admin
08-07-2010, 03:35 PM
KHÁM PHÁ VẺ ĐẸP CỦA THÁNH LỄ
Lm. William P. Saunders
Thánh lễ là hành vi đẹp nhất để thờ lạy Chúa Tối Cao và là kho tàng của Giáo Hội Công Giáo. Để đánh giá đầy đủ, cần phải hiểu lịch sử phát triển của Thánh Lễ. Nguồn gốc của Thánh Lễ là Bữa Ăn Tối cuối cùng, bữa ăn lễ Vượt Qua. Ở đấy, Chúa và các tông đồ đọc Kinh Thánh, và rồi lần đầu tiên Ngài cầm lấy bánh và rượu, đọc lời hiến thánh, trao Mình Máu Ngài cho họ. Mọi hành động trong Thánh Lễ đầu tiên này phải được hiểu trong toàn bộ bối cảnh cuộc khổ nạn, cái chết và phục sinh của Chúa. Và từ lúc ấy trở đi, Giáo Hội đã dâng Thánh Lễ như một thực tại kéo dài của Bữa Tối Cuối Cùng cũng như cuộc khổ nạn, cái chết và phục sinh, thông phần vào sự hiện diện qua mọi thời.
Cứ cho là Thánh Lễ có tiến triển qua từng thời đại nhưng những yếu tố chính và cấu trúc của Thánh Lễ thì không. Ba tham chiếu quan trọng nhất nói về Thánh Lễ trong thời kỳ đầu của Giáo Hội là cuốn Didache (Giáo huấn của Mười Hai Tông Đồ – khoảng năm 80), cuốn First Apology (Hộ giáo đầu tiên – khoảng năm 155) của Thánh Giustinô Tử Đạo, và cuốn Apostolic Tradition (Truyền Thống Tông Đồ – khoảng năm 215) của Thánh Hippolytô. Những tham chiếu này chứng nhận cho truyền thống sống động của Thánh Lễ. Hình thức Thánh Lễ mà ta có hiện nay đã được Đức Giáo Hoàng Phaolô VI phê chuẩn vào năm 1969.
Thánh Lễ gồm 4 phần chính: Nghi thức nhập lễ, Phụng vụ Lời Chúa, Phụng vụ Thánh Thể, và Nghi thức kết lễ. Phần Phụng vụ Lời Chúa và Phụng vụ Thánh Thể “liên kết chặt chẽ với nhau để hình thành chỉ một hành vi thờ phượng duy nhất” (Hiến Chế Phụng Vụ Thánh, số 56). Hơn nữa, “Giáo Hội luôn tôn kính Thánh Kinh như chính Thân Thể Chúa, nhất là trong Phụng Vụ Thánh, Giáo Hội không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như từ bàn tiệc Mình Chúa Kitô để ban phát cho các tín hữu.” (Hiến chế Tín lý về Mạc Khải, số 21). Tóm lại, Thánh Lễ diễn biến như một hành động duy nhất.
Nghi thức Nhập lễ có một mục đích rõ ràng, chính xác là “giúp cho các tín hữu đã tập họp được hiệp thông với nhau và chuẩn bị tâm hồn để nghe Lời Chúa cho nghiêm chỉnh và để cử hành Thánh Lễ cho xứng đáng” (Hướng dẫn tổng quát sách lễ Rôma, số 24). Từ rất xa xưa trong Giáo Hội, dân chúng hội họp vào Ngày của Chúa (Didache, số 14). Khi hội họp thì họ đọc các Thánh Vịnh để chuẩn bị cho Thánh Lễ.
