PDA

View Full Version : Thánh Tôma và đại học


admin
29-04-2010, 08:25 AM
Thánh Tôma và đại học

Đức Tổng Giám Mục Michael Miller của giáo phận Vancouver, British Columbia, Canada, ngày 28 tháng Giêng vừa qua, có đọc một bài diễn văn trước công chúng tại Đại Học Thánh Tôma tại Houston. Bài diễn văn này đã được L’Osservatore Romano đăng tải ngày 14 tháng Tư vừa qua. Ngài bảo: “Ta phải tái khẳng định lòng đam mê chân lý từng là động lực khuyến khích Thánh Tôma”.

Theo Đức Tổng Giám Mục Miller, Thánh Tôma chưa bao giờ để tâm trí ngài ưu tư về việc phải nghĩ gì về một trường đại học Công Giáo vào thời ngài hay vào bất cứ thời nào khác. Các trước tác của ngài không bao giờ đề cập tới các vấn đề như phân khoa, sinh viên hay giáo trình là các vấn đề hiện làm chúng ta khá quan tâm. Ấy thế nhưng ngài quả có đề xướng nhiều quan điểm đặc thù về việc thu thập kiến thức về chân lý và mối liên hệ giữa đức tin và lý trí, mà, thiển nghĩ, vốn có một giá trị trường tồn để hiểu được một đại học Công Giáo hiện đại phải tiến hành công việc giảng dạy và tìm tòi của mình ra sao.

Sau khi nghiên cứu chủ thuyết Tôma (Thomism) tại các trung tâm cao học như đại học và chủng viện vốn theo các sáng kiến canh tân của Đức Giáo Honàg Lêô XIII, Đức Cha Miller đề nghị một số lý do khiến Thánh Tôma xứng đáng được gọi là “ánh sáng cho Giáo Hội và cho thế giới”, nhất là thế giới Khoa Bảng Công Giáo trong những ngày hừng đông của Thiên Niên Kỷ Thứ Ba này.

Công Đồng Vatican II: đỉnh cao và xuống dốc

Công Đồng Vatican II đã nối tiếp truyền thống lâu dài vốn chính thức thừa nhận giáo huấn của Thánh Tôma, một giáo huấn được Giáo Hội sử dụng rộng rãi và thành công làm “khí cụ thích ứng tuyệt vời với các mục tiêu của mình, do đó đã đóng ấn thế giá huấn quyền của mình lên Aquinô”. Công Đồng này hết lời ca ngợi Thánh Tôma, coi tư tưởng của ngài đã dọn đường cho mình bằng nhiều cách.

Sắc lệnh về Đào Tạo Linh Mục, chẳng hạn, đã khuyến cáo: phải dạy các chủng sinh theo “cái gia tài triết học vốn có giá trị trường cửu kia”. Đàng khác, cũng phải dạy họ một nền thần học tín lý có thể soi sáng các mầu nhiệm cứu rỗi một cách hoàn toàn hết sức có thể. Các chủng sinh “cũng nên học để đào sâu các mầu nhiệm này với sự trợ giúp của suy lý, dưới sự hướng dẫn của Thánh Tôma và nhận ra các mối liên kết qua lại giữa chúng với nhau”.

Cũng thế, Tuyên Ngôn về Giáo Dục Kitô Giáo cũng ca ngợi giáo huấn của Thánh Tôma vì đã chứng tỏ được rằng đức tin và khoa học có thể làm việc với nhau một cách hòa hợp trong các cao đẳng và đại học Công Giáo. Lần đầu tiên, một công đồng chung đã đề ra một nhà thần học để học hỏi nghiên cứu, và công đồng dành danh dự này cho Thánh Tôma, dù chính các nghị phụ ít sử dụng ngài trong các văn kiện sau cùng hơn là trong các văn kiện được soạn sẵn trước đó để các ngài thảo luận.

