admin
22-06-2010, 03:55 PM
Một nền nhân thần học về tính dục con người
Một trong các khó khăn mà nền thần học luân lý Công Giáo đang gặp phải liên quan tới tính dục nhân bản là thường nó chỉ đề cập tới những vấn đề riêng rẽ trong tính dục con người mà không đưa ra một quan điểm tổng thể để xem sét các vấn đề riêng rẽ kia. Trong thế kỷ qua, nền tư duy Công Giáo đã có nhiều khai triển hết sức ý nghĩa. Các khai triển này đụng tới nhiều lãnh vực như triết học, nghiên cứu Thánh Kinh, đạo đức học xã hội Kitô Giáo, thần học về Giáo Hội, và đại kết, ấy là mới chỉ kể một số. Dĩ nhiên, người ta nên áp dụng các khai triển trong tư duy Công Giáo này vào lãnh vực tính dục nhân bản để có thể đưa ra một quan điểm về tính dục con người vừa toàn bộ trong nó vừa gắn bó với các chủ trương triết học và thần học hiện hành của Giáo Hội. Nói đơn giản hơn, ta đang có nhu cầu khẩn thiết phải có một quan điểm thần học có tính tổng quát về tính dục con người.
Điểm chủ yếu của một nền thần học về tính dục con người
Trước nhất cần xác định hai điều sau đây làm các yếu tố chủ chốt cho một nền thần học về tính dục con người. Thứ nhất, tính dục con người là một điều hết sức tốt, một điều tốt lớn lao do Chúa ban tặng cho con người như một phần trong công trình sáng tạo của Người. Ý niệm ơn phúc về tính dục nhân bản ấy không chối bỏ sự kiện này: tính dục ấy rất có thể bị lạm dụng. Trong thế giới tội lỗi này, mọi ơn phúc của Thiên Chúa đều có thể bị lạm dụng, mà ơn phúc càng lớn, như tính dục chẳng hạn, thì càng dễ bị lạm dụng hơn. Tuy nhiên, không nên để khả thể lạm dụng che khuất sự kiện căn bản có tính thần và nhân học này: tính dục con người là một ơn phúc tốt lành của Thiên Chúa. “Từ khởi thủy, Người đã dựng nên họ; Người đã dựng nên họ có nam có nữ” (St 1:27).
Yếu tố thần học chủ yếu thứ hai trong tính dục có thể phát biểu như sau: tính dục con người là một ơn phúc tác động tới con người nhân bản trên mọi bình diện của hiện sinh; không phải chỉ đụng tới một bình diện nào đó mà thôi, mà là toàn bộ kinh nghiệm nhân bản, có nghĩa: nó là yếu tố căn bản hay hữu thể xác định (determinant) ra hiện sinh và nhân tính con người. Tính dục đụng tới ta trên bình diện vật lý, tác động sâu sắc tới mọi diễn trình sinh học và sinh lý của ta. Nó đụng tới ta trên bình diện tâm linh, ảnh hưởng tới đời sống tâm lý và xúc cảm của ta, bản chất linh tôn thẩm mỹ (spiritual-religious-aesthetic) của ta, và các mối liên hệ liên chủ thể của ta với Thiên Chúa và người khác. Tính dục nhân bản cũng đụng tới ta trên bình diện xã hội rộng lớn hơn, không những qui chiếu tới các mối liên hệ bản vị của ta mà còn tới sự tương tác của ta với các cơ cấu và nhu cầu của xã hội nói chung. Nói cách khác, tính dục con người là hình thái căn bản của cách thế ta liên hệ với chính mình, với mọi người khác và với Thiên Chúa. Ta luôn luôn hiện hữu và hành động như những con người tính dục; không lúc nào tính dục không là một phần của ta. Ơn phúc tính dục nhân bản do đó là một ơn phúc toàn bộ và toàn diện; hạn chế tính toàn diện của nó nhất thiết sẽ dẫn tới cái hiểu thần học thiếu sót về nó.
Một số quan điểm tương phản
Để hiểu rõ chủ trương của ta về tính dục con người, ta nên tương phản nó với một số lý thuyết thiếu sót về cùng một chủ đề. Nhờ thế, ta sẽ thấy quan điểm thần và nhân học của ta về tính dục sẽ vượt lên trên các lý thuyết thiếu sót này ra sao. Vì trên đây, ta đã mô tả tính dục con người như một ơn phúc của Thiên Chúa và giới thiệu các khía cạnh thể lý, bản thân, và xã hội của ơn phúc này, nên ở phần tương phản này, ta sẽ bàn tới bốn loại lý thuyết thiếu sót về tính dục: các lý thuyết coi tính dục là xấu, và các lý thuyết quá nhấn mạnh tới các bình diện vật lý, bản thân hay xã hội của tính dục.
Các lý thuyết cho tính dục là xấu
Các chủ trương cho tính dục xấu, từ nền tảng, đều chống lại quan điểm Kitô Giáo. Vì truyền thống Do Thái và Kitô Giáo nhất quyết tin rằng Thiên Chúa duy nhất đã dựng nên toàn bộ thế giới và làm cho nó ra tốt đẹp. Tính dục con người không nằm ngoài niềm tin ấy. Hơn nữa, Kitô Giáo tin vào thực tại Nhập Thể, tin vào chân lý: Chúa Kitô đã mang lấy trọn vẹn nhân tính. Một lần nữa, ta thấy không một mệnh đề nào xác quyết rằng tính dục bị bỏ ra ngoài Nhập Thể. Cho nên, các gốc rễ rõ rệt của truyền thống Do Thái và Kitô Giáo cho thấy một xác quyết dứt khoát về tính tốt lành của tính dục, chứ không phải tính ác.