Ngay từ thời kỳ đầu, Thánh Lễ có một khởi đầu rõ ràng là nghi thức tiến vào khi mà linh mục đến với cộng đoàn để đọc lời nguyện đầu tiên. Dần dà, linh mục tiến vào với sự phụ hoạ của ca đoàn. Những truyền thống khác được thích ứng sau đó bao gồm việc xông hương và rảy nước thánh. Nghi thức xông hương xuất phát từ phương Đông. Làn khói thánh tượng trưng và đánh thức cảm giác thanh tẩy và thánh hoá. Người ta hát thánh vịnh 50, Miserere (Kinh xót thương). Hãy nhớ rằng vào thời Cựu Ước, hương được dùng để đuổi quỷ và thanh tẩy hiến lễ dâng cho Chúa.
Rảy nước thánh tương đương với việc xông hương. Rảy nước thánh cũng nhắc các tín hữu về bí tích rửa tội và việc tái sinh trong Chúa. Một lần nữa, kinh Miserere cũng thường được đọc lên. Cả việc xông hương và rảy nước thánh đều nhắc các tín hữu về tội lỗi của mình và vị linh mục cầu xin tha thứ tội lỗi của chính mình cũng như cho cả cộng đoàn.
Lời chào trịnh trọng bắt đầu thánh lễ được ghi lại trong cuốn “Thành trì của Chúa” (The City of God) của thánh Augustinô. Ngay từ thời kỳ đầu của Giáo Hội, Thánh lễ bắt đầu bằng dấu thánh giá. Tertullianô (k. 250) tả lại việc thường xuyên sử dụng dấu thánh giá: “Khi đi đường hoặc di chuyển, khi vào trong nhà hay ra ngoài, khi mang giày, vào nhà tắm, ngồi vào bàn, khi thắp nến, lúc nằm, ngồi, bất cứ làm việc gì, chúng tôi đều làm dấu thánh giá trên trán” (“De corona” 30).
Nghi thức Thống hối được sách Didache ghi lại: “Vào Ngày của Chúa, người ta hội họp nhau, bẻ bánh và tạ ơn, sau khi xưng thú những xúc phạm để hiến lễ nên tinh sạch” (số 14). Nghi thức này gồm việc xét mình và thú tội chung trước khi cử hành Thánh Thể. Tuy nhiên, nghi thức sám hối ngày nay không nên nhầm lẫn với Bí tích Thống Hối là bí tích chính yếu để thứ tha tội trọng.
Trong hình thức Thánh Lễ hiện nay, sau lời chào, linh mục hoặc rảy nước thánh hoặc làm Nghi thức Sám hối – kinh Confiteor (Tôi thú nhận) được tiếp nối bằng kinh Kyrie (Kinh thương xót), một nghi thức sám hối ngắn, hoặc kinh Kyrie với những câu lặp lại.
Kinh Confiteor có từ thế kỷ thứ VIII, nhưng kinh mà chúng ta có hiện nay trong Thánh Lễ đã được Đức Giáo Hoàng Piô V phê chuẩn (1570).
Kinh Kyrie được sử dụng khắp Giáo Hội vào thế kỷ VI, và luôn đi trước lời cầu của linh mục. Lời kinh “Xin Chúa thương xót, xin Chúa Kitô thương xót” xuất phát từ đầu thế kỷ thứ IV trong phụng vụ Antiokia-Giêrusalem. Kinh Kyrie đã được cải biên từ nhiều lời cầu xin khác nhau. Ở phương Đông có đến 42 lời cầu xin. Cho đến thế kỷ thứ VIII, kinh cầu này cứ được lặp lại mãi cho đến khi giáo hoàng (hoặc linh mục) cho dấu hiệu ngừng. Vào thế kỷ thứ IX, người ta quy định đọc 9 câu và ngày nay thì chỉ có 3 câu. Hiện nay, trong Thánh Lễ, kinh Kyrie được đọc sau kinh Confiteor.
Kinh Gloria (Kinh vinh danh) là bài tán tụng ca. Câu mở đầu lấy từ lời loan báo của thiên thần cho các mục đồng về sự sinh hạ của Chúa chúng ta (Lc 2, 14). Bản Hy Lạp xuất hiện khoảng năm 380 trong sách Apostolic Constitution và trong bản Tân Ước Codex Alexandrinus (thế kỷ thứ V), cả hai đều có kinh Gloria hầu như chính xác với kinh hiện nay. Vào thế kỷ thứ VI, kinh này được dùng vào các ngày Chúa Nhật và Lễ Trọng. Người ta không đọc kinh Gloria trong mùa Chay và mùa Vọng để nói lên tinh thần chuẩn bị và thống hối.
