admin
29-04-2010, 08:25 AM
Thánh Tôma và đại học
Đức Tổng Giám Mục Michael Miller của giáo phận Vancouver, British Columbia, Canada, ngày 28 tháng Giêng vừa qua, có đọc một bài diễn văn trước công chúng tại Đại Học Thánh Tôma tại Houston. Bài diễn văn này đã được L’Osservatore Romano đăng tải ngày 14 tháng Tư vừa qua. Ngài bảo: “Ta phải tái khẳng định lòng đam mê chân lý từng là động lực khuyến khích Thánh Tôma”.
Theo Đức Tổng Giám Mục Miller, Thánh Tôma chưa bao giờ để tâm trí ngài ưu tư về việc phải nghĩ gì về một trường đại học Công Giáo vào thời ngài hay vào bất cứ thời nào khác. Các trước tác của ngài không bao giờ đề cập tới các vấn đề như phân khoa, sinh viên hay giáo trình là các vấn đề hiện làm chúng ta khá quan tâm. Ấy thế nhưng ngài quả có đề xướng nhiều quan điểm đặc thù về việc thu thập kiến thức về chân lý và mối liên hệ giữa đức tin và lý trí, mà, thiển nghĩ, vốn có một giá trị trường tồn để hiểu được một đại học Công Giáo hiện đại phải tiến hành công việc giảng dạy và tìm tòi của mình ra sao.
Sau khi nghiên cứu chủ thuyết Tôma (Thomism) tại các trung tâm cao học như đại học và chủng viện vốn theo các sáng kiến canh tân của Đức Giáo Honàg Lêô XIII, Đức Cha Miller đề nghị một số lý do khiến Thánh Tôma xứng đáng được gọi là “ánh sáng cho Giáo Hội và cho thế giới”, nhất là thế giới Khoa Bảng Công Giáo trong những ngày hừng đông của Thiên Niên Kỷ Thứ Ba này.
Công Đồng Vatican II: đỉnh cao và xuống dốc
Công Đồng Vatican II đã nối tiếp truyền thống lâu dài vốn chính thức thừa nhận giáo huấn của Thánh Tôma, một giáo huấn được Giáo Hội sử dụng rộng rãi và thành công làm “khí cụ thích ứng tuyệt vời với các mục tiêu của mình, do đó đã đóng ấn thế giá huấn quyền của mình lên Aquinô”. Công Đồng này hết lời ca ngợi Thánh Tôma, coi tư tưởng của ngài đã dọn đường cho mình bằng nhiều cách.
Sắc lệnh về Đào Tạo Linh Mục, chẳng hạn, đã khuyến cáo: phải dạy các chủng sinh theo “cái gia tài triết học vốn có giá trị trường cửu kia”. Đàng khác, cũng phải dạy họ một nền thần học tín lý có thể soi sáng các mầu nhiệm cứu rỗi một cách hoàn toàn hết sức có thể. Các chủng sinh “cũng nên học để đào sâu các mầu nhiệm này với sự trợ giúp của suy lý, dưới sự hướng dẫn của Thánh Tôma và nhận ra các mối liên kết qua lại giữa chúng với nhau”.
Cũng thế, Tuyên Ngôn về Giáo Dục Kitô Giáo cũng ca ngợi giáo huấn của Thánh Tôma vì đã chứng tỏ được rằng đức tin và khoa học có thể làm việc với nhau một cách hòa hợp trong các cao đẳng và đại học Công Giáo. Lần đầu tiên, một công đồng chung đã đề ra một nhà thần học để học hỏi nghiên cứu, và công đồng dành danh dự này cho Thánh Tôma, dù chính các nghị phụ ít sử dụng ngài trong các văn kiện sau cùng hơn là trong các văn kiện được soạn sẵn trước đó để các ngài thảo luận.