Oái oăm thay, ngay gần cùng thời với Công Đồng, người ta thấy xẩy ra một sự đi xuống rõ rệt đối với việc học hỏi nghiên cứu Thánh Tôma, mà có người còn gọi là một cuộc xụp đổ. Có thể đưa ra một số lý do cho việc dần dần rơi vào lãng quên này. Thứ nhất, việc canh tân nghiên cứu Thánh Kinh do thông điệp Divino Afflante Spiritu của Đức Giáo Hoàng Piô XII công bố năm 1943 đã dẫn khởi nhiều thể tài và phạm trù thánh kinh trực tiếp hơn vào thần học, do đó khiến thánh Tôma trở thành như lỗi thời. Đi đôi với việc đó, còn có phong trào trở về nguồn (ressourcement) của một số thần học gia, tức việc nghiên cứu các Giáo Phụ, do đó, bỏ qua các Nhà Kinh Viện, trong đó có Thánh Tôma, để tiếp nhận một truyền thống được coi là hoàng kim thời đại trước đấy. Cùng một lúc, khi tạo ra gần như một trận bão hoàn toàn, một phong trào thứ ba xuất hiện, một phong trào dù muốn hay không, cũng đã ngầm phá hủy vị thế ưu đãi vốn dành cho chủ thuyết Tôma, nhất là tại các chủng viện. Aidan Nichols nhận định về phong trào này như sau: thần học phải có thể đem ra giảng thuyết được; nghĩa là, nó phải sẵn sàng và tức khắc được ‘thông dịch” thành những bài giảng lễ ngày Chúa Nhật phù hợp với các tình huống hiện đại. Trong việc đạt mục tiêu này, Thánh Tôma bị coi là không giúp gì được; ngài không được thánh kinh lắm, quá triết lý và cả phức tạp quá nữa. Một vài người còn đổ lỗi cho việc hấp tấp xua đuổi Thánh Tôma ra khỏi nền Khoa Bảng Công Giáo là do điều được Nichols gọi là “ phương thức sư phạm và văn chương thường dùng để trình bày một cách vụng về chủ thuyết Tôma… Qua đó trong nhiều chủng viện và phân khoa triết học Công Giáo, nó được coi như khô cứng và phi lịch sử”. Lời khuyên của Đức Piô XI “Hãy tới cùng Tôma” đã không được ai nghe theo. Nhiều tóm tắt khô khan các thể tài đã thế chỗ cho các bản văn của chính Bậc Thầy này.

Bất chấp sự xuống dốc hiển nhiên trong việc nghiên cứu học hỏi Thánh Tôma đó, năm 1974, Đức Phaolô VI khiến người ta ngạc nhiên khi ngài bày tỏ sự sảng khoái của ngài về điều được ngài hứng khởi gọi là “cuộc tái xuất ngoại thường, nếu không muốn nói là bất ngờ, của Thánh Tôma, một cuộc tái xuất vốn xác nhận tính khôn ngoan của Huấn Quyền tối cao khi tuyên bố ngài là người hướng dẫn có thế giá, không thể thay thế trong triết học và thần học”. Về phần mình, Đức Gioan Phaolô II hy vọng rằng sự khuyến khích của Công Đồng cùng với việc tổng hợp độc đáo của ngài giữa chủ thuyết Tôma và hiện tượng học, sẽ đem lại một thúc đẩy mới cho công việc tông đồ trí thức của Giáo Hội. Để chắc ăn, Đức Gioan Phaolô II không đề xuất chủ thuyết Tôma như là nền triết lý duy nhất của Giáo Hội, như Đức Lêô XIII vốn làm. Đức Lêô từng cho rằng “nhấn mạnh tới tư tưởng của Tiến Sĩ Thiên Thần là cách tốt nhất để phục hồi việc thực hành triết học trong đồng thanh đồng khí với đức tin”. Đúng hơn, Đức Gioan Phaolô II cho phép một hình thức đa nguyên gồm nhiều hệ thống triết lý, tuy với một cảnh giác là chúng phải chia sẻ cùng một chủ nghĩa thực tại siêu hình (metaphysical realism) của Thánh Tôma, trong đó có quan điểm của ngài về khả năng tự nhiên biết được sự hiện hữu của Thiên Chúa. Chắc chắn Thánh Tôma là triết gia “mẫu mực”. Tuy nhiên, Đức Gioan Phaolô II nói thêm rằng dù rất ca tụng thánh Tôma, “Giáo Hội vẫn không có một nền triết lý riêng cũng như không phong thánh cho bất cứ nền triết lý đặc thù nào so với các nền triết lý khác”.