Nhưng phải thành thực nhận rằng suốt trong nhiều thế kỷ, truyền thống Kitô Giáo đã không luôn luôn biện luận từ giáo huấn trung tâm của mình cho tính tốt lành của tính dục một cách rõ ràng hết sức có thể. Lý do lớn hơn cả khiến Kitô Giáo không làm được việc đó có lẽ vì sự liên lụy liên tục của mình với một số hình thức lầm lạc của phái ngộ đạo. Ngộ đạo là hình thức tư duy nhị nguyên xuất hiện gần như cùng lúc và cùng nơi với truyền thống Do Thái và Kitô Giáo. Xét về nhiều phương diện, hai hệ thống tư duy Kitô Giáo và ngộ đạo được coi như hai kẻ đồng hành từ đó. Danh sách các lạc giáo ngộ đạo từng tác động trên Kitô Giáo trong nhiều thế kỷ là một danh sách rất dài, khó có thể kể cho hết, chỉ xin kể tới ba hình thức nổi bật: phái Manikê, phái Anbigioa và phái Giăngxen (Manicheanism, Albigensianism, Jansenism).
Đối với chủ đề của chúng ta, vấn nạn chính của phe ngộ đạo là thuyết nhị nguyên của nó. Thuyết này cho rằng thế giới như hiện có là kết quả của một tranh chấp kiểu chiến trận giữa hai nguyên lý (hay thượng đế) ngang ngửa nhau: một nguyên lý tốt tạo ra các thực tại thiêng liêng trong đó có linh hồn con người, và một nguyên lý xấu tạo ra các thực tại vật chất, trong đó có thân xác con người. Bởi thế, đối với phe ngộ đạo, thân xác và các thực tại liên kết với nó, như tính dục, căn bản là xấu. Có lúc, phe ngộ đạo chống đối trật tự vật chất đến độ, trên nguyên tắc, họ bác bỏ việc sinh con vì con cái tiếp diễn việc con người dính líu tới vật chất tính. Bởi thế, một số các tuyên bố sớm nhất của Giáo Hội chống việc kiểm soát sinh đẻ chính là để chống lại các hình thức bài vật chất, hoàn toàn bài con cái này của phe ngô đạo.
Đạo Công Giáo Rôma không bao giờ ủng hộ phe ngộ đạo. Tuy nhiên, có lúc, Giáo Hội và ngay các nhà lãnh đạo vĩ đại nhất của Giáo Hội đã phải sống trong một thế giới chịu ảnh hưởng nặng nề của ngộ đạo thuyết đến độ xem ra gần như chuyển giao nỗi sợ của phe này đối với tính dục cho giáo dân của mình. Trường hợp điển hình là Thánh Augustinô. Vì trước khi trở lại, vị thánh này có lúc đã là thành viên của một nhóm ngộ đạo, tức nhóm Manikê. Ý kiến thiện cảm nhất thời nay cho rằng sau khi trở lại, Thánh Augustinô (đặc biệt trong tác phẩm Kinh Thành Thiên Chúa) đã khai triển một thứ triết lý duy biến tính (transformationist philosophy) để vượt qua chủ nghĩa ngộ đạo Manikê của mình. Tuy thế, trong một số vấn đề đặc thù, Thánh Augustinô đã không nói rõ quan điểm biến tính này (trong đó, Chúa Kitô cứu chuộc mọi thực tại) để đánh tan những giải thích sợ sệt mà ngài vốn có lúc còn theo phái Maniklê. Điều này thấy rõ trong trường hợp tính dục con người, đến nỗi đối với Thánh Augustinô, khía cạnh tội lỗi của việc giao hợp tính dục đã được nhấn mạnh dù đó là việc giao hợp giữa vợ chồng. Tư tưởng của Thánh Augustinô (và do đó khuynh hứơng coi tính dục là xấu của ngài) sẽ ảnh hưởng tới tư duy Kitô Giáo cả gần một ngàn năm sau.
Thiên tài vĩ đại kế tiếp của truyền thống Công Giáo Rôma, Thánh Tôma Aquinô, không trực tiếp chịu ảnh hưởng của các luồng tư tưởng ngộ đạo và do đó tích cực trong quan điểm về tính dục con người hơn Thánh Augustinô. Tuy nhiên, triết lý Hy Lạp mà Thánh Tôma dựa vào đôi khi cũng đẩy hơi xa sự phân biệt giữa xác và hồn, do đó, vô tình cũng đã tăng cường nỗi sợ đối với thân xác và tính dục. Thí dụ, truyền thống Hy Lạp và phần lớn tư duy thần học Công Giáo hay mô tả số phận con người theo tính bất tử của linh hồn, trong khi thực ra các tuyên tín cổ xưa của Kitô Giáo nhấn mạnh tới việc phục sinh của thân xác, một niềm tin có thiện cảm nhiều hơn đối với trật tự vật chất và tính dục. Phương thức của trường phái Tôma đôi lúc cũng rơi vào chỗ mô tả tính dục một cách đầy tiên kiến, thí dụ, trong một số tài liệu giáo khoa luân lý, bộ phận sinh dục của con người được mô tả là “dơ bẩn” (dishonest).
Nhưng quan điểm tiêu cực nhất về tính dục con người xuất hiện trong Đạo Công Giáo Rôma trong các thế kỷ gần đây có lẽ là phái Giăngxen của Pháp. Phái này đã bị kết án là lạc đạo, nhưng tinh thần tiêu cực của họ đối với thế giới và tính dục kéo dài rất lâu sau khi phái này đã chính thức biến mất. Phái này đặc biệt gây ảnh hưởng mạnh đối với thái độ tiêu cực và nghi ngại tính dục của người Công Giáo Hoa Kỳ. Khá nhiều cộng đoàn tu trì đóng vai chủ yếu trong việc phát triển Đạo Công Giáo tại Hoa Kỳ có lai lịch chịu ảnh hưởng Pháp, ảnh hưởng Giăngxen, và do đó, một cách vô thức, đã cổ vũ ý niệm coi tính dục là xấu nơi người Công Giáo nước này.
