PDA

View Full Version : Tính Luân Lý Của Việc Tạo Sinh


admin
04-08-2010, 05:14 PM
TÍNH LUÂN LÝ CỦA VIỆC TẠO SINH (CHƯƠNG I)

http://www.ubmvgiadinh.org/uploads/news/tinhluanly.jpgChương I: Phần Mở Ðầu

I. Dữ Kiện Về Các Vấn Ðề Tạo Sinh
II. Các Hình Thức Tạo Sinh
III. Nguyên Nhân
IV. Hậu Quả

-------------------------------------------------------------

I. Dữ Kiện Về Các Vấn Ðề Tạo Sinh

1. Dữ kiện

Phương pháp thụ tinh nhân tạo đã có từ năm 1776 do tu sĩ Lazzaro Spallanzani (1729 - 1799) áp dụng cho thú vật và đã thành công mỹ mãn. Thế kỷ 19 và 20 đã áp dụng rộng rãi phương pháp thụ tinh nhân tạo. Ngày nay, ở Mỹ có 95% súc vật được thụ tinh nhân tạo. Nhưng, công nghệ sinh sản chỉ thực sự bắt đầu phát triển từ năm 1950 khi khoa học thành công trong việc làm đông lạnh tinh dịch bò đực ở 79oC để thụ tinh với bò cái. Rồi đến ngày 26.7.1978, tại Anh Quốc, khoa học tiếp tục thành công khi cho ra đời đứa bé đầu tiên của thế giới mang tên Louise Brown từ phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm. Tới năm 1990 đã có tới 15.000 trẻ được sinh ra theo phương pháp này.

Tại Việt nam, ngày 19.8.1997, Bộ Y tế Việt Nam đã có quyết định chính thức cho phép bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ, phối hợp với bệnh viện Archet 2 ở Nice - Pháp, thực hiện công nghệ thụ tinh trong ống nghiệm cho những cặp vợ chồng hiếm muộn. Lúc bấy giờ, tuy có hàng ngàn người gởi thư đến bệnh viện Phụ sản với sự mong mỏi có được một đứa con, nhưng Bệnh viện chỉ mới bước đầu nhận khoảng 100 cặp vợ chồng để theo dõi và áp dụng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm. Và 20 năm sau khi đứa bé Louise Brown sinh ra, thì tại Bệnh viện Từ Dũ, Sài-gòn, ngày 30.4.1998, ba em bé đầu tiên cũng đã chào đời theo phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm. Tính đến tháng 11.2001, tại Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ đã có 414 em bé được sinh ra theo phương pháp này.

Nhưng, năm 1997 có một cột mốc mà ngành y-sinh học đã gây chấn động và làm bàng hoàng cả thế giới qua một bản tin, đó là vào ngày 24.12.1997, tiến sĩ Ian Wilmut của Viện Nghiên Cứu Khoa Học Roslin thuộc Ai-len, công bố trên tờ báo Nature một bản tin dật gân: Một con cừu bảy tháng tuổi có cơ cấu sinh học giống hệt một con cừu khác, đã được tạo ra và nuôi dưỡng bằng phương pháp sinh sản vô tính (Cloning).

Phương pháp mà các khoa học gia đã thực hiện tạo sinh vô tính được tiến hành qua 5 giai đoạn:

1. Lấy tế bào từ tuyến vú của một con cừu cái có tên là Finn Dorset để nuôi sống trong một ống nghiệm.

2. Lấy trứng của một con cừu cái khác có tên là Blackface, rút bỏ nhiễm sắc thể di truyền (AND) để biến cái trứng đó thành một trứng trống rỗng.

3. Bằng xung điện kết hợp tế bào của Finn Dorset và trứng rỗng của Blackface để thành một phôi thai.

4. Cấy phôi thai này vào tử cung của một con cừu cái thứ ba.

5. Con cừu cái này mang thai và đẻ ra một con cừu con giống hệt cừu mẹ Finn Dorset.

Con cừu con được tạo sinh ra bằng phương pháp sinh sản vô tính có tên là Dolly, đúng là tên của cô ca sĩ nhạc đồng quê của Mỹ, Dolly Parton. Tiến sĩ Wilmut cho biết trong 23 năm, với 277 lần thí nghiệm, ông đã tạo được 29 phôi sống được hơn sáu ngày rồi bị chết. Duy nhất có con cừu Dolly được sinh ra. Ông nói rằng nếu pháp luật cho phép, bằng bất cứ tế bào nào của cơ thể con người như từ máu, da, thịt, phèo, phổi, tim, gan... phương pháp sinh sản vô tính có thể tạo ra những con người như bản sao của chính mình, và có khả năng tạo ra hàng loạt theo ý muốn. Những tế bào còn tốt của những xác ướp có thể được nhân bản và làm tái xuất hiện những vua chúa tiền nhân.

Tiếp theo, điều đáng chú ý nhất là ngày 25.11.2001, một công ty tư nhân, gọi là Advanced Cell Technology có trụ sở ở tiểu bang Massachusetts - Hoa Kỳ, tuyên bố trên truyền hình là họ mới thực hiện phương pháp sinh sản vô tính một phôi người đầu tiên (the first human embryo). Ðiều này đã gây một chấn động trên thế giới, gồm cả đời lẫn đạo. Ngay lập tức, Tòa Thánh Vatican, và Ðức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II đã lên tiếng chỉ trích và cảnh báo việc làm thiếu tính cách đạo đức của công ty nói trên. Tất cả các sứ điệp trên được ghi lại đầy đủ trong bản tin của Zenith News, phát hành hôm 26.11.2001 - số ZE01112602 và ZE01112606.

admin
04-08-2010, 05:15 PM
2. Những phản ứng của thế giới

Khi con cừu ra đời bằng phương pháp vô tính, thế giới đã có những phản ứng khi lo ngại người ta sẽ áp dụng phương pháp sinh sản vô tính cho con người. Ngày 11.3.1997, Hội Ðồng Âu Châu đề nghị các Bộ trưởng Ngoại Giao trong khối sớm đưa ra văn bản cấm sinh sản vô tính. Văn bản này là phụ bản kèm theo Công Ước Âu Châu về quyền con người sinh-y-học và được ký chính thức ngày 4.4.1997 tại Tây Ban Nha.

Tổ chức Y Tế Thế Giới WHO lên án và xem xét lại vấn đề này vào ngày 25.4.1997 nhân dịp họp tại Genève.

Trong tờ Nouvel Observateur ra ngày 12.3.1997, Giáo sư Jean Fz. Mattei là nhà di truyền học thuộc Ủy Ban Ðạo Ðức của Pháp đã phát biểu rằng: "Ðiều kỳ diệu là một khi người ta càng đi sâu vào lãnh vực nguyên tử, sinh học, di truyền học của loài người, thì lại càng sáng tỏ hơn một chân lý rằng con người không phải là một hệ thống máy móc. Khi người ta thay đổi một quả tim, một đôi mắt, bộ ngực,... thì vẫn không đụng chạm đến nhân tính. Nhân tính kỹ thuật không thể dập tắt, thay đổi hay nhân ra hàng loạt được. Nhân loại là cái gì còn lại sau khi đã loại bỏ hết những gì thấy được, thay đổi được"

Trả lời câu hỏi: "Vì đâu con người sợ hãi những bản sao?", giáo sư Mattei nói: "Tôi nghĩ rằng không thể cấm đoán một kỹ thuật như vậy. Các bộ luật làm ra vì mục đích lâu dài, còn kỹ thuật thì phát triển không ngừng. Cho ra đời các điều luật chỉ để chữa cháy thì không cần thiết. Ðiều cần làm ngay là ngăn chặn những nguy cơ lạm dụng công nghệ. Nhân bản ra hàng loạt hoàn toàn trái với quan niệm của tôi và vấn đề nhân cách". Hãng tin CNN đã thăm dò ý kiến trong số 1005 người thì chỉ có 7% đồng ý cho áp dụng sinh sản vô tính cho con người; 91% không đồng ý; 19% cho rằng phương pháp này không trái ý Chúa; 74% cho là trái ý Chúa.

Tờ Time, số phát hành ngày 19.2.2001 nói rằng hiện nay, ý kiến chung ở Hoa kỳ không tán thành việc phát triển dòng vô tính. Mới đây, một cuộc trưng cầu dân ý cho thấy rằng 90% những người trả lời cho rằng phát triển dòng vô tính là một ý kiến sai lầm. Theo thông tấn AFP, ngày 12.3.1997 đã xảy ra cuộc tranh cãi về việc sinh trai hay gái theo ý muốn, do bác sĩ Rainsbusy chủ trương, bảo đảm 100% với giá cả 16.000 USD. Người ta đã lên án bác sĩ này là hạng người vô đạo đức, hạng người đốt nhà thờ, làm mất sự quân bình phái tính và cướp quyền của Ðấng Tạo Hoá.

Tờ New York Times cũng nghiên cứu vấn đề này trong số ra ngày 25.3.2001 và theo bác sĩ Brigid Hogan, một giáo sư về sinh học tế bào thuộc Trung Tâm Y Khoa Ðại Học Vanderbilt ở Nashville, bang Tennessee và là một điều tra viên của Viện Y tế Howard Hughes thuộc Hoa Kỳ, thì "đứng về phương diện đạo đức học, chúng ta không thể nào bênh vực được cho phát triển dòng vô tính con người trong hoàn cảnh hiện nay."

Tờ Guardian tường thuật hôm 29.3.2001 rằng một khoa học gia khác, ông Ivan Wilmut, nhân vật hậu thuẫn cho cuộc phát sinh con cừu Dolly bằng dòng vô tính, đã lên án việc áp dụng dòng vô tính trên con người vì tỷ số thất bại rất cao khi áp dụng trên súc vật. Ông Wilmut nói: "Thật là vô cùng thô bạo đối với các bà mẹ và con của họ". Trong một bài đăng trên tập san Science ở Hoa-kỳ, Ông Welmut tố cáo dự định ứng dụng phát triển dòng vô tính trên con người của những chuyên gia về hiếm muộn Ý là Antinori và Hoa-kỳ là Zavos. Ông Wilmut cảnh cáo rằng, bốn năm thử nghiệm trên súc vật đã cho thấy kỹ thuật phát triển dòng vô tính còn có nhiều thiếu sót gây nên một số sẩy thai và tật bẩm sinh khổng lồ và không có lý do nào để tin rằng hậu quả của phát triển dòng vô tính trên con người sẽ khá hơn.

Ông Daniel Callahan, sáng lập viên Trung Tâm Sinh Ðạo Ðức Học đầu tiên ở New York vào thập niên 1960, đã khuyến cáo: "Mọi kỹ thuật can thiệp vào vi tử đều liên hệ đến luân lý đạo đức. Việc sản sinh vô tính tế bào gốc lấy từ bào thai xem như là quả bom nguyên tử... Vì thế, nghiên cứu trong vòng luân lý đạo đức đáng được kính trọng. Nhưng, những cuộc nghiên cứu tìm cách tránh né khía cánh đạo đức luân lý, hứa suông những điều tốt đẹp, thì không đáng cho chúng ta kính trọng. Mọi nghiên cứu về con người dù là ở giai đoạn nào, bào thai, sơ sinh hay người lớn, bắt buộc chúng ta phải xem xét và đối xử con người như một nhân vị, tôn trọng phẩm giá và nhân quyền của nó"

Tại nước Ðức, ngày 30.11.2001, nhiều đại diện chính phủ Ðức đã lên tiếng phản đối việc thử nghiệm tạo phôi thai người bằng nhân bản vô tính của Viện Công Nghệ Sinh Học ACT của Mỹ, đứng đầu là bà Edelgard Bulmahn, Bộ trưởng bộ nghiên cứu liên bang Ðức. Hiện nay, ở Ðức đã có đạo luật cấm tất cả các hình thức nhân bản tế bào phôi, kể cả việc nhập các tế bào phôi thai phục vụ y học và nghiên cứu khoa học.

Tại Ca-na-đa, ngày 4.2.2002, Viện nghiên cứu y tế Ca-na-đa đã công bố những qui định mới cấm nhân bản vô tính phôi người. Qui định mới cũng cấm các nhà khoa học Ca-na-đa nhân bản phôi người hoặc tạo ra các phôi trong phòng thí nghiệm với mục đích nghiên cứu. Tuy nhiên, qui định mới lại cho phép sử dụng những tế bào phôi người đã có sẵn và những phôi bị loại bỏ để nghiên cứu tế bào mầm, nhưng với điều kiện là phải được sự đồng ý của cha mẹ phôi thai.

Việc tổng thống Mỹ, George W. Bush, bằng lòng thỏa thuận cho phép sử dụng ngân quỹ liên bang để tài trợ cho việc nghiên cứu hơn 60 kiểu tế bào gốc khác nhau đã được thâu hoạch từ các phôi (embryos), do phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Mục đích nguyên thủy của các chuyên gia khi tạo nên các phôi này, là nhằm để cấy cho các cặp vợ chồng hiếm muộn muốn có con, nhưng vì còn số phôi sản xuất quá nhiều nên đã trở thành thặng dư, và đã được đông lạnh trong một thời gian lâu dài, do đó đã được các chuyên gia nơi phòng thí nghiệm quyết định sử dụng để lấy các tế bào gốc, thuộc nhiều loại khác nhau. Nhưng quyết định của tổng thống Bush đã gây nên một sự bất bình trầm trọng giữa Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ và Vị Nguyên thủ quốc gia, được các cử tri Công Giáo phần đông ủng hộ trước đi đắc cử. Ðại diện cho Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ, Ðức giám mục Joseph Fiorenza, thuộc Tổng Giáo Phận Galveston-Houston, Chủ tịch Hội Ðồng Giám Mục Hoa Kỳ, đã phát biểu như sau:

"Lần đầu tiên trong lịch sử của đất nước Hoa Kỳ, chính phủ liên bang đồng ý ủng hộ việc nghiên cứu, mà hệ quả của nó là việc hủy diệt những con người vô phương kháng cự, nhằm mục đích đem lại lợi ích cho kẻ khác. Quyết định này cho phép các công ty, các dịch vụ nghiên cứu tư nhân tại quốc gia của chúng ta, gia tăng phát triển sự bất kính đối với sự sống con người. Cho nên, chúng tôi cầu nguyện và hy vọng rằng tổng thống Bush sẽ trở về lại với nguyên tắc chính trực, nhằm chống lại những cách thức hành xử coi sự sống con người không hơn gì những vật thể, có thể được tận dụng cho các mục đích nghiên cứu và sau đó thì bị hủy diệt".

Tại Nước Anh, ngày 20.6.2001, Hội Khoa Học Hoàng Gia Anh Quốc đã đưa ra lời kêu gọi rằng chỉ có sách lược bãi bỏ hoàn toàn dòng sinh vô tính (cloning) trên khắp thế giới mới ngăn cản được việc tạo sinh ra trẻ em theo dòng vô tính mà thôi. Dựa vào những thí nghiệm được trình bày cho Ủy Ban Thượng Viện Quý Tộc House Of Lords về nghiên cứu tế bào, Hội Hoàng Gia nói rằng: "Cần có sự bài trừ cấm cản trên bình diện quốc tế mới là cách giảm thiểu cơ hội cho những cuộc thí nghiệm tạo sinh dòng vô tính tại các quốc gia khác".Tuy nhiên, Hội Hoàng Gia cũng nói trong bản tường trình rằng việc cấm đoán này dành đặc quyền miễn trừ cho phép thí nghiệm nghiên cứu trị liệu gọi là "therapeutic cloning", có nghĩa là tạo sinh dòng vô tính những phôi thai, rồi giết đi trước khi phôi thai hoàn toàn phát triển, nhằm lấy tế bào gốc đó dùng cho việc trị liệu thay bộ phận. Về điểm này, các tổ chức phò sự sống như các nhóm Công Giáo cũng kịch liệt lên án và chống đối.

Giáo sư Richard Gardner, là người đứng đầu Hội Hoàng Gia Royal Society soạn bản tường trình nêu trên, nói rằng: "Kinh nghiệm của chúng tôi với loài vật cho thấy hiện rõ ràng có nguy cơ trầm trọng tạo nên những cá nhân tàn tật bất toàn nếu có ai đó muốn cấy bào thai dòng sinh vô tính vào trong lòng bà mẹ cho phát triển". Và ông còn cảnh cáo rằng: "Tiến trình thụ thai theo dòng sinh vô tính thì thực là niềm mong đợi không thực tế chút nào... Thành quả của tạo sinh vô tính không bao giờ có thể thay thế con người được cưu mang trong tình yêu tự nhiên được cả". Bác sĩ nói thêm: "Ðang khi tạo vật do dòng sinh vô tính về thể lý có thể rất giống với bản mẫu, thế nhưng hai đương sự này sẽ khác biệt ít nhất là không như hai người sinh đôi đồng dạng, trên bình diện cá nhân và những đặc tính về tâm thần"

Cũng tại Anh Quốc, ngày 22.11.2001, Bộ trưởng Y tế Anh, Alan Milburn, đã công bố dự luật mang tên "Ðạo luật sinh sản vô tính người, cấm việc cấy ghép vào cơ thể người phụ nữ những tế bào phôi được tạo bởi các phương pháp ngoài thụ tinh. Người nào vi phạm có thể chịu mức án cao nhất tới 10 năm tù giam".

