PDA

View Full Version : Ý niệm tiếp nhận trong hiệp thông


admin
23-05-2010, 05:05 PM
Ý niệm tiếp nhận trong hiệp thông

Với hiệp thông, người ta không còn nói tới vâng lời, quy phục, trở về, quay lại, hồi tâm, thống hối, ăn năn trở lại nữa, mà nhấn mạnh tới ý niệm tiếp nhận (receptio). Tuy nó được năng nói tới từ thời Công Đồng Vatican II, nhưng thực ra ý niệm này vốn đã có từ trước đó và được Linh Mục Yves Congar định nghĩa là diễn trình qua đó một giáo hội thực sự biến làm của mình một quyết định không do chính mình tạo ra cho mình, và nhìn nhận biện pháp của quyết định kia như một qui luật áp dụng cho chính sinh hoạt của mình (La réception comme réalité écclésiologique, 370).

Nói đến qui luật, theo định nghĩa trên, là nói đến vấn đề thực tiễn, thực hành. Và vì thế, vấn đề sẽ được thấu đáo hơn, nếu ta có thể tìm hiểu ý niệm tiếp nhận này trong ba lãnh vực giáo lý, giáo luật và đại kết.

I. Việc tiếp nhận và Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo

Nhân dịp ban hành Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo năm 1992, Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong tông hiến Fidei Depositum (Kho Ký Thác Đức Tin), đã viết rằng: “Tôi xin các vị chủ chăn của Giáo Hội và các tín hữu hãy tiếp nhận cuốn sách giáo lý này trong tinh thần hiệp thông”.

Linh mục Gerard Kelly thuộc Học Viện Công Giáo Sydney, trong bài “The Catechism, the Seven Sacraments and the Reception of Vatican II” đăng trên The New Catechism, Analysis and Commentary, Catholic Institute of Sydney, 1994, nhận định về thông điệp trên như sau: Ý niệm tiếp nhận ở đây phải được hiểu như một khía cạnh trong đời sống hiệp thông của Giáo Hội. Nó muốn gợi ý rằng cuốn Giáo Lý này phải được dùng như một dụng cụ hiệp thông giữa các giáo hội địa phương, và nhất là giữa giáo hội địa phương với giáo hội Rôma, vốn có một vị trí đặc biệt giữa mọi giáo hội địa phương. Không còn gì thích hợp hơn khi giáo hội địa phương Rôma này cổ vũ sự hiệp thông giữa các giáo hội.

Theo cha Kelly, hệ luận của điều trên có tính giáo huấn rất lớn. Trước hết, nó muốn nói: việc ban hành Sách Giáo Lý này không được dẫn tới tính độc dạng (uniformity) trong Giáo Hội. Vì nếu điều đó xẩy ra, kể như ta đã dùng sai Sách này và nó hết còn là dụng cụ của hiệp thông và của việc tiếp nhận Công Đồng Vatican II. Tưởng cần giải thích ở đây rằng: sự hợp nhất của đức tin Công Giáo không và chưa bao giờ được biểu lộ một cách độc dạng khắp nơi trên thế giới. Đức tin cần một tính đa dạng lành mạnh trong phát biểu nếu nó muốn thực sự công giáo và diễn tả được chiều rộng cũng như chiều sâu của đức tin tông truyền. Thực thế, chính Sách Giáo này đã góp phần cổ vũ cho tính đa dạng ấy trong tình hiệp thông các giáo hội.

Sự kiện nó là dụng cụ hiệp thông không có nghĩa: các lời và các biểu thức nó sử dụng luôn luôn thích hợp đối với những người sống trong một nền văn hóa đặc thù vào thời điểm này của lịch sử thế giới. Nó có thể nói tới những điều mà người dân ở đây chưa sẵn sàng muốn nghe hay không cần nghe vào lúc này, những điều mà người thuộc văn hóa khác, hoàn cảnh khác có thể cần nghe. Điều này không nên làm ta bối rối vì Sách Giáo Lý vốn có mục đích đại diện cho cho truyền thống sống động của đức tin Kitô Giáo; mà truyền thống này cần được sinh động hóa tại mỗi giáo hội địa phương. Chính Tông Hiến Fidei Depositum cũng cho rằng Sách này không thay thế các sách giáo lý địa phương. Nó cũng không thay thế các sách nghi lễ của các giáo hội địa phương. Thực vậy, vì là dụng cụ hiệp thông, nó không thể đứng biệt lập đối với các tài liệu của Công Đồng, các bản văn phụng vụ và giáo luật mới. Nó không ngăn cản các giáo hội địa phương cố gắng hiểu và tích nhập công trình của Vatican II.

Thật ra, theo cha Kelly, muốn cho toàn vẹn tính của đức tin được duy trì, mỗi thế hệ còn phải tiếp nhận như mới các học lý trình bày tại Vatican II cũng như trong Sách Giáo Lý này. Chính vì vậy, người ta còn nới tới diễn trình gọi là tái tiếp nhận (re-receptio) nữa. Không có diễn trình tái tiếp nhận này, các chân lý chứa trong các mệnh đề tín lý, những mệnh đề nhờ đó ta đem đức tin vào thực hành trong các hoàn cảnh đa dạng của cuộc sống hằng ngày, sẽ trở thành méo mó. Chỉ nhắc lại các công thức cũ là điều không đủ; mà cần phải thông đạt ý nghĩa các ngôn từ của chúng một cách thông minh cho người thuộc thế hệ này.

Linh mục Kelly thuật lại diễn trình tiếp nhận Công Đồng Vatican II trong những năm vừa qua. Thoạt đầu là các bản văn phụng vụ mới, dạy ta phải làm những việc khác với ngày trước. Như thế, bước đầu tiên là thay đổi thói quen, thay đổi thực hành. Thời gian trôi qua, giáo dân bắt đầu hiểu hơn một chút ý nghĩa và tinh thần trong các thay đổi phụng vụ. Và họ cũng nhanh chóng nhận ra rằng trong các hoàn cảnh đặc thù, có những điều thực hiện rất tốt nhưng cũng không thiếu những điều không xuông xẻo. Có những điều thực hành trong giai đoạn đầu nay không còn được thực hành nữa. Và thế là ta tiến quan giai đọan hai trong diễn trình tiếp nhận: một số khía cạnh trong việc canh tân phụng vụ được tiếp nhận, nhiều khía cạnh khác thì không. Đây không hẳn là việc không chấp nhận tín điều, tín lý (ngọai trừ trường hợp Tổng Giám Mục Lefèbre) mà là vấn đề người ta ý thức rõ hơn người ở nơi này, vào thời điểm này không cần một hay nhiều khía cạnh của việc canh tân phụng vụ, hay ít nhất cũng cần có được những lối phát biểu khác về chân lý chứa trong bản văn. Một số khía cạnh khác trong giáo huấn của Công Đồng không được tiếp nhận rất có thể vì chưa được thấu hiểu, nên người ta đành trở về với đường xưa lối cũ. Sau cùng, ta cũng có thể nhận diện một số khía cạnh giáo huấn nay đã bị bỏ quên. Điều này không hẳn là do ác ý, nhưng nên coi nó như một yếu tố nữa của diễn trình tiếp nhận. Nếu được nhắc nhở, rất có thể người ta lại cố gắng áp dụng với nhiều thành quả hơn.

Cha Kelly còn nói tới một giai đoạn nữa trong diễn trình tiếp nhận đó là việc suy tư của các nhà thần học về ý nghĩa các bí tích và phụng vụ. Các suy tư này đã dẫn tới việc hiểu biết hơn các lời kêu gọi của Công Đồng, với kết quả là thay đổi được nhiều thực hành và tập quán theo nghĩa hiện thực. Phần lớn những điều trên đây có nghĩa rộng rãi hơn là việc tiếp nhận theo nghĩa giáo luật. Dù Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo là một hành vi tiếp nhận theo giáo luật, nhưng các trình bày trên nhấn mạnh nhiều hơn tới khía cạnh thần học và thiêng liêng của việc tiếp nhận.

Hai nghĩa của tiếp nhận

Linh mục Stephen F. Brett, trong bài “Reception and Catechism” đăng trên The Homiletic & Pastoral Review, số tháng 10 năm 1994, cho hay có người phân biệt ra hai nghĩa của tiếp nhận: nghĩa cổ điển là việc các giáo hội địa phương chấp nhận giáo huấn của Công Đồng và nghĩa hiện đại hơn là nhất trí đại kết, đạt được nhờ cuộc đối thoại giữa các giáo hội. Theo cha, cả hai nghĩa ấy đều được áp dụng trong Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo. Cha cho rằng việc soạn thảo công phu cũng như ban hành Sách này cấu thành một cuộc “tiếp nhận” chân chính và không thể thiếu đối với Công Đồng Vatican II. Nó thực sự làm tròn bản sắc huấn quyền của Vatican II, một cách có chất lượng chứ không phải chỉ tượng trưng. Muốn hiểu rõ điều này, ta nên khảo sát và phê phán các quan điểm khác nhau như (a) quan điểm cho Sách này không có liên hệ gì tới Vatican II; (b) quan điểm cho Sách này ít có giá trị; (c) quan điểm cho đây là một tài liệu thiếu sót, cắt quãng đối với Vatican II.

Không ai chối cãi có sự liên hệ nội tại giữa Sách Giáo Lý và Vatican II. Hàng trăm tham chiếu các văn kiện của Vatican đã được trích dẫn. Các trích dẫn nhan nhản này không phải chỉ dùng như những hỗ trợ chứng minh (proof-texts) mà là chính những sợi dọc sợi ngang dệt nên nội dung Sách. Đến nỗi, người ta có thể quả quyết: sẽ không có Sách này nếu trước đó không có Vatican II. Điều này thực ra đã có tiền lệ: Sách Giáo Lý Rôma từng xuất hiện như di sản trực tiếp của Công Đồng Triđentinô. Nó đã tác động mạnh mẽ lên đời sống Giáo Hội thời Phản Cải Cách. Nhưng có người lại dựa vào nghĩa thứ hai của tiếp nhận mà lên án Sách Giáo Lý Rôma. Họ cho rằng Sách này đã làm chậm hay cản trở diễn trình tiếp nhận thực sự khi tiên thiên loại bỏ việc đối thoại chân chính với Luther, Calvin, Zwingli và những nhà cải cách khác.