Oái oăm thay, ngay gần cùng thời với Công Đồng, người ta thấy xẩy ra một sự đi xuống rõ rệt đối với việc học hỏi nghiên cứu Thánh Tôma, mà có người còn gọi là một cuộc xụp đổ. Có thể đưa ra một số lý do cho việc dần dần rơi vào lãng quên này. Thứ nhất, việc canh tân nghiên cứu Thánh Kinh do thông điệp Divino Afflante Spiritu của Đức Giáo Hoàng Piô XII công bố năm 1943 đã dẫn khởi nhiều thể tài và phạm trù thánh kinh trực tiếp hơn vào thần học, do đó khiến thánh Tôma trở thành như lỗi thời. Đi đôi với việc đó, còn có phong trào trở về nguồn (ressourcement) của một số thần học gia, tức việc nghiên cứu các Giáo Phụ, do đó, bỏ qua các Nhà Kinh Viện, trong đó có Thánh Tôma, để tiếp nhận một truyền thống được coi là hoàng kim thời đại trước đấy. Cùng một lúc, khi tạo ra gần như một trận bão hoàn toàn, một phong trào thứ ba xuất hiện, một phong trào dù muốn hay không, cũng đã ngầm phá hủy vị thế ưu đãi vốn dành cho chủ thuyết Tôma, nhất là tại các chủng viện. Aidan Nichols nhận định về phong trào này như sau: thần học phải có thể đem ra giảng thuyết được; nghĩa là, nó phải sẵn sàng và tức khắc được ‘thông dịch” thành những bài giảng lễ ngày Chúa Nhật phù hợp với các tình huống hiện đại. Trong việc đạt mục tiêu này, Thánh Tôma bị coi là không giúp gì được; ngài không được thánh kinh lắm, quá triết lý và cả phức tạp quá nữa. Một vài người còn đổ lỗi cho việc hấp tấp xua đuổi Thánh Tôma ra khỏi nền Khoa Bảng Công Giáo là do điều được Nichols gọi là “ phương thức sư phạm và văn chương thường dùng để trình bày một cách vụng về chủ thuyết Tôma… Qua đó trong nhiều chủng viện và phân khoa triết học Công Giáo, nó được coi như khô cứng và phi lịch sử”. Lời khuyên của Đức Piô XI “Hãy tới cùng Tôma” đã không được ai nghe theo. Nhiều tóm tắt khô khan các thể tài đã thế chỗ cho các bản văn của chính Bậc Thầy này.
Bất chấp sự xuống dốc hiển nhiên trong việc nghiên cứu học hỏi Thánh Tôma đó, năm 1974, Đức Phaolô VI khiến người ta ngạc nhiên khi ngài bày tỏ sự sảng khoái của ngài về điều được ngài hứng khởi gọi là “cuộc tái xuất ngoại thường, nếu không muốn nói là bất ngờ, của Thánh Tôma, một cuộc tái xuất vốn xác nhận tính khôn ngoan của Huấn Quyền tối cao khi tuyên bố ngài là người hướng dẫn có thế giá, không thể thay thế trong triết học và thần học”. Về phần mình, Đức Gioan Phaolô II hy vọng rằng sự khuyến khích của Công Đồng cùng với việc tổng hợp độc đáo của ngài giữa chủ thuyết Tôma và hiện tượng học, sẽ đem lại một thúc đẩy mới cho công việc tông đồ trí thức của Giáo Hội. Để chắc ăn, Đức Gioan Phaolô II không đề xuất chủ thuyết Tôma như là nền triết lý duy nhất của Giáo Hội, như Đức Lêô XIII vốn làm. Đức Lêô từng cho rằng “nhấn mạnh tới tư tưởng của Tiến Sĩ Thiên Thần là cách tốt nhất để phục hồi việc thực hành triết học trong đồng thanh đồng khí với đức tin”. Đúng hơn, Đức Gioan Phaolô II cho phép một hình thức đa nguyên gồm nhiều hệ thống triết lý, tuy với một cảnh giác là chúng phải chia sẻ cùng một chủ nghĩa thực tại siêu hình (metaphysical realism) của Thánh Tôma, trong đó có quan điểm của ngài về khả năng tự nhiên biết được sự hiện hữu của Thiên Chúa. Chắc chắn Thánh Tôma là triết gia “mẫu mực”. Tuy nhiên, Đức Gioan Phaolô II nói thêm rằng dù rất ca tụng thánh Tôma, “Giáo Hội vẫn không có một nền triết lý riêng cũng như không phong thánh cho bất cứ nền triết lý đặc thù nào so với các nền triết lý khác”.
Còn đối với thần học, Đức Gioan Phaolô II ca ngợi Thánh Tôma là “mẫu mực thực hiện thần học đúng đắn’. Ngài nói thêm: “Huấn Quyền không ngừng hoan nghênh giá trị các tư duy của Thánh Tôma và phong ngài làm người hướng dẫn và là khuôn mẫu cho việc nghiên cứu thần học”.
Tiến sĩ chân lý: chủ nghĩa tương đối và cuộc khủng hoảng chân lý
Người ta có thể nói nhiều điều về cảnh mệt mỏi chánh chường của tri thức, điều gọi là “suy tư yếu” của con người hiện đại. Có lẽ không phải chỉ có một nguyên nhân đơn độc tạo ra việc thoái hóa của tâm tư hiện đại. Nhưng thiết nghĩ điểm khởi đầu tìm ra nguyên nhân này là phân tích sâu sắc tư tưởng của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI.