Mục sư Tin Lành Allen Verhey quan ngại rằng rồi ra cha mẹ có cảm giác con cái họ là những sản phẩm được chế tạo ra như hàng hoá. Quan hệ cha mẹ và con cái sẽ mất đi tính thiêng liêng.

Học giả Donald Lopez Phật Giáo đặt ra nghi vấn về ảnh hưởng của sinh sản vô tính trong tương quan với thuyết luân hồi. Bởi vì, con người kiếp trước và con người kiếp sau giống hệt nhau thì hết đầu thai và thưởng phạt của Thượng Ðế ra sao?

Học giả Sachedia, Hồi Giáo, lo ngại về sự sinh sản này tách rời khỏi quan hệ giới tính thì không cần hôn nhân nữa mà vẫn có cho ra đời hàng loạt người giống nhau như đúc.

admin
04-08-2010, 05:16 PM
II. Các Hình Thức Tạo Sinh

A. Hình Thức Thụ Tinh Tự Nhiên:

Mỗi tinh trùng đo từ đầu đến đuôi: 50/1.000 mm, cái đầu: 5/1.000 mm, chứa những nhiễm sắc thể (chromosomes) của nhân tế bào, chứa đựng tất cả những Tính Di Truyền mà người cha truyền cho đứa con. Chính tinh trùng quyết định giới tính trai hay gái của đứa bé.

Dung tích tinh dịch phóng ra từ mỗi lần xuất tinh tính được từ 3 đến 5 cm3. Và mỗi cm3 chất lỏng đó có từ 60 đến 200 triệu tinh trùng. Còn cái noãn (trứng), tế bào sinh sản của người mẹ, chất chứa các tính di truyền người mẹ trao cho con. Cỡ 80 ngàn lần lớn hơn tinh trùng, và chứa những chất dinh dưỡng mà trứng sẽ sử dụng trong trường hợp thụ tinh.

Sau khi cha mẹ "gặp gỡ nhau", rất nhiều tinh trùng tập hợp chung quanh noãn có hình giống như tút len. Lúc thụ tinh, chỉ có một tinh trùng lọt vào bên trong noãn và khi đó noãn đóng kín mít lại hoàn toàn. Từ lúc có sự phối hợp của một tinh trùng - trong số khoảng 300 triệu mỗi lần xuất tinh - với một noãn - trong số 400 ngàn noãn mà bất cứ người còn gái nào cũng có lúc sinh ra đời - là cả một chương trình đã được ấn định và an bài.

Ba mươi giờ sau khi thụ thai, bộ máy hành trang kỳ diệu của con người bắt đầu cuộc hành trình cuộc đời. Tế bào độc nhất, kết quả của việc thụ tinh của noãn bởi tinh trùng, tích chứa tất cả toàn bộ "mật tín di truyền". Tế bào duy nhất khởi đầu phân 2, rồi làm 4, rồi làm 8, 16, 32... cho đến còn số sáu mươi ngàn tỷ (60.000.000.000.000) cấu tạo nên con người khi sinh ra. Chúng ta sẽ thấy tiến trình phôi thai phát triển thật kỳ diệu như thế nào, được trình bày ở mục "Khám phá của nghành sinh - y học" trong Chương III sẽ đăng trong kỳ tới.

B. Một Số Hình Thức Khác:

Hiện nay, trên thế giới có nhiều phương pháp kỹ thuật tạo sinh nhân tạo khác nhau. Nhưng, trong phạm vi bài luận nầy, nghiên cứu sinh chỉ giới hạn trong ba phương pháp tạo sinh được coi là thông dụng và có nhiều vấn đề cần bàn luận liên quan đến luân lý - đạo đức.

1. Thụ tinh nhân tạo (AI: Artificial Insemination)

Thụ tinh nhân tạo là một kỹ thuật truyền sinh được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay. Trong tiến trình này, tinh trùng được chích lấy và đưa vào trong bộ phận sinh sản của người phụ nữ một cách máy móc. Nếu tinh trùng được lấy từ người chồng của bà, thì tiến trình này được mang ký hiệu là AIH. Nếu tinh trùng của người đàn ông không phải là chồng của người phụ nữ, thủ tục này được gọi tên là AID. Phương pháp thụ tinh nhân tạo do tinh trùng của người chồng (AIH) được áp dụng khi người chồng có tinh trùng mà không đủ khả năng hoạt động tính dục, nhưng cặp vợ chồng đó lại ao ước có được một đứa con. Còn phương pháp thụ tinh nhân tạo do tinh trùng của một hiến vô danh (AID) được thực hiện khi người chồng hoàn toàn vô sinh, tức là không có tinh dịch. Một bạn gái độc thân ao ước có một đứa con, bạn đó cũng có thể đi đến ngân hàng tinh trùng để thụ tinh nhân tạo.

2. Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF: In Vitro Fertilization)

Kỹ thuật truyền sinh thứ hai là phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm. Ðứa bé đầu tiên của thế giới đã được sinh ra phương pháp này tên là Louise Brown, sinh ngày 26.7.1978 tại Anh quốc. Theo tiến trình này, một phụ nữ được dùng thuốc kích thích cho buồng trứng sinh sôi nảy nở nhiều hơn. Sau đó, những trứng này được hút ra theo cách thức phẫu thuật. Những trứng này được nuôi dưỡng và cho tiếp xúc với tinh trùng trong khoảng mười hai cho đến mười tám giờ để cho việc thụ tinh hoạt động. Sau 48 đến 72 giờ, trứng được thụ tinh trở thành một phôi mới chỉ có từ 4 đến 8 tế bào. Phôi này được chuyển di vào tử cung người phụ nữ qua ống dẫn bằng cao su mềm. Nếu thành công việc cấy phôi thai vào tử cung, thì sẽ xuất hiện kết quả trứng đậu hay không trong vòng hai đến ba ngày. Trong những trường hợp các phụ nữ bị tắc ống dẫn trứng hoặc người đàn ông có quá ít tinh trùng, thì tiến trình này sẽ giúp cho họ có được một cơ hội chắc chắn để mang thai một đứa con.

Phương pháp IVF có thể áp dụng cho nhiều hạng người khác nhau liên quan đến việc sinh sản con cái. Phương pháp IVF có thể liên quan đến nhiều người hơn là chỉ một mình vợ chồng. Cũng có thể có nhiều người hiến vừa trứng vừa tinh trùng hoặc vừa phôi thai. Có thể có những người mang thai mướn không có cùng gien với đứa con. Chẳng hạn, xét về mặt lý thuyết, có thể xảy ra là có nhiều tác nhân liên quan đến tiến trình sinh sản: người phụ nữ hiến trứng, người đàn ông hiến tinh, bác sĩ thực hiện việc thụ tinh, người đàn bà tình nguyện mang thai đứa trẻ theo hạn định, và vợ chồng sẽ nhận nuôi đứa trẻ.

3. Tạo sinh dòng vô tính (Cloning)

Trong lãnh vực sinh học, người ta có thể nhân giống vô tính cho con người. Danh từ vô tính bởi tiếng Hy Lạp "KLON", có nghĩa là mầm non mọc từ thân cây. Kỹ thuật này được dùng nhiều năm để nhân giống cây, bằng cách cắt một mầm non của cây và đặt trong nước cho đến khi mọc rễ, rồi cấy vào trong đất để mọc thành cây giống hệt như cây mẹ.

Áp dụng cho động vật: lấy một trứng đã già nhưng chưa thụ tinh, rồi tìm cách lấy đi nhân của trứng đó và thay thế nhân bằng nhân của một tế bào thân thể đặc biệt nào đó của một cơ quan đã trưởng thành, thí dụ tế bào ruột hay da. Nhân mới này mang đến cho tế bào trứng đủ bộ của 46 nhiễm sắc thể cần thiết cho sự phát sinh tự nhiên là tổng hợp của 23 nhiễm sắc thể của tế bào đực với 23 nhiễm sắc thể của tế bào của trứng. Khi tế bào trứng đã phân chia ít lần, thì được đặt trong lòng mẹ và ấp.

Áp dụng cho con người. Chúng ta nhắc lại những bước thực hiện tạo sinh vô tính con cừu Dolly. Người ta đã tiến hành 5 giai đoạn:

1. Lấy tế bào từ tuyến vú một con cừu cái có tên là Finn Dorset để nuôi sống trong một ống nghiệm.

2. Lấy trứng của một con cừu cái khác có tên là Blackface, rút bỏ nhiễm sắc thể di truyền (AND) để biến cái trứng đó thành một trứng trống rỗng.

3. Bằng xung điện kết hợp tế bào của Finn Dorset và trứng rỗng của Blackface để thành một phôi thai.

4. Cấy phôi thai này vào tử cung của một con cừu cái thứ ba.

5. Con cừu cái này mang thai và sinh ra một con cừu con giống hệt cừu mẹ Finn Dorset.

Tiến sĩ Wilmut cho biết trong 23 năm với 277 lần thí nghiệm, ông đã tạo được 29 phôi sống được hơn sáu ngày rồi bị chết. Duy nhất có con cừu Dolly được sinh ra. Ông nói rằng nếu pháp luật cho phép, bằng bất cứ tế bào nào của cơ thể con người như từ máu, da, thịt, phèo, phổi, tim, gan... phương pháp sinh sản vô tính có thể tạo ra những con người như bản sao của chính mình, và có khả năng tạo ra hàng loạt theo ý muốn. Những tế bào còn tốt của những xác ướp có thể được nhân bản và làm tái xuất hiện những vua chúa tiền nhân.

admin
04-08-2010, 05:16 PM
III. Nguyên Nhân

1. Do tình trạng vô sinh hay hiếm muộn nơi các vợ chồng

Vô sinh là hiện tượng trái tự nhiên trong đời sống sinh lý của con người. Nó là nỗi khổ tâm của những cặp vợ chồng muốn có con cái và muốn nghe dưới mái ấm gia đình rộn rã tiếng cười trẻ thơ. Từ lâu, các nhà khoa học đã lao tâm khổ trí để tìm hiểu, nghiên cứu những nguyên nhân dẫn đến vô sinh, với hy vọng giúp chữa trị cho những cặp vợ chồng lâm vào hoàn cảnh bị vô sinh hay hiếm muộn.

Theo một thống kê mới đây, người ta cho biết rằng:

Có 21% của tổng số những cặp vợ chồng hiếm muộn là do nam giới, với những nguyên nhân như: không có tinh trùng, tinh trùng quá ít, tinh trùng không di chuyển tốt, tinh trùng không bình thường (dị dạng), hoặc quá nửa tinh trùng đã chết hay có những rối loạn về xuất tinh...

Có 33% vô sinh do nữ giới, với những nguyên nhân như: không có hiện tượng thụ tinh, hoặc thụ tinh thất thường, bị tắc hoặc bệnh lý ở vòi trứng làm cho tinh trùng không thể gặp noãn (trứng), niêm dịch cổ tử cung không đủ hoặc không thuận lợi để tinh trùng đi qua, nội mạc tử cung kém phát triển cản trở sự thụ tinh hoặc sự làm tổ...

Có 39% vô sinh là do cả hai vợ chồng, ví dụ như người vợ đã có hiện tượng rụng trứng không đều lại gặp người chồng có số lượng tinh trùng quá ít. Hoặc tinh trùng đã di động kém lại phải đi qua một lớp niêm dịch cổ tử cung không thuận lợi...

Có 7% số trường hợp vô sinh không thể giải thích được hay còn gọi là vô sinh tâm lý, ví dụ như một số phụ nữ thực sự cho mình khó có thể trở thành người mẹ.

Người ta cho biết rằng ngày nay, cứ một trong bảy phụ nữ thì có một người đi khám về vô sinh. Giải thích điều này, trước hết, các chuyên gia cho rằng phụ nữ đã để cho tuổi sinh sản của họ trôi đi (tuổi tác là nguyên nhân đầu tiên của vô sinh, dưới 35 tuổi là giai đoạn lý tưởng để sinh con). Tiếp đến, nam giới đang giảm dần khả năng sinh sản của họ (trong 20 năm gần đây, số lượng tinh trùng giảm khoảng 2% mỗi năm, có thể là do môi trường ô nhiễm). Cuối cùng là do các cặp vợ chồng ngày càng ỷ lại vào Y học, vào công nghệ sinh sản mới.

2. Do một số nguyên nhân khác như sau:

Người ta muốn áp dụng phương pháp sinh sản vô tính cho con người với rất nhiều lý do như ưu sinh: để chọn một giống khoẻ mạnh, một giống tài năng, giống đẹp, hoặc muốn chọn giống cho đứa con; muốn có một đứa con mang di sản di truyền của chồng hay vợ; hoặc làm nguồn dự trữ các cơ quan con người khi cần thay thế; để tổ chức cả đạo binh tinh nhuệ hùng mạnh, để tăng thêm sự hiểu biết về loài người; hoặc vì lo sợ đứa con bị dị tật, muốn tránh các bệnh tật di truyền của gia đình...

Người ta còn viện dẫn lý do rằng người phụ nữ có thể tự chọn lựa các phương pháp thụ tinh nhân tạo để cung cấp tế bào gốc hay tế bào mầm, với mục đích chữa bệnh cho người thân. Những cặp phụ nữ đồng tính luyến ái muốn có con, muốn làm mẹ mà không cần đàn ông.

Một bài khảo cứu về phát triển dòng vô tính của tập san Time, số phát hành ngày 19.2.2001, tường thuật trường hợp của ông Randolfe Wicker, 63 tuồi, phát ngôn viên của Quỹ Tài trợ Phát Triển Dòng Vô Tính (Human Cloning Foundation). Ông này định giữ lại một số tế bào da của chính ông để sau này phát triển dòng vô tính. Ông nói: "Nếu tôi không được phát triển con người tôi bằng dòng vô tính trước khi tôi chết, tôi sẽ sắp đặt dùng gia tài của tôi để lại để làm việc đó". Theo tờ Time, ông Wicker là một người đồng tình luyến ái, rất bất mãn vì không có con.

Những cặp vợ chồng hay những người tuyệt vọng sau cái chết của con cái họ, nay họ muốn nhờ phương pháp sinh sản vô tính để có được một đứa con giống như đứa con đã chết. Chẳng hạn như một giáo sư tài ba người Mỹ bị mất đứa con duy nhất, đã giao vài lọn tóc của con cho ngân hàng "AND Cells for Life" với hy vọng làm sống lại gen của con gái.

Hoặc một trường hợp khác như Linda Rader, một nữ giáo viên 40 tuổi, ở California đã có một con gái 13 tuổi. Nhưng bà mong muốn có thêm một con trai. Bà mãn kinh sớm, bà không muốn nhờ đến phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm: "Tôi không muốn một người thứ ba tham gia vào việc tượng hình đứa trẻ này. Phải nhờ đến trứng của người phụ nữ xa lạ là một trò may rủi về di truyền. Tôi thích sinh sản vô tính tế bào của chồng tôi. Ít ra, tôi biết anh ấy" . Những chủ trương thực hiện phương pháp sinh sản vô tính nhằm mục đích trị liệu; nghĩa là sinh sản vô tính phôi để trích lấy tế bào gốc cấy vào cơ thể các bệnh nhân, với hy vọng chữa trị những căn bệnh nan y nào đó.

3. Do sự lôi cuốn bởi những kỹ thuật tạo sinh hiện đại

Trong bối cảnh văn hóa xã hội hiện đại khi mà nghành sinh-y học phát triển mạnh mẽ, với những khám phá tân kỳ của khoa học kỹ thuật, nhiều nhà nghiên cứu đã liều lĩnh bỏ qua chiều kích luân lý tự nhiên của chính mình và nhiều khi họ bị cưỡng bức lôi cuốn trở nên những tác nhân thực hiện việc tạo sinh thay thế cho vợ chồng và xử lý trên sự sống. Họ phản bội lời thề Hippocrate cổ xưa, một lời thề đòi buộc tất cả mọi bác sĩ tuyên hứa tuyệt đối tôn trọng sự sống con người và đặc tính thánh thiêng của sự sống đó. Nhất là trong vài thập niên gần đây, trước những khám phá mới mẽ của nghành sinh-y học về các kỹ thuật tạo sinh, người ta bị cám dỗ không cưỡng lại được, để rồi người ta lao mình vào những cuộc thí nghiệm vô đạo đức, phi luân lý, chẳng hạn như việc sử dụng các phôi thai người làm "vật tư sinh học" cho những cuộc thí nghiệm - nghiên cứu, với lý do được viện dẫn là nhằm lợi ích cho sự tiến bộ của việc nghiên cứu sinh y.

