nhận căn tính của Chúa Giêsu, điều mà nền thần học về sau gọi là “người thật và Thiên Chúa thật” là lòng tin làm cho chúng ta thông hiệp được với Thiên Chúa.
Như vậy mục đích của Phúc Âm là để hướng dẫn chúng ta gặp được Chúa Kitô, đến để “thần thánh hoá” con người, con người được thông hiệp với Thiên Chúa.
Bởi đó, nếu tôi không lầm thì cựu GS C. Rahner đã nói lên một câu bất hữu, khi suy niệm đoạn Phúc Âm hôm nay:
- “Thiên Chúa đã trở thành người, để con người được trở thành Thiên Chúa".