Phái Thệ Phản cũng chuyển giao nhiều ý niệm tiêu cực và, tựu chung, phản Kitô Giáo về tính dục. Trong bối cảnh Hoa Kỳ, người ta còn nhớ rõ một số quan điểm nghiêm ngặt hẹp hòi về tính dục. Hester Prynne của Hawthorne với chữ “A” đỏ (chỉ tội ngoại tình) của cô tuy chỉ là một nhân vật hư cấu nhưng đã phản ảnh một ý thức rất thực về tính dục. Dù sao, những lời khuyên đầy lo sợ trong các sách giáo khoa ngành y của thế kỷ 19 liên quan đến các vấn đề tính dục không phải là chuyện hư cấu. Xét cho cùng, chủ nghĩa nghiêm ngặt (Puritanism) quả là lực lượng quan trọng nhất trong việc phát triển ra các quan điểm hết sức tiêu cực về tính dục ở Hoa Kỳ. Tóm lại, ảnh hưởng ngộ đạo và chủ trương do đó mà ra cho rằng tính dục xét từ căn bản là điều xấu đã trở thành vấn đề cho toàn bộ Kitô Giáo, chứ không riêng gì Công Giáo Rôma.
Trong mấy thế kỷ qua, người ta đã chứng kiến nhiều tập quán kỳ cục, chứng tỏ các cách nhìn đầy sợ sệt đã thấm nhiễm vào đầu óc người Kitô Giáo như thế nào. Như ở vùng New England chịu ảnh hưởng của phái nghiêm ngặt, người ta khuyên cha mẹ đặt dưới giường các con trai ở tuổi thiếu niên của mình những chiếc chuông giúp họ khám phá ra và ngăn ngừa chúng khỏi thủ dâm. Đầu thế kỷ 20, người ta đã quảng cáo một dụng cụ điện tử để thay thế cho các chiếc chuông kia. Một số chủng viện Công Giáo có thói quen cung cấp cho các chủng sinh những dụng cụ có hình chiếc muỗng (paddles) để họ thu gọn áo vào trong quần. Người ta cũng có thói quen khuyên các cô gái đừng mang những chiếc giầy da bóng loáng (patent leather) vì sợ tác dụng phản chiếu của chúng. Các thí dụ như thế nhiều lắm. Kể lại bây giờ chỉ để chúng ta cười, nhưng chúng quả nói lên một thái độ tiêu cực đối với tính dục nói chung.
Không hẳn ngoa ngữ khi cho rằng đời sống của hàng triệu người đã phải khốn đốn vì sự thất bại của Kitô Giáo không chịu bác bỏ một cách rõ ràng những quan điểm tính dục có tính nhị nguyên phản lại chính mình, từng xuất hiện liên tục trong nhiều thế kỷ. Những trường hợp trục trặc tính dục như lãnh cảm nơi phụ nữ và bất lực nơi đàn ông lẽ dĩ nhiên có những nguyên nhân thể lý và tâm lý ở bên ngoài tôn giáo, nhưng các ức chế có tính tôn giáo về tính dục cũng đã góp phần gây ra nhiều trục trặc trong phạm vi này. Ngoài những trục trặc tính dục này, còn nhiều trường hợp trong đó người ta rơi vào trạng huống khó liên hệ với người khác một cách ấm áp, cởi mở và tự tin đáng lẽ phải có, nếu họ không bị bao vây bởi những nỗi sợ quá đáng về tính dục của họ, do tôn giáo gợi hứng.
Chính vì những thương tổn và hiểu lầm trên, nhiệm vụ căn bản nhất của các cộng đồng Kitô Giáo ngày nay liên quan tới tính dục là phải bác bỏ mọi hình thức ngộ đạo và tuyên dương sự tốt lành căn bản của tính dục con người, dĩ nhiên không quên sự kiện này: cần phải sử dụng đúng đắn ơn phúc tính dục ấy. Mấy dòng lịch sử vắn vỏi về tính dục trên đây khiến ta phải tập chú vào lý do tại sao cần phải đưa ra một nền nhân thần học (theological anthropology) về tính dục bằng cách nhấn mạnh rằng tính dục là một quà phúc tốt lành của Thiên Chúa dành cho ta.
Các lý thuyết quá nhấn mạnh tới khía cạnh thể lý của tính dục
Tính dục có những khía cạnh tốt lành về thể lý mà người ta cần phải lồng vào bất cứ lý thuyết nào về tính dục. Nhưng điểm chủ yếu thứ hai của chúng ta về tính dục con người là phải nhấn mạnh tới tính tốt lành toàn bộ của nó. Nghĩa là, một lý thuyết lành mạnh về tính dục con người phải đề cập tới nó trên mọi bình diện hiện sinh của ta. Như thế, không được quá nhấn mạnh tới các khía cạnh thể lý của tính dục, dù chúng rất tốt lành và quan yếu, đến quên mất các khía cạnh bản thân và xã hội của nó. Suốt trong lịch sử, chủ nghĩa duy thể lý (physicalism) quá trớn từng gây trở ngại cho việc khai triển các cách tiếp cận lành mạnh đối với tính dục con người. Chủ nghĩa nhị nguyên của ngộ đạo, mà ta đã nói trên này, thường xem sét tính dục chỉ độc hữu có tính thể lý và vì thế, đã cho tính dục là xấu từ trong yếu tính. Nhiều hệ thống tư duy Kitô Giáo được “mài dũa” tinh tế hơn đã mau chóng vượt qua (ít nhất trong nguyên tắc, chứ không hẳn trong thực tế) quan điểm ngộ đạo coi tính dục là điều xấu từ căn bản. Nhưng khía cạnh khác của ngộ đạo, coi tính dục độc hữu chỉ có tính thể lý, thì tỏ ra khó vượt qua hơn. Người ta vẫn còn nhiều khuynh hướng muốn giải thích tính dục của mình như một hiện tượng chỉ có tính thể lý và đã hành động theo giải thích ấy. Các tiếp cận hoàn toàn thể lý này đối với tính dục con người thuộc hai loại sau đây: chủ nghĩa duy phụ tạo (procreationism) và chủ nghĩa coi tính dục chỉ là chuyện vui đùa (fun).