Ðức Gio-an Phao-lô II đã nói rằng: "Chính việc nghiên cứu y học, một lãnh vực đầy quyến rũ và tiên báo nhiều lợi ích mới mẽ vĩ đại cho nhân lọai [...], kỳ thực những việc này không còn phục vụ con người nữa, khi chối bỏ phẩm giá bất khả xâm phạm của con người và tự biến mình thành những thực thể áp chế con người trong khi lại có vẻ giúp đỡ con người"

Ðức Thánh Cha còn cho thấy mặt trái của các kỹ thuật truyền sinh nhân tạo rằng: "Ngay cả các kỹ thuật truyền sinh nhân tạo khác nhau, là những kỹ thuật dường như phục vụ sự sống và là những thực hành nhắm đến mục tiêu này, thực tế cũng đang mở ra những cách thức mới chống lại sự sống. Ngoài việc các kỹ thuật này không thể chấp nhận được về mặt luân lý, bởi vì chúng tách rời sự truyền sinh thuộc lãnh vực hoàn toàn nhân bản khỏi hành vi vợ chồng, chúng còn có tỷ lệ thất bại cao, không những trong việc thụ tinh mà còn trong việc phát triển sau này của phôi, có nguy cơ tử vong trong thời gian thường là rất ngắn. Hơn nữa, đôi khi người ta sản xuất phôi với số lượng nhiều hơn nhu cầu để cấy vào tử cung của người phụ nữ và các phôi dư này, như người ta gọi, sau đó bị loại bỏ hoặc được dùng cho những cuộc nghiên cứu dưới danh nghĩa vì sự tiến bộ khoa học hoặc y học. Thực ra, đây là những cuộc nghiên cứu biến sự sống con người thành một thứ "chất liệu sinh học" đơn giản mà người ta có thể tùy ý sử dụng một cách tự do".

4. Do con người quá tin tưởng hay ỷ vào khả năng của những kỹ thuật tạo sinh nhân tạo.

Từ muôn thuở, việc tạo sinh thực chất là hành vi đặc thù của vợ chồng. Tuy nhiên, ngày nay việc tạo sinh một đứa bé có thể diễn ra do động tác của các bác sĩ, hay những nhà sinh học, trong một cái ống của nhà thí nghiệm. Tuy hiệu năng của các phương pháp tạo sinh nhân tạo khác nhau còn rất thấp, nhưng nghành sinh-y học đã cho phổ biến rộng rãi một số kết quả mà người ta cho là kỳ diệu, để từ đó những người phụ nữ độc thân muốn làm mẹ, các vợ chồng vô sinh khát vọng có con và nhiều gia đình muốn chọn lựa giống tốt, ưu sinh hoặc tránh bệnh di truyền, hoặc muốn nhân bản hay sao chép lại chính bản thân người chồng hay người vợ hoặc đứa con yêu dấu của họ đã bị chết, đã đi chọn lựa các phương pháp kỹ thuật tạo sinh như: thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm... hoặc là tạo sinh dòng vô tính. Họ chỉ muốn thực hiện bằng mọi giá để có một đứa con, bất chấp phương diện đạo đức luân lý và lờ đi cả những giá trị của hôn nhân cũng như quyền của đứa con phải được thụ thai, được cưu mang và được sinh ra do hôn nhân.

5. Do quan niệm lệch lạc về quyền tự do dân chủ

Ngày nay, xã hội con người đang chủ trương một quan niệm về tự do không phải để làm điều thiện, mà là một sự tự do muốn làm gì thì làm, kể cả những hành vi phi luân lý đạo đức. Bởi vậy, xã hội hôm nay đang bị xáo trộn nghiêm trọng, vì cái khuynh hướng giải thích các tội ác chống lại sự sống như là những biểu lộ hợp pháp của tự do cá nhân mà người ta sẽ phải công nhận và bảo vệ như là những quyền thực sự.

Trong khi Thiên Chúa ban tự do cho con người, một sự tự do bao hàm chiều kích liên hệ chủ yếu phải được dùng để phục vụ con người và hoàn thành con người do chính việc tự hiến và tiếp nhận tha nhân, thì trái lại, người ta chủ trương tuyệt đối hóa chiều kích tự do cá nhân chủ nghĩa: tự cho mình quyền quyết định mọi sự, tự do chọn lựa bất cứ phương pháp tạo sinh nào, miễn là đạt được "cái mà người ta muốn", chứ không cần xét tới hậu quả của cái đó là gì. Rốt cuộc, tự do bị mất đi ý nghĩa đầu tiên của nó, rồi chính ơn gọi và phẩm giá của nó cũng bị chối bỏ. Tự do không còn công nhận và tôn trọng mối dây cấu thành nó với sự thật, khi tự do chối bỏ chính mình, tự do loại bỏ các giá trị muôn thuở của hôn nhân, xâm phạm quyền sống của con người và hủy hoại tha nhân.

Ðức Thánh Cha cho thấy sự mâu thuẫn về quan niệm tự do của con người ngày nay rằng: "Ngày nay, người ta đi đến một khúc quanh những hậu quả bi thảm trong một quá trình lịch sử dài là quá trình ngày nay đang đứng trước một sự mâu thuẫn đáng ngạc nhiên: vào một thời kỳ mà người ta long trọng công bố những quyền bất khả xâm phạm của con người và công khai khẳng định giá trị của sự sống, thì chính cái quyền được sống thực ra lại bị từ chối và xâm phạm, nhất là trong những lúc có ý nghĩa nhất của cuộc sống, đó là khi sinh ra và khi chết"

Ngài nói tiếp: "Nguồn gốc của sự mâu thuẫn giữa việc long trọng khẳng định quyền con người với sự phủ định bi đát các quyền này trong thực tế nằm ở cách quan niệm về tự do. Quan niệm này tuyệt đối ca tụng cá nhân và không chuẩn bị cho cá nhân có được sự liên đới, sự tiếp nhận không đắn đo cũng như sự phục vụ tha nhân".

Với một quan niệm về tự do như thế, đời sống con người trong xã hội đang bị biến chất sâu sắc: xã hội sẽ trở thành một tổng thể những cá nhân đứng bên nhau, không còn mối liên hệ gì với nhau; mỗi người, dựa vào quyền tự do của mình, muốn tự khẳng định mình biệt lập với người khác, muốn đề cao tư lợi của riêng mình và muốn thao túng người khác. Từ đó, dẫn đến điều gì cũng là vấn đề quy ước, điều gì cũng là thương lượng được, kể cả quyền đầu tiên trong các quyền căn bản đó là quyền được thụ thai và được cưu mang, được sinh ra và được sống của đứa con trong hôn nhân và do hôn nhân cũng như quyền được sống của mọi con người. Ðiều này đã được Ðức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II nói rõ rằng:

"Trên thực tế, việc ấy cũng đang xảy ra trong phạm vi chính trị nói riêng của Nhà nước: quyền được sống, một quyền nguyên thủy và bất khả nhượng, mà vẫn bị đưa ra thảo luận và phủ quyết, dựa trên sự biểu quyết ở Nghị viện hoặc ý muốn của một phần dân chúng -có thể là một phần lớn nữa. Ðó là kết quả bất hạnh của chủ nghĩa tương đối đang hoành hành mà không hề bị chống đối: cái quyền mà hết còn là một quyền, vì nó không còn được đặt vững chắc trên phẩm giá bất khả xâm phạm của nhân vị, nhưng lại bị người ta bắt lệ thuộc ý muốn của kẻ mạnh hơn. Thế là nền dân chủ, mặc dầu có nguyên tắc đấy, nhưng lại đi tới một chủ nghĩa chuyên chế có hạn. Nhà Nước không còn là "ngôi nhà chung" mà ở đó, ai cũng có thể sống theo những nguyên tắc bình đẳng căn bản, nhưng nó đã biến thành nhà nước độc tài bá đạo, với những tham vọng có thể quyết định về sự sống của con người yếu kém và những con người không có chi bảo vệ, từ hài nhi chưa sinh ra đến người già cả, nhân danh lợi ích công cộng mà thực chất chỉ là lợi ích của một số người thôi".

6. Do sự thiếu vắng ý thức về Thiên Chúa và ý thức về con người

Có thể nói được rằng có một nguyên nhân, trên hết mọi nguyên nhân, đang gây đảo lộn cuộc sống của con người trong thế giới hôm nay, đó là do con người thiếu vắng ý thức về Thiên Chúa và ý thức về con người. Vì lý do đó, xã hội con người đưa tới chủ nghĩa duy vật thực dụng, khiến cho chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa duy ích và chủ nghĩa khoái lạc lan rộng. Con người chỉ lo việc "hành động", nhờ vào mọi khả năng kỹ thuật và họ cố gắng tối đa để đạt được chương trình, kiểm soát, khống chế sự sinh tử của con người mà không còn quy chiếu về Thiên Chúa nữa.

Nhà vật lý sinh học Gregori Stock của Ðại học California ở Los Angeles đã nói, sau khi nghành sinh y học đã khám phá ra được liệu pháp gen mới, rằng: "Như vậy, cuộc sống của gia đình sẽ bước vào giai đoạn mới. Chúng ta đã chiếm được quyền kiểm soát sự tiến hóa của Thượng Ðế".

Khi không còn quy hướng về Thiên Chúa nữa, con người sẽ không còn công nhận chân lý về cuộc sáng tạo của Thiên Chúa và cũng như không tôn trọng hay nhìn nhận quyền tạo sinh của Thiên Chúa được thiết lập nơi bản tính người nam và người nữ. Lúc đó, người ta chủ trương việc tạo sinh chỉ còn là hành vi thuần tuý của kỹ thuật khoa học, tức là hành vi tạo sinh chỉ do kỹ thuật của con người chủ trì và sự sống mới được sinh ra chỉ là kết quả của con người.

Ðức Gio-an Phao-lô II nói về nguyên nhân cội rễ sâu xa nhất của tấn thảm kịch mà con người hiện đại đang sống, rằng:

"Sự khuất bóng ý thức về Thiên Chúa và ý thức về con người là đặc điểm của tình hình xã hội và văn hoá mà chủ nghĩa tục hoá đang thao túng, chủ nghĩa này, với những cái vòi vươn dài, đôi khi đã thử thách những cộng đoàn Ki-tô giáo. Những ai tự để mình lây nhiễm tâm trạng ấy, sẽ dễ bị lôi cuốn vào cơn lốc của một vòng xoáy đồi bại kinh khủng: bỏ mất ý thức về Thiên Chúa, người ta lao tới chỗ đánh mất cả ý thức về con người, về phẩm giá và sự sống con người".

admin
04-08-2010, 05:17 PM
IV. Hậu Quả

1. Ðối với phương pháp thụ tinh nhân tạo

Kỹ thuật thụ tinh nhân tạo nảy sinh ra hàng loạt hậu quả riêng của nó. Các nhà thần học luân lý Công Giáo đã tranh luận về những phương tiện khác nhau để lưu giữ tinh dịch của người chồng. Theo phương pháp thụ tinh nhân tạo với tinh trùng của một người hiến vô danh (AID), nhiều nhà thần học luân lý e ngại rằng trong trường hợp của một cặp vợ chồng, việc đưa tinh dịch của đệ tam nhân vào hoạt động thụ thai của vợ chồng thì đã phạm đến luật hôn nhân. Trong trường hợp của người phụ nữ độc thân, các nhà phê bình cáo buộc: Thật là bất công khi sinh đứa trẻ ra mà chúng không có quyền biết ai là cha của nó. Về mặt thực tế, đứa trẻ mang nhiều mối bất lợi khi không có những thông tin liên quan đến những nguồn bệnh-sử, điều này có thể rất quan trọng trong cuộc đời sau này của nó. Các nhà luân lý cũng rất lo lắng về những hoạt động của việc hiến tinh: Việc hiến tinh hoặc việc bán tinh trùng thường sinh ra một đứa trẻ mà người ta sẽ không bao giờ biết đứa con đó có hợp với đạo đức hay không?

Một nhận định cuối cùng có thể tác động đến nhiều người ra như thể hoàn toàn khó tin, ngoại trừ trường hợp đã xảy ra rồi. Một người hiến tinh có thể thực sự là người cha của rất nhiều đứa con cùng huyết thống với ông. Trong một trường hợp nổi tiếng, một bác sĩ chuyên thụ tinh nhân tạo đã dùng chính tinh trùng của ông để cấy vào bệnh nhân của ông. Ðiều này có thể sinh ra nhiều trường hợp anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha sau này cưới nhau mà không biết.

Phương pháp AID có thể áp dụng cho tình trạng của những bà mẹ mang thai mướn, trong đó người phụ nữ (trường hợp đó được kể đến như là "người thế mẫu") được thụ tinh nhân tạo đồng thời thỏa thuận việc giao trả lại đứa con cho người hiến tinh và vợ của ông, khi bà ấy sinh đứa trẻ ra. Những cuộc xếp đặt như thế có thể gây ra khó khăn về mặt đạo đức, tình cảm và pháp lý càng gia tăng. Trước hết, xét theo bình diện đạo đức, những ai phản đối cách thức thực hiện này đều cho rằng toàn bộ tiến trình này giản lược đời sống con người như là một món hàng được sản xuất và mua bán. Việc này cũng có thể dẫn đến tình trạng khai thác phụ nữ nghèo khổ. Những người khác cho rằng những cuộc dàn xếp không đếm kể đến mối tương giao về tình cảm do người mang thai mướn hình thành cho đứa trẻ trong suốt chín tháng cưu mang. Những nhà chuyên môn pháp lý phản đối sự hợp lý của những thỏa thuận như thế. Có phải việc thực hiện này chẳng khác gì với hình thức buôn bán trẻ em hay không? Nếu vậy, một thỏa thuận nhằm thực hiện một hành vi bất hợp pháp không có hiệu quả ràng buộc về mặt pháp lý và như thế những thỏa thuận mang thai mướn sẽ không đặt trên nền tảng pháp lý.

2. Ðối với phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (IVF)

Toàn bộ tiến trình này ảnh hưởng đến thể lý, tình cảm cũng như tài chính. Trước hết, người phụ nữ phải trải qua thời gian điều trị hóc-môn với mục tiêu sản sinh thêm trứng và sau đó có những cơ hội chắc chắn để cấy tạo trứng đã thụ thai vào tử cung. Tiến trình này đòi hỏi họ cần phải tiêm chích hằng ngày. Một số nhà phê bình e ngại rằng việc điều trị hóc-môn có thể gây ra bệnh ung thư tử cung nơi nhiều người phụ nữ. Bệnh trụy tim và cơn tuyệt vọng có nguy cơ xảy đến cho nhiều người vì phần lớn các chuyên gia đề ra mức độ thành công vào khoảng giữa 15% và 20% đối với tất cả mọi phụ nữ bắt đầu bước vào một chu kỳ IVF. Cuộc thử nghiệm tốn mất vài ngàn đô-la, nên phương pháp IVF là tiến trình tốn kém rất nhiều tiền của, nó chẳng được bù lỗ bằng bảo hiểm y tế bệnh nhân.

Bởi vì, tiến trình IVF đòi hỏi bệnh nhân có tình trạng sức khoẻ tốt đồng thời tâm lý phải ổn định, nên nhiều bệnh viện thực hiện phương pháp IVF đã phát huy một số phương pháp khác nhằm làm giảm số lần thử nghiệm thụ tinh mà một người phụ nữ cần phải áp dụng. Một ví dụ điển hình có thể được trưng dẫn ra đây: Một bác sĩ có khả năng thu hoạch được sáu trứng của một người phụ nữ và rồi năm trứng được thụ tinh trong dĩa biến hoá. Bác sĩ đưa ba trứng được thụ tinh vào lại trong cơ thể người phụ nữ. Tiến trình này có vẻ đi ngược lại với qui luật tự nhiên. Bác sĩ sẽ đưa ba trứng được thụ tinh vào lại cơ thể với hy vọng rằng một hoặc hai sẽ đậu thai. Trong vài trường hợp, tất cả các trứng được thụ tinh đều đậu thai cả. Trong trường hợp đó, chúng ta khám phá ra một trong những điểm mà cuộc tranh luận này đụng chạm đến cuộc thảo luận về việc phá thai. Tiến trình IVF này hiếm khi liên quan đến việc thụ tinh và đến việc để một trứng duy nhất lại chỗ cũ. Việc đó sẽ tạo ra một tiến trình dài hơn, tốn kém nhiều hơn và đòi hỏi phải có nhiều sức khỏe hơn nhưng nó ít đạt được hiệu quả thành công.

Tuy nhiên, việc thụ tinh các trứng làm nảy sinh ra nhiều vấn đề về mặt đạo đức. Người ta nên chú ý rằng: không phải tất cả các bệnh viện đều thực hiện phương pháp IVF để làm đông lạnh các phôi thai; một số các bệnh viện chỉ thực hiện việc thụ tinh ở một số trứng đồng thời đưa tất cả các trứng được thụ tinh vào cơ thể người phụ nữ. Nếu năm trứng được thụ tinh và chỉ có ba trứng được đưa vào lại trong cơ thể người phụ nữ, hai trứng đang còn thụ tinh có thể được đông lạnh. Nếu không có trứng nào trong ba trứng được cấy vào cơ thể, còn hai trứng này được thụ tinh rồi có thể đưa vào cơ thể người phụ nữ mà không cần phải thực hiện một chu trình IVF nào khác nữa. Nhiều người lo ngại về tiến trình này có thể nảy sinh ra lắm vấn đề. Trước tiên, quá trình làm tan lạnh có thể gây ra nhiều hiểm hoạ.