Theo Đức Thánh Cha, trong số các thánh thức chính đối với Giáo Hội thế kỷ 21 và là một thách thức cho thấy “một trở ngại hết sức ngấm ngầm trong trách vụ giáo dục”, chính là sự hiện diện khổng lồ của chủ nghĩa tương đối trong xã hội và trong các hội trường của Khoa Bảng. Vấn đề chính trong hệ thống giáo dục cao đẳng của ta không hẳn là sự thất bại của nó trong việc cung cấp các kỹ năng trí thức, điều mà nó có thể rất thành công, nhưng là chính tiền đề của nó cho rằng thực tại không hề hiện hữu một cách độc lập bên ngoài tâm trí con người và ta không thể biết được nó cách chắc chắn. Chính vì thế, dù không cố ý, quá nhiều các cao đẳng và đại học đang làm khô cứng thèm khát nhận thức tự nhiên và nhận thức chân lý của sinh viên. Hiện tượng ấy khiến sinh viên tránh né các khoa học nhân văn và nghệ thuật văn chương nói chung, để chỉ chuyên chăm các ngành chuyên nghiệp và thực dụng, mong được hưởng những lợi lộc cao về tài chánh.
Một hậu quả nữa của thứ định đề ấy và là một hậu quả còn nghiêm trọng hơn nữa là: ngay khi người ta thực hành đức tin đi chăng nữa, thì đức tin ấy vẫn không có gì ăn có với sự thật; do đó, không ăn có gì với mục đích cốt lõi của đại học tức việc giảng dạy và nghiên cứu. Trong những tình huống trong đó điều làm cho một đại học thành “Công Giáo” không phải là nội dung giảng dạy hay giáo trình (curriculum) mà chỉ là quan tâm đáng khen đối với “người sinh viên toàn diện”, thì nền tảng trí thức của nó yếu đi, đến vô phương cứu chữa. Dĩ nhiên, điều quan trọng là cuộc sống của sinh viên phải nói lên được niềm tin của họ, nhưng điều ấy vẫn không bao giờ có thể thế chỗ cho giáo trình vì đó mới là trọng tâm chính của tính công giáo chân chính trong thế giới cao đẳng.
Việc quá thường xẩy ra là: chủ nghĩa tương đối và đức tin tư riêng hóa (privatized faith) không những là “kinh tin kính” của các nhà khoa bảng, mà còn của người dân ngoài phố kia nữa. Thực thế, chủ nghĩa tương đối đã trở thành một tín điều thế tục và “người ta coi việc nói tới chân lý là điều nguy hiểm và ‘độc đoán’”. Thuật ngữ “Nền độc tài của chủ nghĩa tương đối” đã trở thành quen thuộc trong câu phát biểu thời danh của Đức Hồng Y Ratzinger trước khi ngài được bầu làm giáo hoàng.
Trên thực tế, tại nhiều đại học, việc tìm kiếm chân lý bị coi là việc không thể nào thực hiện được, còn ngây ngô là đàng khác. Các nhà khoa bảng đều ngờ vực, nếu không muốn nói là thù ghét, đối với bất cứ ai cho rằng mình biết sự thật. Họ thường mang “một xác tín khá phổ biến này là khả thể đạt chân lý chỉ là một ảo tưởng của siêu hình học cổ truyền”, vì họ chỉ chấp nhận là đúng những điều có thể kiểm nghiệm được.
Trong thế giới đại học, chủ nghĩa hoài nghi thắng thế chân lý. Nó bảo: không điều gì là nhất định, chỉ trừ trong lãnh vực khoa học có thể chứng minh bằng thực nghiệm. Trường đại học nào muốn chu toàn sứ mệnh của mình trong lòng Giáo Hội như là một cộng đồng gồm người dạy và người học, thì giáo trình của nó buộc phải trực diện giải quyết cuộc khủng hoảng chân lý này. Nó có thể làm được điều đó, nếu chịu luận chứng một cách thuyết phục với lòng hăng say và kính trọng rằng chân lý là điều có thể theo đuổi và tới một mức nào đó, có thể dùng trí khôn con người mà đạt tới và thông đạt cho người khác. Việc phục vụ chân lý như thế chính là nền tảng trí thức của mọi đại học Công Giáo. Ngày nay, ta cần tái khẳng định “niềm đam mê chân lý từng lên sinh lực cho Thánh Tôma ngõ hầu có thể khai thác được các lực lượng trí thức cần thiết cho việc phát triển một tương lai triển nở nhân bản chân chính. Thất bại không làm được như thế sẽ dẫn một cộng đoàn học thuật đến chỗ chỉ coi mình đơn thuần là một người cung ứng giáo dục, chết cứng trong một căn phòng đầy kính phản chiếu đủ mọi thứ giải pháp nhưng không có một tập chú hay một mục tiêu nào. Thành ra, như Ralph McInerny từng nhận định: “lý do chính của việc đọc Thánh Tôma là học những điều đúng sự thật”.