Phương thức tiếp nhận hiểu như thế đã quá chú ý tới cuộc tranh luận hệ phái hơn là việc trình bày giáo huấn tông truyền bên trong hiệp thông Công Giáo. Nó đã không định vị tâm điểm giáo huấn huấn quyền vào mạng lưới giáo hoàng và công đồng nhưng mơ mộng đi tìm một “đồng thuận” giả tưởng phát sinh từ việc pha trộn các quan điểm trái ngược. Thật vậy, đồng thuận như thế đã thay thế cho hiệp thông. Khi cho rằng chân lý phát sinh từ cuộc va chạm các quan điểm trái ngược thay vì phát sinh từ việc khai triển thần học có tính hữu cơ nhằm phục vụ đức tin, một giáo hội học như thế mắc nợ Hegel nhiều hơn Chúa Thánh Thần. Đúng là việc đối thoại với các quan điểm khác từ lâu vốn là cái nòi sáng chói trong lịch sử thần học, mà một phần rất lớn đều là những phản ứng đa dạng của giáo phụ đối với các trào lưu văn hóa đương thời. Nhưng cần nhớ rằng chính công đồng chung tự nó cũng đã là một đối thoại mạnh mẽ với thật nhiều quan điểm rồi. Công Đồng Triđentinô không phải chỉ là một “phản ứng” chống lại Luther nhưng là một cố gắng tìm ra các ngôn từ, phương pháp và phương thức mục vụ có thể chứng thực cho cái hiểu của mình về gia tài Công Giáo, trong đó, dĩ nhiên có truyền thống tông đồ. Không cho phép một công đồng thực thi và áp dụng thành quả phát sinh từ các suy nghĩ rộng dài và các bàn luận đầy tinh thần của nó rõ ràng là sát tế toàn vẹn tính lịch sử của công đồng trên bàn thờ ý thức hệ. Đại kết chân chính sẽ chỉ được phục vụ tốt nhất khi để cho mỗi truyền thống tự trình bày cái hiểu về chính mình của họ. Sách Giáo Lý Rôma quả là hệ luận mục vụ tất yếu của Công Đồng Triđentinô, và Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo cũng thế, nó là hệ luận mục vụ tất yếu của Vatican II.

Điều trên không có nghĩa phải coi công trình của một Công Đồng như một khối đá duy nhất (monilithic); trình thuật có tính lịch sử của Hubert Jedin về Công Đồng Triđentinô và nhiều trình thuật cùng thời cho thấy rộng dài sự hiện diện của một tính đa nguyên lành mạnh gồm nhiều cái nhìn, phương thức tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, các văn kiện của Công Đồng phát sinh từ các cuộc tranh luận tại đó không nói lên một đồng thuận nhân bản hay một thoả hiệp chính trị, mà là một tổng hợp thần học, một hồng ân thực sự của Chúa Thánh Thần, soi sáng và hướng dẫn toàn thể Giáo Hội. Ta thấy trong đó, một Paradosis (một thông truyền, một chuyển giao) thực sự của Đấng An Ủi, một triển khai các đền đài của thánh truyền nhằm bối cảnh hóa các vấn nạn của một thời đại đặc thù.

Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo không hề minh nhiên hay mặc nhiên bác bỏ một giáo huấn nào của Vatican II. Nó sử dụng bản văn của Vatican không phải chỉ như những trích dẫn hỗ trợ mà để tạo nên thịt xương cho nội dung của mình: một giáo hội học hiệp thông, một cảm thức canh tân về bí tích, một thần học luân lý nhấn mạnh tới nhân đức và mối phúc, một khảo sát cầu nguyện đầy tính công khai, huyền nhiệm và hết sức bản vị.

Trong bối cảnh Hoa Kỳ, Cha Bret trình bày hai thái độ tiêu cực đối với Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo ngay sau khi nó được ban hành. Thái độ đầu tiên là ngoan ngoãn dửng dưng, một thái độ được ngài gọi là đáp ứng duy tối thiểu (minimalist response). Thái độ này hy vọng rằng việc không tiếp nhận, việc dửng dưng có tính mục vụ hay không tuân theo sẽ vô hiệu hóa giáo huấn. Theo Cha Bret, thực ra không hẳn thế, vì đây chỉ là vấn đề khuôn khổ thời gian (time frame) của tiếp nhận mà thôi. Kinh Tin Kính Nixêa cần tới hơn 60 năm mới được Giáo Hội hoàn vũ “tiếp nhận”. Hơn nửa thế kỷ của không biết bao “thượng hội đồng, vạ tuyệt thông, lưu đày, và cả can thiệp lẫn bạo hành của đế quốc nữa”, theo lời Cha Congar, đã đánh dấu việc thoạt đầu “không được tiếp nhận” của Nixêa. Đàng khác, Cha Congar cũng thận trọng cho hay: mức độ tiếp nhận theo sau một công đồng không tạo nên tính chính đáng cho giáo huấn của công đồng ấy. Ngài cho hay, trong khía cạnh này, tiếp nhận chỉ là việc kéo dài diễn trình của công đồng, nó có liên hệ mật thiết với cùng một “tính công đồng” hết sức chủ yếu của Giáo Hội… Không phải việc tiếp nhận tạo nên tính chính đáng cho một quyết định của công đồng hay một sắc lệnh chân chính. Các quyết định và sắc lệnh này nhận được tính chính đáng và giá trị bắt buộc của chúng từ các thẩm quyền nâng đỡ chúng.

Cha Congar cũng sử dụng khả năng bác học của mình để bác bỏ chủ trương của một số người cho rằng việc chống đối hay bất đồng có tính mục vụ đối với giáo huấn của huấn quyền đủ để cấu thành một bất tiếp nhận và do đó triệt tiêu giá trị của giáo huấn. Đây cũng là quan điểm của những người bất đồng với Thông Điệp Sự Sống Con Người. Những người bất đồng này quên mất thực tại tri thức luận sau đây: tác phong tội lỗi, thay vì vô hiệu hóa các qui phạm luân lý, chính là lý do khiến phải có các qui phạm luân lý ấy. Sự lấn lướt của tội ác bạo hành không vô hiệu hóa các qui phạm luân lý nhằm chống lại tội ác bạo hành ấy.

Thái độ thứ hai phê phán Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo không chú trọng tới các dị biệt văn hóa giữa kinh nghiệm Hoa Kỳ và giáo huấn Rôma. Thực ra, đây chỉ là cái cớ, dựa vào việc hội nhập văn hóa, để bất đồng về tín lý. Theo Cha Bret, về phương diện này, ta thấy (1) văn hóa không có giá trị tuyệt đối như con đường rõ rệt nhất đưa ta tới việc sống Tin Mừng; (2) ngay các triết gia thế tục cũng càng ngày càng phê phán việc phân mảnh, việc đánh mất viễn tượng không nhìn thấy ích chung, việc phân hóa có tính bộ lạc (tribal balkanization) và chủ nghĩa tự yêu mình thái quá đầy tính tiêu thụ trong khung cảnh văn hóa Hoa Kỳ; (3) các nét tích cực trong nền văn hóa Hoa Kỳ, như việc triển nở dân chủ chẳng hạn, không bác bỏ hay hạn chế sứ mệnh do Chúa Giêsu trao cho Giáo Hội là rao truyền Tin Mừng và các chân lý của giáo huấn Phúc Âm. Tin Mừng ấy thực sự chỉ nắm được một cách tốt nhất khi những “lưỡi dao cạo” bén nhậy của nó được trình bày minh nhiên như là phản lại nền văn hóa đương thịnh. Phản ứng dữ dội nơi một số người chống lại Sách Giáo Lý cho thấy rõ Sách này không chịu để Tin Mừng hay Thánh Truyền bị “thuần hóa”.

II. Học lý giáo luật về tiếp nhận

Linh mục James A. Coriden là đồng chủ biên cuốn bình luận của Hội Giáo Luật Hoa Kỳ về Bộ Giáo Luật năm 1983 của Giáo Hội Công Giáo. Trong một bài soạn cho Hội Quyền Lợi Người Công Giáo Trong Giáo Hội (ARCC), ngài cho rằng để một luật lệ hay một qui định nào đó trở thành nguyên tắc hướng dẫn cộng đoàn tín hữu, luật lệ hay qui định đó phải được cộng đồng ấy tiếp nhận.

Theo Cha Coriden, học lý đó đã có từ rất lâu. Ít nhất cũng từ thời John Gratian, thế kỷ 12. Nhưng chính Gratian cho rằng mình đặt căn bản học lý của mình trên các trước tác của Isidore thành Seville (thế kỷ thứ 7) và của Thánh Augustinô thành Hippo (thế kỷ thứ 5). Tuy nhiên, nó được đào sâu trong những năm giữa thế kỷ 20, trong đó, như đã thấy, có Cha Yves Congar.

Luật đạo khác với luật đời

Lý thuyết hay học lý tiếp nhận có nhiều hình thức. Hình thức có tính triết học cho rằng việc người ta tiếp nhận luật lệ là một phần yếu tính của diễn trình tạo luật. Một hình thức khác cho rằng tiếp nhận đơn thuần chỉ là cách thừa nhận rằng có một số luật lệ không được soạn thảo tốt và thực sự không có hiệu lực. Chính vì những quan điểm dị biệt ấy, ta cần đưa ra một cái nhìn rõ rệt và gắn bó về học lý tiếp nhận theo giáo luật. Tuy nhiên việc đầu tiên cần nhấn mạnh là giáo luật chỉ là luật theo nghĩa so sánh (by analogy). Nó khác với luật đời hơn là giống luật đời. Lý do hiển nhiên là vì Giáo Hội là một cộng đồng khác xa với một nhà nước. Giáo Hội khác xa nhà nước về nguồn gốc, mục tiêu, lịch sử, bản sắc, năng động tính nội tại và số phận cùng đích. Trong Giáo Hội, luật lệ có một mục tiêu khác: đã đành là chúng được dùng để duy trì trật tự và bảo vệ quyền lợi bản thân, nhưng mục tiêu tối hậu của nó là ích lợi thiêng liêng, là tình yêu hỗ tương giữa các chi thể, là sự cứu rỗi đời đời của họ. Nguồn gốc thẩm quyền trong Giáo Hội là uy quyền của Chúa Phục Sinh và sự hiện diện của Chúa Thánh Thần; những nguồn gốc này chỉ được nhìn nhận bởi người có đức tin mà thôi. Khoa giáo luật vì thế là một khoa thần học, không phải là một khoa pháp chế (juridical). Các nguyên lý của nó rút từ mạc khải thánh và truyền thống Giáo Hội. Các nhà giáo luật học là các thừa tác viên trong Gaío Hội, không phải các luật sư. Giáo Hội là một hiệp hội tự ý, tự nguyện. Không ai bị cưỡng bức trở thành hội viên. Nó là một cộng đồng tạo thành bởi cam kết tự do. Đó chính là bối cảnh cho các luật lệ của Giáo Hội. Luật lệ trong Giáo Hội, vì thế, có một thực tại và một tính hữu hiệu khác hẳn. Chúng là những hướng dẫn hơn là các đạo luật. Các hành vi chống lại các qui định giáo luật rất thường khi vẫn hoàn thành được các mục tiêu tôn giáo căn bản của nó.

Các qui định của giáo luật có cả yếu tố nội tại lẫn ngoại tại. Việc tiếp nhận bàn đến đặc tính nội tại của nội dung luật và việc các chủ thể chấp nhận chúng. Yếu tố ngoại tại tức thẩm quyền chính thức tạo ra các luật ấy cũng như các điều kiện kỹ thuật để công bố chúng, không được bàn tới ở đây.