Kinh Gloria nói lên vinh quang của Chúa. Cùng nhau tham dự Thánh Lễ, các tín hữu vinh danh Thiên Chúa. Kinh Gloria có hai phần: phần đầu chúng ta ca ngợi và tạ ơn Chúa Cha đã mạc khải vinh quang cho dân Ngài trong sự sáng tạo và trong suốt lịch sử cứu độ. Phần thứ hai tập chú vào Đức Giêsu không chỉ như Con Chiên hy tế nhưng còn là Đức Kitô khải hoàn. Kinh Gloria kết thúc với lời tuyên xưng Chúa Ba Ngôi.
Lời nguyện nhập lễ kết thúc Nghi thức Nhập lễ. Lời nguyện này hướng về Chúa Cha, và kỷ niệm một ngày đặc biệt (lễ trọng) hoặc đề cao tinh thần của mùa phụng vụ. Lời nguyện hướng về Chúa Cha “nhờ Đức Giêsu” là Đấng trung gian (“… không ai đến được với Cha mà không qua ta – Ga 14, 6), và Chúa Thánh Thần, Đấng Bào Chữa và là Trạng Sư, là sự kết hợp được nhân cách hoá giữa Chúa Cha và Chúa Con. Ở đây chúng ta kêu cầu sự trợ giúp thiêng liêng của Thiên Chúa khi bắt đầu dâng Thánh Lễ.
Sau Nghi thức Nhập lễ, Thánh Lễ bước sang phần Phụng vụ Lời Chúa. Thời Giáo Hội sơ khai, việc chọn lựa và số các bài đọc thay đổi tuỳ theo mỗi phụng vụ. Ở phương Tây, người ta phát triển mô hình một bài đọc trích từ các thư được đọc trước bài Tin Mừng bởi vì Phục Sinh là biến cố của Tân Ước. Người ta cũng dành ưu tiên cho các sách Tiên tri. Lời tung hô “Tạ ơn Chúa” (Deo gratias) sớm được dùng vào thế kỷ thứ IV. Hơn nữa, Giáo Hội quy định rằng chỉ những sách được gán cho các Tiên tri và các Tông đồ mới được đọc trong Thánh Lễ (cf. The Muratorian Fragment, k. 155).
Ca tiến cấp hay Thánh vịnh đáp ca được chen giữa các bài đọc. Một ca viên tiến lên với sách hát thánh vịnh (Cantatorium). Dân chúng sẽ hát phần điệp khúc. Ca viên đứng nơi bậc cấp kề với đài đọc sách. Bậc cấp này được gọi là “gradus”, vì thế mới có từ “Ca tiến cấp” (gradual).
Alleluia trước Tin Mừng cũng có mặt trong Thánh Lễ từ rất sớm. Bài ca này là lời công bố Phục Sinh.
Tin Mừng luôn chiếm chỗ danh dự. Đọc Tin Mừng phải luôn là một thành viên giáo sĩ. Trong phụng vụ Rôma, linh mục hay phó tế cầm lấy sách Tin Mừng từ bàn thờ và rước tới giảng đài với người giúp lễ mang nến và hương. Thánh Giêrônimô thuật lại rằng theo lễ nghi triều đình người ta cũng đón rước tương tự khi một quan chức vào cung. Khoảng thế kỷ thứ IV, câu tung hô “Lạy Chúa, vinh danh Chúa” (Gloria tibi, Domini) được đưa vào lúc bắt đầu đọc Tin Mừng, và câu tung hô “Lạy Đức Kitô, ngợi khen Chúa” (Laus tibi, Christe) ở cuối Tin Mừng để nói lên niềm xác tín về sự hiện diện của Đức Kitô trong lời Tin Mừng được công bố. Vì lý do này, các tín hữu luôn đứng khi đọc bài Tin Mừng trong khi họ ngồi khi đọc các bài đọc khác. Vào thế kỷ thứ IX, lúc bắt đầu đọc Tin Mừng, các tín hữu làm dấu thánh giá trên trán, môi và ngực, có ý muốn nói rằng tâm trí được mở ra để đón nhận Lời Chúa được tuyên xưng trên môi miệng và ghi khắc vào tâm hồn.