Chủ nghĩa duy phụ tạo chủ trương rằng mục tiêu luân lý duy nhất của tính dục con người là sinh sản con cái. Dù Thánh Augustinô đã thoát ly được ý niệm coi tính dục là điều xấu, nhưng ngài vẫn còn khuynh hướng tự đặt mình vào trường phái coi tính dục chỉ để phụ tạo. Nhiều thế kỷ sau, nền thần học Công Giáo Rôma cũng tự đặt mình vào trường phái này. Nền thần học cổ điển ấy có đề cập đến hôn nhân như liều thuốc trị tư dục và một số văn kiện quan trọng trong quá khứ của Công Giáo như Sách Giáo Lý Của Công Đồng Trent có nói tới sự trợ giúp hỗ tương được vợ chồng trao cho nhau trong kết hợp hôn nhân. Nhưng đối với nhiều người thường dựa vào tâm thức Công Giáo bình dân để hành động, thì mãi tới lúc sự trợ giúp hỗ tương kia được gọi là mục đích đệ nhị đẳng trong Bộ Giáo Luật năm 1917 và trong thông Điệp Casti Connubii năm 1930 của Đức Piô XI, thì phương thức khác với phương thức duy phụ tạo đối với hôn nhân mới bắt đầu được khai triển.
Phụ tạo là điều tốt, một điều tốt hết sức lớn lao đối với cả cá nhân lẫn xã hội. Không một lý thuyết về tính dục con người nào lại hoàn toàn làm ngơ được vai trò của phụ tạo như một số khuynh hướng ngày nay. Tuy nhiên, ta cũng không thể trệch qua hướng khác để chỉ hạn chế ý nghĩa tính dục vào sự phụ tạo mà thôi. Một trong những chủ đề có tính trung tâm hàng đầu trong Thánh Kinh để ta hiểu được tính dục là chủ đề tình yêu giao ước. Chủ đề này chính là hậu cảnh làm nền cho lời của Chúa Giêsu nói về việc vợ chồng trở nên một xác thịt (Mt 19:6) và cho lời Thánh Phaolô mô tả hôn nhân trong Thư Êphêsô chương 5. Các nhà nghiên cứu Thánh Kinh cho ta hay: chủ đề giao ước bao hàm một số giá trị (như tình yêu, lòng chung thủy v.v…). Nếu ta giải thích việc kết hợp tính dục của con người dưới ánh sáng giao ước, thì rõ ràng ta không thể nói tới tính dục chỉ theo nghĩa phụ tạo. Trong quá khứ, nhiều phần tử trong Giáo Hội thường nói một cách quá duy phụ tạo trong cách tiếp cận của họ đối với tính dục con người. Để có quan điểm toàn bộ (wholistic) và hợp Thánh Kinh, ta phải vượt lên trên các quan điểm duy phụ tạo về tính dục con người.
Hình thức thứ hai cường điệu hóa khía cạnh thể lý trong tính dục con người là các hệ thống nhấn mạnh một chiều tới khoái cảm thể lý hay giác quan đi liền với tính dục con người. Khoái cảm thể lý đi liền với tính dục con người là điều tốt, nó là một phần trong kế hoạch Thiên Chúa dành cho con người. Truyền thống Kitô Giáo, đôi lúc, không đặt đủ giá trị lên trên khoái cảm thể lý vốn nội tại trong tính dục. Nhưng đồng thời, người ta cũng không thể biến khoái cảm thể lý thành tập chú duy nhất hay tập chú chính trong cách tiếp cận với tính dục. Quá nhấn mạnh tới khoái cảm thể lý trong tính dục vốn là một vấn nạn trong suốt lịch sử con người, và trong thời đại ta, nó đang trở thành một vấn nạn hết sức thúc bách. Việc lan tràn các thủ bản dạy cách làm tình, thường chứa những hướng dẫn thiếu hiểu biết, cho thấy sự lớn mạnh của thứ đạo đức học khoái lạc một chiều về tính dục. Việc hối hả đi tìm khoái ngất hỗ tương nơi một số cặp vợ chồng (xem cuốn “The Great Orgasm Hunt” của Eugene Kennedy) là một điển hình khác. Nhưng điển hình rõ ràng nhất của phương thức làm-tình-chỉ-để-khoái-lạc trong thời đại ta có lẽ là thế giới của tạp chí Playboy và chủ nhân ông của nó là Hugh M. Hefner. Với số phát hành hàng tháng lên đến hàng triệu, tạp chí này đã dùng hình ảnh làm rõ việc họ quá nhấn mạnh tới khía cạnh khoái lạc của tính dục. Một cách đặc trưng, tạp chí này trình bày một số mục hư cấu, một số cuộc phỏng vấn các nhân vật tiếng tăm, các bài viết về các đề tài như xe hơi, hệ thống băng nhựa với âm thanh nổi, rượu nho, và một số trang dành đăng hình phụ nữ khỏa thân. Sứ điệp thường thấy của họ là đặt phụ nữ trên cùng bình diện với xe hơi, máy phát âm thanh nổi v.v… Các khía cạnh nhân bản rộng lớn hơn trong tính dục con người không được trình bày. Nhiều điển hình khác của phương thức duy cảm giới giác quan nông cạn cũng được trình bày nhưng điểm nhấn mạnh vẫn là một, hết sức hiển nhiên. Dù các khoái cảm thể lý của tính dục đều rất tốt, nhưng ta không nên quá nhấn mạnh tới chúng đến bỏ qua quan điểm lớn hơn và có tính toàn bộ hơn của tính dục.