Còn đối với thần học, Đức Gioan Phaolô II ca ngợi Thánh Tôma là “mẫu mực thực hiện thần học đúng đắn’. Ngài nói thêm: “Huấn Quyền không ngừng hoan nghênh giá trị các tư duy của Thánh Tôma và phong ngài làm người hướng dẫn và là khuôn mẫu cho việc nghiên cứu thần học”.

Tiến sĩ chân lý: chủ nghĩa tương đối và cuộc khủng hoảng chân lý

Người ta có thể nói nhiều điều về cảnh mệt mỏi chánh chường của tri thức, điều gọi là “suy tư yếu” của con người hiện đại. Có lẽ không phải chỉ có một nguyên nhân đơn độc tạo ra việc thoái hóa của tâm tư hiện đại. Nhưng thiết nghĩ điểm khởi đầu tìm ra nguyên nhân này là phân tích sâu sắc tư tưởng của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI.

Theo Đức Thánh Cha, trong số các thánh thức chính đối với Giáo Hội thế kỷ 21 và là một thách thức cho thấy “một trở ngại hết sức ngấm ngầm trong trách vụ giáo dục”, chính là sự hiện diện khổng lồ của chủ nghĩa tương đối trong xã hội và trong các hội trường của Khoa Bảng. Vấn đề chính trong hệ thống giáo dục cao đẳng của ta không hẳn là sự thất bại của nó trong việc cung cấp các kỹ năng trí thức, điều mà nó có thể rất thành công, nhưng là chính tiền đề của nó cho rằng thực tại không hề hiện hữu một cách độc lập bên ngoài tâm trí con người và ta không thể biết được nó cách chắc chắn. Chính vì thế, dù không cố ý, quá nhiều các cao đẳng và đại học đang làm khô cứng thèm khát nhận thức tự nhiên và nhận thức chân lý của sinh viên. Hiện tượng ấy khiến sinh viên tránh né các khoa học nhân văn và nghệ thuật văn chương nói chung, để chỉ chuyên chăm các ngành chuyên nghiệp và thực dụng, mong được hưởng những lợi lộc cao về tài chánh.

Một hậu quả nữa của thứ định đề ấy và là một hậu quả còn nghiêm trọng hơn nữa là: ngay khi người ta thực hành đức tin đi chăng nữa, thì đức tin ấy vẫn không có gì ăn có với sự thật; do đó, không ăn có gì với mục đích cốt lõi của đại học tức việc giảng dạy và nghiên cứu. Trong những tình huống trong đó điều làm cho một đại học thành “Công Giáo” không phải là nội dung giảng dạy hay giáo trình (curriculum) mà chỉ là quan tâm đáng khen đối với “người sinh viên toàn diện”, thì nền tảng trí thức của nó yếu đi, đến vô phương cứu chữa. Dĩ nhiên, điều quan trọng là cuộc sống của sinh viên phải nói lên được niềm tin của họ, nhưng điều ấy vẫn không bao giờ có thể thế chỗ cho giáo trình vì đó mới là trọng tâm chính của tính công giáo chân chính trong thế giới cao đẳng.

Việc quá thường xẩy ra là: chủ nghĩa tương đối và đức tin tư riêng hóa (privatized faith) không những là “kinh tin kính” của các nhà khoa bảng, mà còn của người dân ngoài phố kia nữa. Thực thế, chủ nghĩa tương đối đã trở thành một tín điều thế tục và “người ta coi việc nói tới chân lý là điều nguy hiểm và ‘độc đoán’”. Thuật ngữ “Nền độc tài của chủ nghĩa tương đối” đã trở thành quen thuộc trong câu phát biểu thời danh của Đức Hồng Y Ratzinger trước khi ngài được bầu làm giáo hoàng.

Trên thực tế, tại nhiều đại học, việc tìm kiếm chân lý bị coi là việc không thể nào thực hiện được, còn ngây ngô là đàng khác. Các nhà khoa bảng đều ngờ vực, nếu không muốn nói là thù ghét, đối với bất cứ ai cho rằng mình biết sự thật. Họ thường mang “một xác tín khá phổ biến này là khả thể đạt chân lý chỉ là một ảo tưởng của siêu hình học cổ truyền”, vì họ chỉ chấp nhận là đúng những điều có thể kiểm nghiệm được.