Các đại học Công Giáo ngày nay có thể mô phỏng điều Thánh Tôma từng làm trong thế kỷ 13 là lồng vào giáo trình của mình khát vọng tự do “truy tìm toàn bộ chân lý về thiên nhiên, về con người và về Thiên Chúa”. Mặc dù sự cởi mở thanh thản ấy làm giật mình nhiều người đồng thời, nhưng ngài vẫn chuyên chú và đầy yêu thương tìm kiếm chân lý nơi các triết gia tiền và phi Kitô Giáo, sẵn sàng đối thoại tri thức với mọi bậc thầy khôn ngoan. Thánh Tôma chứng tỏ một sự tự do lớn lao trong tinh thần và một lòng trung thực trí thức khi đương đầu với các vấn nạn mới và không bao giờ bác khước các nền triết lý duy tục một cách tiên thiên và không khảo sát kỹ.
Thánh Tôma luôn luôn nhận ra chân lý dấu ẩn trong ý kiến người khác. Ngài khẳng định: “không một giáo huấn lầm lẫn nào lại không có một chút chân lý pha trộn trong đó”. Đức Gioan Phaolô II nhận xét rằng đối với Thánh Tôma, “sự hiện diện của chân lý này dù là không đầy đủ và thiếu sót và đôi khi bị méo mó chính là cây cầu hợp nhất mọi người với người khác và làm cho việc hiểu biết có thể có khi có thiện chí”.
Nguồn gốc do đâu mà có xác tín như trên của Thánh Tôma? Trong việc không ngừng tìm tòi điều thiện và chân lý, Thánh Tôma nhìn nhận rằng Chúa Thánh Thần hoạt động trong ta, mở trái tim nhân bản của ta ra và làm trái tim ấy sẵn sàng đón nhận chân lý Phúc Âm. Trong một câu thời danh, ngài nói: “bất cứ chân lý nào, được ngỏ với bất cứ ai, đều là do Chúa Thánh Thần cả”. Hành động của Chúa Thánh Thần tạo ra sự hấp dẫn đối với chân lý và lôi cuốn trái tim con người hướng về chân lý ấy; Người giúp nhận thức con người chín mùi thành khôn ngoan và tin tưởng phó thác cho điều chân thực. Giống như thánh nhân, người vốn thành công trong việc thiết lập được một cuộc giáp mặt đầy thành quả với tư tưởng Ả Rập và Do Thái cùng thời, luôn kính trọng họ nhưng nhất định không để mình khiếp đảm trước thế giá của họ, các học giả và sinh viên trong các đại học Công Giáo, những người được hưởng cùng một sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, cũng phải tự do xem sét chân lý bất cứ chỗ nào chân lý hiện diện.
Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã tóm tắt thái độ trên của Thánh Tôma đối với mọi bậc thầy vĩ đại của tư duy nhân bản, một thái độ có thể làm nền cho bất cứ đại học nào chịu cố gắng duy trì, truyền lại và phong phú hóa truyền thống trí thức, luân lý và nghệ thuật Công Giáo. Thứ nhất, thánh nhân khởi đầu bằng việc hết lời khâm phục gia tài trí thức của các truyền thống khác. Thứ hai, ngài nhìn nhận giá trị và ý nghĩa và cả các hạn chế của từng tư tưởng gia. Cuối cùng, ngài cảm thông đối với những người thiếu ánh sáng đức tin, như các tư tưởng gia cổ đại chẳng hạn. Đức Thánh Cha, sau đó, suy đoán Thánh Tôma có thể xử lý các vấn nạn hiện nay ra sao: “Ta xác tín rằng nếu hiện diện với ta hôm nay, chắc hẳn ngài sẽ không kém sốt sắng tìm hiểu các lực lượng hiện đang tạo nên các thay đổi nơi con người, các tình huống của họ, cách suy nghĩ của họ và cách họ sống. Bất cứ điều gì có thể giúp ngài lúc này nói về Thiên Chúa cách xứng đáng và đầy thuyết phục hơn trước, dưới mắt ngài, đều tạo ra niềm vui lớn lao. Nhưng trong mọi điều này, ngài không bao giờ đánh mất cảm thức an ổn thanh thản mà một mình đức tin có thể mang lại cho tâm trí con người”.
Tiến Sĩ Thiên Thần là gương sáng tuyệt vời cho các học giả Kitô Giáo nào biết cởi mở đón nhận các dấu chỉ thời đại, biết lên khuôn cho thời đại mình mà vẫn trung thành với nẻo đường vốn được đức tin vạch ra, với thánh truyền và giáo huấn Giáo Hội. Quả là một bài học qúi giá cho việc trao đổi học thuật đầy văn minh và tương kính trong giới Khoa Bãng!
