admin
04-08-2010, 06:12 AM
AI ĐƯỢC GIAO PHÓ NHIỀU, THÌ SẼ BỊ ĐÒI HỎI NHIỀU HƠN
SUY NIỆM PHÚC ÂM (III C 40); (08,08.2010); (Lc 12, 32- 48)
CHÚA NHẬT XIX PHỤNG VỤ THƯỜNG NIÊN, NĂM C
NGUYỄN HỌC TẬP
1 - " Hỡi đoàn chiên nhỏ ! ".
“Hỡi đoàn chiên bé nhỏ” được thốt lên từ miệng Chúa Giêsu là cách diễn tả thân yêu tâm tình đối với các môn đệ, một cộng đồng nhỏ bé tiên khởi - không có gì đáng kể tính theo số đông và thiếu thốn mọi phương tiện để sống, cũng như thực hiện sứ mạng của mình - so với cộng đồng cộng đồng Kitô giáo về sau:
- “Hỡi đoàn chiên bé nhỏ, đừng sợ, vì Cha anh em đã vui lòng ban Nước của Người cho anh em” (Lc 12, 32).
Chúa Giês trấn an các môn đệ “đừng sợ !”,bằng cách nói cho các vị lý do đầy hứa hẹn và an ủi:
- “...vì Cha anh em đã vui lòng ban Nước của Người cho anh em”.
Điều đó có nghĩa là “Cha anh em” đang ở gần anh em như vị vua đầy quyền năng và như người mục tử nhân lành lo lắng cho anh em, bởi đó dầu cho anh em là một thiểu số không đáng kể, thiếu mọi phương tiện vật chất, anh em cũng không có gì phải lo lắng.
Đây là một câu nói đầy ý nghĩa, đúc kết nền thần học vào niềm hy vọng Nước Trời thời cánh chung, lúc chính Chúa Cha sẽ ban tặng chính Người cho các tín hữu, như những gì Thánh Luca sẽ khai triển rõ ràng hơn trong bối cảnh Bữa Tiệc Ly, trong đó Người đoan hứa với các môn đệ sẽ được tham dự vào vương tước Đấng Cứu Thế:
- “Bởi đó, Thầy sẽ trao Vương Quốc cho anh em, như Cha Thầy đã trao cho Thầy, để anh em được đồng bàn ăn uống với Thầy trong Vương Quốc của Thầy, và ngự toà xét xử mười hai chi tộc Israel” (Lc 22, 29-30).
“Đoàn chiên nhỏ” được đặt liên hệ với Vương Quốc của Đấng Cứu Thế làm cho chúng ta liên tưởng đến dụ ngôn về hạt cải và men bột:
- “Nước Thiên Chúa giống như chuyện một hạt cải người nọ lấy gieo trong vườn mình. Nó lớn lên và trở thành cây, chim trời làm tổ trên cành được...Nước Thiên Chúa giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào trong ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men" (Lc 13, 19-20).
Điều đó làm cho chúng ta hiểu được ý muốn của Thiên Chúa, “đã vui lòng” có sức mạnh hơn bao nhiêu lần hình dáng bên ngoài của nhóm môn đệ bé nhỏ và đứng trước bao nhiêu hăm dọa sẽ bị thất bại trong sứ mạng rao giảng Phúc Âm của mình, được Chúa Giêsu giao phó cho.
Đó cũng là những gì Thánh Luca thuật lại Thiên Chúa đã làm trong Bài Ca Ngợi Khen Magnificat của Đức Trinh Nữ Maria:
- “Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường. Kẻ đói nghèo Chúa ban của dư đầy, người giàu có, lại đưổi về tay trắng” (Lc 1, 51-53).
Nếu với lòng tốt lành yêu thương, Chúa Cha “đã vui lòng ban Nước của Người cho anh em”, thì không có lý do gì “đoàn chiên bé nhỏ” phải áy náy lo sợ.
Bởi đó họ có thể “bán tài sản của mình đi mà bố thí” (Lc 12, 33).