Một điểm nữa cần ghi nhận: Thần Trí Thiên Chúa luôn hiện diện và hành động trong cộng đồng niềm tin và trong mỗi chi thể của cộng đồng này. Sự hướng dẫn của Thiên Chúa là dành cho mọi người, chứ không phải chỉ dành cho một số nhà lãnh đạo. Mọi người đã được rửa tội đều phải trở thành các tham dự viên tích cực trong Giáo Hội và cùng chia sẻ sứ mệnh của Giáo Hội. Ai cũng có điều phải nói về đức tin và kỷ luật của Giáo Hội.

admin
23-05-2010, 05:07 PM
Học lý giáo luật về tiếp nhận

Như trên đã nói, học lý này xuất hiện với Gratian trong tác phẩm Decretum (khoảng năm 1140), mà ông nói là dựa vào Isidore thành Seville và Augustinô thành Hippo. Ông viết: “Luật được thiết lập khi chúng được công bố và được xác nhận khi chúng được chấp nhận bởi việc thực hành của những người dùng nó. Giống như việc làm ngược lại (luật) nơi người sử dụng đã vô hiệu hóa một số luật lệ như thế nào, thì việc làm phù hợp (luật) của người sử dụng cũng đã xác nhận luật lệ như thế”

Ông nêu thí dụ: Đức Giáo Hoàng ra luật truyền hàng giáo sĩ phải ăn chay và kiêng thịt trong Mùa Chay. Nhưng nếu luật ấy không bao giờ được chấp nhận bằng thực hành của người sử dụng, thì không thể kết án các giáo sĩ khác là phạm luật vì đã không vâng theo luật ấy. Ngữ cảnh cho nhận định của Gratian chính là lời của Isidore, trong mô tả thời danh của ông về các đặc tính thiết yếu của luật: “Một luật lệ sẽ hợp luân, công chính, khả thi khi phù hợp với tự nhiên, phù hợp với phong tục quê hương, thích hợp với nơi chốn và thời gian, cần thiết, hữu ích, rõ ràng đến không dấu diếm điều gì bất xứng hợp, không nhằm lợi ích riêng, nhưng được quan niệm vì lợi ích chung của công dân”.

Gratian suy tư về các đặc điểm nội tại của luật chứ không phải các đặc điểm ngoại tại của nó, nghĩa là, ông bàn tới nội dung bản chất của luật hơn là thẩm quyền chính thức của người làm luật và phương thức công bố nó. Sau đó, ông trích dẫn Thánh Augustinô để cho thấy luật lệ tùy thuộc sự phê phán khi mới được công bố, nhưng sau khi đã yên vị, thì phẩm bình phải là phẩm bình phù hợp với nó.

John Gratian, vốn được xưng tụng là người sáng lập ra khoa giáo luật, đã quan niệm việc làm luật như một diễn trình hai bước. Bước đầu tiên, luật được soạn thảo và công bố bởi một thẩm quyền hợp pháp của Giáo Hội, như giáo hoàng, giám mục… Sau đó, những người được dành cho luật lệ này (người sử dụng) chấp thuận việc thực hành nó. Nói cách khác, chính cộng đồng mà luật được làm cho sẽ phê phán về đặc tính nội tại của luật và sau đó làm cho luật có hiệu quả bắt buộc. Không có sự sử dụng theo nghĩa xác nhận của cộng đồng, luật vẫn chỉ là phôi thai và sau cùng rất có thể bị coi là vô hiệu (abrogated).

Gratian theo lối suy nghĩ cũ, rất phổ thông nơi các giáo phụ, coi luật như qui phạm cho tác phong hơn là mệnh lệnh của nhà lập pháp tối cao. Lối suy nghĩ ấy cũng phán đoán tính thành sự của luật theo nội dung khách quan của nó, tức sự phù hợp của nó với mạc khải Thiên Chúa và truyền thống Giáo Hội.

Nhiều nhà giáo luật học sau Gratian cũng đưa ra một hình thức học lý nào đó về tiếp nhận. Một số làm thế bằng cách chú giải bản văn của Gratian, nhiều người khác cố gắng giải quyết các mâu thuẫn của luật. Các tác giả này thuộc nhiều trường phái khác nhau và trước tác trong nhiều cuộc tranh chấp khác nhau. Một số theo khuynh hướng duy công đồng (conciliarists), duy giám mục đoàn (galician), duy nhà nước (febronian). Một số theo khuynh hướng Jansenist, quân chủ hay giáo hoàng tuyệt đối. Họ đều là những học giả, giáo sư đại học, giám mục và cả hồng y danh tiếng nữa. Quan điểm của họ vì thế không thể bị bỏ qua như chỉ là những lời tranh luận. Các phát biểu của họ dựa trên lý lẽ và đầy chất suy tư. Tất cả đều coi việc tiếp nhận là tiêu chuẩn quan trọng làm cho luật lệ thành hiệu lực (valid). Ngay các nhà duy pháp lệnh (decretist), dù khai triển ý niệm phẩm trật về nguồn gốc của luật (các phúc âm, các tông đồ, bốn công đồng chính, các công đồng khác, các sắc lệnh và các thư có giá trị như sắc lệnh, các giáo phụ Ambrose, Augustine, Jerome…) để giải quyết các dị biệt giữa chúng với nhau, nhưng vẫn chủ trương rằng bất kể nguồn gốc của công bố, tiêu chuẩn quyết định sau cùng để xác định ra tính thành hiệu của nó chính là nội dung cốt lõi của nó (phù hợp với chân lý Thiên Chúa) và việc Giáo Hội tiếp nhận nó.

Từ Gratian tới các giáo luật gia trở về sau, dọc dài gần 10 thế kỷ qua, người ta thấy những điểm sau đây liên quan tới học lý tiếp nhận:

1. Đối với việc thiết lập một luật lệ, tiếp nhận là yếu tố cần thiết hay chủ yếu, cùng với thẩm quyền của nhà làm luật và việc công bố. Nếu luật không được tiếp nhận, nó không thành hiệu.

2. Nhà lập pháp đính kèm một điều kiện mặc nhiên hay ngầm hiểu cho luật, cho thấy nếu luật không được tiếp nhận, thì chúng vô hiệu.

3. Nếu luật không được các chủ thể của nó tiếp nhận, và nhà làm luật biết thế mà không làm gì cả, thì luật ấy bị hủy bỏ (abrogated). Nhà làm luật đã bằng lòng miễn chuẩn một cách mặc nhiên, hay ít nhất cũng để nó bị vi phạm vì lợi ích lớn hơn (epikeia).

4. Khi một luật lệ không được tiếp nhận, thì đó là dấu chỉ nhà làm luật đã hành động một cách phi lý và do đó không bắt buộc phải tuân theo luật lệ ấy.

5. Nếu luật quá nặng nệ và khó tuân giữ, thì đó đích thật là dấu hiệu cho thấy nhà làm luật không muốn buộc cộng đồng chấp nhận nó.

6. Việc không tiếp nhận một luật lệ là dấu chỉ việc bắt đầu một phong tục trái ngược, hay nó làm ngắn khoảng thời gian để một phong tục trái ngược có hiệu lực của luật.

7. Việc các chủ thể của nó tiếp nhận một luật lệ có nghĩa là họ xác nhận luật đó trên thực tế (de facto). Điều ấy đủ đem lại sự bền vững và vĩnh viễn cho nó, và làm nó vững ổn hơn, ít bị hủy bỏ hơn vì không được sử dụng (desuetude).

8. Người vi phạm một luật lệ chưa được tiếp nhận có thể mắc lỗi nhưng không bị trừng phạt. Luật này có thể không được cưỡng đặt (enforced) ở tòa ngoài.

9. Các luật lệ không được tiếp nhận vì chúng bị coi là có hại cho cộng đồng giáo hội, thay vì xây dựng cộng đồng ấy. Một qui luật bị coi là có nguy cơ gây rối cho cộng đồng, thay vì góp phần vào ích chung, trên thực tế không thể được tôn trọng.

10. Việc không tiếp nhận sẽ giảm thiểu sức mạnh trói buộc trên thực tế của một luật lệ. Nó giảm thiểu ảnh hưởng của nó đối với cộng đồng và giảm thiểu sự bó buộc của nó đối với các chi thể.

11. Việc không tiếp nhận một luật lệ biện minh cho sự kháng án lên thẩm quyền cao hơn, và nếu không được trả lời, thì luật lệ này được coi là hủy bỏ.

12. Tiếp nhận và không tiếp nhận áp dụng cả vào những tham khảo trước đó, như khi thẩm quyền lập pháp thử đưa ra một dự luật cho một nhóm tham khảo viên, như một mật hội hay một công đồng, và bị các phản ứng của họ ảnh hưởng.

Như thế đủ thấy, dù ý kiến khác nhau như thế nào, thực tại chung nhất bên dưới các quan điểm ấy vẫn là: trong Giáo Hội, việc tiếp nhận có ảnh hưởng quyết định đối với việc thiết lập và tính hiệu quả của một luật lệ.

Tiếp nhận nghĩa là gì?

Từ những nhận định trên, câu hỏi đặt ra là: ai là người tiếp nhận để một luật lệ hoàn tất diễn trình thiết lập và có hiệu lực của nó? Hay nói theo Gratian, ai là người “sử dụng”, ai là chủ thể của luật lệ? Trong Giáo Hội, chủ thể này chỉ nhiều nhóm người. Các giám mục thế giới là chủ thể của nhiều luật lệ. Các linh mục của một giáo phận và thành viên các tu hội cũng là chủ thể của luật lệ. Tín hữu một nước hay một giáo phận cũng là người sử dụng. Tất cả những nhân vật ấy đều có khả năng tiếp nhận các qui định theo giáo luật. Để một qui định giáo luật có hiệu lực thật sự, những ai mà vì họ các luật lệ này đã được đưa ra phải nhìn nhận nó và tuân hành nó. Theo một nghĩa hết sức chân thực, luật lệ được xác nhận nhờ việc thực hành của người sử dụng, như Gratian từng viết. Nó chỉ thực sự có tính bắt buộc khi người sử dụng dành cho nó sự chấp nhận.

Luật lệ được ban hành hợp lệ khi nó được công bố bởi một người hay một nhóm có thẩm quyền lập pháp hợp lệ. Nhưng nó chưa phải là thành phần trong đời sống của cộng đồng sử dụng. Nó mới chỉ phôi thai (incipient). Con tầu đã hạ thủy nhưng liệu nó có ra khơi được hay không? Diễn trình làm luật vẫn chưa hoàn tất. Luật lệ cần được thể hiện trọn vẹn, chưa trói buộc hoàn toàn.