Đức Tổng Giám Mục Michael Miller của giáo phận Vancouver, British Columbia, Canada, ngày 28 tháng Giêng vừa qua, có đọc một bài diễn văn trước công chúng tại Đại Học Thánh Tôma tại Houston. Bài diễn văn này đã được L’Osservatore Romano đăng tải ngày 14 tháng Tư vừa qua. Ngài bảo: “Ta phải tái khẳng định lòng đam mê chân lý từng là động lực khuyến khích Thánh Tôma”.
Theo Đức Tổng Giám Mục Miller, Thánh Tôma chưa bao giờ để tâm trí ngài ưu tư về việc phải nghĩ gì về một trường đại học Công Giáo vào thời ngài hay vào bất cứ thời nào khác. Các trước tác của ngài không bao giờ đề cập tới các vấn đề như phân khoa, sinh viên hay giáo trình là các vấn đề hiện làm chúng ta khá quan tâm. Ấy thế nhưng ngài quả có đề xướng nhiều quan điểm đặc thù về việc thu thập kiến thức về chân lý và mối liên hệ giữa đức tin và lý trí, mà, thiển nghĩ, vốn có một giá trị trường tồn để hiểu được một đại học Công Giáo hiện đại phải tiến hành công việc giảng dạy và tìm tòi của mình ra sao.
Sau khi nghiên cứu chủ thuyết Tôma (Thomism) tại các trung tâm cao học như đại học và chủng viện vốn theo các sáng kiến canh tân của Đức Giáo Honàg Lêô XIII, Đức Cha Miller đề nghị một số lý do khiến Thánh Tôma xứng đáng được gọi là “ánh sáng cho Giáo Hội và cho thế giới”, nhất là thế giới Khoa Bảng Công Giáo trong những ngày hừng đông của Thiên Niên Kỷ Thứ Ba này.
Công Đồng Vatican II: đỉnh cao và xuống dốc
Công Đồng Vatican II đã nối tiếp truyền thống lâu dài vốn chính thức thừa nhận giáo huấn của Thánh Tôma, một giáo huấn được Giáo Hội sử dụng rộng rãi và thành công làm “khí cụ thích ứng tuyệt vời với các mục tiêu của mình, do đó đã đóng ấn thế giá huấn quyền của mình lên Aquinô”. Công Đồng này hết lời ca ngợi Thánh Tôma, coi tư tưởng của ngài đã dọn đường cho mình bằng nhiều cách.
Sắc lệnh về Đào Tạo Linh Mục, chẳng hạn, đã khuyến cáo: phải dạy các chủng sinh theo “cái gia tài triết học vốn có giá trị trường cửu kia”. Đàng khác, cũng phải dạy họ một nền thần học tín lý có thể soi sáng các mầu nhiệm cứu rỗi một cách hoàn toàn hết sức có thể. Các chủng sinh “cũng nên học để đào sâu các mầu nhiệm này với sự trợ giúp của suy lý, dưới sự hướng dẫn của Thánh Tôma và nhận ra các mối liên kết qua lại giữa chúng với nhau”.
Cũng thế, Tuyên Ngôn về Giáo Dục Kitô Giáo cũng ca ngợi giáo huấn của Thánh Tôma vì đã chứng tỏ được rằng đức tin và khoa học có thể làm việc với nhau một cách hòa hợp trong các cao đẳng và đại học Công Giáo. Lần đầu tiên, một công đồng chung đã đề ra một nhà thần học để học hỏi nghiên cứu, và công đồng dành danh dự này cho Thánh Tôma, dù chính các nghị phụ ít sử dụng ngài trong các văn kiện sau cùng hơn là trong các văn kiện được soạn sẵn trước đó để các ngài thảo luận.