Trong thế giới đại học, chủ nghĩa hoài nghi thắng thế chân lý. Nó bảo: không điều gì là nhất định, chỉ trừ trong lãnh vực khoa học có thể chứng minh bằng thực nghiệm. Trường đại học nào muốn chu toàn sứ mệnh của mình trong lòng Giáo Hội như là một cộng đồng gồm người dạy và người học, thì giáo trình của nó buộc phải trực diện giải quyết cuộc khủng hoảng chân lý này. Nó có thể làm được điều đó, nếu chịu luận chứng một cách thuyết phục với lòng hăng say và kính trọng rằng chân lý là điều có thể theo đuổi và tới một mức nào đó, có thể dùng trí khôn con người mà đạt tới và thông đạt cho người khác. Việc phục vụ chân lý như thế chính là nền tảng trí thức của mọi đại học Công Giáo. Ngày nay, ta cần tái khẳng định “niềm đam mê chân lý từng lên sinh lực cho Thánh Tôma ngõ hầu có thể khai thác được các lực lượng trí thức cần thiết cho việc phát triển một tương lai triển nở nhân bản chân chính. Thất bại không làm được như thế sẽ dẫn một cộng đoàn học thuật đến chỗ chỉ coi mình đơn thuần là một người cung ứng giáo dục, chết cứng trong một căn phòng đầy kính phản chiếu đủ mọi thứ giải pháp nhưng không có một tập chú hay một mục tiêu nào. Thành ra, như Ralph McInerny từng nhận định: “lý do chính của việc đọc Thánh Tôma là học những điều đúng sự thật”.

Các đại học Công Giáo ngày nay có thể mô phỏng điều Thánh Tôma từng làm trong thế kỷ 13 là lồng vào giáo trình của mình khát vọng tự do “truy tìm toàn bộ chân lý về thiên nhiên, về con người và về Thiên Chúa”. Mặc dù sự cởi mở thanh thản ấy làm giật mình nhiều người đồng thời, nhưng ngài vẫn chuyên chú và đầy yêu thương tìm kiếm chân lý nơi các triết gia tiền và phi Kitô Giáo, sẵn sàng đối thoại tri thức với mọi bậc thầy khôn ngoan. Thánh Tôma chứng tỏ một sự tự do lớn lao trong tinh thần và một lòng trung thực trí thức khi đương đầu với các vấn nạn mới và không bao giờ bác khước các nền triết lý duy tục một cách tiên thiên và không khảo sát kỹ.

Thánh Tôma luôn luôn nhận ra chân lý dấu ẩn trong ý kiến người khác. Ngài khẳng định: “không một giáo huấn lầm lẫn nào lại không có một chút chân lý pha trộn trong đó”. Đức Gioan Phaolô II nhận xét rằng đối với Thánh Tôma, “sự hiện diện của chân lý này dù là không đầy đủ và thiếu sót và đôi khi bị méo mó chính là cây cầu hợp nhất mọi người với người khác và làm cho việc hiểu biết có thể có khi có thiện chí”.

Nguồn gốc do đâu mà có xác tín như trên của Thánh Tôma? Trong việc không ngừng tìm tòi điều thiện và chân lý, Thánh Tôma nhìn nhận rằng Chúa Thánh Thần hoạt động trong ta, mở trái tim nhân bản của ta ra và làm trái tim ấy sẵn sàng đón nhận chân lý Phúc Âm. Trong một câu thời danh, ngài nói: “bất cứ chân lý nào, được ngỏ với bất cứ ai, đều là do Chúa Thánh Thần cả”. Hành động của Chúa Thánh Thần tạo ra sự hấp dẫn đối với chân lý và lôi cuốn trái tim con người hướng về chân lý ấy; Người giúp nhận thức con người chín mùi thành khôn ngoan và tin tưởng phó thác cho điều chân thực. Giống như thánh nhân, người vốn thành công trong việc thiết lập được một cuộc giáp mặt đầy thành quả với tư tưởng Ả Rập và Do Thái cùng thời, luôn kính trọng họ nhưng nhất định không để mình khiếp đảm trước thế giá của họ, các học giả và sinh viên trong các đại học Công Giáo, những người được hưởng cùng một sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, cũng phải tự do xem sét chân lý bất cứ chỗ nào chân lý hiện diện.

Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã tóm tắt thái độ trên của Thánh Tôma đối với mọi bậc thầy vĩ đại của tư duy nhân bản, một thái độ có thể làm nền cho bất cứ đại học nào chịu cố gắng duy trì, truyền lại và phong phú hóa truyền thống trí thức, luân lý và nghệ thuật Công Giáo. Thứ nhất, thánh nhân khởi đầu bằng việc hết lời khâm phục gia tài trí thức của các truyền thống khác. Thứ hai, ngài nhìn nhận giá trị và ý nghĩa và cả các hạn chế của từng tư tưởng gia. Cuối cùng, ngài cảm thông đối với những người thiếu ánh sáng đức tin, như các tư tưởng gia cổ đại chẳng hạn. Đức Thánh Cha, sau đó, suy đoán Thánh Tôma có thể xử lý các vấn nạn hiện nay ra sao: “Ta xác tín rằng nếu hiện diện với ta hôm nay, chắc hẳn ngài sẽ không kém sốt sắng tìm hiểu các lực lượng hiện đang tạo nên các thay đổi nơi con người, các tình huống của họ, cách suy nghĩ của họ và cách họ sống. Bất cứ điều gì có thể giúp ngài lúc này nói về Thiên Chúa cách xứng đáng và đầy thuyết phục hơn trước, dưới mắt ngài, đều tạo ra niềm vui lớn lao. Nhưng trong mọi điều này, ngài không bao giờ đánh mất cảm thức an ổn thanh thản mà một mình đức tin có thể mang lại cho tâm trí con người”.

Tiến Sĩ Thiên Thần là gương sáng tuyệt vời cho các học giả Kitô Giáo nào biết cởi mở đón nhận các dấu chỉ thời đại, biết lên khuôn cho thời đại mình mà vẫn trung thành với nẻo đường vốn được đức tin vạch ra, với thánh truyền và giáo huấn Giáo Hội. Quả là một bài học qúi giá cho việc trao đổi học thuật đầy văn minh và tương kính trong giới Khoa Bãng!

admin
29-04-2010, 08:26 AM
Tiến sĩ của hòa hợp: Hoà hợp đức tin và lý trí

Ngoài danh hiệu Tiến Sĩ Chân Lý, Thánh Tôma còn là Tiến Sĩ Hoà Hợp (Doctor Concordiae); ngài là thầy dạy tuyệt hảo của sự hòa hợp giữa đức tin và lý trí, vốn là “đôi cánh trên đó tinh thần con người bay cao để chiêm ngưỡng chân lý”. Khi nói truyện với Đại Học Leuven năm 1985, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II quả quyết rằng: “trọn bộ truyền thống sống động của Giáo Hội dạy ta điều này: đức tin tìm hiểu biết, và hiểu biết đi tìm đức tin. Cả hai nhu cầu hiểu và nhu cầu tin đều bén rễ sâu trong trái tim con người. Chính vì lý do này, Giáo Hội là điểm khởi hành của việc tạo lập ra các đại học”. Thế nhưng, một thách đố đặc biệt đang đặt ra cho các đại học ngày nay là: một số đã tách đức tin ra khỏi lý trí, và tách lý trí ra khỏi đức tin. Thách đố này chỉ có thể giải quyết nếu người dạy và người học chịu chấp nhận Tiến Sĩ Thiên Thần làm bậc thầy của mình. Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô nói rằng: “Ngài (Thánh Tôma) đưa ra một mẫu mực hữu hiệu về sự hòa hợp giữa lý trí và đức tin, các chiều kích trong tinh thần con người này sẽ hoàn toàn được nên trọn nhờ cuộc gặp gỡ và đối thoại với nhau”.