Tiếp nhận liên quan tới chính hiện hữu của luật giáo hội. Một số tác giả, như Matthaeus Romanus, cho rằng 3 yếu tố đều cần thiết như nhau để tạo ra luật là: thẩm quyền hợp lệ, việc công bố thích đáng, và việc người sử dụng chấp nhận. Đây là phát biểu mạnh mẽ nhất về học lý. Nhưng chỉ cần nói như Nicholas thành Cusa rằng: không có sự tiếp nhận, luật lệ chưa được thiết lập trọn vẹn, chưa hiện hữu trọn vẹn. Nó chỉ hành động và bó buộc đối với cộng đồng sau khi đã được tiếp nhận, nghĩa là sau khi cộng đồng xác nhận nó bằng chính hành động của mình.

Một cách mô tả diễn trình thiết lập luật lệ là: nó được dẫn khởi khi được một thẩm quyền hợp lệ công bố, nhưng có hiệu lực đầy đủ, có tính bắt buộc trọn vẹn khi được các chủ thể tiếp nhận. Như thế, nó có hai bình diện hiện hữu. Giống một thảo chương vi tính, nó được thiết kế và tung ra thị trường, nhưng nó chỉ thực sự hữu hiệu khi “nhóm người sử dụng” (user group) thực sự sử dụng nó.

Tiếp nhận là vấn đề sinh lực, sức sống. Một luật lệ mới ban hành rất có thể hoàn toàn hợp lệ, nhưng nó chưa có sức lực hay chưa có ảnh hưởng tích cực trong đời sống của cộng đồng. Nó vẫn chưa gây hiệu quả thực sự nào trên tác phong của người ta. Tiếp nhận hàm nghĩa nhiều điều hơn là việc thích ứng trên thực tế một luật lệ về phía cộng đồng vì nó còn có những hệ luận pháp lý. Sức mạnh hay hiệu lực thực sự của luật chịu ảnh hưởng nhiều bởi việc nó được tiếp nhận hay không được tiếp nhận. Nó có tính bắt buộc hay không tùy thuộc việc nó được tiếp nhận hay không. Nó chỉ có tính cưỡng bức (enforceable) sau khi được tiếp nhận. Thánh Tôma Aquinô có một định nghĩa cổ điển về luật lệ: đó là “việc sắp xếp của lý trí cho ích chung được người có nhiệm vụ chăm sóc cộng đồng công bố”. Trong định nghĩa ấy, ta thấy có sự tiếp nhận, vì trọn cộng đồng phải qui hướng sự việc cho ích chung hay một ai đó nhân danh cộng đồng để làm việc đó. Nói cách khác, người sử dụng luật là người có liên quan với những ai “chăm sóc cộng đồng”. Việc điều hướng đời sống Giáo Hội không bao giờ hoàn toàn nằm bên ngoài cộng đồng ấy. Như thế, cộng đồng có phần chia sẻ trong việc chăm sóc mình, trong định hướng của mình hướng tới ích chung. Một cách thế để chia sẻ như thế chính là tiếp nhận hay không luật lệ đã ban hành để mình sử dụng.

Các chỉ dẫn trong Bộ Giáo Luật

Điều 7 Bộ Giáo Luật nói rằng luật được thiết lập khi được ban hành. Bộ Giáo Luật cũng dùng động từ La Tinh instituo như Gratian. Động từ này hơi khác động từ constituo. Instituo mang nghĩa thành lập, khởi đầu. Constituo mang nghĩa làm cho đứng vững, kiên định. Như thế, luật khởi sự với việc ban hành, công bố nhưng chưa đứng vững, kiên định cho tới khi được tiếp nhận.

Bộ Giáo Luật mới cũng minh nhiên nhắc tới việc tiếp nhận luật của cộng đồng. Khi trình bày các điều kiện để một phong tục có sức mạnh của luật, điều 25 nói rằng cộng đồng tạo ra một phong tục phải là một “cộng đồng có khả năng tiếp nhận luật”. Tất nhiên, một cộng đồng có khả năng tiếp nhận luật, thì cũng có khả năng không tiếp nhận luật. Theo cha Coriden, bộ Giáo Luật mới cởi mở đối với khả thể của một học lý về tiếp nhận. Việc không tiếp nhận luật của một cộng đồng cũng có hiệu quả pháp lý y như việc thực hành nó. Cha Coriden ví một luật mới được công bố nhưng chưa được tiếp nhận như một cuộc hôn nhân chưa hoàn hợp. Giáo luật các điều 1055-1060, 1141 và 1142 định rằng một cuộc hôn nhân thành hiệu, kể cả theo nghĩa bí tích, cũng có thể được giải tiêu nếu chưa được hoàn hợp bằng tác động vợ chồng. Sự ưng thuận tạo nên hôn nhân, nhưng sự phối hợp này không được coi là trọn vẹn cho tới khi được hoàn hợp về thể xác. Cũng thế, hành vi luật pháp bắt đầu là một luật, nhưng chỉ được kể là được thiết lập khi đem ra thực hành.

admin
23-05-2010, 05:07 PM
Điều gì không phải là tiếp nhận

Thật ra, cách trình bày và nhiều quan điểm của Cha Coriden trên đây xem ra có phần cường điệu, dễ đưa tới hiểu lầm. Quan điểm của Cha Bret, như trình bày ở phần giáo lý, được coi là quân bình và chính xác hơn. Đã đành tiếp nhận là một phần trong diễn trình tạo luật. Cũng như hôn nhân, diễn trình này chỉ hoàn toàn khi được cộng đoàn tiếp nhận và đem ra thi hành. Nhưng ngay trong hôn nhân, việc chưa hoàn hợp về thể xác không đương nhiên đánh đổ tính thành hiệu (validity) của hôn nhân. Muốn đánh đổ nó, phải có một hành vi tích cực của giáo hoàng. Do đó, việc không tiếp nhận luật của cộng đồng không hẳn có hiệu lực pháp lý y như việc cộng đồng tiếp nhận nó. Tưởng nên phân biệt hai từ ngữ quan trọng ở đây: một là thành hiệu hay thành sự (validity) hai là hữu hiệu hay có hiệu quả (effectiveness). Cha Coriden dùng hai từ ngữ này một cách không phân biệt, xem ra hơi tùy tiện. Ở đây, dựa vào bản chất bí tích, người ta có thể có ý niệm rõ hơn một chút: bí tích thành hiệu khi được thừa tác viên có thẩm quyền cử hành, bất kể thừa tác viên này xấu hay tốt, một nguyên tắc thường được gọi là ex opere operato (do việc làm được thực hiện). Nhưng muốn có hiệu quả thì người nhận bí tích phải có ý hướng tốt. Không có sự tiếp nhận của người có ý hướng tốt, thì diễn trình bí tích chưa hoàn hảo. Nhưng người tiếp nhận không có ý hướng tốt, nghĩa là không muốn tiếp nhận, vẫn không đánh đổ được tính thành sự của bí tích. Thiển nghĩ luật thành hiệu (có hiệu lực pháp lý) khi được thẩm quyền hợp pháp công bố. Luật đem lại hiệu quả khi được cộng đồng tiếp nhận đem ra thực hành. Không có sự tiếp nhận này, luật không vô hiệu lực (invalid) nhưng vô hiệu quả (ineffective).

Ta hãy đọc tiếp xem cha Coriden nói gì về những điều không phải là tiếp nhận. Theo cha, đây không phải là vấn đề hủy bỏ (aborogation) luật lệ bằng một luật lệ trái ngược. Điều ấy áp dụng vào trường hợp một luật lệ đã được thiết lập trọn vẹn rồi nhưng sau đó lâm vào tình trạng không ai tuân giữ nữa (desuetude). Còn tiếp nhận áp dụng vào trường hợp luật được công bố nhưng chưa được đem ra thi hành, chưa được ai tuân theo.

Không tiếp nhận cũng không đồng nghĩa với sự nổi loạn, bất tuân phục đối với thẩm quyền chính đáng. Tiếp nhận và không tiếp nhận là việc thể hiện nhân đức, chứ không thể hiện tội ác. Tiếp nhận kêu gọi ta phải có nhân đức epikeia, biết nhậy cảm áp dụng luật phổ quát vào các hoàn cảnh đặc thù, đòi ta phải có nhân đức khôn ngoan, biết lựa chọn các phương tiện thích hợp để đạt mục đích. Tiếp nhận đòi ta phải có sự trưởng thành Kitô Giáo, và suy tư trong cầu nguyện.

Cha Coriden cũng nhấn mạnh rằng: sự khác nhau giữa việc khôn ngoan không tiếp nhận và việc đơn thuần bất vâng phục rất dễ nhìn ra hay dễ biện phân như kiểu nói của Đức Cha Nguyễn Chí Linh gần đây. Tiếp nhận không phải là nô phục (subversive) thẩm quyền hợp lệ. Đúng hơn, nó hỗ trợ và thăng tiến thẩm quyền ấy. Các luật lệ đã được công bố thường là được nhìn nhận và tuân theo. Việc nhìn nhận và tuân theo ấy hiển nhiên củng cố cả luật lệ lẫn thẩm quyền ban hành chúng. Chỉ thỉnh thoảng lắm, luật mới không được tiếp nhận, chỉ vì chúng không thích hợp cho cộng đồng. Các chủ thể tin và có Chúa Thánh Thần đều biện phân được luật lệ nào không đạt được mục tiêu đề ra hay không phục vụ ích chung. Thẩm quyền nên chú trọng tới việc không tạo ra các phản ứng tiêu cực hơn nữa đối với các luật lệ thiếu khôn ngoan, vì liều mình sẽ tha hóa cộng đồng. Sau cùng, tiếp nhận không phải là một biểu dương đối với quyền tối thượng hợp lòng dân hay một thứ trình diễn cho nền dân chủ mị dân. Nó là sự tham dự hợp pháp của dân vào việc cai trị chính họ. Họ tích cực hợp tác với các thẩm quyền tạo luật cho cộng đồng của họ. Họ đơn thuần chỉ thể hiện, một cách có trách nhiệm, vai trò chính đáng của họ trong chức năng quản trị Giáo Hội.

Các trường hợp điển hình

Ít nhất, cha Coriden cũng làm ta an tâm đối với quan điểm thực sự của ngài về tiếp nhận. Dù sao theo cha, học lý giáo luật về tiếp nhận được đặt căn bản vững chắc trên nhiều xác tín nền tảng về thần học và mục vụ. Xin đơn cử một số xác tín đó như sau:

1. Giữa các chi thể Giáo Hội, vốn có một sự bình đẳng thực sự. Mọi người đều có quyền lợi và bổn phận trong tư cách chi thể. Mọi người đều tích cực trong việc xây đắp Nhiệm Thể Chúa Kitô, và để đạt mục tiêu ấy, họ có bổn phận trợ giúp các mục tử của mình theo tinh thần hợp tác.

2. Trong Giáo Hội, cần diễn ra một cuộc đối thoại tích cực. Người giáo dân cần bày tỏ với các mục tử của họ một cách tự do các nhu cầu, ước muốn và ý kiến của mình. Họ cũng phải đưa ra các sáng kiến riêng. Được sự hỗ trợ ý kiến và kinh nghiệm của người giáo dân, các mục tử cần đưa ra các quyết định tốt hơn về các vấn đề thiêng liêng và trần thế.