Theo báo cáo của Richard Mc Cormick, với thủ thuật làm tan băng, thì từ 30% cho đến 40% trứng không thể sống sót nổi. Liệu điều kiện bất thường như thế có làm cho việc đông lạnh những trứng đã thụ tinh rồi trở thành hành vi vô luân hay không? Thứ đến, giả sử hai trong ba trứng đậu thai và người đàn bà sinh ra được hai đứa con mạnh khoẻ, sau đó vợ chồng họ không muốn sinh con nữa. Vậy, điều gì sẽ xảy đến cho hai trứng đông lạnh đã được thụ tinh rồi? Nó có thể được dùng để nghiên cứu hay không? Nó có thể bị hủy hoại hay không? Ðiều này đã đặt ra nhiều vấn đề về tình trạng của những phôi thai đông lạnh mà người ta thấy có một mối dây liên hệ trực tiếp giữa những cuộc tranh luận về các kỹ thuật truyền sinh với vấn đề phá thai.

3. Ðối với phương pháp sinh sản vô tính nơi con người (Human Cloning)

Nếu áp dụng phương pháp sinh sản vô tính cho con người thì sẽ đặt ra nhiều vấn đề về đạo đức, về tôn giáo, xã hội, pháp luật, tâm - thể lý... Bởi vì, nếu đứa trẻ ra đời thì sẽ không có cha mẹ, nó chỉ là một bản gốc, một tế bào lấy từ người nào đó muốn làm bản sao cho chính mình. Nó sẽ được yêu thương, chăm sóc, đùm bọc thế nào khi thực sự không có ai là cha mẹ cả? Ðâu là gia đình của nó? Xã hội sẽ coi nó là gì và đối xử với nó ra sao? Nếu đứa trẻ được sinh ra từ tế bào của người đã chết thì cả người làm bản gốc cũng không còn sống để nhận bản sao của mình. Ðứa trẻ phát triển ra sao? Và nhất là linh hồn của đứa trẻ thế nào? Phải chăng đó là một phần linh hồn của người cho bản sao?

Kỹ thuật sinh sản vô tính trên con người còn nảy sinh ra hàng loạt hậu quả nghiêm trọng khác cho con người. Theo giáo sư Jean - Paul Renard, thuộc Viện Quốc Gia Nghiên Cứu Nông Học Pháp:

"Ðể sinh sản vô tính một con người, cần một nhóm tiến hành gồm 5 người và khoảng 123.000 đô-la dụng cụ. Nhóm này gồm một nhà khoa học từng làm việc về sinh sản vô tính nơi loài vật và một chuyên viên về kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm. Khó khăn chính là phải thực hiện thí nghiệm nhiều lần".

Cần nhắc lại về trường hợp con cừu Dolly: người ta phải mất 277 lần cấy thí nghiệm thì mới cho ra được con cừu Dolly, một con cừu cái béo phì và có dấu hiệu già sớm trước tuổi. Thật vậy, đa số phôi từ sinh sản vô tính đều không sống cho đến hết hạn kỳ và những phôi sống sót lại mang đủ loại dị tật ở thận, tim, phổi, não, dị dạng thể xác hay suy yếu hệ miễn dịch.

Về nguyên do của hậu quả tệ hại này, các khoa học gia cứ ngờ rằng có một sai lầm trong lập trình tế bào của người hiến tặng. Nhưng thực tế không đơn giản như vậy. Nơi loài bò, mà hiện nay là loài có vú dễ tiến hành sinh sản vô tính nhất, cũng cần phải ghép bình quân 200 phôi thì mới cho ra được 7 con bê không bị dị tật. Nơi loài chuột, tỷ lệ thành công còn kém hơn 6 lần so với loài bò. Còn nơi con người, tỷ lệ ấy chỉ xấp xỉ 3%. Ðể cho ra đời một em bé bình thường, người ta cần sử dụng tối thiểu 100 noãn bào. Nghĩa là phải tuyển 20 phụ nữ cho noãn và phải tiến hành kích thích buồng trứng bằng hoóc-môn (Hormone) để có được bình quân 10 noãn bào mỗi phụ nữ. Việc kích thích không hoàn toàn vô hại: mỗi phụ nữ được tiêm hoóc-môn và chọc hút trứng trong vòng 15 ngày đến 3 tuần. Nhiều tác dụng phụ có thể xảy ra cho người phụ nữ như: tăng cân, cơn bốc hỏa và cả nguy cơ tử vong trong trường hợp tăng kích thích buồng trứng. Người mang thai hộ có thể bị sẩy thai hay phải nạo thai. Khoảng 30% đứa bé bị chết ngay trước hoặc sau khi ra đời.

Kỹ thuật sinh sản vô tính còn nảy sinh ra những hậu quả khác nữa. Phương pháp này cần nhiều noãn, đưa đến nguy cơ buôn bán noãn bào. Tại một số quốc gia, nhiều phụ nữ đã đi bán noãn bào của mình để kiếm tiền. Tại Pháp, Luật chỉ cho phép tặng noãn, cho nên các cơ sở y tế gặp phải tình huống thiếu noãn để thực hiện việc thụ tinh trong ống nghiệm. Theo giáo sư Jacques Testard, giám đốc nghiên cứu của Viện quốc gia về sức khỏe và nghiên cứu y học của Pháp (INSERM), người cho ra đời đứa bé Pháp đầu tiên bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm: "Chypre là trung tâm buôn bán noãn. Từ nhiều năm nay, một bác sĩ phụ khoa người Mỹ vẫn đưa các phụ nữ trẻ người Nga đến đây bằng máy bay riêng, tại đây các phụ nữ này bán noãn bào cho ông ta". Tại Mỹ, người cho noãn được trả thù lao gần 1000 đô-la, một số rao vặt bán noãn xuất hiện trên Internet. Nguy cơ trên cũng sẽ có thể xảy ra đối với phương pháp sinh sản vô tính.

Tờ Washington Post hôm 7.3.2001 tường thuật rằng 95% đến 97% những cố gắng phát triển dòng vô tính nơi súc vật đã thất bại. Dựa trên kinh nghiệm rút ra từ thử nghiệm trên súc vật, tờ Washington Post thuật lại những lời của các chuyên gia thú nhận rằng trong 100 cuộc thử nghiệm nơi người thì hầu như tất cả sẽ hư hỏng vì những lý do về gien hay vật lý bất thường, gây nguy hiểm đến tính mạng của các bà mẹ.

Bài tường thuật của tờ Washington Post còn nói rằng vài trường hợp sống sót sẽ có nhau lớn quá cỡ, có gan nhiễm mỡ. Ba hay bốn hài nhi sống sót sẽ có tầm vóc quá mức bình thường, nặng đến 7 ki-lô-gam và sẽ chết sau một hai tuần đầu tiên vì tật bẩm sinh tim mạch, vì phổi không phát triển, vì bệnh tiểu đường hay bệnh thiếu miễn nhiễm (immune system deficiencies). Các khoa học gia nói rằng nếu được đưa vào phòng hồi sức, may ra 1 trong 100 trường hợp sẽ sống sót và mang những đặc tính của đa số súc vật được phát triển bằng dòng vô tính như rốn to quá cỡ, tàn tích của cuốn nhau to lớn, được tìm thấy mà không giải thích được, trong những trường hợp thụ thai bằng dòng vô tính.

Theo tờ Washington Post, nhiều người nghĩ rằng vấn đề này liên hệ đến một "dấu in sâu" (imprinting) của gien - một cơ chế chưa được hiểu rõ của tế bào tinh trùng (spermatozoid) và noãn sào (ovum) - chuyển biến sau khi hai tế bào này kết hợp làm nên trứng phát triển thành phôi thai. Vì trong phát triển dòng vô tính không dùng tinh trùng và noãn sào nên không có "dấu in sâu" DNA, do đó, có vấn đề. Vả lại hiện nay, chưa có cách nào để biết được gien của tế bào phôi thai cấy bằng dòng vô tính có "dấu in sâu" hay không, cho nên, không thể loại bỏ những phôi thai xấu, dẫu có được sự chấp thuận trên phương diện đạo đức đi nữa.

Tờ New York Times cũng nghiên cứu vấn đề này trong số ra ngày 25.3.2001 và theo bác sĩ Brigid Hogan, một giáo sư về sinh học tế bào thuộc Trung Tâm Y Khoa Ðại Học Vanderbilt ở Nashville, bang Tennessee và là một điều tra viên của Viện Y tế Howard Hughes Hoa Kỳ, thì "đứng về phương diện đạo đức học, chúng ta không thể nào bênh vực được cho phát triển dòng vô tính con người trong hoàn cảnh hiện nay". Tờ Guardian tường thuật hôm 29.3.2001 rằng một khoa học gia khác, ông Ivan Wilmut, nhân vật hậu thuẫn cho cuộc phát sinh con cừu Dolly bằng dòng vô tính, đã lên án việc áp dụng dòng vô tính trên con người vì tỷ số thất bại rất cao khi áp dụng trên súc vật. Ông Welmut nói: "Thật là vô cùng thô bạo đối với các bà mẹ và con của họ".

Trong một bài đăng trên tập san Science ở Hoa Kỳ, Ông Welmut tố cáo dự định ứng dụng phát triển dòng vô tính trên con người của những chuyên gia về hiếm muộn người Ý là Antinori và người Hoa Kỳ là Zavos. Ông Wilmut cảnh cáo rằng, bốn năm thử nghiệm trên súc vật đã cho thấy kỹ thuật phát triển dòng vô tính còn có nhiều thiếu sót gây nên một số sẩy thai và tật bẩm sinh khổng lồ và không có lý do nào để tin rằng hậu quả của phát triển dòng vô tính trên con người sẽ khá hơn. Một số khoa học gia còn chứng minh được rằng phát triển dòng vô tính trên con người có thể tạo nên những quái thai.

Phó Tế Nguyễn Văn Tâm, DCCT

admin
04-08-2010, 05:18 PM
TÍNH LUÂN LÝ CỦA VIỆC TẠO SINH (CHƯƠNG II)


Chương II: Tính Luân Lý Trong Việc Tạo Sinh
I. Mạc Khải Kinh Thánh
II. Truyền Thống Giáo Hội
III. Quan Điểm của các Thần Học Gia và Học Giả
IV. Giáo Huấn của Giáo Hội

-------------------------------------



I. Mặc Khải Kinh Thánh

1. Chính Thiên Chúa tạo thành sự sống con người

http://www.ubmvgiadinh.org/uploads/pictures/News/luanlytaosinh.jpgKinh Thánh mặc khải cho chúng ta thấy sự sống con người do chính Thiên Chúa tạo thành. Thật vậy, những trang đầu của Sách Sáng Thế đã ghi lại rằng: "Thiên Chúa phán: chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta... Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ" (St 1, 26 - 27). Kinh Thánh còn cho thấy: "Ðức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nắn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi và con người trở nên một sinh vật..." (St 2, 7). Ở một chỗ khác, Kinh Thánh còn nói: "Này Thiên Chúa sáng tạo con người, Chúa làm ra con người giống như Thiên Chúa. Chúa sáng tạo con người có nam có nữ, Chúa ban phúc lành cho họ và đặt tên cho họ là "người" ngày họ được sáng tạo" (St 5, 1 - 2).

Sách Khôn Ngoan cũng khẳng định sự sống mà Thiên Chúa ban cho con người thì vượt trên cuộc hiện hữu trong thời gian: "Thiên Chúa không làm ra cái chết, chẳng vui gì khi sinh mạng tiêu vong. Quả thế, Thiên Chúa đã sáng tạo con người cho họ được trường tồn bất diệt. Họ được Người dựng nên làm hình ảnh của bản tính Người" (Kn 1, 13; 2, 23). Bởi vậy, tác giả sách Khôn Ngoan đã ca ngợi sự khôn ngoan của Thiên Chúa: "Lạy Thượng Ðế của bậc tổ tiên, lạy Ðức Chúa từ bi lân tuất, Chúa đã dùng lời Chúa mà tác thành vạn vật và dùng sự khôn ngoan của Chúa mà cấu tạo con người để con người làm chủ mọi loài Chúa dựng nên" (Kn 9, 1 - 3).

Các ngôn sứ cũng xác tín sự sống con người bắt nguồn từ Thiên Chúa, Ðấng tạo thành. Ngôn sứ Giê-rê-mi-a nói rằng: "Có lời Ðức Chúa phán với tôi rằng: trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi, trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi" (Gr 1, 5).

Ngôn sứ I-sai-a cũng xác tín rằng: "Ðức Chúa, Ðấng đã nắn ra ngươi từ khi ngươi còn trong lòng mẹ" (Is 44, 24) và "chính Ta đã làm ra trái đất và trên trái đất, đã dựng nên con người" (Is 45, 12).

Sách Giảng Viên cũng nói khi Thiên Chúa dựng nên con người, "Ngài mặc cho nó bộ áo sức mạnh và dựng nên họ theo hình ảnh Ngài" (Hc 17, 3). Và đến lượt những người tin xác tín Thiên Chúa là Ðấng tạo dựng nên loài người và ban cho con người tinh thần và sự sống (x. 2 Mcb 7, 22 - 32). Ông Gióp nói: "Tay Ngài đã nắn và tạo nên tôi... xin hãy nhớ, Ngài đã dựng nên tôi từ đất sét... Ngài đã chẳng lấy da thịt mặc cho tôi và dệt nên tôi bằng gân cốt sao? Ngài đã cho tôi sự sống và máu nóng, và ân cần săn sóc hơi thở tôi" (G 10, 8 - 12).

Sau nữa, các âm điệu ngạc nhiên và tuyên xưng sự can thiệp của Thiên Chúa và sự sống đang thành hình trong lòng mẹ vàng lên trong các Thánh Vịnh (Tv 22 (21), 10 - 11; 71 (70), 6...). Ðặc biệt, tác giả Thánh vịnh biểu lộ niềm xác tín với một cái nhìn phát sinh từ lòng tôn kính Thiên Chúa của sự sống, Ðấng đã tạo dựng mọi con người, bằng cách làm cho họ nên như một kỳ công phản chiếu của Ðấng Tạo Hoá và hình ảnh sống động của Ngài (x. St 1, 27; Tv 8, 6). Vì thế, tác giả Thánh Vịnh thốt lên:

"Tạng phủ con, chính Ngài cấu tạo,
dệt tấm hình hài trong dạ mẫu thân con.
Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng,
công trình Ngài xiết bao kỳ diệu!
Hồn con đây biết rõ mười mươi.
Xương cốt con, Ngài không lạ lẫm gì,
khi con được thành hình trong nơi bí ẩn,
được thêu dệt trong lòng đất thẳm sâu.
Con mới là bào thai, mắt Ngài đã thấy;
Mọi ngày đời được dành sẵn cho con
đều thấy ghi trong sổ sách Ngài,
Trước khi ngày đầu của đời con khởi sự"
(Tv 139 (138),13 - 16)

Như vậy, qua các bản văn Kinh Thánh trên đây, chúng ta xác tín rằng, nguồn gốc sự sống con người phát sinh từ Thiên Chúa, "Ðấng cho con người được sinh ra, không phải do bởi khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể hoặc ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa" (Ga 1, 13). Thế nên, sự sống ấy hệ tại việc được sinh ra bởi quyền năng Thiên Chúa chứ không phải bởi khả năng tạo sinh của con người. Thật vậy, "giá trị sự sống không chỉ gắn liền với nguồn cội của nó, theo như nó được trao ban từ Thiên Chúa, mà còn nối kết vào cùng đích, vào vận mệnh của nó là được hiệp thông với Thiên Chúa, để nhận biết và yêu mến Ngài". Do đó, chính Thiên Chúa mới có quyền năng nắm giữ tuyệt đối trên sự sống do Ngài tạo ra: "chính Thiên Chúa nắm trong tay hồn của mọi sinh linh và hơi thở của mọi xác thịt của người phàm" (G 12, 10)

2. Thiên Chúa là chủ sự sống

Một khi Thiên Chúa là tác nhân của sự sống con người thì Ngài cũng chính là Ðấng nắm quyền tuyệt đối trên sự sống do Ngài tạo thành. Thật vậy, Thiên Chúa là Chúa duy nhất của mọi sự sống. Ngay từ đầu, khi tạo dựng con người, Ngài đã thổi sinh khí vào lỗ mũi nó và con người đã thành sự sống (x. St 2, 7). Chính ông Gióp cũng xác tín Thiên Chúa ban cho ông sự sống: "Sinh khí của Thiên Chúa đã làm ra tôi, hơi thở của Ðấng Toàn Năng đã cho tôi được sống" (G 33, 4). Ông Gióp còn tuyên xưng rằng: "Chính Người nắm trong tay hồn của mọi sinh linh cũng như hơi thở của mọi xác thịt người phàm" (G 12, 10). Kinh Thánh còn cho thấy chỉ Thiên Chúa là Ðấng duy nhất nắm quyền quyết định trên sự sống cũng như rút lại sự sống đó: "Nếu Người muốn rút lại sinh khí và quy tụ hơi thở về mình, thì mọi sinh vật sẽ tắt thở cùng một lúc và phàm nhân sẽ trở về cát bụi" (G 34, 14 - 15). Tác giả Thánh Vịnh cũng diễn tả niềm xác tín như thế: "Sinh khí của Ngài, Ngài gởi tới là chúng được dựng nên; Ngài lấy sinh khí lại là chúng tắt thở ngay mà trở về cát bụi" (Tv 104, 29 - 30).