Khi đưa ra những hướng dẫn cho việc canh tân Thánh Lễ, các nghị phụ Công Đồng Vatican II đã chỉ thị: “Ðể bàn tiệc lời Chúa được bày dọn phong phú hơn cho các tín hữu, phải mở rộng kho tàng Thánh Kinh hơn nữa; muốn thế, trong khoảng một số năm ấn định, phải đọc cho dân chúng phần Thánh Kinh quan trọng hơn” (Hiến chế Phụng Vụ Thánh, số 51). Vì thế, chu kỳ ba năm dành cho các bài đọc Chúa Nhật và hai năm cho các Thánh lễ trong tuần đã được đặt ra. Theo chu kỳ Chúa Nhật, mỗi Thánh Lễ Chúa Nhật sẽ có bài đọc thứ nhất trích từ Cựu Ước (hoặc từ sách Tông Đồ Công Vụ hay Khải Huyền tuỳ theo mùa phụng vụ hoặc lễ trọng), thánh vịnh đáp ca, bài đọc thứ hai trích từ các thư trong Tân Ước, và cuối cùng là một đoạn Tin Mừng. Mỗi chu kỳ sẽ trích những đoạn từ các Tin Mừng riêng biệt: Năm A là Thánh Matthêu; Năm B là Thánh Marcô; và Năm C là Thánh Luca. Các đoạn trích từ Thánh Gioan rải rác trong suốt năm, đặc biệt trong mùa Phục Sinh và năm B.
Sau Tin Mừng, linh mục giảng lễ mà theo truyền thống thì được xem như bài hướng dẫn giáo lý. Nhiệm vụ của bài giảng là giúp các tín hữu hiểu Kinh Thánh và làm cho Lời Chúa trở nên thích hợp với thời hiện tại. Hơn nữa, nên nối kết Lời Chúa với Thánh Thể. Hiến chế Phụng Vụ nói rằng: “Bài giảng căn cứ vào Thánh Kinh để trình bày các mầu nhiệm đức tin và những qui tắc cho đời sống Kitô giáo trong suốt chu kỳ năm phụng vụ, rất đáng được coi như một phần của chính Phụng Vụ. Hơn nữa, trong những Thánh Lễ được cử hành những ngày Chúa Nhật và lễ buộc có dân chúng tham dự, không được bỏ giảng, nếu không có lý do hệ trọng” (số 52).
Lời Tuyên Xưng Đức Tin hay kinh Tin Kính là câu trả lời cho Lời Chúa được công bố và bài giảng. Hiện nay, kinh Tin Kính đọc trong Thánh Lễ được Công Đồng Nicea năm 325 phê chuẩn (với phần cuối cùng, bắt đầu với câu “Người bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra…” được Công Đồng Constantinople năm 381 thêm vào). Trong Giáo Hội sơ thời, bí tích Rửa Tội được cử hành trong Thánh Lễ, sau bài Tin Mừng; vào thời ấy, người ta đọc lời tuyên xưng đức tin cơ bản, thường là trả lời cho những câu hỏi. Mặc dầu kinh Tin Kính chính thức được đưa vào trong Thánh Lễ vào khoảng những năm 500, nhưng cũng đã được đọc trước thời gian này. Thêm vào đó, bản kinh Tin Kính sớm hơn được gọi là kinh Tin Kính Các Tông Đồ cũng được dùng trong Thánh Lễ.