Như thế, đối với Thánh Tôma, đức tin và lý trí không được tách rời nhau hay đặt ở thế cạnh tranh nhau; đúng hơn, chúng phải đi đôi với nhau. “Ngài cho rằng cả hai ánh sáng đức tin và ánh sáng lý trí đều phát sinh từ Thiên Chúa; do đó, không thể có sự mâu thuẫn nào giữa chúng với nhau”.

Thánh Tôma quả hết sức trong sáng khi nói đến mối liên hệ trên. Nhận định về điều này, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói như sau: “Chân lý triết học và thần học hội tụ thành một chân lý duy nhất. Chân lý của lý trí từ tạo vật leo lên tới Thiên Chúa; chân lý của đức tin trực tiếp từ Thiên Chúa đi xuống với con người. Nhưng sự đa dạng về phương pháp và nguồn gốc này không đi trệch ra ngoài sự thống nhất căn bản của chúng, vì chỉ có một Tác Giả đồng nhất duy nhất của chân lý được đích thân truyền đạt cho con người qua chính Ngôi Lời của Người. Việc tìm tòi của triết học và việc tìm tòi của thần học là hai hướng chuyển động khác nhau của cùng một chân lý đơn nhất, có cùng đích sẽ gặp nhau, chứ không chống chọi nhau, trên cùng một con đường để cùng giúp đỡ nhau. Như thế, lý trí, được đức tin soi sáng, tăng sức và bảo đảm, trở thành người đồng hành trung tín của chính đức tin và đức tin mở rộng mênh mông chân trời hữu hạn của lý trí”.

Đức Bênêđíctô tái quả quyết quan điểm của vị tiền nhiệm khi cho rằng Thánh Tôma đưa ra “một mẫu mực hữu hiệu về sự hòa hợp giữa lý trí và đức tin, các chiều kích trong tinh thần con người này sẽ hoàn toàn được nên trọn nhờ cuộc gặp gỡ và đối thoại với nhau”. Thực vậy, “một nền văn hóa trí thức thực sự Công Giáo phải tin tưởng vào sự hoà hợp sâu sắc giữa đức tin và lý trí”. Đức Thánh Cha quả quyết rằng “một tình bằng hữu tự nhiên hiện hữu giữa đức tin và lý trí, được Đấng Tạo Hóa thiết lập ngay trong trật tự Sáng Thế”. Sự đồng tác (synergy) giữa đức tin và lý trí chính là cốt lõi trong tư duy của Đức Bênêđíctô. Ở nguồn cội đức tin Kitô Giáo không những có Giêrusalem của các thần học gia mà còn có cả Athens của các triết gia.

Nói về sự hòa hợp giữa đức tin và lý trí được Thánh Tôma khai triển một cách tuyệt diệu, Đức Thánh Cha quả quyết rằng quan điểm của thánh nhân hoàn toàn có tính qui Kitô. Ngài viết, theo Thánh Tôma “sự thành tựu dứt khoát của mọi khát vọng nhân bản đúng nghĩa nằm nơi Chúa Giêsu Kitô”. Nhưng cũng chính thiên tài của Thánh Tôma đã làm nổi bật tính tự lập (autonomy) của triết học, và với nó là các định luật đặc thù của lý trí. Ngài đem lại một nhấn mạnh mới cho trách nhiệm chuyên biệt của lý trí, một trách nhiệm vốn không bị đức tin làm cho tan loãng. Theo Thánh Tôma, Kitô Giáo buộc phải biện luận cho điều trên vì chính tính hợp lý của mình.

