PDA

View Full Version : Đang Khi Chúc Lành, Thì Người Rời Khỏi Các ông Và Được Đem Lên Trời


admin
10-05-2010, 07:58 AM
ĐANG KHI CHÚC LÀNH, THÌ NGƯỜI RỜI KHỎI CÁC ÔNG VÀ ĐƯỢC ĐEM LÊN TRỜI.
SUY NIỆM PHÚC ÂM (III C 28); (16.05.2010); (Lc 24, 46-53)
LỄ CHÚA THĂNG THIÊN, NĂM C.
NGUYỄN HỌC TẬP
Chúng ta đang ở vào những vòng chót của Phúc Âm Thánh Luca. Theo quan niệm thông thường, trong một cuộc tiễn biệt giữa Chúa Giêsu và các Tông Đồ như hôm nay, chúng ta chờ đợi ở Phúc Âm những lời dặn dò, lời vĩnh biệt, và chào hỏi nhau, kể cả những dòng lệ rơi.
Nhưng trái lại, Phúc Âm Thánh Luca ghi lại cho chúng ta biến cố kết thúc một giai đoạn, nhưng thay gì đóng kín lại, đoạn kết thúc lại mở ra một chân trời mới, một tương lai mới rạng rỡ hơn.
Đoạn Phúc Âm có thể được chia thành hai phần,
- các lời nói và cử chỉ của Chúa Giêsu (Lc 24, 46-51)
- và phản ứng của các Tông Đồ (Lc 24, 52-53).

1 - Lời nói và cử chỉ của Chúa Giêsu (Lc 24, 46-51).
Phần đầu của đoạn Phúc Âm ghi lại các lời nói của Chúa Giêsu. Và vì là những lời nói cuối cùng, nên những lời nói đó có tính cách là những lời chúc thư thiên thánh, có giá trị vĩnh cửu của một giới răn.
Đoạn Phúc Âm hôm nay không gồm tóm câu (Lc 24, 45) trước đó, trong đó câu viết cho biết Chúa Phục Sinh giúp cho các môn đệ hiểu rõ được Thánh Kinh:
- “Bấy giờ Người mở trí cho các ông hiểu được Thánh Kinh".
Thật vậy, đối với Thánh Luca, việc thấu hiểu được ý nghĩa Thánh Kinh muốn nói lên cho chúng ta, là một ơn Chúa Phục Sinh ban cho. Điều đó được hai môn đệ trên đường Emmaus chứng minh cho thấy, được vị Thầy lạ lùng cùng bước đi với mình hôm đó, giải thích cho các ông một khoá Thánh Kinh rút gọn, nhằm vào mầu nhiệm Phục Sinh. Khổ nạn, tử nạn và phục sinh là những mảnh tách rời, để có thể ghép lại thành bức tranh lịch sử cuộc đời trần thế Chúa Giêsu.
Và với ý nghĩa đó Chúa Giêsu tiếp tục lại lời dạy bảo của Người đối với các Tông Đồ:
- “Và Người nói: “Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại” (Lc 24, 46).

Như vậy Người thêm vào một yếu tố khắc ghi điều mới lạ vào Tân Ước. “Nhân danh Người” , có nghĩa là nhân danh chính con người của Chúa Giêsu, mà lòng thống hối và ơn tha tội phải được rao giảng:
- “Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối, để được ơn tha tội” (Lc 24, 47).
Điều mà Cựu Ước quy hướng cho Thiên Chúa,
- “Ngoài Ta ra, không có thần nào nữa, chẳng có thần công minh cứu độ, ngoại trừ Ta” (Is 45, 21),
giờ đây được quy chiếu về con người Chúa Giêsu, sống giữa các môn đệ Người cho đến lúc đó.
Và Chúa Giêsu cũng giao cho các môn đệ hãy là những nhân chứng cho những gì các vị đã chứng kiến:
- “Chính anh em là chứng nhân về những điều nầy" (Lc 24, 48).
Điều nầy là điều gì ?
Là biến cố Phục Sinh biến đổi cuộc sống con người, như đã biến đổi cuộc sống của Chúa Giêsu.