Lm. William P. Saunders
Thánh lễ là hành vi đẹp nhất để thờ lạy Chúa Tối Cao và là kho tàng của Giáo Hội Công Giáo. Để đánh giá đầy đủ, cần phải hiểu lịch sử phát triển của Thánh Lễ. Nguồn gốc của Thánh Lễ là Bữa Ăn Tối cuối cùng, bữa ăn lễ Vượt Qua. Ở đấy, Chúa và các tông đồ đọc Kinh Thánh, và rồi lần đầu tiên Ngài cầm lấy bánh và rượu, đọc lời hiến thánh, trao Mình Máu Ngài cho họ. Mọi hành động trong Thánh Lễ đầu tiên này phải được hiểu trong toàn bộ bối cảnh cuộc khổ nạn, cái chết và phục sinh của Chúa. Và từ lúc ấy trở đi, Giáo Hội đã dâng Thánh Lễ như một thực tại kéo dài của Bữa Tối Cuối Cùng cũng như cuộc khổ nạn, cái chết và phục sinh, thông phần vào sự hiện diện qua mọi thời.
Cứ cho là Thánh Lễ có tiến triển qua từng thời đại nhưng những yếu tố chính và cấu trúc của Thánh Lễ thì không. Ba tham chiếu quan trọng nhất nói về Thánh Lễ trong thời kỳ đầu của Giáo Hội là cuốn Didache (Giáo huấn của Mười Hai Tông Đồ – khoảng năm 80), cuốn First Apology (Hộ giáo đầu tiên – khoảng năm 155) của Thánh Giustinô Tử Đạo, và cuốn Apostolic Tradition (Truyền Thống Tông Đồ – khoảng năm 215) của Thánh Hippolytô. Những tham chiếu này chứng nhận cho truyền thống sống động của Thánh Lễ. Hình thức Thánh Lễ mà ta có hiện nay đã được Đức Giáo Hoàng Phaolô VI phê chuẩn vào năm 1969.
Thánh Lễ gồm 4 phần chính: Nghi thức nhập lễ, Phụng vụ Lời Chúa, Phụng vụ Thánh Thể, và Nghi thức kết lễ. Phần Phụng vụ Lời Chúa và Phụng vụ Thánh Thể “liên kết chặt chẽ với nhau để hình thành chỉ một hành vi thờ phượng duy nhất” (Hiến Chế Phụng Vụ Thánh, số 56). Hơn nữa, “Giáo Hội luôn tôn kính Thánh Kinh như chính Thân Thể Chúa, nhất là trong Phụng Vụ Thánh, Giáo Hội không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa cũng như từ bàn tiệc Mình Chúa Kitô để ban phát cho các tín hữu.” (Hiến chế Tín lý về Mạc Khải, số 21). Tóm lại, Thánh Lễ diễn biến như một hành động duy nhất.
Nghi thức Nhập lễ có một mục đích rõ ràng, chính xác là “giúp cho các tín hữu đã tập họp được hiệp thông với nhau và chuẩn bị tâm hồn để nghe Lời Chúa cho nghiêm chỉnh và để cử hành Thánh Lễ cho xứng đáng” (Hướng dẫn tổng quát sách lễ Rôma, số 24). Từ rất xa xưa trong Giáo Hội, dân chúng hội họp vào Ngày của Chúa (Didache, số 14). Khi hội họp thì họ đọc các Thánh Vịnh để chuẩn bị cho Thánh Lễ.
Ngay từ thời kỳ đầu, Thánh Lễ có một khởi đầu rõ ràng là nghi thức tiến vào khi mà linh mục đến với cộng đoàn để đọc lời nguyện đầu tiên. Dần dà, linh mục tiến vào với sự phụ hoạ của ca đoàn. Những truyền thống khác được thích ứng sau đó bao gồm việc xông hương và rảy nước thánh. Nghi thức xông hương xuất phát từ phương Đông. Làn khói thánh tượng trưng và đánh thức cảm giác thanh tẩy và thánh hoá. Người ta hát thánh vịnh 50, Miserere (Kinh xót thương). Hãy nhớ rằng vào thời Cựu Ước, hương được dùng để đuổi quỷ và thanh tẩy hiến lễ dâng cho Chúa.