Như thế, dựa vào Thánh Tôma, Đức Bênêđíctô xác tín rằng: các tư tưởng gia hiện đại khẩn thiết phải “tái khám phá tính hợp lý nhân bản, một tính hợp lý biết cởi mở đón nhận ánh sáng của Ngôi Lời Thiên Chúa và sự mạc khải hoàn hảo của Người là chính Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người”. Trong rất nhiều bài giảng lễ và diễn văn, Đức Giáo Hoàng hay trích dẫn lời căn dặn của Thánh Phêrô: “Anh em phải luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em” (1Pr 3:15). Chính đức tin Kitô Giáo bảo toàn lý trí trong thế giới ngày nay. Thực vậy, đức tin giải thoát lý trí khỏi chính các giới hạn của nó. Thiên Chúa đã tỏ mình ra như Lý Trí sáng tạo, và cũng hệt như Ngôi Lời, Người đã hành động và tiếp tục hành động một cách yêu thương nhân danh ta.”Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời” và “Ngôi Lời đã thành nhục thể” (Ga 1:1,14). Như thế, Ngôi Lời Thiên Chúa là nguồn gốc của vũ trụ, và cũng chính Ngôi Lời này đã hợp nhất một lần vĩnh viễn với nhân loại, với thế giới và lịch sử, trong Chúa Kitô. Hơn nữa, Lý Trí này không phải là toán học của vũ trụ mà cũng không phải là nguyên nhân đệ nhất sẽ tự rút lui sau khi đã tạo ra Big Bang. Đúng hơn, Lý Trí ấy có “một trái tim để có thể từ khước chính tính mênh mông của mình mà mang lấy xác thịt”

Đức Thánh Cha trực tiếp nói tới hiệu quả đối với nền giáo dục cao đẳng khi họ có được cái hiểu như trên về lý trí. Trong bài diễn văn quan trọng đầu tiên của ngài với các nhà khoa bảng, ngài quả quyết: “Bởi thế, thách đố lớn lao cho các đại học Công Giáo là đây: phân phối kiến thức trong viễn tượng lý tính chân thực, khác với kiến thức đang thịnh hành ngày nay, nghĩa là phù hợp với một lý trí biết mở cửa chào đón chân lý và các giá trị lớn lao vốn được khắc ghi trong chính hữu thể, nhờ đó, mở cửa đón nhận thể siêu việt, đón nhận Thiên Chúa”.

Vì Thiên Chúa là Lý Trí, nên đức tin của ta hẳn phải có điều gì đó ăn có với lý trí; đức tin ấy có thể được chuyển giao qua nó và không có lý do gì cần phải dấu mặt với nó. Khi niềm tin vào Thiên Chúa tự tách rời khỏi cái nền hợp lý của nó, thì đức tin ấy sẽ ở thế lâm nguy.

Tuy nhiên, không có ánh sáng đức tin, lý trí con người không thể tìm được câu trả lời chắc chắn và thỏa đáng cho rất nhiều vấn nạn khẩn trương của thời đại. Các đại học Công Giáo, nếu muốn chân thực với truyền thống trí thức từng lên khuôn cho mình từ buổi đầu, thì buộc phải làm chứng không những cho phẩm giá của lý trí con người và khả năng nhận biết thực tại của nó mà còn làm chứng cho cả vai trò của đức tin trong học thuật. Các đại học của ta rộng rãi hơn, chứ không chật hẹp hơn, trong quan điểm của mình, vì việc nghiên cứu mạc khải Thiên Chúa đã mở ra cả một lãnh vực thực tại vượt quá tầm với của lý trí nếu để tự nó loay hoay với chính các tài nguyên tự nhiên của nó. Như Cha Victor Brezik có lần từng phát biểu: “việc phối hợp thế giới nhận thức mạc khải với thế giới nhận thức suy lý đã đem lại cho các đại học Công Giáo một chân trời nghiên cứu nhiều thách thức hơn nhiều”

Khuôn Viên Đại Học (the Mall) mà thiếu Nguyện Đường sẽ không đầy đủ; và Nguyện Đường mà thiếu Khuôn Viên Đại Học (1) sẽ lâm vào cảnh lưu vong. Điều làm ta thấy mình diễm phúc có một Đại Học Thánh Tôma (Houston) là việc nó thể hiện một chủ thuyết Tôma lành mạn ngay trong chính lối kiến trúc của nó. Óc tưởng tượng Công Giáo đầy tính bí tích đã tạo thành Khuôn Viên Đại Học với đỉnh cao là ngôi Nhà Nguyện, làm ai cũng phải mãi mãi biết ơn tiến sĩ Joe McFadden. Đàng khác, việc ngôi Nhà Nguyện này nói lên vị thế trổi vượt của Đức Tin cũng là điều cần thiết. Khi người ta nghiêm chỉnh coi trọng việc nghiên cứu thế giới dưới sự hướng dẫn của đức tin và lý trí, thì họ phải chú ý tới một phẩm trật nào đó về tầm quan trọng. Chính vì vậy, trong giáo trình đại học, thần học và triết học từ lâu vốn được dành cho vị thế hàng đầu trong những điều ngang hàng (primi inter pares).