Thiên Chúa là Ðấng nắm quyền sinh tử của con người: "Chính Ngài có quyền trên sự sống và sự chết, Ngài đẩy xuống âm phủ rồi lại đưa lên" (Kn 16, 13; x.Tx 13, 12); "Ta cầm quyền sinh tử, Ta đánh phạt rồi Ta lại chữa lành, không ai cứu khỏi tay Ta được" (Ðnl 32, 3; x. 2 V 5, 7). Sách Sa-mu-en cũng lặp lại cùng một niềm xác tín như trên: "Ðức Chúa là Ðấng cầm quyền sinh tử, đẩy xuống âm phủ rồi lại kéo lên" (1 Sm 2, 6).

Tuy Thiên Chúa nắm giữ số mạng sinh tử của con người (x. Tv 15, 5) và ghi khắc nó trong lòng bàn tay Ngài (x. Is 49, 16; x. G 12, 10), nhưng Ngài không thực hiện uy quyền một cách tàn ác, trái lại, Ngài yêu thương, chăm sóc con người như mẹ hiền ấp ủ con thơ (x. Is 66, 13; Hs 11, 4), như con ngươi trong mắt Ngài. Dù cho cha mẹ có bỏ quên con mình đi nữa thì Thiên Chúa cũng chẳng quên nó bao giờ (x. Tv 26, 10; Is 49, 15), bởi vì, "Thiên Chúa không tạo nên sự chết cũng chẳng vui gì khi sinh mạng tiêu vong. Ngài sáng tạo muôn loài cho chúng hiện hữu trường sinh bất tử" (Kn 1, 13 - 14), bởi vì, con người được Thiên Chúa dựng nên theo hình ảnh của Ngài (St 1, 26 - 27; 9, 6) và "là hình ảnh của bản tính Ngài" (Kn 2, 23).

Vậy, con người không có quyền tuyệt đối trên sự sống và sự chết của mình hay của người khác, bởi vì "số phận của con người lệ thuộc vào Thiên Chúa" (Tv 15 (16), 5), và con người cũng chẳng thể tạo ra được sự sống đích thực, nhưng "chính thiên Chúa ban cho có mọi sự sống, hơi thở và mọi sự... Thật vậy, chính nơi Người mà chúng ta sống, cử động và hiện hữu" (Cv 17, 25 . 28).

Nếu con người tự cho mình có quyền trên sự sống và sự chết thì con người đã chiếm quyền tối thượng của Thiên Chúa. Sự sống của con người là của riêng Chúa (x. Is 43, 1), thuộc về Chúa: "Chào đời con được dâng cho Chúa, được Ngài là Chúa tự sơ sinh" (Tv 22, 11) và "kẻ nào động đến con người là động đến con ngươi mắt Chúa" (Dcr 2, 12). Thiên Chúa giao phó sự sống cho con người như kho báu không được phung phí, như một nén bạc phải làm sinh lợi, con người phải trả lẽ về điều ấy với Chúa của mình. (x. Mt 25,14 - 30; Lc 19, 12 - 27)

3. Con người tham sự vào quyền tạo dựng của Thiên Chúa

Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa cũng trao cho họ nhiệm vụ bảo vệ và thăng tiến sự sống, tôn trọng và yêu mến sự sống. Nhiệm vụ này được ban cho con người khi Thiên Chúa kêu gọi họ tham dự vào quyền tạo dựng của Ngài: Thiên Chúa ban phúc lành cho họ và Ngài phán bảo họ: "Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển chim trời và mọi giống vật bò trên mặt đất" (St 1, 28).

Như ở các phần trên đây, chúng ta thấy chính Thiên Chúa là Ðấng tạo thành sự sống con người và Ngài cũng là Ðấng duy nhất nắm quyền chủ tể trên sự sống của họ.

Tuy nhiên, Thiên Chúa cho con người được tham dự một phần nào đó vào quyền chủ tể của Ngài, bởi đó, để thực hiện ý định ấy, Thiên Chúa phán: "Con người ở một mình không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó" (St 2, 18). Thế rồi, Thiên Chúa đã làm ra một người nữ để người này thành vợ của con người và cả hai thành một xương một thịt (x. St 2, 22 - 25).

Như thế, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ (St 1, 27), với ý muốn con người tham dự, cộng tác đặc biệt vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa qua việc sinh sản, vì thế, trong bậc hôn nhân, "người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình và cả hai thành một xương một thịt" (St 2, 24). Họ được Thiên Chúa chúc phúc và truyền lệnh: "Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều cho đầy mặt đất" (St 1, 28).

Kinh Thánh còn cho ta thấy khi con người cộng tác với Thiên Chúa qua việc sinh sản sự sống mới, thì việc sự sống hình thành trong lòng mẹ cũng như việc chào đời và mối dây liên hệ chặt chẽ giữa giây phút đầu tiên của sự sống và tác động của Thiên Chúa, đều đồng thời có sự hiện diện của Ngài trong biến cố đó: "Trước khi Ta nắn ra ngươi trong lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi" (Gr 1, 5); "con chưa thành hình, mắt Ngài đã nhìn thấy con" (Tv 139, 16).

Cuộc đời mỗi con người ngay từ đầu đã ở trong kế hoạch của Thiên Chúa: "Mọi ngày đời được dành sẵn cho con đều thấy ghi trong sổ sách Ngài, trước khi ngày đầu của đời con khởi sự" (Tv 139, 16). Con người dù là cha là mẹ, chỉ là cộng tác viên của Thiên Chúa sáng tạo trong việc nhận mang thai và sinh hạ một sự sống mới. Con người không thể tự mình tạo ra được sự sống mới.

Kinh Thánh cho thấy chính người mẹ cưu mang và sinh hạ con cái của mình mà vẫn không thể hiểu biết chúng được cấu tạo thế nào: "Mẹ không rõ các con đã thành hình trong lòng mẹ thế nào. Không phải mẹ ban cho các con thần khí và sự sống. Cũng không phải mẹ đã sắp đặt các phần cơ thể cho mỗi người trong các con. Chính Ðấng Tạo Hoá càn khôn đã nắn đúc nên loài người và đã sáng tạo nguồn gốc muôn loài, chính Ngài do lòng thương xót cũng sẽ trả lại cho các con thần khí và sự sống..." (2 Mcb 7, 22 - 23).

Như vậy, Thiên Chúa cho con người tham dự vào công trình tạo sinh sự sống qua việc Ngài dùng cung lòng của họ, để trong đó, chính tay Ngài tạo tác nên con người mới và quan tâm đến từng hơi thở của nó. "Ta đã nâng các ngươi từ trong lòng mẹ, đã hứng các ngươi từ lúc chưa chào đời" (Is 46, 3; x. G 10, 8 - 12; Gr 1, 5) và cũng chính "Ngài kéo con người ra khỏi lòng mẹ" (Tv 71, 6); "đưa con ra khỏi thai bào, vòng tay mẹ ẵm Chúa trao an toàn" (Tv 22, 10).

Kinh Thánh còn chứng tỏ một khía cạnh khác nữa là: không phải bất cứ lúc nào con người cũng có thể quyết định sinh sản con cái, dù cho họ hết lòng mong muốn, nếu Thiên Chúa không can thiệp; bằng chứng là "khi ông A-đam được một trăm ba mươi tuổi thì ông mới sinh ra được một người con trai... và đặt tên là Sết" (St 5, 1 - 3); hoặc như ông Áp-ra-ham đã tới 100 tuổi và bà Sa-ra đã già 90 tuổi mà vẫn không thể có con cái. Nhưng khi Thiên Chúa can thiệp và chúc phúc cho họ thì họ mới sinh được một đứa con trai tên là I-xa-ác (x. St 17, 15 - 22; 18, 9 - 15); hoặc như ông Da-ca-ri-a và bà Ê-li-sa-bét, cả hai đều đã cao niên mà vẫn không thể có con cái, vì bà Ê-li-sa-bét là người hiếm hoi. Nhưng nhờ quyền năng Thiên Chúa can thiệp và chúc phúc, bà đã mang thai và sinh hạ một người con trai tên là Gio-an. Ý thức mình được can thiệp do quyền năng Thiên Chúa, bà Ê-li-sa-bét thốt lên với tất cả niềm vui khôn tả: "Chúa đã làm cho tôi như thế đó, khi Ngài thương cất nỗi hổ nhục tôi phải chịu trước mặt người đời" (Lc 1, 25).

Như vậy, khi tạo dựng nên người nam và người nữ, cho họ kết hợp với nhau bằng mối dây liên kết hôn nhân, Thiên Chúa muốn cho họ hợp tác với chương trình tạo dựng của Ngài qua việc cưu mang và sinh dưỡng sự sống mới. Còn người con, một sự sống mới - chính là hồng ân của Thiên Chúa: "Tôi đã được một người con nhờ ơn Ðức Chúa" (St 4, 1). Bà E-và đã kêu lên như thế khi ý thức được sự can thiệp của Thiên Chúa. Thật vậy, "con cái là hồng ân của Chúa, con mình sinh hạ là phần thưởng Chúa ban" (Tv 117, 3).

admin
04-08-2010, 05:19 PM
4. Sự sống là hồng ân thánh thiêng - bất khả xâm phạm

a. Sự sống con người là hồng ân thánh thiên do Thiên Chúa ban

Con người được hiện hữu và được sống trong vũ trụ trần gian hoàn toàn là do ý muốn tự do của Thiên Chúa quyết định. Kinh Thánh cho thấy sự kiện Thiên Chúa sáng tạo con người với một quyết định đặc biệt và một cuộc thảo luận để đặt mối dây liên hệ đặc biệt với Thiên Chúa: "Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta" (St 1, 26). Sự sống mà Thiên Chúa ban tặng cho con người thì khác với và tách biệt khỏi sự sống và bất cứ sinh vật nào, bởi vì, con người dù bởi đất mà ra và sẽ trở về với bụi đất (x. St 2, 7; 3, 19; G 34, 15; Tv 103, 24; 104, 29), nhưng con người sống trên trần gian là sự biểu lộ vinh quang Thiên Chúa, một dấu chỉ cho sự hiện diện của Ngài và một vết tích của vinh quang Ngài.

Trong trình thuật về nguồn gốc các sự vật, sách Sáng Thế trình bày cho thấy con người là chóp đỉnh tạo thành của Thiên Chúa, như vậy một sự kết thúc công trình sáng tạo: "Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa. Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ. Thiên Chúa chúc phúc cho họ và truyền lệnh: hãy sinh sôi nảy nở cho đầy mặt đất, và hãy thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời và mọi giống vật bò trên mặt đất" (St 1, 27 - 28). Kinh Thánh còn trình bày sự sống mà Thiên Chúa ban tặng cho con người là một hồng ân: "Tôi đã được một người con nhờ ơn Ðức Chúa" (St 4, 1); "con cái là hồng ân của Chúa, con mình sinh hạ là phần thưởng Chúa ban" (Tv 127, 3).

Chúng ta cũng thấy được trong Kinh Thánh, sự sống con người có tính chất thánh thiêng: sự sống thánh thiêng bởi vì nó được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa (x. St 1, 27), giống như Thiên Chúa (x. St 5, 1), như hình ảnh của bản tính Ngài (x. Kn 2, 23), nó được thánh hoá ngay từ trong lòng mẹ (x. Gr 1, 5); nó còn được Thiên Chúa ban cho chính sinh khí sự sống của Người (x. St 27; G 10, 8 - 12), nó cũng được Thiên Chúa ban cho có những yếu tố tinh thần đặc thù của con người như lý trí, khả năng phân định tốt - xấu và ý chí tự do: "Ngài làm cho chúng được đầy kiến thức thông minh, tỏ cho chúng biết điều tốt điều xấu" (Hc 17, 7).

Hơn nữa, con người và sự sống con người không chỉ là một thụ tạo kỳ diệu trong công trình sáng tạo, nhưng Thiên Chúa còn ban cho con người một phẩm giá gần như là thần thiêng: "Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy, ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên, cho làm chủ công trình tay Chúa sáng tạo, đặt muôn loài muôn sự dưới chân..." (Tv 8, 6 - 7).

Như vậy, sự sống là một hồng ân thánh thiêng mà Thiên Chúa ban cho con người, nó quý giá hơn muôn loài Chúa đã dựng nên (x. Mt 6, 25 - 34). Chính vì thế, Thiên Chúa là "Ðấng yêu mến sự sống" (Kn 11, 26), là "Ðấng đã dựng nên con người không phải để chúng hư nát" (Kn 2, 23), đã yêu thương con người tới độ ban chính Con Một của Ngài để cứu con người khỏi hư mất và cho con người được sống sự sống đời đời (x. Ga 3, 16; 10, 10)

b. Bất khả xâm phạm sự sống con người

Trên đây, Kinh Thánh đã cho ta thấy Thiên Chúa là Ðấng tạo dựng nên con người theo hình ảnh của Ngài; Thiên Chúa là Ðấng làm chủ sự sống do Ngài tạo ra; sự sống con người là hồng ân linh thiêng; và tiếp theo, Kinh Thánh cũng còn trình bày cho thấy sự bất khả xâm phạm sự sống con người.

Ðối với dân Do-thái cũng như nhiều dân tộc Thượng Cổ, "máu chính là sự sống" (Ðnl 12, 23), mà sự sống, nhất là sự sống con người chỉ thuộc quyền Thiên Chúa. Bởi đó, kẻ nào xâm phạm đến sự sống con người thì Thiên Chúa liền ra tay trừng phạt (x. Xh 21, 12. 14 . 20). Khi Ca-in giết em mình là A-ben, máu của A-ben đã kêu lên thấu tận Thiên Chúa, thì Ngài đã chúc dữ và trừng phạt Ca-in (x. St 4, 2 - 16). Thiên Chúa cũng không để cho vua Pha-ra-ô tuỳ hứng ra tay tàn sát hết thảy hài nhi của dân Do-thái (x. Xh 1, 15 - 23). Chính Thiên Chúa cũng nhắc lại cho ông Nô-ê sau đại hồng thuỷ rằng: "Ta sẽ đòi con người phải đền nợ máu, Ta sẽ đòi mỗi người phải đền mạng sống của người anh em mình. Ai đổ máu con người, thì máu nó sẽ bị con người đổ ra, vì Thiên Chúa đã làm ra con người theo hình ảnh Thiên Chúa" (St 9, 5 - 6).

Hơn thế nữa, Kinh Thánh đặc biệt trình bày cho ta một giới luật liên hệ tới tính bất khả xâm phạm của sự sống: "Ngươi không được giết người" (Xh 20, 13). Giới luật này nằm trong Thập giới, ở trung tâm Giao Ước mà Thiên Chúa ký kết với dân tộc Ít-ra-en, nhưng nó cũng mang tính phổ quát cho toàn nhân loại. Về sau, bộ luật của Ít-ra-en đã giải thích giới răn ấy còn cấm gây thương tích cho người khác (x. Xh 21, 12 - 27), và cấm giết người vô tội và công chính: "Ngươi không được giết kẻ vô tội và công chính" (Xh 23, 7); ngay cả việc nếu gây tổn thương cho một bào thai thì bị can án phải lấy mạng đền mạng: "Nếu có gây tổn thương cho bào thai, thì ngươi phải lấy mạng đền mạng, mắt đền mắt, răng đền răng, tay đền tay..." (Xh 21, 22 - 25).

Tuy nhiên, dù Cựu Ước khẳng định minh nhiên sự đề cao giá trị của sự sống và những giới luật hàm chứa tính bất khả xâm phạm của sự sống, nhưng chưa đạt tới nét tinh vi hoàn hảo như luật của Tân Ước. Bởi vì, luật Cựu Ước còn qui định những hình phạt nặng nề trên thân thể, có khi còn bị án tử hình đối với những kẻ giết người. Trái lại, sứ điệp tổng quát mà Tân Ước sẽ phải đưa tới mức hoàn hảo, vốn đã là lời kêu gọi khẩn thiết phải tôn trọng tính bất khả xâm phạm của sự sống thể lý và sự toàn vẹn nơi con người khi người thanh niên đến hỏi Chúa Giê-su: "Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời?" Chúa Giê-su đáp: "Nếu anh muốn vào cõi sống thì hãy tuân giữ các giới răn" (Mt 19, 16 - 17).