Một trong các khó khăn mà nền thần học luân lý Công Giáo đang gặp phải liên quan tới tính dục nhân bản là thường nó chỉ đề cập tới những vấn đề riêng rẽ trong tính dục con người mà không đưa ra một quan điểm tổng thể để xem sét các vấn đề riêng rẽ kia. Trong thế kỷ qua, nền tư duy Công Giáo đã có nhiều khai triển hết sức ý nghĩa. Các khai triển này đụng tới nhiều lãnh vực như triết học, nghiên cứu Thánh Kinh, đạo đức học xã hội Kitô Giáo, thần học về Giáo Hội, và đại kết, ấy là mới chỉ kể một số. Dĩ nhiên, người ta nên áp dụng các khai triển trong tư duy Công Giáo này vào lãnh vực tính dục nhân bản để có thể đưa ra một quan điểm về tính dục con người vừa toàn bộ trong nó vừa gắn bó với các chủ trương triết học và thần học hiện hành của Giáo Hội. Nói đơn giản hơn, ta đang có nhu cầu khẩn thiết phải có một quan điểm thần học có tính tổng quát về tính dục con người.
Điểm chủ yếu của một nền thần học về tính dục con người
Trước nhất cần xác định hai điều sau đây làm các yếu tố chủ chốt cho một nền thần học về tính dục con người. Thứ nhất, tính dục con người là một điều hết sức tốt, một điều tốt lớn lao do Chúa ban tặng cho con người như một phần trong công trình sáng tạo của Người. Ý niệm ơn phúc về tính dục nhân bản ấy không chối bỏ sự kiện này: tính dục ấy rất có thể bị lạm dụng. Trong thế giới tội lỗi này, mọi ơn phúc của Thiên Chúa đều có thể bị lạm dụng, mà ơn phúc càng lớn, như tính dục chẳng hạn, thì càng dễ bị lạm dụng hơn. Tuy nhiên, không nên để khả thể lạm dụng che khuất sự kiện căn bản có tính thần và nhân học này: tính dục con người là một ơn phúc tốt lành của Thiên Chúa. “Từ khởi thủy, Người đã dựng nên họ; Người đã dựng nên họ có nam có nữ” (St 1:27).
Yếu tố thần học chủ yếu thứ hai trong tính dục có thể phát biểu như sau: tính dục con người là một ơn phúc tác động tới con người nhân bản trên mọi bình diện của hiện sinh; không phải chỉ đụng tới một bình diện nào đó mà thôi, mà là toàn bộ kinh nghiệm nhân bản, có nghĩa: nó là yếu tố căn bản hay hữu thể xác định (determinant) ra hiện sinh và nhân tính con người. Tính dục đụng tới ta trên bình diện vật lý, tác động sâu sắc tới mọi diễn trình sinh học và sinh lý của ta. Nó đụng tới ta trên bình diện tâm linh, ảnh hưởng tới đời sống tâm lý và xúc cảm của ta, bản chất linh tôn thẩm mỹ (spiritual-religious-aesthetic) của ta, và các mối liên hệ liên chủ thể của ta với Thiên Chúa và người khác. Tính dục nhân bản cũng đụng tới ta trên bình diện xã hội rộng lớn hơn, không những qui chiếu tới các mối liên hệ bản vị của ta mà còn tới sự tương tác của ta với các cơ cấu và nhu cầu của xã hội nói chung. Nói cách khác, tính dục con người là hình thái căn bản của cách thế ta liên hệ với chính mình, với mọi người khác và với Thiên Chúa. Ta luôn luôn hiện hữu và hành động như những con người tính dục; không lúc nào tính dục không là một phần của ta. Ơn phúc tính dục nhân bản do đó là một ơn phúc toàn bộ và toàn diện; hạn chế tính toàn diện của nó nhất thiết sẽ dẫn tới cái hiểu thần học thiếu sót về nó.
Một số quan điểm tương phản
Để hiểu rõ chủ trương của ta về tính dục con người, ta nên tương phản nó với một số lý thuyết thiếu sót về cùng một chủ đề. Nhờ thế, ta sẽ thấy quan điểm thần và nhân học của ta về tính dục sẽ vượt lên trên các lý thuyết thiếu sót này ra sao. Vì trên đây, ta đã mô tả tính dục con người như một ơn phúc của Thiên Chúa và giới thiệu các khía cạnh thể lý, bản thân, và xã hội của ơn phúc này, nên ở phần tương phản này, ta sẽ bàn tới bốn loại lý thuyết thiếu sót về tính dục: các lý thuyết coi tính dục là xấu, và các lý thuyết quá nhấn mạnh tới các bình diện vật lý, bản thân hay xã hội của tính dục.
Các lý thuyết cho tính dục là xấu
Các chủ trương cho tính dục xấu, từ nền tảng, đều chống lại quan điểm Kitô Giáo. Vì truyền thống Do Thái và Kitô Giáo nhất quyết tin rằng Thiên Chúa duy nhất đã dựng nên toàn bộ thế giới và làm cho nó ra tốt đẹp. Tính dục con người không nằm ngoài niềm tin ấy. Hơn nữa, Kitô Giáo tin vào thực tại Nhập Thể, tin vào chân lý: Chúa Kitô đã mang lấy trọn vẹn nhân tính. Một lần nữa, ta thấy không một mệnh đề nào xác quyết rằng tính dục bị bỏ ra ngoài Nhập Thể. Cho nên, các gốc rễ rõ rệt của truyền thống Do Thái và Kitô Giáo cho thấy một xác quyết dứt khoát về tính tốt lành của tính dục, chứ không phải tính ác.