3. Các giáo hội đặc thù đều là các giáo hội chân chính. Giáo Hội phổ quát được xây dựng từ các giáo hội ấy. Các giáo hội được nối kết với nhau bằng sợi dây hiệp thông duy nhất, và các nhà lãnh đạo các giáo hội này được liên kết với nhau bằng tình hiệp đoàn chân thực. Vị giám mục giáo phận là mục tử và là thừa tác viên cai quản của giáo hội địa phương vốn được ủy thác cho ngài.

4. Các thích nghi thích đáng phải được thực hiện trong sinh hoạt và thờ phượng của Giáo Hội theo truyền thống các dân tộc. Hội nhập văn hóa là phần chủ yếu của việc phúc âm hóa. Cần phải thay thế tính độc dạng cứng cỏi bằng việc thích nghi hợp pháp bất cứ khi nào có thể.

5. Trong Giáo Hội, phải luôn coi thẩm quyền như việc phục vụ, chứ không thống trị. “Giữa chúng con… ngưòi lãnh đạo phải như đầy tớ… Thầy ở giữa chúng con như người phục vụ” (Lc. 22:26-27; Mt. 20:25-28; Mc. 10:42-45; Ga. 13:3-16).

Tất cả các chủ đề thần học quen thuộc nói trên, kết nối với nhau, đã hỗ trợ mạnh mẽ cho việc đóng góp tích cực của dân vào diễn trình tạo luật trong Giáo Hội. Tiếp nhận chính là một hình thức của việc tham dự có trách nhiệm này.

Qua nhiều thế kỷ, các giáo luật gia đã áp dụng nguyên tắc tiếp nhận vào nhiều lãnh vực trong kỷ luật Giáo Hội. Một số trường hợp điển hình sau đây cho thấy cả hiệu quả thực hành của học lý lẫn các vấn đề đã được đề cập.

Nguyên tắc được Gratian đưa ra là để nhận định về các qui định của hai Đức Giáo Hoàng Telephorus và Gregory về việc ăn chay và kiêng thịt của hàng giáo sĩ vào một số thời điểm trong năm phụng vụ. Gratian cho rằng các qui định này không được việc thực hành chung chấp nhận, nên những ai không giữ chay và kiêng thịt không bị kết án là vi phạm.

Goffredo da Trani, Đức GH Innocent IV (một giáo luật gia nổi tiếng trước khi làm GH) và Đức HY Hostiensis đều áp dụng học lý tiếp nhận vào điều luật của Công Đồng Latran lần thứ 3 (1179) truyền cho các bên lâm chiến phải hưu chiến trong một số ngày và mùa trong năm Giáo Hội. Các vị giám mục được lệnh phải phạt vạ tuyệt thông những ai vi phạm. Nhưng dường như lệnh ngưng bắn này không được tuân hành mấy, và các vị giám mục không cố gắng chấp pháp nó. Các nhà giáo luật học này cho rằng không nên trừng phạt các vị giám mục này vì sắc lệnh trên chưa được người sử dụng chấp nhận thi hành.

Các nhà giáo luật học đôi khi tranh luận về thẩm quyền tương đối của nguồn gốc luật lệ. Thí dụ, liệu lời của các giáo phụ có giá trị hơn sắc lệnh của một công đồng địa phương chăng? Một trong các tranh luận đó tập chú vào các trở ngại hôn phối. Một kẻ hiếp dâm sau đó có được kết hôn hợp pháp với nạn nhân của mình hay không? Quan điểm của Thánh Giêrôm, một quan điểm cho rằng cuộc hôn nhân như thế hợp pháp (licit), đã được chấp nhận, hơn là phán quyết của công đồng Aachen. Theo Alanus, “vì được Giáo Hội chuẩn nhận”. Huguccio thì cho rằng vì nó dựa vào “tập quán tổng quát của Giáo Hội”.

Một sắc chỉ giáo hoàng tựa là “In Coena Domini” có một bảng liệt kê các biện pháp mà chỉ đức giáo hoàng mới giải (absolve) được. Nó được ban hành lần đầu vào thế kỷ 14, rồi sau đó, với nhiều bổ túc, đã được tái công bố mỗi Thứ Năm Tuần Thánh cho tới khi bị Đức GH Piô IX rút lại. Nhiều tác giả cho rằng nó không có hiệu lực tại Pháp và Đức vì nó chưa bao giờ được hai nước đó tiếp nhận.

Juan de Torquemada nhắc tới việc các Giáo Hội Đông Phương không tiếp nhận luật liên quan tới việc độc thân của giáo sĩ: “một qui định của giáo hoàng có thể không khả hữu… về phía các chủ thể, khi ngài muốn thiết lập điều gì đó không phù hợp với thực hành và phong tục của các chủ thể… trong số ấy ta có trường hợp các qui định về độc thân không được các giám mục thuộc Giáo Hội Đông Phương tiếp nhận”.

Vitus Pichler chủ trương rằng luật kiêng ăn pho-mát và trứng không bắt buộc tại Đức, vì nó không bao giờ được tiếp nhận tại đó. Một số tác giả nhất trí rằng một số sắc lệnh về kỷ luật của Công Đồng Triđentinô không bao giờ được tiếp nhận tại một số nơi trên thế giới.

Một số điều khoản của Bộ Giáo Luật năm 1917, thí dụ điều khoản qui định các công đồng giáo tỉnh phải được tổ chức mỗi 20 năm một lần (điều 283) còn công đồng giáo phận ít nhất 10 năm một lần (điều 356) không được nhiều nơi trong Giáo Hội tiếp nhận.

Công đồng giáo phận Rôma năm 1960 đưa ra 755 qui định, nhưng nhiều qui định ấy vẫn chỉ nằm trong sách vở. Một trong các điển hình nổi bật nhất về việc không tiếp nhận qui định của giáo hoàng là tông hiến Veterum Sapientia năm 1962 của Đức Gioan XXIII về việc giảng dạy tiếng La Tinh tại các chủng viện và một số định chế khác. Nó bị phần đông làm ngơ vì bị coi là hoàn toàn thiếu thực tế.

Các điển hình không tiếp nhận các qui định có tính chính thức ấy, dĩ nhiên, khá tương phản với hàng trăm các qui định khác đã được các cộng đồng chủ thể nhìn nhận. Trong vô vàn các trường hợp ấy, luật lệ đã được củng cố, biến thành vững ổn hơn nhờ sự kiện chúng được tiếp nhận.

Học lý tiếp nhận do đó có liên hệ tới yếu tố bản chất của việc tạo luật, song song với các yếu tố chính thức tức thẩm quyền của nhà làm luật và phương tiện công bố luật. Nó đụng tới nội dung luật, tới đặc tính nội tại của nó. Cộng đồng sử dụng luật cần phải phê phán tính thích hợp của nó đối với thời gian và không gian đặc thù, để qui hướng nó về ích chung.

Các nhà giáo luật học thời Trung Cổ hay dùng thuật ngữ “đồng thanh” (consonant) để mô tả tiêu chuẩn của việc phê phán trên. Cộng đồng tín hữu cần phê phán xem liệu một qui định nào đó, được đưa ra để hướng dẫn họ, có “đồng thanh” với Thánh Kinh không, với truyền thống của họ hay không, với chân lý hay không. Nếu họ thấy nó chân chính và hoà hợp với cuộc sống Kitô Giáo của họ, họ phải tiếp nhận và đem nó vào cuộc sống. Như thế họ xác nhận hay “phê chuẩn” (ratified) qui định đó bằng chính hành động của họ.

Cha Coriden cho rằng học lý tiếp nhận không mấy khá trong lịch sử giáo luật của những năm gần đây. Nó bị thất sủng vì 3 lý do chính. Trong mỗi trường hợp, vấn đề hiện nay đã được hiểu khác hẳn.

1. Việc lên án vào năm 1665 của Tòa Lạc Giáo (Holy Inquisition) đối với hình thức cường điệu của học lý này đã đẩy nó vào bóng tối, khiến nó khó lòng được chấp nhận. Việc lên án ấy ít có ăn có với suy tư giáo luật về việc thiết lập ra luật lệ, mà chỉ liên quan tới sự tranh chấp giữa Tòa Thánh và phe Gallican chính trị. Ngày nay, nhìn vấn đề trong bối cảnh lịch sử hẳn giúp chúng ta điều chỉnh được cái hiểu của chúng ta đối với việc lên án kia và khai quang con đường để ta phục hồi lại học lý.

2. Sự thống trị tư tưởng giáo luật học của phe duy ý chí (voluntarist) đã hung hăng chống lại việc phát triển học lý này. Phe chịu ảnh hưởng nặng nề của Francisco Suarez (1548-1612) này nằng nặc cho rằng chỉ các yếu tố cần thiết cho việc thiết lập ra luật mới là quyền lực của nhà làm luật, đó là ý chí làm luật và hình thức hợp pháp công bố luật. Trong chủ trương này, một chủ trương rất thịnh hành nơi các giáo luật gia trong một thời gian dài, không có vai trò nào dành cho việc chấp nhận của người sử dụng luật. Các nhà duy lý (rationalist), theo chân Thánh Tôma Aquinô, quan niệm luật lệ được sắp xếp hướng về ích chung, như phương tiện đạt mục đích. Cộng đồng đóng một vai trò tích cực trong việc đạt được ích chung của mình. Tiếp nhận vì thế có đất đứng ở đây.

3. Quan điểm thần học cho rằng thẩm quyền Giáo Hội duy nhất nằm nơi người giữ chức vụ, hoàn toàn không liên hệ gì tới cộng đồng Kitô hữu, quan điểm này cũng không thân thiện gì với học lý tiếp nhận. Trước năm 1900, ý kiến cho rằng các phẩm trật thụ phong trực tiếp nhận được thẩm quyền từ trên cao là ý kiến rất phổ quát. Kể từ Công Đồng Vatican II trở đi, xác tín cho rằng các vị giáo phẩm có liên hệ chứ không thống trị cộng đồng tín hữu đang cung cấp cho ta mảnh đất phì nhiêu cho học lý tiếp nhận luật lệ bởi cộng đồng ấy.

Cha Coriden cho rằng: thật ra, việc cộng đồng tiếp nhận các qui định giáo luật vốn là một phần cổ xưa và được tôn trọng trong truyền thống Công Giáo. Người sử dụng quả xác nhận luật lệ bằng việc thực hành của họ như Gratian từng chủ trương. Học lý tiếp nhận vì thế đáng được phục hồi.

admin
23-05-2010, 05:09 PM
III. Tiếp nhận trong đại kết

Linh mục Hermann J. Pottmeyer, thành viên Ủy Ban Thần Học Quốc Tế, người cùng học với Lonergan tại Đại Học Gregoriana tại Roma và dạy với Karl Rahner tại Đại Học Munster, có viết một bài về diễn trình tiếp nhận, dưới quan điểm đại kết, trên tờ America, số ngày 26 tháng 10 năm 1996. Theo cha Pottmeyer, hiệp thông là việc hợp nhất Kitô Giáo, trong khi tiếp nhận là đường dẫn tới sự hợp nhất đó.