Hơn nữa, lòng trung thành với Thánh Tôma cũng đòi một đại học Công Giáo phải giảng dạy thần học như một khoa học thánh, chứ không phải như một môn nghiên cứu tôn giáo, một môn nhân văn chỉ dựa vào việc tìm tòi thuần lý. Ngay dù các niềm tin cốt lõi của Kitô Giáo được mạc khải và được đức tin chấp nhận, ta cũng phải dạy để sinh viên biết chúng là gì. Thánh Tôma không bao giờ gợi ý rằng giải thích các đề mục đức tin sẽ mang lại việc đáp ứng niềm tin, nhưng ngài quả có nghĩ rằng ta cần được học hỏi về chúng. Các giảng khóa thần học tại các đại học Công Giáo phải trình bày tín lý thánh (sacra doctrina). Chúng phải đề cập tới những điều được Chúa Kitô giảng dạy trong Phúc Âm, vì Người “là thầy đầu hết và chính hết của học lý thiêng liêng và đức tin”. Thành thử, đại học Công Giáo phải là nơi người ta chú tâm tới việc làm sao cho sinh viên được học từ các thần gia biết trình bày giáo huấn của Chúa Kitô như một giáo huấn có tính lịch sử và có thế giá.

Đức tin Kitô Giáo chân chính không sợ lý trí “nhưng tìm tòi nó và đặt tin tưởng nơi nó”. Đức tin giả thiết lý trí và hoàn thiện nó. Lý trí con người cũng không mất mát chi khi mở cửa đón nhận nội dung đức tin. Khi được đức tin soi sáng, lý trí “được giải thoát khỏi sự mỏng dòn và các hạn chế phát sinh từ chính việc bất tuân của tội và tìm được sức mạnh cần thiết để leo tới nhận thức về Chúa Ba Ngôi”. Đức Thánh Cha nhận định rằng theo Thánh Tôma, lý trí con người, từ trước đến nay, vốn “hít thở” bằng cách chuyển dịch bên trong chân trời mênh mông mở ra cõi siêu việt. Nếu, thay vào đó, “con người tự rút gọn để chỉ nghĩ tới những vật thể vật chất hay những vật thể có thể chứng minh được, anh ta sẽ tự đóng cửa lòng mình với những vấn nạn vĩ đại về sự sống, về chính mình và về Thiên Chúa, và do đó làm mình thành nghèo nàn”. Người như thế quả đã quá tự ý tách biệt lý trí ra khỏi đức tin, do đó phá nát chính cơ năng của tri thức.

Những điều trên có nghĩa gì đối với các đại học Công Giáo ngày nay? Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô trả lời như thế này: “ [Vì thế] đại học Công Giáo là một phòng thí nghiệm vĩ đại, trong đó, tùy theo các khoa khác nhau, mỗi khu vực nghiên cứu mới sẽ được khai triển trong một phương thức căng thẳng đầy kích thích giữa đức tin và lý trí nhằm phục hồi chủ trương tổng hợp đầy hoà điệu mà Thánh Tôma cũng như nhiều tư tưởng gia vĩ đại của Kitô Giáo đã thực hiện”. Khi đã đặt được cơ sở vững mạnh trên cái hiểu của Thánh Tôma về đức tin và lý trí, các viện học thuật cao đẳng Công Giáo sẽ vững tâm giáp mặt với bất cứ thách thức mới nào đang xuất hiện ở chân trời, vì chân lý được khoa học chân chính khám phá ra không bao giờ mâu thuẫn với Chân Lý Duy Nhất, là chính Thiên Chúa.

Ghi chú

(1) Tại Đại Học Thánh Tôma ở Houston, các phân khoa được xây quay mặt vào nhau và mở cửa thấy nhau trên một trục dài (Mall) mà cuối dẫy là ngôi nhà nguyện dâng kính Thánh Basil. Vũ Văn An
http://vietcatholic.org/News/Html/79610.htm