Rảy nước thánh tương đương với việc xông hương. Rảy nước thánh cũng nhắc các tín hữu về bí tích rửa tội và việc tái sinh trong Chúa. Một lần nữa, kinh Miserere cũng thường được đọc lên. Cả việc xông hương và rảy nước thánh đều nhắc các tín hữu về tội lỗi của mình và vị linh mục cầu xin tha thứ tội lỗi của chính mình cũng như cho cả cộng đoàn.
Lời chào trịnh trọng bắt đầu thánh lễ được ghi lại trong cuốn “Thành trì của Chúa” (The City of God) của thánh Augustinô. Ngay từ thời kỳ đầu của Giáo Hội, Thánh lễ bắt đầu bằng dấu thánh giá. Tertullianô (k. 250) tả lại việc thường xuyên sử dụng dấu thánh giá: “Khi đi đường hoặc di chuyển, khi vào trong nhà hay ra ngoài, khi mang giày, vào nhà tắm, ngồi vào bàn, khi thắp nến, lúc nằm, ngồi, bất cứ làm việc gì, chúng tôi đều làm dấu thánh giá trên trán” (“De corona” 30).
Nghi thức Thống hối được sách Didache ghi lại: “Vào Ngày của Chúa, người ta hội họp nhau, bẻ bánh và tạ ơn, sau khi xưng thú những xúc phạm để hiến lễ nên tinh sạch” (số 14). Nghi thức này gồm việc xét mình và thú tội chung trước khi cử hành Thánh Thể. Tuy nhiên, nghi thức sám hối ngày nay không nên nhầm lẫn với Bí tích Thống Hối là bí tích chính yếu để thứ tha tội trọng.
Trong hình thức Thánh Lễ hiện nay, sau lời chào, linh mục hoặc rảy nước thánh hoặc làm Nghi thức Sám hối – kinh Confiteor (Tôi thú nhận) được tiếp nối bằng kinh Kyrie (Kinh thương xót), một nghi thức sám hối ngắn, hoặc kinh Kyrie với những câu lặp lại.
Kinh Confiteor có từ thế kỷ thứ VIII, nhưng kinh mà chúng ta có hiện nay trong Thánh Lễ đã được Đức Giáo Hoàng Piô V phê chuẩn (1570).
Kinh Kyrie được sử dụng khắp Giáo Hội vào thế kỷ VI, và luôn đi trước lời cầu của linh mục. Lời kinh “Xin Chúa thương xót, xin Chúa Kitô thương xót” xuất phát từ đầu thế kỷ thứ IV trong phụng vụ Antiokia-Giêrusalem. Kinh Kyrie đã được cải biên từ nhiều lời cầu xin khác nhau. Ở phương Đông có đến 42 lời cầu xin. Cho đến thế kỷ thứ VIII, kinh cầu này cứ được lặp lại mãi cho đến khi giáo hoàng (hoặc linh mục) cho dấu hiệu ngừng. Vào thế kỷ thứ IX, người ta quy định đọc 9 câu và ngày nay thì chỉ có 3 câu. Hiện nay, trong Thánh Lễ, kinh Kyrie được đọc sau kinh Confiteor.
Kinh Gloria (Kinh vinh danh) là bài tán tụng ca. Câu mở đầu lấy từ lời loan báo của thiên thần cho các mục đồng về sự sinh hạ của Chúa chúng ta (Lc 2, 14). Bản Hy Lạp xuất hiện khoảng năm 380 trong sách Apostolic Constitution và trong bản Tân Ước Codex Alexandrinus (thế kỷ thứ V), cả hai đều có kinh Gloria hầu như chính xác với kinh hiện nay. Vào thế kỷ thứ VI, kinh này được dùng vào các ngày Chúa Nhật và Lễ Trọng. Người ta không đọc kinh Gloria trong mùa Chay và mùa Vọng để nói lên tinh thần chuẩn bị và thống hối.