Nhưng phải thành thực nhận rằng suốt trong nhiều thế kỷ, truyền thống Kitô Giáo đã không luôn luôn biện luận từ giáo huấn trung tâm của mình cho tính tốt lành của tính dục một cách rõ ràng hết sức có thể. Lý do lớn hơn cả khiến Kitô Giáo không làm được việc đó có lẽ vì sự liên lụy liên tục của mình với một số hình thức lầm lạc của phái ngộ đạo. Ngộ đạo là hình thức tư duy nhị nguyên xuất hiện gần như cùng lúc và cùng nơi với truyền thống Do Thái và Kitô Giáo. Xét về nhiều phương diện, hai hệ thống tư duy Kitô Giáo và ngộ đạo được coi như hai kẻ đồng hành từ đó. Danh sách các lạc giáo ngộ đạo từng tác động trên Kitô Giáo trong nhiều thế kỷ là một danh sách rất dài, khó có thể kể cho hết, chỉ xin kể tới ba hình thức nổi bật: phái Manikê, phái Anbigioa và phái Giăngxen (Manicheanism, Albigensianism, Jansenism).
Đối với chủ đề của chúng ta, vấn nạn chính của phe ngộ đạo là thuyết nhị nguyên của nó. Thuyết này cho rằng thế giới như hiện có là kết quả của một tranh chấp kiểu chiến trận giữa hai nguyên lý (hay thượng đế) ngang ngửa nhau: một nguyên lý tốt tạo ra các thực tại thiêng liêng trong đó có linh hồn con người, và một nguyên lý xấu tạo ra các thực tại vật chất, trong đó có thân xác con người. Bởi thế, đối với phe ngộ đạo, thân xác và các thực tại liên kết với nó, như tính dục, căn bản là xấu. Có lúc, phe ngộ đạo chống đối trật tự vật chất đến độ, trên nguyên tắc, họ bác bỏ việc sinh con vì con cái tiếp diễn việc con người dính líu tới vật chất tính. Bởi thế, một số các tuyên bố sớm nhất của Giáo Hội chống việc kiểm soát sinh đẻ chính là để chống lại các hình thức bài vật chất, hoàn toàn bài con cái này của phe ngô đạo.
Đạo Công Giáo Rôma không bao giờ ủng hộ phe ngộ đạo. Tuy nhiên, có lúc, Giáo Hội và ngay các nhà lãnh đạo vĩ đại nhất của Giáo Hội đã phải sống trong một thế giới chịu ảnh hưởng nặng nề của ngộ đạo thuyết đến độ xem ra gần như chuyển giao nỗi sợ của phe này đối với tính dục cho giáo dân của mình. Trường hợp điển hình là Thánh Augustinô. Vì trước khi trở lại, vị thánh này có lúc đã là thành viên của một nhóm ngộ đạo, tức nhóm Manikê. Ý kiến thiện cảm nhất thời nay cho rằng sau khi trở lại, Thánh Augustinô (đặc biệt trong tác phẩm Kinh Thành Thiên Chúa) đã khai triển một thứ triết lý duy biến tính (transformationist philosophy) để vượt qua chủ nghĩa ngộ đạo Manikê của mình. Tuy thế, trong một số vấn đề đặc thù, Thánh Augustinô đã không nói rõ quan điểm biến tính này (trong đó, Chúa Kitô cứu chuộc mọi thực tại) để đánh tan những giải thích sợ sệt mà ngài vốn có lúc còn theo phái Maniklê. Điều này thấy rõ trong trường hợp tính dục con người, đến nỗi đối với Thánh Augustinô, khía cạnh tội lỗi của việc giao hợp tính dục đã được nhấn mạnh dù đó là việc giao hợp giữa vợ chồng. Tư tưởng của Thánh Augustinô (và do đó khuynh hứơng coi tính dục là xấu của ngài) sẽ ảnh hưởng tới tư duy Kitô Giáo cả gần một ngàn năm sau.
Thiên tài vĩ đại kế tiếp của truyền thống Công Giáo Rôma, Thánh Tôma Aquinô, không trực tiếp chịu ảnh hưởng của các luồng tư tưởng ngộ đạo và do đó tích cực trong quan điểm về tính dục con người hơn Thánh Augustinô. Tuy nhiên, triết lý Hy Lạp mà Thánh Tôma dựa vào đôi khi cũng đẩy hơi xa sự phân biệt giữa xác và hồn, do đó, vô tình cũng đã tăng cường nỗi sợ đối với thân xác và tính dục. Thí dụ, truyền thống Hy Lạp và phần lớn tư duy thần học Công Giáo hay mô tả số phận con người theo tính bất tử của linh hồn, trong khi thực ra các tuyên tín cổ xưa của Kitô Giáo nhấn mạnh tới việc phục sinh của thân xác, một niềm tin có thiện cảm nhiều hơn đối với trật tự vật chất và tính dục. Phương thức của trường phái Tôma đôi lúc cũng rơi vào chỗ mô tả tính dục một cách đầy tiên kiến, thí dụ, trong một số tài liệu giáo khoa luân lý, bộ phận sinh dục của con người được mô tả là “dơ bẩn” (dishonest).
Nhưng quan điểm tiêu cực nhất về tính dục con người xuất hiện trong Đạo Công Giáo Rôma trong các thế kỷ gần đây có lẽ là phái Giăngxen của Pháp. Phái này đã bị kết án là lạc đạo, nhưng tinh thần tiêu cực của họ đối với thế giới và tính dục kéo dài rất lâu sau khi phái này đã chính thức biến mất. Phái này đặc biệt gây ảnh hưởng mạnh đối với thái độ tiêu cực và nghi ngại tính dục của người Công Giáo Hoa Kỳ. Khá nhiều cộng đoàn tu trì đóng vai chủ yếu trong việc phát triển Đạo Công Giáo tại Hoa Kỳ có lai lịch chịu ảnh hưởng Pháp, ảnh hưởng Giăngxen, và do đó, một cách vô thức, đã cổ vũ ý niệm coi tính dục là xấu nơi người Công Giáo nước này.