Đây là đoạn nói lên đặc tính cá biệt của Phúc Âm Thánh Luca, tác giả Phúc Âm của đức khó nghèo: tách biệt khỏi của cải vật chất, không chỉ hệ tại ở thái độ tách biệt trong tinh thần, mà còn phải được thể hiện ra bằng hành động thiết thực, bằng động tác bố thí cho người nghèo, như những gì là động tác của
- ông Levi: “Sau đó, Chúa Giêsu ra đi và trông thấy một người thu thuế, tên là Levi, đang ngồi ở trạm thu thuế. Người bảo ông: ‘Anh hãy theo Ta’. Ông bỏ tất cả, đứng dậy đi theo Người” (Lc 5, 27-28),
- ông Zaccheo: “Ông Zacccheo đứng đó, thưa với Chúa rằng: ‘Thưa Thầy, đây phân nửa tài sản của con, con cho người nghèo; và nếu con đã chiếm đoạt của ai cái gì, con xin đền gấp bốn’” (Lc 19, 8),
-ông Barnaba: “Ông Giuse, người được các Tông Đồ đặt tên là Barnaba, nghĩa là người có tài yên ủi, có một thửa đất... Ông bán đất đi, lấy tiền đem đặt dưới chân các Tông Đồ” (Act 4, 36-37),
- và của cộng đồng Kitô hữu Giêrusalem: “Các tín hữu bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý. Không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung...Trong cộng đoàn không ai phải thiếu thốn, vì tất cả những người có ruộng đất, nhà cửa, đều bán đi, lấy tiền, đem đặt dưới chân các Tông Đồ. Tiền ấy được phân phát cho mỗi người, tùy theo nhu cầu” (Act 4, 32-35).
Điều đáng chú ý đặc tính tuyệt đối khó nghèo của Thánh Luca, kể lại cuộc đời Chúa Giêsu, là nhân đức khó nghèo được thể hiện bằng “kho tàng” và “trái tim”, nói lên trạng thái an vui, tự nguyện chớ không phải được trình bày dưới hình thức lề pháp bắt buộc:
- “Vì kho tàng anh em ở đâu, thì trái tim anh em ở đó” (Lc 12, 34).
Dĩ nhiên đó là quan niệm về kinh tế, tài chánh mà tư tưởng đương thời của chúng ta không thể nào hoàn toàn đồng thuận được.
Quan niệm khó nghèo và thực thi đức bác ái của chúng ta là thực thi trong hoàn cảnh kinh tế và xã hội đương thời của chúng ta, với đức khôn ngoan của Chúa Giêsu và ơn Chúa Thánh Thần.
Chúng ta thực thi đức bác ái,
- không phải bằng cách bán hết của cải và bố thí cho kẻ khó nghèo,
- cho bằng dùng của cải mình có để tạo kiến thức và công ăn việc làm cho anh em.
Bởi lẽ bán hết và bố thí, những người nghèo của chúng ta có ăn hôm nay, ngày mai, ngày mốt việc “đâu vẫn vào đấy” nhu cầu của họ vẫn trở lại, nếu chúng ta không nghĩ đến việc cung cấp cho họ có “công ăn việc làm”, tạo lợi tức cho chính mình và lợi ich cho người khác.
Như vậy, ngoài ra các trường hợp tai ương khẩn cấp, chúng ta thực thi đức bác ái cho người nghèo bằng cách cho họ “cần câu hơn là cá nướng sẵn ".
Hoàn cảnh xã hội kỹ nghệ của chúng ta không còn phải là hoàn cảnh xã hội nông nghiệp của thời sơ khởi của các Thánh Tông Đồ.
Cần phân biệt trợ giúp trong hoàn cảnh khẩn cấp và trợ giúp dài hạn, để thăng tiến con người và thăng tiến xã hội: giúp cho người yếu thế có phương tiện để
- “triển nở hoàn hảo con người của mình và tham dự một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở” (Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).
Giúp cho người yếu thế trong tiến trình dài hạn là giúp cho họ mở mang kiến thức, có khả năng và điều kiện làm việc, kể cả thiết lập hảng xưởng và hạ tầng cơ sở, để cho đương sự hay các đương sự làm việc tạo cho mình “một cuộc sống khang trang” và phát triển đất nước, lợi ích cho đồng bào mình và cũng có thể là cho anh em nhân loại của mình.
2 - " Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thấp đèn cho sẵn ",
“Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn. Hãy làm như người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ vừa về tới và gõ cửa, là mở ngay” (Lc 12, 35-36).
Lời nói của Chúa Giêsu mời gọi hãy tin cậy vào Chúa Cha, Đấng ban Vương Quốc của mình cho “đoàn chiên nhỏ” (Lc 12, 32), những lời nói đó phải làm cho trở nên trưởng thành nơi các môn đệ lương tâm mình là những người phục vụ khiêm nhường, đang tỉnh thức chờ đợi chủ đến.