Oái oăm thay, ngay gần cùng thời với Công Đồng, người ta thấy xẩy ra một sự đi xuống rõ rệt đối với việc học hỏi nghiên cứu Thánh Tôma, mà có người còn gọi là một cuộc xụp đổ. Có thể đưa ra một số lý do cho việc dần dần rơi vào lãng quên này. Thứ nhất, việc canh tân nghiên cứu Thánh Kinh do thông điệp Divino Afflante Spiritu của Đức Giáo Hoàng Piô XII công bố năm 1943 đã dẫn khởi nhiều thể tài và phạm trù thánh kinh trực tiếp hơn vào thần học, do đó khiến thánh Tôma trở thành như lỗi thời. Đi đôi với việc đó, còn có phong trào trở về nguồn (ressourcement) của một số thần học gia, tức việc nghiên cứu các Giáo Phụ, do đó, bỏ qua các Nhà Kinh Viện, trong đó có Thánh Tôma, để tiếp nhận một truyền thống được coi là hoàng kim thời đại trước đấy. Cùng một lúc, khi tạo ra gần như một trận bão hoàn toàn, một phong trào thứ ba xuất hiện, một phong trào dù muốn hay không, cũng đã ngầm phá hủy vị thế ưu đãi vốn dành cho chủ thuyết Tôma, nhất là tại các chủng viện. Aidan Nichols nhận định về phong trào này như sau: thần học phải có thể đem ra giảng thuyết được; nghĩa là, nó phải sẵn sàng và tức khắc được ‘thông dịch” thành những bài giảng lễ ngày Chúa Nhật phù hợp với các tình huống hiện đại. Trong việc đạt mục tiêu này, Thánh Tôma bị coi là không giúp gì được; ngài không được thánh kinh lắm, quá triết lý và cả phức tạp quá nữa. Một vài người còn đổ lỗi cho việc hấp tấp xua đuổi Thánh Tôma ra khỏi nền Khoa Bảng Công Giáo là do điều được Nichols gọi là “ phương thức sư phạm và văn chương thường dùng để trình bày một cách vụng về chủ thuyết Tôma… Qua đó trong nhiều chủng viện và phân khoa triết học Công Giáo, nó được coi như khô cứng và phi lịch sử”. Lời khuyên của Đức Piô XI “Hãy tới cùng Tôma” đã không được ai nghe theo. Nhiều tóm tắt khô khan các thể tài đã thế chỗ cho các bản văn của chính Bậc Thầy này.
Bất chấp sự xuống dốc hiển nhiên trong việc nghiên cứu học hỏi Thánh Tôma đó, năm 1974, Đức Phaolô VI khiến người ta ngạc nhiên khi ngài bày tỏ sự sảng khoái của ngài về điều được ngài hứng khởi gọi là “cuộc tái xuất ngoại thường, nếu không muốn nói là bất ngờ, của Thánh Tôma, một cuộc tái xuất vốn xác nhận tính khôn ngoan của Huấn Quyền tối cao khi tuyên bố ngài là người hướng dẫn có thế giá, không thể thay thế trong triết học và thần học”. Về phần mình, Đức Gioan Phaolô II hy vọng rằng sự khuyến khích của Công Đồng cùng với việc tổng hợp độc đáo của ngài giữa chủ thuyết Tôma và hiện tượng học, sẽ đem lại một thúc đẩy mới cho công việc tông đồ trí thức của Giáo Hội. Để chắc ăn, Đức Gioan Phaolô II không đề xuất chủ thuyết Tôma như là nền triết lý duy nhất của Giáo Hội, như Đức Lêô XIII vốn làm. Đức Lêô từng cho rằng “nhấn mạnh tới tư tưởng của Tiến Sĩ Thiên Thần là cách tốt nhất để phục hồi việc thực hành triết học trong đồng thanh đồng khí với đức tin”. Đúng hơn, Đức Gioan Phaolô II cho phép một hình thức đa nguyên gồm nhiều hệ thống triết lý, tuy với một cảnh giác là chúng phải chia sẻ cùng một chủ nghĩa thực tại siêu hình (metaphysical realism) của Thánh Tôma, trong đó có quan điểm của ngài về khả năng tự nhiên biết được sự hiện hữu của Thiên Chúa. Chắc chắn Thánh Tôma là triết gia “mẫu mực”. Tuy nhiên, Đức Gioan Phaolô II nói thêm rằng dù rất ca tụng thánh Tôma, “Giáo Hội vẫn không có một nền triết lý riêng cũng như không phong thánh cho bất cứ nền triết lý đặc thù nào so với các nền triết lý khác”.
Còn đối với thần học, Đức Gioan Phaolô II ca ngợi Thánh Tôma là “mẫu mực thực hiện thần học đúng đắn’. Ngài nói thêm: “Huấn Quyền không ngừng hoan nghênh giá trị các tư duy của Thánh Tôma và phong ngài làm người hướng dẫn và là khuôn mẫu cho việc nghiên cứu thần học”.
Tiến sĩ chân lý: chủ nghĩa tương đối và cuộc khủng hoảng chân lý
Người ta có thể nói nhiều điều về cảnh mệt mỏi chánh chường của tri thức, điều gọi là “suy tư yếu” của con người hiện đại. Có lẽ không phải chỉ có một nguyên nhân đơn độc tạo ra việc thoái hóa của tâm tư hiện đại. Nhưng thiết nghĩ điểm khởi đầu tìm ra nguyên nhân này là phân tích sâu sắc tư tưởng của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI.