Và trong các giới răn mà Chúa Giê-su nêu lên cho người thanh niên thì trước hết, Ngài nhắc lại giới luật thứ nhất trong Mười Ðiều Răn: "Ngươi không được giết người" (Mt 19, 18). Rồi sau khi nêu lên cho anh ta một loạt các giới răn phải giữ, Chúa Giê-su kết thúc bằng một giới răn tích cực, như là sự bao hàm tất cả các giới luật trước đó: "Ngươi phải yêu người đồng loại như yêu chính mình" (Mt 19, 19). Như thế, giới luật có tính tiêu cực "ngươi không được giết người" (Ðnl 20, 13) đã được Chúa Giê-su đưa tới chiều kích tích cực hơn: "Ngươi phải yêu mến người đồng loại như yêu chính mình" (Mt 19, 19), nhưng giới luật sau vẫn bao hàm tất cả ý lực của giới luật trước.

Chúa Giê-su còn đòi hỏi phải tôn trọng sự sống ở một mức độ cao hơn nữa. Trong bài giảng trên núi, Chúa Giê-su nói: "Anh em đã nghe luật dạy người xưa rằng: chớ giết người; ai giết người thì đáng bị đưa ra toà. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà..." (Mt 5, 21 - 22).

Như vậy, lệnh truyền của Thiên Chúa, Ðấng luôn bảo vệ sự sống con người (x. St 4, 1 - 15; Is 41, 14), đã đi tới mức sâu xa hơn trong sự đòi hỏi phải tôn trọng và yêu mến mọi người và mọi sự sống. Giáo huấn của Thánh Phao-lô đã vang vọng lại lời dạy của Chúa Giê-su khi Thánh Tông Ðồ viết: "Ngươi không được giết người, cũng như mọi giới răn khác, đều tóm lại trong lời này: ngươi phải yêu mến người thân cận như chính mình. Ðã yêu thương thì không làm hại người đồng loại; yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy" (Rm 13, 8 - 10).

Vậy, sự sống của con người biểu thị một tính chất thánh thiêng và bất khả xâm phạm, nơi đó phản chiếu chính sự bất khả xâm phạm của Thiên Chúa. Vì thế, Thiên Chúa tỏ ra là Ðấng Thẩm phán rất nghiêm khắc đối với mọi vi phạm giới răn "ngươi không được giết người". Giới răn này vẫn được Chúa Giê-su lấy lại và đưa tới hoàn thiện trong Lề Luật mới, đến nỗi: Tất cả Luật Mô-sê và các Sách Ngôn Sứ đều gồm tóm trong hai điều răn: Tình yêu đối với tha nhân là một giới răn giống như giới răn về tình yêu đối với Thiên Chúa (x. Mt 22, 36 - 40). Sau cùng, giới răn "ngươi không được giết người" vẫn là nền tảng của tất cả sự đồng sinh tồn của xã hội và là điều kiện để người ta có thể vào được "trong cõi sống" (x. Mt 19, 16 - 19). Trong chiều kích đó, Thánh Tông Ðồ Gio-an còn khẳng định bằng một giọng kiên quyết rằng: "Phàm ai ghét anh em mình, ấy là kẻ sát nhân và anh em biết: không kẻ sát nhân nào có sự sống đời đời ở lại trong nó" (1 Ga 3, 15).

admin
04-08-2010, 05:20 PM
II. Truyền Thống Giáo Hội

Trong Truyền Thống Giáo Hội, các Giáo Phụ đề cập nhiều về vấn đề phá thai. Còn vấn đề tạo sinh nhân tạo, như đã có lần nói trên đây, là một vấn đề rất là mới mẽ. Nó chỉ mới nảy sinh ra trong những thập niên gần đây, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng như nghành sinh - y học. Do đó, trong Truyền thống Giáo Hội, các Giáo Phụ chưa phải đối diện với vấn đề này. Tuy nhiên, chúng ta cũng tìm thấy một vài lời dạy chỉ dẫn quan trọng liên quan đến vấn đề.

Từ những buổi đầu, Truyền Thống sống động của Giáo Hội đã nhắc lại một cách dứt khoát giới răn "ngươi không được giết người", như quyển Didachè, tác phẩm Ki-tô giáo ngoài bộ Kinh Thánh cổ xưa nhất, đã chứng tỏ điều ấy rằng:

"Có hai con đường, một con đường của sự sống, một con đường của sự chết, nhưng sự khác nhau giữa hai con đường này rất lớn [...}. Giới răn thứ hai của đạo lý: Ngươi chớ giết người [...}, ngươi chớ giết con bởi phá thai và ngươi sẽ không được làm cho nó chết sau khi nó sinh ra [...}. Còn đây là con đường của sự chết: nhẫn tâm đối với người nghèo, dửng dưng đối với người đau khổ, không biết đến Ðấng Tạo Hóa của mình, những điều đó làm thất bại công trình của Thiên Chúa... đó là những kẻ tội lỗi thâm canh cố đế. Ước gì các con có thể tránh xa tất cả những điều ấy".

Cũng từ thế kỷ thứ nhất, Giáo Hội đã khẳng định sự xấu xa về luân lý đối với bất cứ hình thức hủy diệt sự sống nào: "Ngươi không được giết phôi thai bằng việc làm sẩy thai và ngươi không được hủy hoại kẻ sơ sinh". Giáo Phụ Tertuliano (thế kỷ II) đã khẳng định: "Chỉ cần cản trở sinh ra thì đã là kẻ giết người rồi, người ta tước đoạt sự sống đã sinh ra hay là người ta hủy diệt nó trong lúc nó sinh ra thì không có gì khác biệt nhau cả. Cái phải trở thành một con người thì đó là một con người rồi".

Năm 195, Clément thành Alexandria đã nói: "Do thiết chế, Thiên Chúa đã làm ra liên quan đến việc sinh sản của nhân loại, tinh trùng không được xuất ra một cách vô hiệu năng, cũng không được làm cho nó hư đi, cũng không được lãng phí"

Năm 419, trong khoảng thời gian chưa thoát hẳn ảnh hưởng của thuyết nhị nguyên, thánh Augustinô đã tuyên bố: "Sẽ là một niềm vui lớn lao nếu vợ chồng có thể có con cái mà không cần sống chung". Chắc chắn là ngài không thể thấy trước được rằng khoa học kỹ thuật về sau có thể "sao chép" một con người mà không hoạt động giới tính. Nhưng, theo ngài, con người không được tự do xâm phạm sự sống. Ngài nói: "Tự do đầu tiên là không phạm tội ác... như giết người... và mọi hình thức thuộc loại đó".

Sách Ngụy Thư của Barnabas nói rằng: "Bào thai được coi như người đồng loại. Bởi thế, bất cứ sự tấn công trực tiếp nào đối với sự sống của nó, thì đó là tấn công Thiên Chúa, Ðấng đã tạo dựng và yêu thương nó. Ngươi phải yêu thương đồng loại như chính bản thân ngươi. Ngươi sẽ không được giết đứa trẻ...".

Thánh Tomas Aquinô (1225 - 1274) đã viết trong "Tổng Luận Thần Học Chống Kẻ Ngoại", rằng:

"Thiên Chúa chăm sóc mọi sự để mang đến sự tốt lành. Vậy, mọi sự tốt lành hệ tại ở việc đạt được mục đích riêng của nó. Sự dữ lấy đi khỏi mục đích chính đáng ấy. Ðiều này tốt cho cả hai toàn phần hay từng phần, để rồi mỗi phần của con người và mọi hành vi của nó phải đạt tới mục đích chính đáng. Vậy, tinh trùng của người nam, dù nó rất phong phú nơi mỗi cá nhân, thì nó cũng rất cần thiết để duy trì nòi giống... Vì thế, sự gieo tinh trùng phải mang theo hậu quả mang thai và sinh con. Thật rõ ràng rằng sự gieo tinh trùng trong cách thế ấy nếu không có ý mang đến hậu quả là nghịch với sự thiện ích con người. Và nếu có ý làm như vậy thì mắc tội. Ðây có ý nói tới cách thức mà không thể có sự truyền sinh như sự gieo tinh trùng không theo cách thức vợ chồng ăn ở tự nhiên. Trái lại, ăn ở bình thường mà không có sự truyền sinh do khuyết tật thì không nghịch với tự nhiên và cũng không mắc tội. Thí dụ người vợ son sẻ...".

Thánh Francis de Sales (1567 - 1622) đã viết:

"Những quan hệ vợ chồng thì rất thánh thiện đến nỗi rất khuyên làm để mưu ích chung. Tuy nhiên, nếu xâm phạm đến trật tự đã lập để sinh con thì mắc tội rất nặng. Trong trường hợp đó, tội luôn luôn là nặng và đáng ghét tùy theo mức độ lệch ra khỏi trật tự này...".

admin
04-08-2010, 05:21 PM
III. Quan Ðiểm của các Thần Học Gia và Học Giả

1. Ðối với vấn đề thụ tinh nhân tạo

a) Ðối với việc thụ tinh cùng nguồn (AIH)

Theo thần học gia B. Haring, "trong tình trạng vấn đề hiện nay, xem ra một cặp vợ chồng ước muốn có con và thực sự thấy rằng phương pháp thụ tinh có trong giúp không được như ý, sẽ không làm điều gi sai khi nhờ đến AIH".

Theo linh mục Th. Rey-Mermet, DCCT, thì: "Sự thụ tinh nhân tạo được gọi là đồng nhất khi tinh trùng được lấy từ người chồng, khi ấy đứa bé hoàn toàn là con của đôi vợ chồng. Em có dồi dào "gien" như những đứa bé khác, nghĩa là có những đặc tính di truyền của hai cha mẹ em. Ngày nay, các luân lý gia đồng ý bào chữa việc thụ tinh nhân tạo đồng nhất, trong trường hợp cần thiết, nghĩa là bằng tinh trùng của người chồng để tránh cho đôi vợ chồng yêu thương nhau không đau khổ vì không có con. Sự can thiệp y học này hẳn không phải là một sự giao hợp âu yếm giữa vợ chồng, tuy thế, nó vẫn là hoàn toàn tình yêu cho tất cả mọi người trong cuộc, kể cả đứa con sắp sinh ra? Vậy thì nó phù hợp cách tuyệt vời với bản tính nhân loại và do đó cũng phù hợp với luật tự nhiên".

Trong chiều hướng đó, theo Karl H. Peschke, các phương pháp giúp cho việc thụ tinh được dễ dàng hơn đó là dùng một cái muỗng để đưa tinh trùng vào cửa mình, hoặc dùng một ống tiêm trong đó có đưa tinh dịch của người chồng, sau một lần giao hợp bình thương giữa hai người, để đưa vào âm đạo của người vợ, thì được phép sử dụng các phương pháp này.

Vấn đề đặt ra là cách thức lấy tinh dịch từ người chồng để cho thụ tinh nơi người vợ qua việc thủ dâm, giao hợp nửa chừng hay giao hợp với bao cao su. Các phương pháp này đã bị Huấn Quyền Giáo Hội (Ðức Pi-ô XII) lên án, vì chúng cung cấp tinh dịch từ những hành vi ngược tự nhiên.

Tuy nhiên, về mặt thực tiễn, thủ dâm là phương cách dễ dàng và an toàn nhất để cung cấp tinh dịch cần thiết. Do đó, theo Linh Mục Mark, CMC, "thủ dâm để lấy tinh dịch coi như thiếu trật tự liên kết hành vi vợ chồng trong hôn nhân. Tuy nhiên, nó hợp pháp khi không chủ ý tách rời, nhưng vì chủ ý giúp việc thụ thai đạt được tiến trình tự nhiên".

Theo cha Rey-Mermet, thì: "Việc thủ dâm cần thiết trong trường hơp này thì không phải là một "tật xấu làm một mình": nó là quan hệ yêu đương với người vợ, là quan hệ dâng hiến và sáng tạo sự sống; nó dẫn vào một "toàn thể" là trật tự giới tính bình thường của con người. Ngày nay, các nhà thần học có vẻ không lên án việc thủ dâm này. Ý muốn có tính liên hệ và sáng tạo chắc chắn hiện diện trong việc làm này hơn là trong nhiều cuộc giao hợp thân xác "bình thường". Và ai là người được mong mỏi hơn là đứa trẻ sắp sinh ra?".

Bởi vậy, Karl H. Peschke nói rằng: "Chức năng sinh sản của hành vi tính dục ở đây không hề bị phá hỏng, mà còn được hỗ trợ là khác. Mục đích trực tiếp của việc thụ tinh này là thụ thai. Bao lâu vợ chồng còn muốn có con vì tình yêu giữa hai người, thì hành vi tính dục ấy vẫn còn đầy đủ ý nghĩa, nó là sự biểu hiện của tình yêu ấy. Hiểu như thế, hẳn vợ chồng sẽ đánh giá tốt việc thụ tinh này. Hai mục tiêu của tính dục đã được bảo đảm trong việc thụ tinh cùng nguồn. Mới nhìn qua, cung cấp tinh dịch như thế không khác lắm với việc thủ dâm hay làm như Onan. Thế nhưng, nó hoàn toàn khác hẳn. Ðây chính là lý do giải thích tại sao có sự hiểu lầm khi đánh giá việc thụ tinh này".

Và cuối cùng, cha B. Haring, DCCT, đã khẳng định: "Không có lập luận mạnh mẽ nào chứng tỏ sự xuất tinh của người chồng để có con hay việc đưa tinh trùng vào tử cung của người vợ là vô luân". Ðó cũng là ý kiến của các nhà thần học như: Rodrer Van Allen, F. Podimattam, George V. Lobo, A. Regan...

b) Ðối với việc thụ tinh khác nguồn (AID)

Vấn đề thụ tinh nhân tạo với tinh trùng của một người hiến vô danh, dù ngoài hôn nhân hay trong hôn nhân, đều bị coi là vô luân. Các nhà thần học luân lý Công Giáo đều nhất trí với kết luận này.

Cha B. Haring nói rằng: "Việc mua tinh trùng ở một ngân hàng tinh trùng để cho thụ tinh nhân tạo là một việc trái luân lý, không những vì đứa bé có cha vô danh và nguy cơ đồng huyết, nhưng cũng bởi vì nó tách biệt hẳn mục đích hoà hợp và sinh sản của hôn nhân. AID còn có thể gây nhiều xáo trộn cho các mối tương quan trong gia đình, đặc biệt về phía người mẹ".

Kark H. Peschke cũng khẳng định rõ về việc thụ tinh khác nguồn thì bất hợp pháp. Theo ông, đứa con được thụ thai trong trường hợp đó là con bất hợp pháp và nếu sinh ra do một người đã kết hôn, thì đó là con ngoại tình. Tất cả những lý do nào đã được đưa ra để chống lại việc sinh con bất hợp pháp và ngoại tình đều có thể áp dụng ở đây, chống lại việc thụ tinh khác nguồn. Chỉ có hôn nhân mới bảo vệ được phẩm giá người phụ nữ, mà theo sự thường phải trở thành một người mẹ. Cũng vậy, chỉ có hôn nhân mới tạo điều kiện đủ để cho con cái được an sinh và giáo dục. Ðối với người cha hợp pháp, người con ấy chỉ là con ghẻ, đôi khi còn tệ hơn nữa. Ðứa con ấy sẽ là lời nhắc nhở thường xuyên về sự bất lực của người cha ấy, một lời nhắc nhở làm ông cảm thấy nhục nhã. Còn đối với người mẹ, đứa con ấy sẽ không đem lại niềm vui. Bà cảm thấy người cha của đứa con ấy là một người hoàn toàn xa lạ đồi với mình. Ðứa con sinh ra do người khác cho hầu chắc sẽ trở thành nguồn nhục mạ, ghen tuông và lo lắng.

Theo thần học gia Gregory C. Higgins, đối với phương pháp AID, nhiều nhà thần học luân lý e ngại rằng trong trường hợp của một cặp vợ chồng, việc đưa tinh dịch của đệ tam nhân vào hoạt động thụ thai của vợ chồng thì đã phạm đến luật hôn nhân. Trong trường hợp của người phụ nữ độc thân, các nhà phê bình cáo buộc rằng thật là bất công khi đứa trẻ được sinh ra mà nó không có quyền biết ai là cha của nó. Về mặt thực tế, đứa trẻ mang nhiều mối bất lợi khi không có những thông tin liên quan đến những nguồn bệnh-sử, điều này có thể rất quan trọng trong cuộc đời sau này của chúng. Các nhà luân lý cũng rất lo lắnng về những hoạt động của việc hiến tinh: Việc hiến tinh hoặc việc bán tinh trùng thường sinh ra một đứa trẻ mà người ta sẽ không bao giờ biết đứa con đó có hợp với đạo đức hay không? Một nhận định cuối cùng có thể tác động đến nhiều người ra như thể hoàn toàn khó tin, ngoại trừ trường hợp đã xảy ra rồi. Một người hiến tinh có thể thực sự là người cha của rất nhiều đứa con cùng huyết thống với ông. Trong một trường hợp nổi tiếng, một bác sĩ chuyên thụ tinh nhân tạo đã dùng chính tinh trùng của ông để cấy vào bệnh nhân của ông. Ðiều này có thể sinh ra nhiều trường hợp anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha sau này cưới nhau mà không biết.