Phái Thệ Phản cũng chuyển giao nhiều ý niệm tiêu cực và, tựu chung, phản Kitô Giáo về tính dục. Trong bối cảnh Hoa Kỳ, người ta còn nhớ rõ một số quan điểm nghiêm ngặt hẹp hòi về tính dục. Hester Prynne của Hawthorne với chữ “A” đỏ (chỉ tội ngoại tình) của cô tuy chỉ là một nhân vật hư cấu nhưng đã phản ảnh một ý thức rất thực về tính dục. Dù sao, những lời khuyên đầy lo sợ trong các sách giáo khoa ngành y của thế kỷ 19 liên quan đến các vấn đề tính dục không phải là chuyện hư cấu. Xét cho cùng, chủ nghĩa nghiêm ngặt (Puritanism) quả là lực lượng quan trọng nhất trong việc phát triển ra các quan điểm hết sức tiêu cực về tính dục ở Hoa Kỳ. Tóm lại, ảnh hưởng ngộ đạo và chủ trương do đó mà ra cho rằng tính dục xét từ căn bản là điều xấu đã trở thành vấn đề cho toàn bộ Kitô Giáo, chứ không riêng gì Công Giáo Rôma.
Trong mấy thế kỷ qua, người ta đã chứng kiến nhiều tập quán kỳ cục, chứng tỏ các cách nhìn đầy sợ sệt đã thấm nhiễm vào đầu óc người Kitô Giáo như thế nào. Như ở vùng New England chịu ảnh hưởng của phái nghiêm ngặt, người ta khuyên cha mẹ đặt dưới giường các con trai ở tuổi thiếu niên của mình những chiếc chuông giúp họ khám phá ra và ngăn ngừa chúng khỏi thủ dâm. Đầu thế kỷ 20, người ta đã quảng cáo một dụng cụ điện tử để thay thế cho các chiếc chuông kia. Một số chủng viện Công Giáo có thói quen cung cấp cho các chủng sinh những dụng cụ có hình chiếc muỗng (paddles) để họ thu gọn áo vào trong quần. Người ta cũng có thói quen khuyên các cô gái đừng mang những chiếc giầy da bóng loáng (patent leather) vì sợ tác dụng phản chiếu của chúng. Các thí dụ như thế nhiều lắm. Kể lại bây giờ chỉ để chúng ta cười, nhưng chúng quả nói lên một thái độ tiêu cực đối với tính dục nói chung.
Không hẳn ngoa ngữ khi cho rằng đời sống của hàng triệu người đã phải khốn đốn vì sự thất bại của Kitô Giáo không chịu bác bỏ một cách rõ ràng những quan điểm tính dục có tính nhị nguyên phản lại chính mình, từng xuất hiện liên tục trong nhiều thế kỷ. Những trường hợp trục trặc tính dục như lãnh cảm nơi phụ nữ và bất lực nơi đàn ông lẽ dĩ nhiên có những nguyên nhân thể lý và tâm lý ở bên ngoài tôn giáo, nhưng các ức chế có tính tôn giáo về tính dục cũng đã góp phần gây ra nhiều trục trặc trong phạm vi này. Ngoài những trục trặc tính dục này, còn nhiều trường hợp trong đó người ta rơi vào trạng huống khó liên hệ với người khác một cách ấm áp, cởi mở và tự tin đáng lẽ phải có, nếu họ không bị bao vây bởi những nỗi sợ quá đáng về tính dục của họ, do tôn giáo gợi hứng.
Chính vì những thương tổn và hiểu lầm trên, nhiệm vụ căn bản nhất của các cộng đồng Kitô Giáo ngày nay liên quan tới tính dục là phải bác bỏ mọi hình thức ngộ đạo và tuyên dương sự tốt lành căn bản của tính dục con người, dĩ nhiên không quên sự kiện này: cần phải sử dụng đúng đắn ơn phúc tính dục ấy. Mấy dòng lịch sử vắn vỏi về tính dục trên đây khiến ta phải tập chú vào lý do tại sao cần phải đưa ra một nền nhân thần học (theological anthropology) về tính dục bằng cách nhấn mạnh rằng tính dục là một quà phúc tốt lành của Thiên Chúa dành cho ta.
Các lý thuyết quá nhấn mạnh tới khía cạnh thể lý của tính dục
Tính dục có những khía cạnh tốt lành về thể lý mà người ta cần phải lồng vào bất cứ lý thuyết nào về tính dục. Nhưng điểm chủ yếu thứ hai của chúng ta về tính dục con người là phải nhấn mạnh tới tính tốt lành toàn bộ của nó. Nghĩa là, một lý thuyết lành mạnh về tính dục con người phải đề cập tới nó trên mọi bình diện hiện sinh của ta. Như thế, không được quá nhấn mạnh tới các khía cạnh thể lý của tính dục, dù chúng rất tốt lành và quan yếu, đến quên mất các khía cạnh bản thân và xã hội của nó. Suốt trong lịch sử, chủ nghĩa duy thể lý (physicalism) quá trớn từng gây trở ngại cho việc khai triển các cách tiếp cận lành mạnh đối với tính dục con người. Chủ nghĩa nhị nguyên của ngộ đạo, mà ta đã nói trên này, thường xem sét tính dục chỉ độc hữu có tính thể lý và vì thế, đã cho tính dục là xấu từ trong yếu tính. Nhiều hệ thống tư duy Kitô Giáo được “mài dũa” tinh tế hơn đã mau chóng vượt qua (ít nhất trong nguyên tắc, chứ không hẳn trong thực tế) quan điểm ngộ đạo coi tính dục là điều xấu từ căn bản. Nhưng khía cạnh khác của ngộ đạo, coi tính dục độc hữu chỉ có tính thể lý, thì tỏ ra khó vượt qua hơn. Người ta vẫn còn nhiều khuynh hướng muốn giải thích tính dục của mình như một hiện tượng chỉ có tính thể lý và đã hành động theo giải thích ấy. Các tiếp cận hoàn toàn thể lý này đối với tính dục con người thuộc hai loại sau đây: chủ nghĩa duy phụ tạo (procreationism) và chủ nghĩa coi tính dục chỉ là chuyện vui đùa (fun).