Đối với cha, Giáo hội sơ khai luôn coi mình như một hiệp thông các giáo hội chị em, do đó, sợi dây sinh tử nối kết các giáo hội này lúc nào cũng được biểu lộ qua đối thoại với nhau và qua tiếp nhận các truyền thống hay các lối tuyên xưng đức tin để sau đó biến thành của riêng mình.

Hiện trạng

Cha Pottmeyer cho hay: trên tập san Una Sancta năm 1996, Đức Hồng Y Cassidy, lúc ấy là chủ tịch Hội Đồng Cổ Vũ Hợp Nhất Kitô Giáo, có nhắc đến “vấn đề tiếp nhận”, coi nó như một trong những thách thức lớn nhất của thời đại. Trong cùng số báo ấy, Konrad Raiser (cựu tổng thư ký Hội Đồng Các Giáo Hội Thế Giới) đề cập tới việc thiếu phối hợp trong các cuộc đối thoại song phương và đa phương và vấn đề khó khăn chưa đạt được một tiếp nhận có tính trói buộc đối với các kết quả do đối thoại mang lại. Theo ông, lý do là các giáo hội phân ly lấy mình làm điểm khởi hành để rồi cố gắng vượt qua chia rẽ bằng hội tụ hay đồng thuận. Việc ấy tuy là một bước tích cực đáng kể, nhưng có trở ngại lớn là khi lượng giá các tuyên bố hội tụ, họ lại dựa vào trạng huống giáo huấn chính thức của họ. Và do đó, diễn trình tiếp nhận không thể nhúc nhích gì được. Có thể nói, các giáo hội phân rẽ vẫn cứ loay hoay giam mình trong giai đoạn phòng ngự, cốt bảo vệ cho bằng được chính bản sắc của mình. Mà bản sắc thì bao giờ cũng làm mình khác với người khác. Tóm lại, chưa có một cái khung trói buộc để việc tiếp nhận có thể xẩy ra.

Bởi thế, Raiser đề nghị không nên coi các cuộc đối thoại song phương và đa phương chỉ như những tiếp xúc giữa các giáo hội phân ly với nhau. Đúng hơn nên coi các cuộc đối thoại đó và việc tiếp nhận chúng như những giai đoạn của một diễn trình “công đồng” (conciliar process) toàn diện. Theo ông, điểm khởi hành, trước khi có bất cứ hành động nào, là phải giả thiết rằng đã có sẵn một tính cộng đoàn thực sự giữa các Giáo Hội, chính tính cộng đoàn này đẩy các giáo hội tiến tới tính công giáo trọn vẹn. Tóm lại, các giáo hội cần có sự “hồi tâm” (conversion), thay vì chú tâm vào điều hiện làm mình phân rẽ, họ phải chú mục vào việc củng cố những gì vốn gắn bó họ với nhau nghĩa là củng cố và nới rộng tính cộng đoàn sẵn có giữa họ với nhau.

Định nghĩa tiếp nhận

Định nghĩa cổ điển về tiếp nhận là của Cha Yves Congar, như trên đã nhắc tới. Trong định nghĩa ấy ta thấy mấy yếu tố sau đây: 1. Tiếp nhận ít nhiều là một diễn trình dài. 2. Tiếp nhận bao gồm một thuận ý (assent) tích cực có nghĩa như một phán đoán độc lập nơi người tiếp nhận chứ không đơn thuần chỉ là một hành vi vâng lời một thẩm quyền cao hơn. 3. Người tiếp nhận, bất kể là một giáo hội đặc thù, một thượng hội đồng hay một công đồng, phải hành động một cách tương đối như các chủ thể độc lập. 4. Tư liệu tiếp nhận phát nguyên từ một nguồn ở bên ngoài cộng đoàn mình. 5. Tiêu chuẩn để tiếp nhận là nhận biết và cảm nghiệm rằng tư liệu đó không mâu thuẫn với truyền thống của người nhận và chắc chắn sẽ thăng tiến và phong phú hóa cuộc sống nội tâm của cộng đoàn.

Về phương diện đại kết, người ta thấy vấn đề tiếp nhận bắt đầu được đặt ra từ thập niên 1970; tuy nhiên, qua thập niên 1980, nó mới thực sự được định hình rõ rệt khi Hội Đồng Đức Tin và Mệnh Lệnh (Faith and Order Commission) chuyển Tuyên Ngôn Lima về Phép Rửa, Phép Thánh Thể và Thừa Tác Vụ (1982) cho các giáo hội và yêu cầu các giáo hội này xác định lập trường về tuyên ngôn này. Chính trong diễn trình này, người ta dần dần hiểu ra: định nghĩa cổ điển về việc tiếp nhận các bản văn công đồng không thể áp dụng nguyên con ở đây, mà đòi phải có sự điều chỉnh. Nghĩa cổ điển chỉ áp dụng cho một giáo hội tự hiểu mình như một hiệp thông các giáo hội. Vì giáo hội lúc ấy là một Giáo Hội thống nhất. Còn trong bối cảnh đại kết, ta thấy có yếu tố mới: đây là diễn trình tiếp nhận giữa các giáo hội phân rẽ vì dị biệt lịch sử, tín lý và cơ cấu. Không có sự hiệp thông giữa các giáo hội, diễn trình tiếp nhận phức tạp hơn gấp bội.

Tuy thế, theo cha Pottmeyer, ta vẫn học hỏi được nhiều điều từ nghĩa cổ điển của tiếp nhận. Thực vậy, các thần học gia vẫn cho rằng việc tiếp nhận các bản văn công đồng thực ra chỉ là một yếu tố trong việc tiếp nhận đại kết rộng rãi hơn. Nguyên sự kiện bước vào đối thoại, dù chưa đưa ra được một bản văn nào, cũng đã là một hành vi tiếp nhận hỗ tương rồi, hành vi này nhìn nhận cộng đoàn khác như chị em của cộng đoàn mình, hay ít nhất cũng như người chung phần (partner) vào đối thoại trên căn bản một hiệp thông đã có, một người chung phần mà ta nên bước vào hiệp thông trọn vẹn. Như thế, các yếu tố tiếp nhận lẫn nhau, nhất là tiếp nhận hỗ tương các bên liên hệ, đi trước việc diễn ra đối thoại và sẽ được đan kết vào các bản văn sẽ phát sinh trong diễn trình đối thoại. Do đó, bản văn cùng lắm chỉ có thể ví như “chỏm của khối băng đá” (tip of iceberg). Ngày nay các giáo hội đều hiểu nghĩa toàn diện của tiếp nhận như một diễn trình qua đó các giáo hội nhận làm của mình toàn bộ các kết quả do các cuộc gặp gỡ mang lại. Tiếp nhận là phần yếu tính của chuyển động tiến tới hiệp thông toàn diện.

Một yếu tố khác trong quan niệm mới về tiếp nhận, một yếu tố vốn thừa hưởng từ mô thức tiếp nhận cổ điển, là người ta hiểu rằng tác nhân của diễn trình toàn diện này bao gồm mọi chi thể Giáo Hội, mọi vai trò đặc thù của các nhà lãnh đạo Giáo Hội, của mọi tín hữu giáo dân và của mọi nhà thần học. Đức Hồng Y Willebrands quảng diễn ý tưởng này như sau: “Mọi đặc sủng và phục vụ đều can dự vào theo vị thế của mình: thần học gia với việc nghiên cứu, giáo dân với lòng trung thành và đạo đức, thừa tác viên giáo hội, nhất là giám mục đoàn, với chức năng đưa ra các quyết định tín lý có tính bó buộc. Tóm lại, thừa tác vụ và đặc sủng, tuyên xưng và thần học, thừa tác vụ huấn quyền và đồng cảm đức tin nơi giáo dân, tất cả đều cùng hành động với nhau trong diễn trình tiếp nhận” (The Ecumenical Dialogue and its Reception, 222).

Các phúc trình đại kết của Nghị Hội Thứ Sáu về Đối Thoại Song Phương và Sách Chỉ Dẫn của Hội Đồng Giáo Hoàng về Cổ Vũ Hợp Nhất Kitô Giáo cũng đề cập tới ba tác nhân trên của tiếp nhận. Sách Chỉ Dẫn cũng nói tới bầu khí thiêng liêng mà trong một mình nó cũng có thể có sự tiếp nhận đại kết thành công rồi. Tất nhiên, sự hồi tâm là điều cần thiết cho một tiếp nhận hữu hiệu. Phúc trình của Nghị Hội Thứ Sáu về Đối Thoại Song Phương nói rằng: chuyển động của các giáo hội hướng tới hiệp thông trọn vẹn chỉ có thể có được khi các giáo hội ấy chịu canh tân. Việc cởi mở với nhau, việc loại bỏ các dị biệt về tín lý và mệnh lệnh, và việc hoà giải ký ức đòi ta phải thay đổi quan điểm và thái độ. Không có diễn trình canh tân thiêng liêng đó, sẽ không có bất cứ tiến bộ nào hướng tới hợp nhất hữu hình.

Sự đóng góp của Thông Điệp Ut Unum Sint

Ai cũng biết năm 1995, Đức Gioan Phaolô II đã ban hành thông điệp Ut Unum Sint (Để Chúng Nên Một). Sau khi đề cập tới tính hỗ tương, Đức Gioan Phaolô II viết rằng: cần phải từ bỏ não trạng tranh chấp, chống đối nhau để bước qua thái độ nhìn nhận nhau như người chung phần (partner). Khi bước vào đối thoại, mỗi bên phải giả thiết bên kia có ước muốn hoà giải, hợp nhất trong chân lý. Để việc ấy xẩy ra, bất cứ biểu hiện chống đối hỗ tương nào cũng phải mất đi. Chỉ có thế, đối thoại mới giúp ta vượt qua được chia rẽ và dẫn ta gần lại hơn sự hợp nhất (số 29).

Nhận định trên hoàn toàn phù hợp với đề nghị của Raiser: coi và chấp nhận các giáo hội khác không như các giáo hội phân rẽ mà như những người chung phần và cuối cùng như các giáo hội chị em. Vấn đề như thế là tiếp nhận lẫn nhau trước khi có sự tiếp nhận kết quả đối thoại và tiếp nhận toàn diện.

Thông điệp cũng mô tả đại kết thiêng liêng như “linh hồn” của quan niệm mới. Thông điệp nói tới “tính tối thượng của cầu nguyện”, và nói tới “canh tân và hồi tâm”. Hồi tâm giúp ta thay đổi cách nhìn sự vật, giúp nhìn các Kitô hữu và giáo hội khác dưới ánh sáng mới, dẫn ta tới việc khám phá ra sự phong phú của họ về đạo đức, về những người đàn ông đàn bà thánh thiện, về dấn thân Kitô Giáo của họ. Đồng thời, sự hồi tâm cũng giúp chính ta nhận ra các bất toàn và tội lỗi của mình trong việc chống lại các Kitô hữu khác và mở lối cho ta canh tân bản thân mình. Thông điệp minh nhiên nói tới việc tiếp nhận đại kết, coi nó như một thách thức mới: “Một trách vụ mới đang được đặt ra cho chúng ta: đó là tiếp nhận các kết quả đã đạt được. Những kết quả này không nên tiếp tục chỉ là tuyên bố của các ủy ban song phương nhưng phải trở thành gia tài chung” (số 80).