Theo Đức Thánh Cha, trong số các thánh thức chính đối với Giáo Hội thế kỷ 21 và là một thách thức cho thấy “một trở ngại hết sức ngấm ngầm trong trách vụ giáo dục”, chính là sự hiện diện khổng lồ của chủ nghĩa tương đối trong xã hội và trong các hội trường của Khoa Bảng. Vấn đề chính trong hệ thống giáo dục cao đẳng của ta không hẳn là sự thất bại của nó trong việc cung cấp các kỹ năng trí thức, điều mà nó có thể rất thành công, nhưng là chính tiền đề của nó cho rằng thực tại không hề hiện hữu một cách độc lập bên ngoài tâm trí con người và ta không thể biết được nó cách chắc chắn. Chính vì thế, dù không cố ý, quá nhiều các cao đẳng và đại học đang làm khô cứng thèm khát nhận thức tự nhiên và nhận thức chân lý của sinh viên. Hiện tượng ấy khiến sinh viên tránh né các khoa học nhân văn và nghệ thuật văn chương nói chung, để chỉ chuyên chăm các ngành chuyên nghiệp và thực dụng, mong được hưởng những lợi lộc cao về tài chánh.
Một hậu quả nữa của thứ định đề ấy và là một hậu quả còn nghiêm trọng hơn nữa là: ngay khi người ta thực hành đức tin đi chăng nữa, thì đức tin ấy vẫn không có gì ăn có với sự thật; do đó, không ăn có gì với mục đích cốt lõi của đại học tức việc giảng dạy và nghiên cứu. Trong những tình huống trong đó điều làm cho một đại học thành “Công Giáo” không phải là nội dung giảng dạy hay giáo trình (curriculum) mà chỉ là quan tâm đáng khen đối với “người sinh viên toàn diện”, thì nền tảng trí thức của nó yếu đi, đến vô phương cứu chữa. Dĩ nhiên, điều quan trọng là cuộc sống của sinh viên phải nói lên được niềm tin của họ, nhưng điều ấy vẫn không bao giờ có thể thế chỗ cho giáo trình vì đó mới là trọng tâm chính của tính công giáo chân chính trong thế giới cao đẳng.
Việc quá thường xẩy ra là: chủ nghĩa tương đối và đức tin tư riêng hóa (privatized faith) không những là “kinh tin kính” của các nhà khoa bảng, mà còn của người dân ngoài phố kia nữa. Thực thế, chủ nghĩa tương đối đã trở thành một tín điều thế tục và “người ta coi việc nói tới chân lý là điều nguy hiểm và ‘độc đoán’”. Thuật ngữ “Nền độc tài của chủ nghĩa tương đối” đã trở thành quen thuộc trong câu phát biểu thời danh của Đức Hồng Y Ratzinger trước khi ngài được bầu làm giáo hoàng.
Trên thực tế, tại nhiều đại học, việc tìm kiếm chân lý bị coi là việc không thể nào thực hiện được, còn ngây ngô là đàng khác. Các nhà khoa bảng đều ngờ vực, nếu không muốn nói là thù ghét, đối với bất cứ ai cho rằng mình biết sự thật. Họ thường mang “một xác tín khá phổ biến này là khả thể đạt chân lý chỉ là một ảo tưởng của siêu hình học cổ truyền”, vì họ chỉ chấp nhận là đúng những điều có thể kiểm nghiệm được.
Trong thế giới đại học, chủ nghĩa hoài nghi thắng thế chân lý. Nó bảo: không điều gì là nhất định, chỉ trừ trong lãnh vực khoa học có thể chứng minh bằng thực nghiệm. Trường đại học nào muốn chu toàn sứ mệnh của mình trong lòng Giáo Hội như là một cộng đồng gồm người dạy và người học, thì giáo trình của nó buộc phải trực diện giải quyết cuộc khủng hoảng chân lý này. Nó có thể làm được điều đó, nếu chịu luận chứng một cách thuyết phục với lòng hăng say và kính trọng rằng chân lý là điều có thể theo đuổi và tới một mức nào đó, có thể dùng trí khôn con người mà đạt tới và thông đạt cho người khác. Việc phục vụ chân lý như thế chính là nền tảng trí thức của mọi đại học Công Giáo. Ngày nay, ta cần tái khẳng định “niềm đam mê chân lý từng lên sinh lực cho Thánh Tôma ngõ hầu có thể khai thác được các lực lượng trí thức cần thiết cho việc phát triển một tương lai triển nở nhân bản chân chính. Thất bại không làm được như thế sẽ dẫn một cộng đoàn học thuật đến chỗ chỉ coi mình đơn thuần là một người cung ứng giáo dục, chết cứng trong một căn phòng đầy kính phản chiếu đủ mọi thứ giải pháp nhưng không có một tập chú hay một mục tiêu nào. Thành ra, như Ralph McInerny từng nhận định: “lý do chính của việc đọc Thánh Tôma là học những điều đúng sự thật”.