Một yếu tố quan trọng khác cũng được Thánh Luca ghi lại, đó là “cho muôn dân”. từ nay mọi dân nước đều được tin mừng Phúc Âm chuyển đến cho.
Với biến cố Phục Sinh, mọi biên giới, mọi rào cản ngăn cách dân tộc nầy tách xa dân tộc khác, người nầy rời khỏi người khác, giai cấp nầy vượt lên trên, đè nến giai cấp khác đều bị san bằng, dẹp bỏ.
Chúa Phục Sinh đang phát hoạ một đại gia đình, trong đó mọi người, một người nào đó, một môn đệ là nhân chứng có phận vụ cao cả không ai có thể thay thế được, phận vụ loan báo Chúa Phục Sinh cho mọi người.
Các môn đệ là những người đã có kinh nghiệm “mắt thấy tai nghe “ Chúa Phục Sinh, được Người ban cho ơn khởi đầu hiểu được ý nghĩa Thánh kinh, chính các vị là những người được Chúa Phục Sinh sai đi làm nhân chứng và loan báo cho muôn dân.
Như vậy người môn đệ Chúa Phục Sinh, người tín hữu Chúa Kitô là người có phận vụ phục vụ sứ mạng rao giảng của Giáo Hội và chứng minh cho mọi người thấy điều mình nói bằng động tác thiết thực trong cuộc sống thường nhật, “chứng nhân về các điều nầy".

Để trang bị cho động tác phục vụ của các môn đệ, của người tín hữu Chúa Kitô được trang bị cho ơn Chúa Thánh Thần, làm cho các vị và những ai phục vụ có khả năng thích ứng với phận vụ được giao phó. Cũng như các tiên tri trong Cựu Ước đã nhận được “sức mạnh” (Hy Lạp, dýnamis), từ “trời cao“ để có khả năng thực hành.
Giờ đây người môn đệ Chúa Kitô ngoài ra “sức mạnh“ còn nhận được Chúa Thánh Thần là phương thức mới để minh rao giảng và minh chứng Chúa Kitô hiện diện.
Sự hiện diện của Chúa Kitô không còn được cảm nhận bằng giác quan, mà bằng kinh nghiệm trong Chúa Thánh Thần.
Với ngôn ngữ bất toàn của chúng ta, chúng ta có thể nói rằng Chúa Kitô “khiếm diện - hiện diện" hay nếu thích, “hiện diện khiếm diện".
Chúa Thánh Thần sẽ được ban cho tại Giêrusalem, cũng trong cùng một thị trấn nơi đã xảy ra biến cố khổ nạn, tử nạn và phục sinh:
- “Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba từ cõi chết sống lại. Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem...".
Chính ở cùng một địa danh, tại cùng một nơi chốn là yếu tố xác quyết hơn nữa ơn ban Chúa Thánh Thần là đồ án nguyên thủy của biến cố phục sinh:
- “Thầy sẽ gửi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa. Còn anh em, hãy ở lại trong thành cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống” (Lc 24, 49).

Các lời nói của Chúa Giêsu được tiếp nối bằng động tác của Người, để nói lên là những lời nói hiện thực, chớ không hứa trên lý thuyết:
- “Sau đó Người dẫn các ông tới gần Betania, rồi giơ tay chúc lành cho các ông. Và đang khi Người chúc lành, Người rời khỏi các ông và được đem lên trời” (Lc 24, 50-51).