Và đây là người chủ nhà ra đi trong một cuộc hành trình lâu dài, không ai biết được lúc nào ông trở về, khiến cho các người giúp việc trong nhà có cái nguy là lơ đễnh trong việc canh thức, giữ nhà và lòng hy vọng của họ được đón rước ông chủ về cũng lần lần phai nhạt đi.
Đó là điều Thánh Luca nhận thức được tâm thức nơi cộng động Kitô giáo, khoảng từ năm 80 trở đi, khi ngài viết Phúc Âm.
Lòng mong đợi biến cố Chúa Kitô trở lại dần dần bị lung lai đi và giữa dân chúng bắt đầu có những tư tưởng hết hy vọng với một vài lý do bỏ cuộc, đồng thời lòng nồng nhiệt bác ái lúc đầu cũng nguội dần và những cách sống gương mù gương xấu cũng bắt đầu ló dạng.
Nhiều cầu hỏi, tình trạng dồn nén và mong đợi được giải thích nổi lên giữa những tín hữu tiên khởi.
Trước tình trạng đó, Thánh Luca trả lời bằng cách viết Phúc Âm, xác nhận chắc chắn rằng Chúa sẽ trở lại, nhưng ngài cũng lưu ý rằng điều đó không ai có thể tưởng tượng được như là biến cố đang sát gần, cũng không người tín hữu nào có thể định thảo được chương trình.
Trong cảnh tăm tối và mờ mịt của cuộc sống hằng ngày, Chúa có thể tự do đến bất cứ lúc nào. Điều quan trọng là mỗi người phải chuẩn bị sẵn sàng để tiếp đón Người:
- “Hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn. Hãy làm như người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ vừa về tới và gõ cửa là mở ngay”.
Lời mời gọi của Chúa Giêsu đối với các môn đệ là nhẫn nại và kiên trường trong hy vọng và, mặc dầu không biết giờ nào, vẫn luôn luôn trong y phục làm việc phục vụ “hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn”, trong một trạng thái thức tỉnh năng động.
Thái độ của người giúp việc là thái độ làm việc thường nhật, chu toàn bổn phận của mình, ý thức đượcc trách nhiệm phải có của mình.
Biến cố quyết dịnh và phi thường là biến cố Chúa lại đến trong ngày cánh chung, đòi buộc chúng ta phải có thái độ khiêm nhường chờ đợi để đón rước Người.
Chúa Giêsu giải thích thái độ đó của người môn đệ bằng ba dụ ngôn.
3 - Dụ ngôn thứ nhứt.
Trong dụ ngôn thứ nhứt, được đặt trong bối cảnh ngôi nhà rộng rãi, ông chủ trở về trong đêm khuya, sau bữa tiệc cưới, gặp được các tôi tớ của mình đang tỉnh thức và vẫn làm việc đều đặn. Đó là thái độ mà Phúc Âm Thánh Luca tuyên bố hay tuyên hứa đến hai lần:
- “Khi chủ về mà thấy các đầy tớ ấy đang tỉnh thức, thì thật là phúc cho họ” (Lc 12, 37).
- “Nếu canh hai, hoặc canh ba ông chủ mới về, mà còn thấy họ tỉnh thức như vậy, thì thật là phúc cho họ” (Lc 12, 38).
“Thắt lưng cho gọn”, trạng thái “tỉnh thức” và “thắp đèn cho sẵn” đó là những cách diễn tả ngụ ý đề cập đến nghi thức lễ vượt qua, dân Israel được giải thoát ra khỏi Ai Cập (Ex 12).
Ông chủ trở về gặp được các đầy tớ của mình trong tình trạng đó, chắc chắn ông sẽ tỏ lòng biết ơn, đầy tình thương đối với họ, ông chủ sẽ thếch đãi họ bằng một bữa tiệc thịnh soạn và chính ông sẽ đứng ra phục vụ cho họ, vai trò chủ thợ sẽ được thay đổi như những gì Phúc Âm Thánh Gioan đã kể lại trong Bữa Tiệc Ly, lúc vị Thầy đứng ra rửa chân cho các môn đệ (Jn 13, 4-15).
Bữa Tiệc trên thiên quốc, phận vụ phục vụ sẽ được Thiên Chúa bảo đảm bằng chính bản thân của Người và phục vụ kéo dài cho đến muôn đời, như Chúa Giêsu đã hứa trong Bữa Tiệc Ly:
- “Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ” (Lc 22, 27).