Các đại học Công Giáo ngày nay có thể mô phỏng điều Thánh Tôma từng làm trong thế kỷ 13 là lồng vào giáo trình của mình khát vọng tự do “truy tìm toàn bộ chân lý về thiên nhiên, về con người và về Thiên Chúa”. Mặc dù sự cởi mở thanh thản ấy làm giật mình nhiều người đồng thời, nhưng ngài vẫn chuyên chú và đầy yêu thương tìm kiếm chân lý nơi các triết gia tiền và phi Kitô Giáo, sẵn sàng đối thoại tri thức với mọi bậc thầy khôn ngoan. Thánh Tôma chứng tỏ một sự tự do lớn lao trong tinh thần và một lòng trung thực trí thức khi đương đầu với các vấn nạn mới và không bao giờ bác khước các nền triết lý duy tục một cách tiên thiên và không khảo sát kỹ.
Thánh Tôma luôn luôn nhận ra chân lý dấu ẩn trong ý kiến người khác. Ngài khẳng định: “không một giáo huấn lầm lẫn nào lại không có một chút chân lý pha trộn trong đó”. Đức Gioan Phaolô II nhận xét rằng đối với Thánh Tôma, “sự hiện diện của chân lý này dù là không đầy đủ và thiếu sót và đôi khi bị méo mó chính là cây cầu hợp nhất mọi người với người khác và làm cho việc hiểu biết có thể có khi có thiện chí”.
Nguồn gốc do đâu mà có xác tín như trên của Thánh Tôma? Trong việc không ngừng tìm tòi điều thiện và chân lý, Thánh Tôma nhìn nhận rằng Chúa Thánh Thần hoạt động trong ta, mở trái tim nhân bản của ta ra và làm trái tim ấy sẵn sàng đón nhận chân lý Phúc Âm. Trong một câu thời danh, ngài nói: “bất cứ chân lý nào, được ngỏ với bất cứ ai, đều là do Chúa Thánh Thần cả”. Hành động của Chúa Thánh Thần tạo ra sự hấp dẫn đối với chân lý và lôi cuốn trái tim con người hướng về chân lý ấy; Người giúp nhận thức con người chín mùi thành khôn ngoan và tin tưởng phó thác cho điều chân thực. Giống như thánh nhân, người vốn thành công trong việc thiết lập được một cuộc giáp mặt đầy thành quả với tư tưởng Ả Rập và Do Thái cùng thời, luôn kính trọng họ nhưng nhất định không để mình khiếp đảm trước thế giá của họ, các học giả và sinh viên trong các đại học Công Giáo, những người được hưởng cùng một sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, cũng phải tự do xem sét chân lý bất cứ chỗ nào chân lý hiện diện.
Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã tóm tắt thái độ trên của Thánh Tôma đối với mọi bậc thầy vĩ đại của tư duy nhân bản, một thái độ có thể làm nền cho bất cứ đại học nào chịu cố gắng duy trì, truyền lại và phong phú hóa truyền thống trí thức, luân lý và nghệ thuật Công Giáo. Thứ nhất, thánh nhân khởi đầu bằng việc hết lời khâm phục gia tài trí thức của các truyền thống khác. Thứ hai, ngài nhìn nhận giá trị và ý nghĩa và cả các hạn chế của từng tư tưởng gia. Cuối cùng, ngài cảm thông đối với những người thiếu ánh sáng đức tin, như các tư tưởng gia cổ đại chẳng hạn. Đức Thánh Cha, sau đó, suy đoán Thánh Tôma có thể xử lý các vấn nạn hiện nay ra sao: “Ta xác tín rằng nếu hiện diện với ta hôm nay, chắc hẳn ngài sẽ không kém sốt sắng tìm hiểu các lực lượng hiện đang tạo nên các thay đổi nơi con người, các tình huống của họ, cách suy nghĩ của họ và cách họ sống. Bất cứ điều gì có thể giúp ngài lúc này nói về Thiên Chúa cách xứng đáng và đầy thuyết phục hơn trước, dưới mắt ngài, đều tạo ra niềm vui lớn lao. Nhưng trong mọi điều này, ngài không bao giờ đánh mất cảm thức an ổn thanh thản mà một mình đức tin có thể mang lại cho tâm trí con người”.
Tiến Sĩ Thiên Thần là gương sáng tuyệt vời cho các học giả Kitô Giáo nào biết cởi mở đón nhận các dấu chỉ thời đại, biết lên khuôn cho thời đại mình mà vẫn trung thành với nẻo đường vốn được đức tin vạch ra, với thánh truyền và giáo huấn Giáo Hội. Quả là một bài học qúi giá cho việc trao đổi học thuật đầy văn minh và tương kính trong giới Khoa Bãng!