2 - Phản ứng của các Tông Đồ.
Nếu Chúa Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ Mới, là sự hiện diện mới của Chúa Giêsu, thì người môn đệ cũng phải quen với cách liên hệ mới của Người, khác với phương thức mà các ông vẫn quen biết từ xưa nay, tức là thấy, nghe, và chạm được đến Người.
Đó là ý nghĩa cần phải có để hiểu được biến cố Thăng Thiên. Thăng Thiên là lần cuối cùng Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ
- “đưa đến kết quả là nhân tính của Người hội nhập vào một cách vĩnh viễn với niềm vinh quang của Thiên Chúa, được biểu tượng bằng đám mây và vầng trời” (Sách Giáo Lý Công Giáo, 659).
Biến cố Thăng Thiên được xảy ra ở Betania một cách trọng thể, trên núi Ô liu.
Hình ảnh Chúa Giêsu đưa tay lên và chúc lành làm cho chúng ta hồi tưởng lại động tác của vị trưởng tộc. Một vài nhà chú giải Thánh Kinh cho đó cũng là cử chỉ của vị thương tế có một hành động tương tợ:
- “Bấy giờ ông Simon bước xuống, giơ tay trên toàn thể cộng đồng con cái Israel, và đọc lời chúc lành của Chúa" (Sir 50, 20).
Đó không phải là một cử chỉ chào tạm biệt hay vĩnh biệt, mà là một động tác nói lên phương thức bảo vệ của Thiên Chúa.

Hiểu như vậy, chúng ta hiểu được phản ứng của các Tông Đồ là phản ứng tích cực. Các ngài không có phản ứng gào thét lên, “Xin Chúa đừng đi, ở lại với chúng con“ hay một động tác nào tương tợ. Trái lại
- “Các ông bái lạy Người, rồi trở lại Giêrusalem lòng đầy hoan hỷ“ (Lc 24, 52).
Tình cảm mà các ngài cảm nhận được không phải là sự trống rỗng, mất mát, của cuộc chia ly, ra đi, mà là một niềm vui sướng cao cả, “lòng đầy hoan hỷ".
Thánh Luca làm chiếu rạng Phúc Âm của ngài bằng niềm vui rạng rỡ, niềm vui hân hoan đó được đề cập đến 8 lần trong Phúc Âm Thánh Luca (6, trong Thánh Matthêu; 1, trong Thánh Marco).
Nhưng chỉ có hai lần “niềm vui cao cả, trọng đại” (grande joie) được Thánh Luca đề cập đến, đó là
- lúc thiên thần loan báo Chúa Giêsu sinh ra (Lc 2, 10),
- và trong đoạn Phúc Âm hôm nay về sự ra đi của Người (Lc 24, 52).
Thánh Luca nói lên “niềm vui cao cả, trọng đại” lúc được thiên thần báo cho là Chúa Giêsu đang hiện diện (lúc Người sinh ra) và lúc tâm thức các Tông Đồ đã trở nên trưởng thành về sự hiện diện mới, hoàn hảo và vĩnh viễn của Chúa Phục Sinh.
Nếu không, chúng ta không thể nào giải thích được tại sao các ngài luôn ở lại trong Đền Thờ để ngợi khen, tôn vinh Chúa:
- “...rồi trở lại Giêrusalem lòng đầy hoan hỷ, và hằng ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa” (Lc 24, 53).
“Niềm vui cao cả, trọng đại", "lòng đầy hân hoan“ luôn luôn vì có Chúa giêsu hiện diện.

Chúng ta có cảm tưởng rằng Thánh Luca kết thúc mau chóng Phúc Âm của ngài, thâu ngắn thời gian tính và đặt biến cố Thăng Thiên sát gần với biến cố Phục Sinh.
Cử chỉ đó giúp cho chúng ta dễ hiểu được ý nghĩa thần học của sự “hiện diện - khiếm diện“ của Chúa Giêsu, bởi vì ngài biết rằng với quyển Tông Đồ Công Vụ sau đó, chủ đề sẽ được đề cập trở lại một cách khúc chiết mạch lạc và trải dài ra hơn theo thời gian.
Phúc Âm Thánh Luca kết thúc cuộc sống lịch sử của Chúa Giêsu và mở ra sự hiện diện của Chúa Thánh Thần và của Giáo Hội.
Đó là sự hiện diện vĩnh viễn của Chúa Giêsu đang ở giữa chúng ta.