SUY NIỆM PHÚC ÂM (III C 40); (08,08.2010); (Lc 12, 32- 48)
CHÚA NHẬT XIX PHỤNG VỤ THƯỜNG NIÊN, NĂM C
NGUYỄN HỌC TẬP
1 - " Hỡi đoàn chiên nhỏ ! ".
“Hỡi đoàn chiên bé nhỏ” được thốt lên từ miệng Chúa Giêsu là cách diễn tả thân yêu tâm tình đối với các môn đệ, một cộng đồng nhỏ bé tiên khởi - không có gì đáng kể tính theo số đông và thiếu thốn mọi phương tiện để sống, cũng như thực hiện sứ mạng của mình - so với cộng đồng cộng đồng Kitô giáo về sau:
- “Hỡi đoàn chiên bé nhỏ, đừng sợ, vì Cha anh em đã vui lòng ban Nước của Người cho anh em” (Lc 12, 32).
Chúa Giês trấn an các môn đệ “đừng sợ !”,bằng cách nói cho các vị lý do đầy hứa hẹn và an ủi:
- “...vì Cha anh em đã vui lòng ban Nước của Người cho anh em”.
Điều đó có nghĩa là “Cha anh em” đang ở gần anh em như vị vua đầy quyền năng và như người mục tử nhân lành lo lắng cho anh em, bởi đó dầu cho anh em là một thiểu số không đáng kể, thiếu mọi phương tiện vật chất, anh em cũng không có gì phải lo lắng.
Đây là một câu nói đầy ý nghĩa, đúc kết nền thần học vào niềm hy vọng Nước Trời thời cánh chung, lúc chính Chúa Cha sẽ ban tặng chính Người cho các tín hữu, như những gì Thánh Luca sẽ khai triển rõ ràng hơn trong bối cảnh Bữa Tiệc Ly, trong đó Người đoan hứa với các môn đệ sẽ được tham dự vào vương tước Đấng Cứu Thế:
- “Bởi đó, Thầy sẽ trao Vương Quốc cho anh em, như Cha Thầy đã trao cho Thầy, để anh em được đồng bàn ăn uống với Thầy trong Vương Quốc của Thầy, và ngự toà xét xử mười hai chi tộc Israel” (Lc 22, 29-30).
“Đoàn chiên nhỏ” được đặt liên hệ với Vương Quốc của Đấng Cứu Thế làm cho chúng ta liên tưởng đến dụ ngôn về hạt cải và men bột:
- “Nước Thiên Chúa giống như chuyện một hạt cải người nọ lấy gieo trong vườn mình. Nó lớn lên và trở thành cây, chim trời làm tổ trên cành được...Nước Thiên Chúa giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào trong ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men" (Lc 13, 19-20).
Điều đó làm cho chúng ta hiểu được ý muốn của Thiên Chúa, “đã vui lòng” có sức mạnh hơn bao nhiêu lần hình dáng bên ngoài của nhóm môn đệ bé nhỏ và đứng trước bao nhiêu hăm dọa sẽ bị thất bại trong sứ mạng rao giảng Phúc Âm của mình, được Chúa Giêsu giao phó cho.
Đó cũng là những gì Thánh Luca thuật lại Thiên Chúa đã làm trong Bài Ca Ngợi Khen Magnificat của Đức Trinh Nữ Maria:
- “Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường. Kẻ đói nghèo Chúa ban của dư đầy, người giàu có, lại đưổi về tay trắng” (Lc 1, 51-53).
Nếu với lòng tốt lành yêu thương, Chúa Cha “đã vui lòng ban Nước của Người cho anh em”, thì không có lý do gì “đoàn chiên bé nhỏ” phải áy náy lo sợ.
Bởi đó họ có thể “bán tài sản của mình đi mà bố thí” (Lc 12, 33).