Cha Th. Rey-Mermet, DCCT, cũng nói về việc thụ tinh khác nguồn rằng: "Ðứng về mặt di truyền thì kết quả của thao tác này sẽ là một đứa con ngoại hôn, nó là con của người vợ chứ không phải là của người chồng... Vấn đề căn bản là bình diện luân lý, làm sao có thể chấp nhận sự nắn lại những quan niệm - và những thực tại- về giới tính, về hôn nhân, về quan hệ cha, mẹ, con cái, về quan hệ bà con, về gia đình? Bán và mua tinh trùng nhân loại như bán và mua hạt giống rau cải hay bông hoa... như thế là quên rằng con người là một nhân vị, là quên rằng không xã hội nào có thể để hôn nhân và việc sinh sản theo tuỳ tiện của những tư nhân. Ðối với người tín hữu, những điều này là công việc trực tiếp của Thiên Chúa: Con người không có quyền hành gì để thay đổi nó. Còn cái gọi là quyền của những bà goá, của những người độc thân và những người không sinh sản được, thì quyền ấy đã bị huỷ bỏ bởi quyền đầu tiên của đứa trẻ là được sinh ra trong một gia đinh thật sự của một cặp vợ chồng".

Thật vậy, bằng cách thụ tinh nhân tạo này, chấm dứt ý nghĩa hôn nhân trong đó hai người trở nên một xương một thịt. Hai người không còn định liệu số con theo ý muốn. Phương tiện kỹ thuật tấn công thẳng vào trật tự do Thiên Chúa tác thành cho hôn nhân và vào chính phẩm chất của con người trong tình yêu hôn nhân.

2. Ðối với việc thụ tinh trong ống nghiệm (IVF)

Về phương pháp IVF, không phải tất cả các bệnh viện đều thực hiện phương pháp IVF để làm đông lạnh các phôi thai; một số bệnh viện chỉ thực hiện việc thụ thai ở một số trứng, đồng thời đưa tất cả các trứng được thụ tinh vào cơ thể người phụ nữ, nhiều người lo ngại về tiến trình này có thể nảy sinh ra lắm vấn đề. Trước tiên, quá trình làm tan lạnh có thể gây ra nhiều hiểm hoạ: có từ 30% đến 40% trứng không thể sống sót nổi. Liệu điều kiện bất thường như thế có làm cho việc đông lạnh những trứng đã thụ tinh rồi trở thành hành vi vô luân hay không? Thứ đến, giả sử hai trong ba trứng đậu thai và người đàn bà sinh ra được hai đứa con mạnh khoẻ, sau đó vợ chồng họ không muốn sinh con nữa. Vậy, điều gì sẽ xảy đến cho hai trứng đông lạnh đã được thụ tinh rồi? Nó có thể được dùng để nghiên cứu hay không? Nó có thể bị phá huỷ hay không? Ðiều này đặt ra nhiều vấn đề về tình trạng của những phôi thai đông lạnh mà người ta thấy có một mối liên hệ trực tiếp giữa những cuộc tranh luận về các kỹ thuật truyền sinh với vấn đề phá thai.

Theo cha B. Haring, DCCT. ý nghĩa của việc thụ tinh trong ống nghiệm có thể rất khác biệt nếu trong một trường hợp được thực hiện vì mục tiêu nghiên cứu với ý định sẽ loại bỏ phôi thai và một giai đoạn nhất định của cuộc thí nghiệm, và trong trường hợp khác, được thực hiện để trợ giúp các đôi vợ chồng muốn có con và với ý đinh cấy trứng thụ tinh vào dạ mẹ ở giai đoạn sớm nhất có thể. Các nhà khoa học biện minh cho các cuộc thí nghiệm như vật với lý do sẽ giúp khoa phôi thai học tiến bộ và qua đó phục vụ sự sống con người. Tuy nhiên, những hy vọng về những lợi ích y khoa về sau không bù đắp được những xâm phạm kinh khủng đối với mạng sống con người. Thụ tinh trong ống nghiệm với ý định cấy trứng đã thụ tinh vào tử cung người mẹ có thể được xét theo một nguyên tắc như đối với thụ tinh nhân tạo với tinh trùng của người chồng. Tuy nhiên, khả năng sống còn và phát triển bình thường của trứng được thụ tinh cho đến nay vẫn còn rất mong manh và tỷ lệ thành công rất thấp. Vì thế, rất khó tán đồng.

Theo cha Th. Rey-Mermet, DCCT. sự mong muốn có con là sự ước muốn rất chính đáng của kẻ làm cha mẹ. Tuy tỷ lệ thất bại còn rất cao, những thao tác trên trứng con người cũng có lý do chính đáng để thực hiện trong mức độ nó được dùng để phục vụ sự sống và tình yêu giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái, với điều kiện là những thao tác này không biến thành những cuộc thí nghiệm và coi bào thai chỉ là một chất liệu của phòng thí nghiệm. Tuy nhiên, nó cũng dễ đưa tới những lạm dụng không thể tha thứ được. Những trứng đã có được bằng thụ tinh trong ống nghiệm có thể đem cất trong các ngân hàng hay cấy lại vào những người đàn bà khác mà không phải là người mẹ; hoặc là các trứng ấy được cắt ra làm đôi hầu có thể có những cặp sinh đôi, mà người ta có thể làm cho sinh ra cách khoảng nhau 5 hay 10 năm. Phải ngăn chặn ngay những hành động thí nghiệm đó, bởi vì, đó là một dạng khoa học vô lương tâm. Quả vậy, như William E. May đã nói: "Việc tạo ra phôi thai người trong ống nghiệm như một sự nghiên cứu là việc làm hoàn toàn phi luân".

Nguồn ngọn của một con người - giây phút ban đầu của việc người ấy hiện hữu phải là hoa trái của một hành vi do tình yêu của cha mẹ thúc đẩy. Ðứa con sinh ra không thể được thụ tinh như là một sản phẩm do việc can thiêp của các kỹ thuật y học và sinh học mà ra. Không ai được đặt việc ra đời của một đứa bé vào những điều kiện của tính hữu hiệu kỹ thuật được đó lường bằng những thông số kiểm tra và chế ngự. Việc thụ tinh trong ống nghiệm là một việc làm mất đi cá tính người. Trong khi mà tình yêu phải được biểu lộ qua thân xác và sự sống chớm nở từ thân xác với bất cứ giá nào, thân xác vẫn phải là nơi diễn ra sự thụ tinh. Bảo đảm nằm ở đó rằng sự sống ở bước đầu của nó không được giao cho ai khác ngoài cha mẹ.

Mặt khác, việc thụ tinh và nuôi bào thai trong ống nghiệm là không hợp pháp, khi chỉ sản xuất ra những bào thai con người như những "sinh thể vật chất", đồng thời chủ ý diệt phôi thai trong ống nghiệm chỉ vì mục đích nghiên cứu và các phương pháp thử nghiệm tác hại đến bào thai trong ống nghiệm.

admin
04-08-2010, 05:21 PM
3. Ðối với vấn đề tạo sinh dòng vô tính (Cloning)

Giáo sư Jean Fz. Mattei, một nhà di truyền học thuộc Ủy Ban Ðạo Ðức Học của Pháp, đã nói lên quan điểm của mình về tạo sinh dòng vô tính rằng: "Ðiều cần làm ngay là ngăn chặn những nguy cơ lạm dụng công nghệ. Nhân bản ra hàng loạt hoàn toàn trái với quan niệm của tôi và vấn đề nhân cách". Ðức Tổng Giám Mục Renato Martino, quan sát viên thường trực của Ðức Gio-an Phao-lô II, tại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc, đã nói rằng:

"Những đứa trẻ được tạo nên bằng dòng vô tính sẽ có một cuộc sống bất thường trong liên hệ với cha mẹ và thân thuộc, vì hành động định trước đồng thời có chủ tâm và độc đoán liên hệ đến thân xác của chúng. Những hậu quả về phương diện đạo đức và pháp lý do hành động ấy mang lại làm cho tương lai của nhân loại ra ô nhiễm và mất đi tính cách thánh thiện của nó. Mặt khác, việc tạo sinh như vậy loại bỏ tình nghĩa giữa cha mẹ và con cái, là một sự thụ thai vô tính (asexual) và vô giao (agamic), do dó, thiếu sự kết hợp giữa con người và giao tử (gamete)".

Tuy nhiên, có những người nghĩ rằng tạo sinh dòng vô tính với mục đích điều trị thật ra không phải là sinh sản vô tính. Ðiều đó có nghĩa là họ tin rằng sản sinh vô tính mô tế bào (tissues) không phải là sản sinh vô tính tế bào và do đó, không phải thật là sản sinh vô tính con người. Hiểu như thế là sai lầm. Không thể sản sinh vô tính tế bào mà không sản sinh vô tính một bào thai, nghĩa là không tiêu huỷ bào thai. Dĩ nhiên, không ai có thể hy sinh một mạng người để thử nghiệm. Ðức Hồng Y Murphy - O' Connor, thuộc giáo phận Westminster tại Anh quốc, đã nói trong bài phản đối dự luật của chính phủ Anh về sinh sản vô tính như sau:

"Sinh sản vô tính tạo ra sự sống con người- một phôi thai - được cấy vào tử cung người phụ nữ, sẽ phát triển thành một em bé. Nó là cách mới để tạo con người mà tách biệt cách hoàn toàn và tận sâu thẳm khỏi hành vi yêu thương của con người. Một đứa bé do sinh sản vô tính không có cha và không cần tinh trùng trong cuộc sinh này và mẹ nó thì bị giản lược thành một người cung cấp trứng đơn thuần... chấp nhận kiểu sinh sản vô tính con người mà không có yếu tố di truyền từ cha mẹ là một kiểu mới kèm theo những hệ luỵ xã hội lâu dài và những nan giải về đạo đức. Việc sinh sản vô tính như là việc lao đầu theo một luân lý liều lĩnh".

Christian Much, cố vấn pháp luật của Liên Hiệp Quốc, đã nói rằng: "Trên bình diện luân lý, Ki-tô giáo, Hồi giáo và tất cả mọi tôn giáo đều xem việc nhân bản vô tính là một sự xâm phạm đến quyền năng sáng tạo của Thượng Ðế".

Kinh nghiệm của các nhà khoa học trong việc thí nghiệm với loài vật cho thấy hiện rõ ràng có nguy trầm trọng tạo nên những cá nhân tàn tật bất toàn nếu cấy bào thai do sinh sản vô tính vào trong lòng bà mẹ cho phát triển. Tiến trình thụ thai theo dòng sinh vô tính thì thực là niềm mong đợi không thực tế chút nào. Thành quả của tạo sinh vô tính không bao giờ có thể thay thế con người được cưu mang trong tình yêu hôn nhân tự nhiên được cả. Những con người do tạo sinh vô tính, xét về thể lý, có thể rất giống với bản mẫu, thế nhưng hai con người này sẽ khác biệt ít nhất là không như hai người sinh đôi đồng dạng trên bình diện cá tính và những đặc tính về tâm thần. Giáo sư Jacques Testard, giám đốc nghiên cứu của INSERM (Viện Quốc Gia Về Sức Khoẻ Và Nghiên Cứu Y Học của Pháp), người đã cho ra đời đứa bé đầu tiên được thụ tinh trong ống nghiệm tại Pháp, đã nói rằng:

"Ðứng trên quan điểm đạo đức, sinh sản vô tính một con người hiện nay là điều không thể chấp nhận. Không chỉ biến phụ nữ thành công cụ mà họ còn phải chịu những nguy hiểm không lường trước và cả cho ra đời những đứa trẻ dị tật. Tỷ lệ thất bại, như đã được thừa nhận trong khuôn khổ nghiên cứu trên loài vật, cũng là con số không thể chấp nhận. Có thể nơi đứa bé đầu tiên, người ta không nhận thấy có gì bất thường. Nhưng những đứa bé "không hoàn chỉnh" sau đó sẽ bị ném vào giỏ rác chăng?"

Thần học gia Bernard Haring, DCCT, nhấn mạnh rằng:

"Tôi hy vọng rằng người ta sẽ không bao giờ thực hiện việc sinh sản vô tính nơi con người. Xét về mặt sinh học, nó sẽ làm giảm sự đa dạng sinh học cần thiết để duy trì nòi giống. Ngoài những thiệt hại hiển nhiên thấy được trên bình diện sinh học, xét về mặt luân lý, nó sẽ còn gây thiệt hại lớn lao cho các đứa bé sẽ ra đời. Mỗi con người đều được Thiên Chúa ban cho cái quyền có một gia đinh là thành phần của lịch sử nhân loại, trong đó, sự sống được lưu truyền nhờ vào tình yêu của cha mẹ. Những đứa trẻ do sinh sản vô tính tạo ra sẽ là những đứa trẻ mồ côi được định trước. Ðứa bé không thể chỉ là bản sao của một người cha mẹ có óc chiếm hữu. Một xã hội không cha hay không mẹ hẳn sẽ chẳng có sự phong phú và đa dạng mà Ðấng Tạo Hoá đã muốn ban cho nhân loại".

IV. Giáo Huấn của Giáo Hội

1. Ðối với việc thụ tinh nhân tạo

Thụ tinh nhân tạo là làm cho thụ tinh không phải bằng cách giao hợp tự nhiên, mà là bằng những kỹ thuật hỗ trợ nhân tạo, máy móc, như dùng ống tiêm để chuyển tinh trùng vào bên trong âm đạo của người phụ nữ. Nếu lấy tinh trùng của một "đệ tam nhân vô danh" thì gọi là thụ tinh nhân tạo dị hợp hay khác nguồn (Fécondation artificielle hétérologue). Nếu lấy tinh trùng của chồng chì gọi là thụ tinh nhân tạo đồng hợp hay cùng nguồn (Fécondation artificielle homologue). Có 3 trường hợp:

a. Thụ tinh nhân tạo dị hợp (khác nguồn - AID: Artificial Insemination with the Donor's sperm)

Vào năm 1949, Ðức Giáo Hoàng Pi-ô XII đã tuyên bố về việc thụ tinh nhân tạo với tinh trùng của một người hiến vô danh (AID) là trái luân lý: "Sự thụ tinh nhân tạo dị hợp nghịch với tính duy nhất của hôn nhân, với phẩm giá của vợ chồng, với ơn gọi riêng của cha mẹ và với quyền của đứa trẻ được thụ thai và sinh ra trong hôn nhân và do hôn nhân".

Ngài nói tiếp: "Luật của Chúa và luật tự nhiên tích cực công bố rằng sự truyền sinh của đời sống con người mới chỉ là hậu quả của hôn nhân mà thôi. Nhân phẩm của vợ chồng, sự thiện ích và giáo dục con cái được bảo đảm chỉ có trong hôn nhân. Cũng vậy, việc thụ tinh nhân tạo bị kết án nơi người vợ có chồng khi tinh trùng được lấy nơi người thứ ba chứ không do chồng. Vợ chồng có quyền trên thân xác của nhau với mục đích truyền sinh, cho dù vợ chồng đồng ý, việc thụ tinh nhân tạo cũng làm mất đi sự ràng buộc hôn nhân lúc ban đầu, mà đúng ra sự ràng buộc luân lý và pháp lý phải tồn tại giữa đứa con và cha mẹ như là kết quả tự nhiên của việc truyền sinh trong hôn nhân".

Thánh Bộ Giáo Lý Ðức Tin, trong Huấn Thị Donum Vitae, đã khẳng định: "Việc nhờ đến giao tử của người thứ ba, để có được tinh dịch hay noãn cầu, là một sự vi phạm tới sự cam kết hỗ tương giữa vợ chồng và là một thiếu sót trầm trọng đối với tính duy nhất là đặc tính thiết yếu của hôn nhân. Việc thụ tinh nhân tạo dị hợp phạm tới quyền của đứa trẻ, lấy mất đi của nó mối liên hệ với nguồn gốc là mối quan hệ con cái - cha mẹ... Việc đó cũng xúc phạm tới ơn gọi chung làm cha, làm mẹ của đôi vợ chồng..., tước đoạt tính duy nhất và tính toàn vẹn của khả năng sinh sản của hai vợ chồng..."