Giống các tài liệu đã nhắc, thông điệp này cũng nói tới ba tác nhân của tiếp nhận, rồi đề cập tới “diễn trình có phê phán nhằm phân tích các kết quả và mạnh mẽ thử nghiệm sự nhất quán của chúng với Truyền Thống đức tin, đã tiếp nhận được từ các Tông Đồ và được cộng đồng tín hữu đem ra sống” (số 80). Việc mô tả tiếp nhận như một diễn trình có phê phán hoàn toàn phù hợp với cái hiểu cổ điển về tiếp nhận. Nhưng cũng như thời Giáo Hội Sơ Khai, nó đặt ra vấn đề tiêu chuẩn cho tiếp nhận. Ở đây cũng như trong nhiều đoạn văn khác, tưởng nên để ý điều này: thông điệp không đơn thuần chỉ nhắc đến hiện trạng giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo mà thôi, nhưng là nói tới truyền thống các Tông Đồ như đang được giảng dạy và đem ra sống trong Giáo Hội ngày nay. Dĩ nhiên, khi nói đến truyền thống đó là nói tới truyền thống đức tin của Giáo Hội Công Giáo. Thực vậy, trong một đoạn khác, khi nhắc tới sắc lệnh về hiệp nhất Unitatis Redintegratio, thông điệp khẳng định rằng chân lý trọn vẹn của Chúa Kitô luôn được duy trì trong Giáo Hội Công Giáo (số 10-11). Nhưng kèm theo lời khẳng định ấy là nhiều minh xác. Như ở đoạn nói về đối thoại, thông điệp nói rằng: cùng với các giáo hội khác, Giáo Hội Công Giáo tự đặt mình dưới câu hỏi có tính phê phán sau đây “liệu họ có thực sự diễn tả một cách thoả đáng mọi điều Chúa Thánh Thần thông truyền qua các Tông Đồ hay không?” (số 16). Câu hỏi tự phê phán ấy chính là một phần của tiếp nhận, hiểu như một “diễn trình phê phán”. Thông điệp cũng nói thêm rằng “một số điểm trong mầu nhiệm Kitô Giáo đôi khi được nhấn mạnh một cách có hiệu quả hơn” trong các giáo hội khác (số 14). Thành thử ra, thông điệp không nằng nặc coi việc lên công thức đức tin từng được truyền lại cho chúng ta trong Giáo Hội Công Giáo là tiêu chuẩn duy nhất của chân lý. Thông điệp cho rằng rất có thể, khi tiếp nhận cuộc đối thoại đại kết, ta mới thấy cách thế quen dùng để phát biểu chân lý đức tin trong truyền thống của ta tỏ ra không giúp ích mấy cho con đường hợp nhất đức tin. Thông điệp nói như sau: Tiếp nhận ý niệm được Đức GH Gioan XXIII phát biểu lúc khai mạc Công Đồng, Sắc Lệnh về Hợp Nhất nhắc đến phương thức lên công thức cho học lý như là một trong các yếu tố của việc canh tân liên tục… (Vì) học lý cần được trình bày một cách dễ hiểu đối với những ai Thiên Chúa muốn nhắn gửi (số 18-19). Chính vì thế, ở cuối phần nói về tiếp nhận, thông điệp viết rằng: “…về phương diện phương pháp luận, cần thận trọng để ý tới sự phân biệt giữa kho ký thác đức tin và công thức phát biểu đức tin” (số 81).

Cha Pottmeyer cho rằng: nếu hiểu không sai, thì chính Đức Gioan Phaolô II cũng áp dụng cùng một phương pháp luận trên vào vấn đề thẩm quyền Phêrô. Ngài chấp nhận “lời yêu cầu ngỏ với tôi để tôi tìm cách thi hành quyền tối thượng này dù không từ bỏ những gì chủ yếu đối với sứ mệnh của nó, nhưng vẫn có thể mở cửa chào đón tình thế mới”. Đức Gioan Phaolô II thận trọng phân biệt giữa chủ trương thi hành quyền tối thượng này theo khuynh hướng tuyệt đối và tập quyền thời nay, và thẩm quyền Phêrô theo Thánh Kinh và việc thi hành thẩm quyền ấy trong đệ nhất thiên niên kỷ, và ngài mời gọi các Kitô hữu khác “hãy cùng tôi dấn thân vào một cuộc đối thoại kiên nhẫn và huynh đệ về chủ đề này, một cuộc đối thoại trong đó, bỏ lại sau lưng các tranh chấp vô ích, chúng ta sẽ lắng nghe nhau, chỉ giữ lại trước mắt ta ý Chúa Kitô dành cho Giáo Hội của Người và để ta được lời khẩn khoản của Người thúc đẩy ta” tiến tới hợp nhất (số 96). Như trên đã rõ, cái hiểu toàn bộ về tiếp nhận tùy thuộc ở việc không nhấn mạnh tới phân rẽ nữa nhưng nhấn mạnh tới cơ sở chung hiện có và tính cộng đoàn giữa những người chung phần vào cuộc đối thoại. Về phương diện này, thông điệp Ut Unum Sint tỏ ra tiến bộ hơn Sắc Lệnh về Hợp Nhất. Rõ một điều các thông sáng của thông điệp cũng một phần do gợi hứng của nhiều cuộc gặp gỡ đại kết được ngài nhắc tới trong thông điệp.

Thông điệp cũng lưu ý tới những thay đổi ngôn từ phát sinh từ việc thay đổi quan điểm. Ngày nay, người ta ít nói tới “các anh em ly khai”, mà là “các Kitô hữu khác”, “những người chịu Phép Rửa khác” hay “các Kitô hữu thuộc các Cộng Đồng khác”. Sách Hướng Dẫn gọi các cộng đồng khác là “Các Giáo Hội và Cộng Đồng Giáo Hội không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo” (số 13, 47).

Ngoài hình thức tử đạo như dấu chỉ hiệp thông, có ở mọi thời đại và nhất là thời nay, trong đó các Kitô hữu đủ mọi tuyên tín đều có dự phần, thông điệp còn coi cuộc đối thoại đại kết như một cộng đồng hay ít nhất cũng đã nhìn nhận một mức độ hiệp thông nào đó rồi (số 49). Thiết tưởng sự hội tụ giữa Ut Unum Sint và các đề nghị của Văn Phòng Tổng Thư Ký Hội Đồng Các Giáo Hội Thế Giới khá rõ rệt.

admin
23-05-2010, 05:09 PM
Những khó khăn tồn đọng

Cha Pottmeyer dựa vào cuộc đối thoại của hai Giáo Hội Công Giáo và Luthêrô, mà kết quả là Tuyên Bố Chung năm 1994 về Giáo Hội và Sự Công Chính Hóa, để trình bày một số khó khăn tồn đọng trong diễn trình tiếp nhận. Cha cho rằng thỏa hiệp trên rất căn bản, nhưng phần “Những Phạm Vi Còn Tranh Cãi” lại liệt kê khá nhiều các bất đồng còn tồn tại. Như thế, việc tiếp nhận tài liệu trên ra sao?

Theo cha, trước nhất cần minh định rằng nguyên việc cùng nhìn nhận các bất đồng còn lại cũng cho thấy đã có sự tiến bộ về đại kết rồi. Vì sự nhìn nhận chung này không làm ta sao lãng cơ sở chung và tính cộng đoàn hiện có. Trái lại, nó giúp nói lên và củng cố thêm cơ sở và tính cộng đoàn ấy. Chắc chắn đây là cách nhìn của thông điệp Ut Unum Sint, là thông điệp từng liệt kê ra 5 phạm vi như thế (số 79). Ngoài ra, các bất đồng này khác nhau về tầm quan trọng và không phải là không chịu ảnh hưởng bởi các nhất trí đã đạt được. Điều này đặc biệt đúng nếu nhìn chúng trong bối cảnh của diễn trình đối thoại và tiếp nhận đầy năng động, trong đó, người khác được nghiêm chỉnh coi như những người chung phần và các quan tâm của họ được coi như các đóng góp làm phong phú truyền thống của ta.

Theo cha Pottmeyer, trong diễn trình đối thoại và tiếp nhận, để xử lý các bất đồng tồn đọng, hai loại tiêu chuẩn phải được phân biệt rõ. Loại thứ nhất được mệnh danh là các tiêu chuẩn dị biệt hóa (differentiation) và đánh giá các bất đồng. Loại thứ hai được mệnh danh là các tiêu chuẩn chân lý. Đối với loại đầu, thông điệp Ut Unum Sint đưa ra 3 tiêu chuẩn. Tiêu chuẩn thứ nhất đã được nói rồi, đó là phân biệt giữa kho ký thác đức tin và việc lên công thức phát biểu nó ra. Nếu một bất đồng có căn bản duy nhất hay chủ yếu trong lối phát biểu truyền thống, thì cần phải tìm ra công thức biết nắm vững thực tại trong toàn bộ tính của nó để vượt lên trên lối đọc phiến diện và loại bỏ những lối giải thích lầm lạc (số 38). Vì “yếu tố nào xác định được hiệp thông trong chân lý là có nghĩa chân lý. Biểu thức của chân lý có thể mang nhiều hình thức” (số 19).

Thông điệp đưa ra tiêu chuẩn thứ hai, đó là “phẩm trật chân lý, vì các chân lý có trình độ khác nhau trong tương quan của chúng với nền tảng của đức tin Kitô Giáo” (số 37). Thực vậy, việc cùng nhau tìm ra mối tương quan của những học lý đang được tranh cãi với nền tảng đức tin Kitô Giáo (nghĩa là với mầu nhiệm Chúa Kitô và việc xuất hiện của Nước Chúa) sẽ giúp ta nắm được tầm quan trọng khác nhau trong các bất đồng, hiểu ra những đồng thuận với người khác, và có lẽ cùng đặt ra được các ưu tiên mới, mở đường cho một nhất trí nào đó. Điều này cũng được đề cập trong Ý Niệm Phẩm Trật Chân Lý, Một Lối Giải Thích Đại Kết, một tài liệu được Ủy Ban Hỗn Hợp Công Giáo và Hội Đồng Các Giáo Hội Thế Giới ủy nhiệm soạn thảo năm 1990.