Đây là đoạn nói lên đặc tính cá biệt của Phúc Âm Thánh Luca, tác giả Phúc Âm của đức khó nghèo: tách biệt khỏi của cải vật chất, không chỉ hệ tại ở thái độ tách biệt trong tinh thần, mà còn phải được thể hiện ra bằng hành động thiết thực, bằng động tác bố thí cho người nghèo, như những gì là động tác của
- ông Levi: “Sau đó, Chúa Giêsu ra đi và trông thấy một người thu thuế, tên là Levi, đang ngồi ở trạm thu thuế. Người bảo ông: ‘Anh hãy theo Ta’. Ông bỏ tất cả, đứng dậy đi theo Người” (Lc 5, 27-28),
- ông Zaccheo: “Ông Zacccheo đứng đó, thưa với Chúa rằng: ‘Thưa Thầy, đây phân nửa tài sản của con, con cho người nghèo; và nếu con đã chiếm đoạt của ai cái gì, con xin đền gấp bốn’” (Lc 19, 8),
-ông Barnaba: “Ông Giuse, người được các Tông Đồ đặt tên là Barnaba, nghĩa là người có tài yên ủi, có một thửa đất... Ông bán đất đi, lấy tiền đem đặt dưới chân các Tông Đồ” (Act 4, 36-37),
- và của cộng đồng Kitô hữu Giêrusalem: “Các tín hữu bấy giờ đông đảo, mà chỉ có một lòng một ý. Không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung...Trong cộng đoàn không ai phải thiếu thốn, vì tất cả những người có ruộng đất, nhà cửa, đều bán đi, lấy tiền, đem đặt dưới chân các Tông Đồ. Tiền ấy được phân phát cho mỗi người, tùy theo nhu cầu” (Act 4, 32-35).
Điều đáng chú ý đặc tính tuyệt đối khó nghèo của Thánh Luca, kể lại cuộc đời Chúa Giêsu, là nhân đức khó nghèo được thể hiện bằng “kho tàng” và “trái tim”, nói lên trạng thái an vui, tự nguyện chớ không phải được trình bày dưới hình thức lề pháp bắt buộc:
- “Vì kho tàng anh em ở đâu, thì trái tim anh em ở đó” (Lc 12, 34).
Dĩ nhiên đó là quan niệm về kinh tế, tài chánh mà tư tưởng đương thời của chúng ta không thể nào hoàn toàn đồng thuận được.
Quan niệm khó nghèo và thực thi đức bác ái của chúng ta là thực thi trong hoàn cảnh kinh tế và xã hội đương thời của chúng ta, với đức khôn ngoan của Chúa Giêsu và ơn Chúa Thánh Thần.
Chúng ta thực thi đức bác ái,
- không phải bằng cách bán hết của cải và bố thí cho kẻ khó nghèo,
- cho bằng dùng của cải mình có để tạo kiến thức và công ăn việc làm cho anh em.
Bởi lẽ bán hết và bố thí, những người nghèo của chúng ta có ăn hôm nay, ngày mai, ngày mốt việc “đâu vẫn vào đấy” nhu cầu của họ vẫn trở lại, nếu chúng ta không nghĩ đến việc cung cấp cho họ có “công ăn việc làm”, tạo lợi tức cho chính mình và lợi ich cho người khác.
Như vậy, ngoài ra các trường hợp tai ương khẩn cấp, chúng ta thực thi đức bác ái cho người nghèo bằng cách cho họ “cần câu hơn là cá nướng sẵn ".
Hoàn cảnh xã hội kỹ nghệ của chúng ta không còn phải là hoàn cảnh xã hội nông nghiệp của thời sơ khởi của các Thánh Tông Đồ.
Cần phân biệt trợ giúp trong hoàn cảnh khẩn cấp và trợ giúp dài hạn, để thăng tiến con người và thăng tiến xã hội: giúp cho người yếu thế có phương tiện để
- “triển nở hoàn hảo con người của mình và tham dự một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở” (Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).
Giúp cho người yếu thế trong tiến trình dài hạn là giúp cho họ mở mang kiến thức, có khả năng và điều kiện làm việc, kể cả thiết lập hảng xưởng và hạ tầng cơ sở, để cho đương sự hay các đương sự làm việc tạo cho mình “một cuộc sống khang trang” và phát triển đất nước, lợi ích cho đồng bào mình và cũng có thể là cho anh em nhân loại của mình.
2 - " Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thấp đèn cho sẵn ",
“Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn. Hãy làm như người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ vừa về tới và gõ cửa, là mở ngay” (Lc 12, 35-36).
Lời nói của Chúa Giêsu mời gọi hãy tin cậy vào Chúa Cha, Đấng ban Vương Quốc của mình cho “đoàn chiên nhỏ” (Lc 12, 32), những lời nói đó phải làm cho trở nên trưởng thành nơi các môn đệ lương tâm mình là những người phục vụ khiêm nhường, đang tỉnh thức chờ đợi chủ đến.