Chủ nghĩa duy phụ tạo chủ trương rằng mục tiêu luân lý duy nhất của tính dục con người là sinh sản con cái. Dù Thánh Augustinô đã thoát ly được ý niệm coi tính dục là điều xấu, nhưng ngài vẫn còn khuynh hướng tự đặt mình vào trường phái coi tính dục chỉ để phụ tạo. Nhiều thế kỷ sau, nền thần học Công Giáo Rôma cũng tự đặt mình vào trường phái này. Nền thần học cổ điển ấy có đề cập đến hôn nhân như liều thuốc trị tư dục và một số văn kiện quan trọng trong quá khứ của Công Giáo như Sách Giáo Lý Của Công Đồng Trent có nói tới sự trợ giúp hỗ tương được vợ chồng trao cho nhau trong kết hợp hôn nhân. Nhưng đối với nhiều người thường dựa vào tâm thức Công Giáo bình dân để hành động, thì mãi tới lúc sự trợ giúp hỗ tương kia được gọi là mục đích đệ nhị đẳng trong Bộ Giáo Luật năm 1917 và trong thông Điệp Casti Connubii năm 1930 của Đức Piô XI, thì phương thức khác với phương thức duy phụ tạo đối với hôn nhân mới bắt đầu được khai triển.
Phụ tạo là điều tốt, một điều tốt hết sức lớn lao đối với cả cá nhân lẫn xã hội. Không một lý thuyết về tính dục con người nào lại hoàn toàn làm ngơ được vai trò của phụ tạo như một số khuynh hướng ngày nay. Tuy nhiên, ta cũng không thể trệch qua hướng khác để chỉ hạn chế ý nghĩa tính dục vào sự phụ tạo mà thôi. Một trong những chủ đề có tính trung tâm hàng đầu trong Thánh Kinh để ta hiểu được tính dục là chủ đề tình yêu giao ước. Chủ đề này chính là hậu cảnh làm nền cho lời của Chúa Giêsu nói về việc vợ chồng trở nên một xác thịt (Mt 19:6) và cho lời Thánh Phaolô mô tả hôn nhân trong Thư Êphêsô chương 5. Các nhà nghiên cứu Thánh Kinh cho ta hay: chủ đề giao ước bao hàm một số giá trị (như tình yêu, lòng chung thủy v.v…). Nếu ta giải thích việc kết hợp tính dục của con người dưới ánh sáng giao ước, thì rõ ràng ta không thể nói tới tính dục chỉ theo nghĩa phụ tạo. Trong quá khứ, nhiều phần tử trong Giáo Hội thường nói một cách quá duy phụ tạo trong cách tiếp cận của họ đối với tính dục con người. Để có quan điểm toàn bộ (wholistic) và hợp Thánh Kinh, ta phải vượt lên trên các quan điểm duy phụ tạo về tính dục con người.
Hình thức thứ hai cường điệu hóa khía cạnh thể lý trong tính dục con người là các hệ thống nhấn mạnh một chiều tới khoái cảm thể lý hay giác quan đi liền với tính dục con người. Khoái cảm thể lý đi liền với tính dục con người là điều tốt, nó là một phần trong kế hoạch Thiên Chúa dành cho con người. Truyền thống Kitô Giáo, đôi lúc, không đặt đủ giá trị lên trên khoái cảm thể lý vốn nội tại trong tính dục. Nhưng đồng thời, người ta cũng không thể biến khoái cảm thể lý thành tập chú duy nhất hay tập chú chính trong cách tiếp cận với tính dục. Quá nhấn mạnh tới khoái cảm thể lý trong tính dục vốn là một vấn nạn trong suốt lịch sử con người, và trong thời đại ta, nó đang trở thành một vấn nạn hết sức thúc bách. Việc lan tràn các thủ bản dạy cách làm tình, thường chứa những hướng dẫn thiếu hiểu biết, cho thấy sự lớn mạnh của thứ đạo đức học khoái lạc một chiều về tính dục. Việc hối hả đi tìm khoái ngất hỗ tương nơi một số cặp vợ chồng (xem cuốn “The Great Orgasm Hunt” của Eugene Kennedy) là một điển hình khác. Nhưng điển hình rõ ràng nhất của phương thức làm-tình-chỉ-để-khoái-lạc trong thời đại ta có lẽ là thế giới của tạp chí Playboy và chủ nhân ông của nó là Hugh M. Hefner. Với số phát hành hàng tháng lên đến hàng triệu, tạp chí này đã dùng hình ảnh làm rõ việc họ quá nhấn mạnh tới khía cạnh khoái lạc của tính dục. Một cách đặc trưng, tạp chí này trình bày một số mục hư cấu, một số cuộc phỏng vấn các nhân vật tiếng tăm, các bài viết về các đề tài như xe hơi, hệ thống băng nhựa với âm thanh nổi, rượu nho, và một số trang dành đăng hình phụ nữ khỏa thân. Sứ điệp thường thấy của họ là đặt phụ nữ trên cùng bình diện với xe hơi, máy phát âm thanh nổi v.v… Các khía cạnh nhân bản rộng lớn hơn trong tính dục con người không được trình bày. Nhiều điển hình khác của phương thức duy cảm giới giác quan nông cạn cũng được trình bày nhưng điểm nhấn mạnh vẫn là một, hết sức hiển nhiên. Dù các khoái cảm thể lý của tính dục đều rất tốt, nhưng ta không nên quá nhấn mạnh tới chúng đến bỏ qua quan điểm lớn hơn và có tính toàn bộ hơn của tính dục.