Tiêu chuẩn thứ ba là: trong diễn trình tiến “tới sự hợp nhất hữu hình cần thiết và đầy đủ… người ta không nên áp đặt bất cứ gánh nặng nào vượt quá những điều thực sự cần thiết (xem Cv 15:28)” (số 78). Có tác giả đã nhấn mạnh tới tầm quan trọng của tiêu chuẩn này: tiếp nhận như thế hoàn toàn lệ thuộc câu định nghĩa của thuật ngữ “id quod requiritur et sufficit” (điều cần và đủ) (Jean-Marie R. Tillard, "Reception"-. A Time to Beware of False Steps, trong Ecumenical Trends 14 (1985), 148).

Cả ba tiêu chuẩn trên cùng cho thấy khả thể một đa nguyên tính trong các lối phát biểu và sống thực đức tin, mà không làm hại hay giảm thiểu sự hiệp thông trong chân lý. Đa nguyên tính này đã được nhìn thấy trong các trước tác Tân Ước và trong các giáo hội thời đệ nhất thiên niên kỷ. Như thế, cả ba tiêu chuẩn để dị biệt hóa và lượng giá các bất đồng còn tồn đọng là một trợ giúp quan trọng để chứng tỏ liệu những bất đồng này có là trở ngại cho việc chấp nhận hiệp thông trọn vẹn hay không. Tiêu chuẩn chân lý thiết yếu có liên hệ với các tiêu chuẩn kia, nhưng phân tích đến cùng, nó là tiêu chuẩn quyết định.

Như trên đã nói, hiện nay, vấn đề là khuynh hướng các giáo hội chỉ tiếp nhận các tài liệu đại kết trên căn bản truyền thống riêng của mình. Tillard phê bình một quan điểm tương tự, chỉ chấp nhận trong bản văn đã thoả thuận những gì vốn luôn được nghĩ và công bố trong chính truyền thống của mình và bác bỏ bất cứ điều gì thách thức hay xa lạ với truyền thống ấy. Trong trường hợp này, truyền thống của nhóm trở thành thước đo của tiếp nhận, một chủ trương cho thấy họ ngầm bác bỏ "nguy cơ" phải dấn thân một cách nghiêm chỉnh (tài liệu đã dẫn, tr.146).

Về tiêu chuẩn chân lý, theo Giáo Hội Công Giáo Rôma, thông điệp Ut Unum Sint liệt kê: “Sách Thánh và Truyền Thống vĩ đại của Giáo Hội. Người Công Giáo được Huấn Quyền sống động của Giáo Hội nâng đỡ” (số 39). Tuy nhiên, trên thực tế, vai trò qui phạm của truyền thống và huấn quyền bị tranh luận giữa các giáo hội với nhau. Trong số 5 lãnh vực vẫn còn tranh chấp, thông điệp Ut Unum Sint nhắc đến mối liên hệ giữa Thánh Kinh, thẩm quyền cao nhất trong các vấn đề niềm tin, cùng với Thánh Truyền, vốn tối cần cho việc giải thích Lời Chúa, và huấn quyền của Giáo Hội, được ủy thác cho đức giáo hoàng và các giám mục hiệp thông với ngài, hiểu như trách nhiệm và thẩm quyền, nhân danh Chúa Kitô, giảng dạy và bảo vệ đức tin (số 79).

Việc minh giải và loại bỏ các bất đồng trên là trách vụ khẩn thiết ngày nay vì việc tiếp nhận đại kết nhiều hay ít tùy thuộc rất nhiều vào việc này. Theo cha Pottmeyer, có hai vấn đề riêng rẽ và việc lẫn lộn giữa hai vấn đề này đã đóng một vai trò quan trọng trong các bất đồng đã nhắc đến. Vấn đề đầu tiên và căn bản hơn phải được nhìn thấy nơi các giáo hội Cải Cách, có liên hệ tới việc chấp nhận vai trò qui phạm của Giáo Hội, truyền thống của Giáo Hội và huấn quyền của Giáo Hội trong việc chuyển thông và duy trì mạc khải. Vì chính các giáo hội này cho rằng Giáo Hội, đôi khi và một phần nào đó, đã thất bại trong chức năng này. Vấn đề thứ hai phát sinh từ các khó khăn trong việc giải thích truyền thống và đưa ra sự phân biệt cần thiết giữa “Truyền Thống” có tính trói buộc (Truyền Thống viết hoa) và “các truyền thống” chỉ có tính nhân bản. Vấn đề thứ hai này rất thường khi được gán cho một ý nghĩa nền tảng hơn vì bị lẫn lộn với vấn đề thứ nhất.

Về phương diện này, nên ghi nhận rằng trong việc giải thích sách thánh, các khó khăn giải thích không hề ít hơn. Ngoài ra cũng nên thấy điều này: tất cả các giáo hội nào bác bỏ truyền thống phổ quát như thước đo sự thật trong việc giải thích sách thánh và nhấn mạnh tới truyền thống đặc thù riêng của mình như tiêu chuẩn duy nhất của sự thật, đều không chấp nhận một quan điểm khả tín. Sau cùng, cần phải nói rằng các khó khăn giải thích cụ thể, phát sinh từ việc giải thích sách thánh và truyền thống giáo hội, tự chúng không tạo nên một vấn đề đặc thù nào cho bất cứ truyền thống nào và không phải là vấn đề nên phân rẽ các giáo hội. Dù sao, vấn đề ấy cũng từng phát sinh ngay trong Giáo Hội Công Giáo Rôma (như vấn đề đang được tranh luận về việc truyền chức cho nữ giới) và nó cũng phát sinh trong các giáo hội khác nữa. Ngay Giáo Hội thời đệ nhất thiên niên kỷ, dù chưa phân rẽ, cũng đã phải giáp mặt với vấn đề ấy như cuốn Commonitorum của Thánh Vincent thành Lérin thuộc thế kỷ thứ 5 đã chứng tỏ.

Thông điệp Ut Unum Sint nhắc tới các qui phạm của chân lý, được khai triển lúc các vấn đề thuộc đức tin “đòi được mọi người ưng thuận, từ giám mục cho tới hàng giáo dân, tất cả những ai từng đã tiếp nhận Chúa Thánh Thần. Cũng một Chúa Thánh Thần ấy đã hỗ trợ Huấn Quyền và làm phát sinh cảm thức đức tin (sensus fidei)” (số 80).

Vậy thì phải làm gì? Theo cha Pottmeyer, nhất trí đại kết đã được bắt đầu, liên quan tới vai trò qui phạm của Giáo Hội, nghĩa là của toàn thể dân Chúa và huấn quyền, và liên quan tới sự phân biệt nền tảng giữa “Truyền Thống” viết hoa và các “truyền thống” viết thường. Nhưng ta cần được minh giải thêm vì vấn đề này có liên quan mật thiết với vấn đề công chính hóa.

Còn về vấn đề thứ hai, tức việc nhất trí về “Truyền Thống” viết hoa, về việc thẩm định có tính giải thích của nó và về tính cách trói buộc của nó, điều ước ao là Truyền Thống của Giáo Hội chưa phân rẽ trong Thiên Niên kỷ thứ nhất, nhất là các sắc lệnh có tính tín lý về Kitô học và Ba Ngôi và tư cách hiệp thông các giáo hội của nó, phải được dành ưu tiên hơn hẳn các khai triển có tính hệ phái sau này của từng giáo hội đặc thù. Đây không hẳn là lời khẩn nài trở về với một thứ chủ nghĩa cổ điển đã thành xương khô. Điều được khuyến cáo ở đây đúng hơn phải là con đường kiên nhẫn tái tiếp nhận truyền thống vĩ đại và phổ quát kia cũng như các quyết định của nó, nếu nói theo kiểu của Cha Yves Congar. Việc tái tiếp nhận này không chỉ lấy phương hướng ở quá khứ, mà đồng thời còn lưu ý tới “những nhấp nháp của thời đại” (sips of the times), trên hết phải lưu ý tới các thúc đẩy của Chúa Thánh Thần dạy ta phải tiến tới sự hiệp đoàn trọn vẹn các giáo hội và nhu cầu phải có một rao giảng khả tín bởi một Kitô Giáo hợp nhất.

Các tuyên bố chung về việc tuyên xưng Kinh Tin Kính Nixêa-Constantinốp, cũng như nhiều văn bản đại kết khác, đã đi theo con đường này. Giáo Hội Công Giáo Rôma đã minh nhiên đi theo nó trong mối liên hệ của mình với các giáo hội khác của Đông Phương. Nhiều tiếng nói từ Rôma cho thấy rõ Rôma đang cố gắng đạt được sự đồng thuận đại kết về thẩm quyền Phêrô trên căn bản đệ nhất thiên niên kỷ và thi hành quyền tối thượng trong thời gian đó. Trong thông điệp Ut Unum Sint, ta đọc thấy “Trong trọn thiên niên kỷ này, các Kitô hữu hợp nhất trong một hiệp thông đức tin và đời sống bí tích đầy tình huynh đệ thân ái… Nếu có bất đồng về đức tin và kỷ luật xẩy ra giữa họ, Tòa Rôma đều hành động như người phối trí, do thoả thuận chung” (số 95).

Năm 1982, lúc còn là Hồng Y Ratzinger, Đức Bênêđíctô XVI từng viết rằng “khi nói đến học lý về quyền tối thượng, Rôma không nên đòi hỏi Phương Đông nhiều hơn những điều đã được lên công thức và được giảng dạy trong thiên niên kỷ đầu tiên” (Joseph Cardinal Ratzinger, Theologische Prinzipienlehre. Bausteine zur Fundamentaitheologle, Munchen: Wewel, 1982, tr. 209). Đệ nhất thiên niên kỷ cũng cung cấp một mô thức cho việc tiếp nhận đại kết ngày nay. Dù đúng là “cần nhiều đồng thuận thần học để phục hồi sự hợp nhất hơn là để duy trì nó” và sau đó, có một dị biệt giữa việc tiếp nhận theo nghĩa cổ điển và việc tiếp nhận theo nghĩa đại kết hiện nay, Edward Kilmartin vẫn chính xác khi nói rằng “như trong trường hợp Nixêa thứ nhất, Canxêđoan và các công đồng tự gọi là chung khác của thiên niên kỷ thứ nhất, tiếp nhận xẩy ra nhờ một diễn trình ít nhiều phức tạp” (Reception in History, 38)

Để kết thúc, cha Pottmeyer trích dẫn nhận định năm 1985 của Hội Nghị Chuyên Đề Liên Chính Thống về Tài Liệu Lima. Nhận định này dựa trên nghĩa cổ điển của ý niệm tiếp nhận: “Trong giai đoạn này, tiếp nhận là một bước tiến trong diễn trình tăng trưởng của việc chúng ta cùng nhau tin tưởng hỗ tương… hướng tới đồng thuận tín lý và sau cùng hướng tới việc hiệp thông với nhau trong liên tục tính đối với các tông đồ và các giáo huấn của Giáo Hội phổ quát” (Max Thurian, ed., Churches Respond to BEM 1, Geneva: FOP 129, 1986, tr. 124).
Vũ Văn An

http://vietcatholic.org/News/Clients/ReadArticle.aspx?ID=80465 (http://vietcatholic.org/News/Clients/ReadArticle.aspx?ID=80465)