Và đây là người chủ nhà ra đi trong một cuộc hành trình lâu dài, không ai biết được lúc nào ông trở về, khiến cho các người giúp việc trong nhà có cái nguy là lơ đễnh trong việc canh thức, giữ nhà và lòng hy vọng của họ được đón rước ông chủ về cũng lần lần phai nhạt đi.
Đó là điều Thánh Luca nhận thức được tâm thức nơi cộng động Kitô giáo, khoảng từ năm 80 trở đi, khi ngài viết Phúc Âm.
Lòng mong đợi biến cố Chúa Kitô trở lại dần dần bị lung lai đi và giữa dân chúng bắt đầu có những tư tưởng hết hy vọng với một vài lý do bỏ cuộc, đồng thời lòng nồng nhiệt bác ái lúc đầu cũng nguội dần và những cách sống gương mù gương xấu cũng bắt đầu ló dạng.
Nhiều cầu hỏi, tình trạng dồn nén và mong đợi được giải thích nổi lên giữa những tín hữu tiên khởi.
Trước tình trạng đó, Thánh Luca trả lời bằng cách viết Phúc Âm, xác nhận chắc chắn rằng Chúa sẽ trở lại, nhưng ngài cũng lưu ý rằng điều đó không ai có thể tưởng tượng được như là biến cố đang sát gần, cũng không người tín hữu nào có thể định thảo được chương trình.
Trong cảnh tăm tối và mờ mịt của cuộc sống hằng ngày, Chúa có thể tự do đến bất cứ lúc nào. Điều quan trọng là mỗi người phải chuẩn bị sẵn sàng để tiếp đón Người:
- “Hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn. Hãy làm như người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ vừa về tới và gõ cửa là mở ngay”.
Lời mời gọi của Chúa Giêsu đối với các môn đệ là nhẫn nại và kiên trường trong hy vọng và, mặc dầu không biết giờ nào, vẫn luôn luôn trong y phục làm việc phục vụ “hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn”, trong một trạng thái thức tỉnh năng động.
Thái độ của người giúp việc là thái độ làm việc thường nhật, chu toàn bổn phận của mình, ý thức đượcc trách nhiệm phải có của mình.
Biến cố quyết dịnh và phi thường là biến cố Chúa lại đến trong ngày cánh chung, đòi buộc chúng ta phải có thái độ khiêm nhường chờ đợi để đón rước Người.
Chúa Giêsu giải thích thái độ đó của người môn đệ bằng ba dụ ngôn.
3 - Dụ ngôn thứ nhứt.
Trong dụ ngôn thứ nhứt, được đặt trong bối cảnh ngôi nhà rộng rãi, ông chủ trở về trong đêm khuya, sau bữa tiệc cưới, gặp được các tôi tớ của mình đang tỉnh thức và vẫn làm việc đều đặn. Đó là thái độ mà Phúc Âm Thánh Luca tuyên bố hay tuyên hứa đến hai lần:
- “Khi chủ về mà thấy các đầy tớ ấy đang tỉnh thức, thì thật là phúc cho họ” (Lc 12, 37).
- “Nếu canh hai, hoặc canh ba ông chủ mới về, mà còn thấy họ tỉnh thức như vậy, thì thật là phúc cho họ” (Lc 12, 38).
“Thắt lưng cho gọn”, trạng thái “tỉnh thức” và “thắp đèn cho sẵn” đó là những cách diễn tả ngụ ý đề cập đến nghi thức lễ vượt qua, dân Israel được giải thoát ra khỏi Ai Cập (Ex 12).
Ông chủ trở về gặp được các đầy tớ của mình trong tình trạng đó, chắc chắn ông sẽ tỏ lòng biết ơn, đầy tình thương đối với họ, ông chủ sẽ thếch đãi họ bằng một bữa tiệc thịnh soạn và chính ông sẽ đứng ra phục vụ cho họ, vai trò chủ thợ sẽ được thay đổi như những gì Phúc Âm Thánh Gioan đã kể lại trong Bữa Tiệc Ly, lúc vị Thầy đứng ra rửa chân cho các môn đệ (Jn 13, 4-15).
Bữa Tiệc trên thiên quốc, phận vụ phục vụ sẽ được Thiên Chúa bảo đảm bằng chính bản thân của Người và phục vụ kéo dài cho đến muôn đời, như Chúa Giêsu đã hứa trong Bữa Tiệc Ly:
- “Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ” (Lc 22, 27).