Kinh Gloria nói lên vinh quang của Chúa. Cùng nhau tham dự Thánh Lễ, các tín hữu vinh danh Thiên Chúa. Kinh Gloria có hai phần: phần đầu chúng ta ca ngợi và tạ ơn Chúa Cha đã mạc khải vinh quang cho dân Ngài trong sự sáng tạo và trong suốt lịch sử cứu độ. Phần thứ hai tập chú vào Đức Giêsu không chỉ như Con Chiên hy tế nhưng còn là Đức Kitô khải hoàn. Kinh Gloria kết thúc với lời tuyên xưng Chúa Ba Ngôi.
Lời nguyện nhập lễ kết thúc Nghi thức Nhập lễ. Lời nguyện này hướng về Chúa Cha, và kỷ niệm một ngày đặc biệt (lễ trọng) hoặc đề cao tinh thần của mùa phụng vụ. Lời nguyện hướng về Chúa Cha “nhờ Đức Giêsu” là Đấng trung gian (“… không ai đến được với Cha mà không qua ta – Ga 14, 6), và Chúa Thánh Thần, Đấng Bào Chữa và là Trạng Sư, là sự kết hợp được nhân cách hoá giữa Chúa Cha và Chúa Con. Ở đây chúng ta kêu cầu sự trợ giúp thiêng liêng của Thiên Chúa khi bắt đầu dâng Thánh Lễ.
Sau Nghi thức Nhập lễ, Thánh Lễ bước sang phần Phụng vụ Lời Chúa. Thời Giáo Hội sơ khai, việc chọn lựa và số các bài đọc thay đổi tuỳ theo mỗi phụng vụ. Ở phương Tây, người ta phát triển mô hình một bài đọc trích từ các thư được đọc trước bài Tin Mừng bởi vì Phục Sinh là biến cố của Tân Ước. Người ta cũng dành ưu tiên cho các sách Tiên tri. Lời tung hô “Tạ ơn Chúa” (Deo gratias) sớm được dùng vào thế kỷ thứ IV. Hơn nữa, Giáo Hội quy định rằng chỉ những sách được gán cho các Tiên tri và các Tông đồ mới được đọc trong Thánh Lễ (cf. The Muratorian Fragment, k. 155).
Ca tiến cấp hay Thánh vịnh đáp ca được chen giữa các bài đọc. Một ca viên tiến lên với sách hát thánh vịnh (Cantatorium). Dân chúng sẽ hát phần điệp khúc. Ca viên đứng nơi bậc cấp kề với đài đọc sách. Bậc cấp này được gọi là “gradus”, vì thế mới có từ “Ca tiến cấp” (gradual).
Alleluia trước Tin Mừng cũng có mặt trong Thánh Lễ từ rất sớm. Bài ca này là lời công bố Phục Sinh.
Tin Mừng luôn chiếm chỗ danh dự. Đọc Tin Mừng phải luôn là một thành viên giáo sĩ. Trong phụng vụ Rôma, linh mục hay phó tế cầm lấy sách Tin Mừng từ bàn thờ và rước tới giảng đài với người giúp lễ mang nến và hương. Thánh Giêrônimô thuật lại rằng theo lễ nghi triều đình người ta cũng đón rước tương tự khi một quan chức vào cung. Khoảng thế kỷ thứ IV, câu tung hô “Lạy Chúa, vinh danh Chúa” (Gloria tibi, Domini) được đưa vào lúc bắt đầu đọc Tin Mừng, và câu tung hô “Lạy Đức Kitô, ngợi khen Chúa” (Laus tibi, Christe) ở cuối Tin Mừng để nói lên niềm xác tín về sự hiện diện của Đức Kitô trong lời Tin Mừng được công bố. Vì lý do này, các tín hữu luôn đứng khi đọc bài Tin Mừng trong khi họ ngồi khi đọc các bài đọc khác. Vào thế kỷ thứ IX, lúc bắt đầu đọc Tin Mừng, các tín hữu làm dấu thánh giá trên trán, môi và ngực, có ý muốn nói rằng tâm trí được mở ra để đón nhận Lời Chúa được tuyên xưng trên môi miệng và ghi khắc vào tâm hồn.