Vậy, có thể đi đến kết luận đối với việc thụ tinh nhân tạo dị hợp như sau:

"Vậy phải coi việc làm cho một người phụ nữ có chồng thụ tinh nhờ tinh dịch của một người cho không phải là chồng mình, và việc dùng tinh dịch của một người đàn ông để làm cho thụ tinh một noãn cầu không phải của vợ mình là trái phép, xét về mặt đạo đức. Ngoài ra, việc thụ tinh nhân tạo nơi một người phụ nữ không kết hôn, độc thân hay góa bụa, dù cho tinh dịch là của ai đi nữa, cũng không thể biện minh được về mặt đạo đức".

b. Thụ tinh nhân tạo đồng hợp (cùng nguồn - AIH: Gọi là Artifical Insemination with the Husband's sperm)

Giáo Hội cũng lên án hành vi thụ tinh nhân tạo với tinh trùng của người chồng (AIH), vì nó trái luân lý. Giáo huấn của Giáo Hội cũng dựa trên tính chất đặc thù của việc vợ chồng và của sự tạo sinh con người. Ðức Pi-ô XII nói:

"Trong cơ cấu tự nhiên của nó, việc vợ chồng là một hành vi riêng tư, hai người đích thân trực tiếp cộng tác với nhau, do bản chất của các tác nhân và do tính chất của hành vi, việc này biểu lộ một sự hiến dâng người nọ cho người kia, làm cho họ kết hợp nên một thân một xác như lời Kinh Thánh".

Trong diễn văn tại Ðại Hội Thế giới lần II ở Naples về khả năng sinh sản và không sinh sản (Fécondité et là stérilité) của con người, ngày 19.5.1956, Ðức Pi-ô XII đã nói: "Không bao giờ được tách rời các khía cạnh của việc vợ chồng và các điều tốt lành của hôn nhân, đến độ tích cực loại bỏ hoặc ý định tạo sinh, hoặc việc giao hợp".

Ðức Phao-lô VI cũng bác bỏ hình thức thụ tinh này (AIH) dựa trên ý định của Thiên Chúa muốn liên kết hai ý nghĩa của việc vợ chồng, đó là kết hợp và tạo sinh. Ngài nói:

"Kết hợp và tạo sinh, bằng một mối dây không thể tháo gỡ và con người không thể tự ý phá bỏ. Trong thực tế, việc vợ chồng, do cấu trúc thâm sâu của nó, kết hợp hai vợ chồng bằng một mối dây liên kết rất sâu sắc, khiến họ đủ khả năng tạo nên những đời sống mới, theo các luật lệ đã được ghi tạc trong chính hữu thể của người nam và người nữ. Chính bằng cách bảo vệ hai khía cạnh chính yếu: kết hợp và tạo sinh, mà việc vợ chồng giữ trọn được ý nghĩa yêu thương lẫn nhau một cách đích thực và duy trì sự qui hướng về ơn gọi cao quí làm cha mẹ của con người".

Cũng theo chiều hướng giáo huấn đó, Ðức Gio-an Phao-lô II, trong buổi tiếp kiến chung ngày 16.1.1950, đã nói rằng: "Hai vợ chồng biểu lộ cho nhau tình yêu riêng của họ trong "ngôn ngữ thể xác", nó bao gồm rõ rệt "những ý nghĩa phu phụ" cùng với những ý nghĩa phụ mẫu" . Và trong diễn văn tại Hiệp Hội các Thầy thuốc thế giới khóa 35, ngày 29.10.1983, Ngài đã nói: "Con người bắt nguồn từ một sự tạo sinh nối liền với sự kết hợp không những sinh lý mà còn thiêng liêng của cha mẹ, là những người được kết hợp nhờ dây liên kết hôn nhân".

Chính Công đồng Va-ti-ca-nô II, trong Hiến Chế GS. 51, cũng đã nói: "Chính những hành vi đặc thù của đời sống vợ chồng, được thực hiện đúng theo phẩm giá đích thực của con người, đều phải được kính cẩn tôn trọng... những tiêu chuẩn ấy sẽ tôn trọng ý nghĩa trọn vẹn của sự trao hiến và sinh sản con cái trong khung cảnh tình yêu đích thực."

Bộ Giáo Luật 1983, điều 1061, khoản 1, nói rằng: "Hôn nhân gọi là thành nhận và thành toại, nếu đôi bên đã theo cách thức hợp với nhân tính thực hiện tác động phu thê tự nó có khả năng sinh sản con cái; tác động này là mục tiêu tự nhiên của hôn nhân và làm cho vợ chồng trở thành một xương một thịt."

Vậy, con người phải được đón nhận trong cử chỉ kết hợp và yêu thương của cha mẹ, do đó, việc tạo sinh một đứa bé phải là hoa trái của sự dâng hiến người nọ cho người kia, việc dâng hiến này được thực hiện trong việc vợ chồng, trong đó, hai người cộng tác vào công trình của tình yêu sáng tạo như người tôi tớ, chứ không phải như kẻ làm chủ.

admin
04-08-2010, 05:22 PM
c. Việc chuyển tinh dịch:

Khi Ðức Pi-ô XII lên án hình thức thụ tinh nhân tạo khác nguồn (AID) và cùng nguồn (AIH), thì Ngài lại để ngỏ một hình thức gọi là "phương tiện nhân tạo nhằm giúp cho hành vi vợ chồng đạt được cứu cánh của nó". Ngài nói: "Không nhất thiết cấm đoán việc sử dụng một số phương tiện nhân tạo chỉ nhằm giúp cho hành vi tự nhiên dễ dàng hoặc chỉ giúp cho hành vi tự nhiên thực hiện bình thường, đạt được cứu cánh của nó".

Có lẽ từ lời nói này của Ðức Pi-ô XII, Thánh Bộ Giáo Lý Ðức Tin, trong Huấn Thị Donum Vitae, đã nói rằng: "Việc truyền tinh nhân tạo đồng hợp bên trong hôn nhân, không thể chấp nhận được, trừ trường hợp người ta không dùng phương tiện kỹ thuật để thay cho việc giao hợp, nhưng chỉ coi nó như một trợ cụ, giúp cho việc giao hợp được dễ dàng và đạt được cứu cánh riêng của nó"

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là hình thức lấy tinh dịch như thế nào để được coi là hợp luân lý? Ðây là một vấn nạn đang được tranh luận nhiều giữa các nhà thần học. Chúng ta sẽ tìm hiểu vấn đề này trong phần quan điểm của các thần học gia dưới đây. Ở đây, lập trường của Huấn Quyền Giáo Hội thì đối với những tiến trình nào lấy tinh dịch của người chồng để cho thụ tinh với trứng nơi người vợ bằng cách giao hợp với bao cao su, giao hợp nửa chừng hay thủ dâm, thì bị coi là trái luân lý và bị cấm. Ðức Pi-ô XII đã bác bỏ mọi hình thức thụ tinh cùng nguồn mà trong đó tinh dịch được cung cấp từ những hành vi đi ngược với tự nhiên.

Thánh Bộ Giáo Lý Ðức Tin nói: "Nếu phương tiện kỹ thuật làm cho việc giao hợp dễ dàng hay giúp nó đạt được những mục tiêu tự nhiên của nó, phương tiện đó có thể được chấp nhận về mặt đạo đức. Ngược lại, nó không hợp đạo đức, nếu nó thay thế việc giao hợp. Việc truyền tinh nhân tạo thay thế việc vợ chồng bị cấm đoán, vì có sự cố tình tách biệt hai ý nghĩa của vợ chồng. Việc thủ dâm thường làm để có tinh dịch, là một dấu chỉ khác của sự tách biệt nói trên: ngay cả khi làm vì mục đích tạo sinh, thủ dâm vẫn mất cái ý nghĩa kết hợp của nó".

Bộ Giáo Lý Ðức Tin cũng bác bỏ hình thức thủ dâm trên đây, bởi vì: "Nó thiếu cái quan hệ vợ chồng mà đạo đức đòi hỏi, quan hệ thực hiện được ý nghĩa trọn vẹn của việc dâng hiến hỗ tương và tạo sinh con người, trong một tình yêu chân thực".

2. Ðối với việc thụ tinh trong ống nghiệm (In Vitro Fertilization)

Trong bài nói chuyện với những thành viên của Ðại Hội Thế Giới lần thứ II về sự thụ thai và son sẻ ngày 19.5.1956, Ðức Pi-ô XII đã lên án là vô luân đối với hình thức thụ tinh trong ống nghiệm. Ngài nói: "Về những thí nghiệm thụ tinh thai nhi trong ống nghiệm nhân tạo phải bị loại bỏ như một điều vô luân và tuyệt đối bất hợp pháp". Ðức Gio-an XXIII đã cấm dùng các phương pháp tạo sinh không phù hợp với nhân phẩm con người. Ngài nói:

"Thiên nhiên đã trao việc thông truyền sự sống con người cho một hành vi, được thực hiện bởi một chủ thể ý thức - và do đó bị chi phối bởi các luật rất thánh của Thiên Chúa: các luật có tính bất khả xâm phạm và bất biến này phải được nhìn nhận và tuân giữ. Vì vậy, không được dùng các phương tiện và các phương pháp luật cho phép dùng trong việc truyền sinh các thảo mộc và cầm thú".

Sở dĩ Giáo Hội cấm hình thức thụ tinh trong ống nghiệm là vì nhiều lý do:

- Vì phương pháp lấy tinh trùng khỏi người chồng liên quan đến hình thức dùng bao cao su, giao hợp nửa chừng, hay thủ dâm, vốn đã bị Giáo Hội lên án.

- Tiến trình thụ tinh trong ống nghiệm tách biệt hành vi hôn nhân khỏi sự truyền sinh. Ngay cả khi tinh trùng được lấy cách hợp pháp thì hình thức thụ tinh trong ống nghiệm cũng bị cấm chỉ. Thánh Bộ Giáo Lý Ðức Tin khẳng định:

"Theo Giáo Lý truyền thống về các điều tốt lành của hôn nhân và phẩm giá của con người, Giáo Hội đứng ở quan điểm đạo đức vẫn chống việc thụ tinh trong ống nghiệm; việc này tự nó trái với luật đạo đức và đi ngựơc lại phẩm giá của việc tạo sinh và của sự kết hợp vợ chồng, ngay cả khi người ta làm mọi cách để tránh việc sát hại phôi thai người".

- Vì việc thụ tinh trong ống nghiệm chỉ là kết quả của kỹ thuật và kỹ thuật chủ trì việc thụ tinh. Do đó, nó không được Giáo Hội chấp nhận. Bởi vì:

"Nó không thực sự có được, cũng không tích cực được mong muốn như là sự biểu thị và hoa trái của một hành vi đặc thù của sự kết hợp vợ chồng. Như vậy, trong việc thụ tinh trong ống nghiệm đồng hợp, ngay cả xét trong bối cảnh của những việc giao hợp thực sự, việc tạo sinh con người, khách quan mà nói, thiếu sự hoàn thiện riêng của nó: đó là nó phải là đích điểm và hoa trái của một việc giao hợp, trong đó hai vợ chồng có thể trở thành "cộng tác viên của Thiên Chúa" trong việc thông ban sự sống cho một nhân vị mới".

- Vì việc thụ tinh trong ống nghiệm dẫn đến một sự "thặng dư" phôi thai, bị hủy bỏ hoặc cho đông lạnh, nhiều phôi sẽ bị hy sinh vì những lý do ưu sinh, kinh tế hay tâm lý... hoặc đem dùng làm vật thí nghiệm. Các kỹ thuật hay hình thức này gây thiệt hại cho sự toàn vẹn của sự sống phôi thai và do đó, Giáo Hội lên án: "Các phương thức đó trái với phẩm giá con người có nơi phôi thai và đồng thời phạm tới quyền của mọi người được thụ thai và sinh ra trong hôn nhân và do hôn nhân".

3. Ðối với việc sinh sản vô tính trên con người (Human Cloning)

Ðây là một vấn đề lớn vừa mới phát sinh trong những năm gần đây. Do đó, chúng ta chỉ có Giáo huấn của Vị Giáo Hoàng đương nhiệm là Ðức Gio-an Phao-lô II và của ủy ban Giáo Hoàng Học Viện về sự sống cũng như của Thánh Bộ Giáo Lý Ðức Tin.

Trong phương pháp tạo sinh dòng vô tính, ta nhận thấy có liên quan đến vấn đề sản xuất phôi thai, lấy tế bào gốc và việc cấy ghép cơ phận. Do đó, ta sẽ lần lượt tìm hiểu xem Giáo Huấn của Giáo Hội nói gì về các vấn đề đó. Việc sinh sản vô tính nơi con người là một hành động không thể chấp nhận được về mặt luân lý. Bởi vì, phương pháp này nảy sinh ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, không chỉ về thể lý hay tâm lý, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến lãnh vực luân lý đạo đức. Do đó, Giáo Hội lên án phương pháp này.

Phản ứng chống lại cuộc thí nghiệm sinh sản vô tính một phôi thai người đầu tiên do Công ty Mỹ tiến hành được công bố trên truyền ngày 25.11.2001, tại Va-ti-can ngày 28.11.2001, Ðức Gio-an Phao-lô II đã nói:

"Sinh sản vô tính là một mối nguy lớn cho sự sống... Chủ nghĩa nhân đạo thực sự có thể không bao giờ cho phép những phương pháp và những cuộc thí nghiệm, là những mối đe dọa có chương trình cách hệ thống và khoa học, chống lại sự sống con người. Hãy bảo vệ không khoan nhượng sự sống và giá trị con người trong việc tôn trọng luật luân lý". Ngài nói tiếp: "Mọi thủ thuật nhằm thương mại hoá bộ phận con người hay xem chúng như vật đổi chác hay mua bán đều không thể chấp nhận được về mặt luân lý, vì rằng sử dụng thân thể như một "đồ vật" là phạm đến phẩm giá của con người, dẫu cho mục đích có tốt đi nữa thì những cách xử lý đó cũng vẫn là bất hợp pháp về mặt luân lý".

Chính Ðức Phao-lô VI đã khẳng định: "Con người phải tôn trọng luật của quá trình sinh sản, ấy là nhìn nhận mình không phải là chủ nhân ông của nguồn sống nhân loại mà chỉ là thừa tác viên cho ý định của Tạo Hóa. Vì con người ta không có toàn quyền về thân xác mình thế nào, thì với một lý do đặc biệt hơn nữa, cũng không có toàn quyền về những khả năng sinh sản, chúng thuộc về lưu truyền sự sống, mà Thiên Chúa là nguyên tắc. "Sinh mạng con người phải được coi như là sự thánh" - Lời huấn từ của Ðức tiền nhiệm Gio-an XXIII - vì ngay từ khởi nguyên, nó trực tiếp kêu gọi đến tác động tạo thành của Thiên Chúa".

Vì phương pháp sinh sản vô tính cũng bao hàm các kỹ thuật truyền sinh nhân tạo, mà các kỹ thuật này đều bị Giáo Hội lên án, vì lý do phản lại đạo đức - luân lý. Trong Thông Ðiệp Tin Mừng về Sự sống, Ðức Gio-an Phao-lô II nói: "Ngày nay, các kỹ thuật truyền sinh nhân tạo khác nhau, là những kỹ thuật dường như phục vụ sự sống... thực tế cũng đang mở ra những thách thức mới chống lại sự sống. Ngoài việc các kỹ thuật này không thể chấp nhận được về mặt luân lý, bởi vì chúng tách rời sự truyền sinh thuộc lãnh vực hoàn toàn nhân bản khỏi hành vi vợ chồng, chúng còn có tỷ lệ thất bại cao, không những trong việc thụ tinh mà còn trong việc phát triển sau này của phôi, có nguy cơ tử vong, thời gian thường là rất ngắn...".

Trong diễn từ tại Hội Nghị Quốc Tế Về Cấy Ghép diễn ra tại Rô-ma, ngày 29.8.2000, Ðức Gio-an Phao-lô II nói: "Trong mọi biến cố, các phương pháp không kính trọng phẩm giá và giá trị của con người phải luôn luôn bị loại bỏ. Tôi đang đặc biệt nghĩ đến những toan tính dùng phương pháp sinh sảnh vô tính trên con người nhằm có những cơ quan để cấy ghép: Những kỹ thuật này, trong mức độ chúng liên quan đến việc sử dụng và phá hủy những phôi thai con người, không thể chấp nhận được về mặt đạo đức - luân lý, dù khi những mục tiêu đề ra tự nó là tốt".

Cũng trong diễn từ này, Ngài cũng khẳng định mục đích căn bản của y khoa là phục vụ sự sống con người, nhưng nó vẫn có những giới hạn, do đó, y khoa phải được thực hiện theo một tiêu chuẩn căn bản liên quan đến phương diện nhân loại học và đạo đức học. Ngài nói: "Mục đích căn bản của y khoa là phục vụ sự sống con người... Trong phạm vi của khoa học y khoa, tiêu chuẩn căn bản phải là sự bảo vệ và cổ võ sự thiện hảo toàn diện của con người, phù hợp với phẩm giá độc nhất là phẩm giá của chúng ta do bởi nhân tính chúng ta. Bởi vậy, hiển nhiên là mọi tiến trình của y khoa được thực hiện trên con người đều có giới hạn: không chỉ những giới hạn về khả năng kỹ thuật mà còn những giới hạn được xác định bởi lòng kính trọng đối với chính nhân tính, hiểu trong sự toàn vẹn của nó: "Ðiều gì có thể về mặt kỹ thuật, thì không vì lý do đó mà có thể chấp nhận về mặt đạo đức".

Phó Tế Nguyễn Văn Tâm, DCCT

http://www.ubmvgiadinh.org/?open=contents&display=2&id=2309