Khi đưa ra những hướng dẫn cho việc canh tân Thánh Lễ, các nghị phụ Công Đồng Vatican II đã chỉ thị: “Ðể bàn tiệc lời Chúa được bày dọn phong phú hơn cho các tín hữu, phải mở rộng kho tàng Thánh Kinh hơn nữa; muốn thế, trong khoảng một số năm ấn định, phải đọc cho dân chúng phần Thánh Kinh quan trọng hơn” (Hiến chế Phụng Vụ Thánh, số 51). Vì thế, chu kỳ ba năm dành cho các bài đọc Chúa Nhật và hai năm cho các Thánh lễ trong tuần đã được đặt ra. Theo chu kỳ Chúa Nhật, mỗi Thánh Lễ Chúa Nhật sẽ có bài đọc thứ nhất trích từ Cựu Ước (hoặc từ sách Tông Đồ Công Vụ hay Khải Huyền tuỳ theo mùa phụng vụ hoặc lễ trọng), thánh vịnh đáp ca, bài đọc thứ hai trích từ các thư trong Tân Ước, và cuối cùng là một đoạn Tin Mừng. Mỗi chu kỳ sẽ trích những đoạn từ các Tin Mừng riêng biệt: Năm A là Thánh Matthêu; Năm B là Thánh Marcô; và Năm C là Thánh Luca. Các đoạn trích từ Thánh Gioan rải rác trong suốt năm, đặc biệt trong mùa Phục Sinh và năm B.
Sau Tin Mừng, linh mục giảng lễ mà theo truyền thống thì được xem như bài hướng dẫn giáo lý. Nhiệm vụ của bài giảng là giúp các tín hữu hiểu Kinh Thánh và làm cho Lời Chúa trở nên thích hợp với thời hiện tại. Hơn nữa, nên nối kết Lời Chúa với Thánh Thể. Hiến chế Phụng Vụ nói rằng: “Bài giảng căn cứ vào Thánh Kinh để trình bày các mầu nhiệm đức tin và những qui tắc cho đời sống Kitô giáo trong suốt chu kỳ năm phụng vụ, rất đáng được coi như một phần của chính Phụng Vụ. Hơn nữa, trong những Thánh Lễ được cử hành những ngày Chúa Nhật và lễ buộc có dân chúng tham dự, không được bỏ giảng, nếu không có lý do hệ trọng” (số 52).
Lời Tuyên Xưng Đức Tin hay kinh Tin Kính là câu trả lời cho Lời Chúa được công bố và bài giảng. Hiện nay, kinh Tin Kính đọc trong Thánh Lễ được Công Đồng Nicea năm 325 phê chuẩn (với phần cuối cùng, bắt đầu với câu “Người bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra…” được Công Đồng Constantinople năm 381 thêm vào). Trong Giáo Hội sơ thời, bí tích Rửa Tội được cử hành trong Thánh Lễ, sau bài Tin Mừng; vào thời ấy, người ta đọc lời tuyên xưng đức tin cơ bản, thường là trả lời cho những câu hỏi. Mặc dầu kinh Tin Kính chính thức được đưa vào trong Thánh Lễ vào khoảng những năm 500, nhưng cũng đã được đọc trước thời gian này. Thêm vào đó, bản kinh Tin Kính sớm hơn được gọi là kinh Tin Kính Các Tông Đồ cũng được dùng trong Thánh Lễ.