View Full Version : Những vị linh mục VN đầu tiên trên đất Gp. Nha Trang
admin
23-01-2006, 05:37 AM
Các linh mục bản xứ góp phần rất tích cực trong việc truyền giáo trong thời kỳ đầu tiên, nhất là trong những lúc hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, chúng ta thử đi tìm dấu vết của các ngài trên mảnh đất Phan Rang và Nha Trang:
1. Trong phần lịch sử của Giáo phận (http://www.gpnt.net/giaophan/gp1.htm)có ghi:
Ðức Cha Lambert de la Motte (http://www.catholic-hierarchy.org/bishop/bladlm.html)trên đường đi họp Công đồng Ðàng Trong (1672) cùng với hai cha Miền Nam tiên khởi là cha Giuse Trang và Luca Bền (http://daminh.org/giaohoi/ghvn/xdptrien.htm#2b) đã đến Chợ Mới (cách Nha Trang khoảng 2 km) để ban phép thêm sức cho 200 trẻ em và ít người lớn.
Ai biết gì thêm về 2 linh mục này?
Sau đó kế tiếp 2 vị này còn có những ai?
2. Những Linh mục VN xuất thân từ vùng đất Gp. sau Giuse Trang và Luca Bền có những ai có những hoạt động xuất sắc và nổi trội? Kể ra và tài liệu dẫn chứng?
Gia Nhân
admin
19-06-2006, 05:36 PM
Ngày 24 tháng 2 năm 1668, Đức Cha Lambert phong chức cho hai tân Linh mục bản xứ tiên khởi tại Bắc hà: Cha Bênêđitô Hiền và Cha Gioan Huệ. Một tháng sau cũng năm đó, ngày 21 tháng 3 Đức Cha lại phong chức cho hai tân Linh mục Đàng Trong là Cha Giuse Trang và Luca Bền. Bốn vị Linh mục Việt đầu tiên này được tuyển chọn từ hội Thầy Giảng, có đủ điều kiện và được đào luyện một thời gian tại Chủng viện Juthia (Thái Lan).
Trích từ : CHỦNG VIỆN LÀNG SÔNG QUI NHƠN (http://www.ccslsqn.com/vainet.htm)
admin
19-06-2006, 05:47 PM
ĐC Lambert sai cha Deydier làm cha chính Đàng Ngoài. Cha đã họp các Thầy Giảng lại, ngày 15-10-1666, tuyển chọn những thầy có khả năng lên chức Linh mục. Hai thầy Bênêđictô Hiền, 54 tuổi, Gioan Huệ 46 tuổi. Hai thầy sang Xiêm học ngày 24-2-1668. Chỉ trong 2, 3 tháng các thầy được thụ phong và trở về Đàng Ngoài truyền giáo. Tháng 7-1669, ĐC Lambert ra Đàng Ngoài, trong 6 tháng ĐC truyền chức 7 Thầy Giảng lên chức Linh mục và 48 thầy chịu chức Nhỏ. ĐC cải thiện tổ chức Truyền giáo, cắt cử các cha, tuyển mộ chủng sinh. Nhất là tôn nhận Thánh Giuse làm Quan thầy Giáo Hội VN.
Sau khi các cha bị trục xuất, tại Đàng Trong, chỉ còn lại hai linh mục VN: cha Giuse Trang và Luca Bền cùng với các Thầy giảng truyền giáo. Và ở Đàng Ngoài, cũng chỉ còn lại 2 cha VN: Cha Benedictô Hiền và Gioan Huệ cùng với các Thầy Giảng cùng toàn thể giáo đang đương đầu với các cuộc cấm đạo của Trịnh Tạc (1657-1682) vào những năm 1660, 1661 và 1663... Nhưng trong hoàn cảnh bi đát ấy, tin mừng Đức Thánh Cha Alexandre VII công bố Sắc Lệnh, 1659, ngày 29-7-1658, thành lập hai giáo phận Đàng Trong và Đàng Ngoài và bổ nhiệm hai Linh mục Francois Paullu và Lambert de la Motte làm Giám Mục.
Tính đến cuối năm 1648 đầu năm 1649, lúc Bà Minh Đức từ trần, giáo hội Đàng Trong đã có được 60,000 tín hữu!
Nguồn:
http://www.dongcong.net/DoiSongKH/GuongTruyenGiao/17.htm (http://www.dongcong.net/DoiSongKH/GuongTruyenGiao/17.htm)
admin
19-06-2006, 06:06 PM
Các lm vn đầu tiên:
http://daminh.org/giaohoi/ghvn/xdptrien.htm (http://daminh.org/giaohoi/ghvn/xdptrien.htm)
Vì đức cha Pallu về Roma xin thêm thừa sai, nên đức cha Lambert, năm 1665, kiêm chức giám quản địa phận Ðàng Ngoài. Ngài cử đến hai địa phận các cha đại diện (quen gọi là cha chính) ở Ðàng Trong là cha Chevreuil (1664-65) rồi cha Hainques (1665-70); Còn Ðàng Ngoài là cha Deydier (1666-73). Năm 1668, bốn thày giảng được các cha chính gửi sang Thái được đức cha truyền chức linh mục (tiên khởi). Ðàng Trong có cha Giuse Trang 28 tuổi (31-3) và cha Luca Bền (?); Ðàng Ngoài, thụ phong linh mục ngày 8-6 có hai cha Benedicto Hiền 54 tuổi và Gioan Huệ 46 tuổi. Mười ngày sau, hai cha trở về Bắc, còn cha Trang và cha Bền ở lại học thêm một năm.
Năm 1669, đức cha Lambert khởi đầu chuyến kinh lý. Ngài tới Phố Hiến vào tháng 9 cùng với hai thừa sai De <?xml:namespace prefix = st1 ns = "urn:schemas-microsoft-com /><st1:City w:st=Bourges </st1:City>và Bouchard. Tháng 1-1670, ngày truyền chức cho bảy Tân linh mục Ðàng Ngoài là các cha Matthêu Mát, Simon Kiên, Antôn Quế, Phil Nhân, Giacôbê Chiêu, Lêon Trung và Benedicto Trị. Chín linh mục Ðàng Ngoài đã cùng với đức cha và ba thừa sai họp công đồng đầu tiên của Giáo hội Việt Nam tại PHỐ-HIẾN vào ngày 24-2-1670, trao đổi chương trình hoạt động, chia vùng phụ trách, chọn thánh Giuse làm Bổn mạng Giáo Hội Việt Nam và ấn định việc đào tạo chủng viện ... Ngày 26-02-1670, đức cha Lambert thành lập dòng Mến Thánh Giá và nhận lời khấn của hai nữ tu Anê và Paula tại Kiên Lao (19/2). Rồi cùng với cha Bouchard, ngài xuống Hải Phố để về Thái Lan.
Tại miền <ST1:p<st1:country-region w:st="on">Nam</st1:country-region></ST1:p, thời hai cha chính Guyart (1671-74) và Courtaulin (1674-79), đức cha Lambert đã thực hiện được hai chuyến kinh lý. Năm 1671, đức cha cùng hai thừa sai Mahot, Vachet đến Phan Rí ngày 1-9, phải ẩn trú trong nhà bà Luxia Kỳ. Sau đó Ngài lên xứ Quảng thăm các tín hữu, thiết lập tu viện Mến Thánh Giá An-chỉ (Quảng Ngãi). Ngày 19-2-1672, Ðức cha triệu tập công đồng Hải Phố gồm các linh mục, thầy giảng để phổ biến về quyền đại diện tông tòa và công đồng Ðịnh Hiến. Ngày 26-3 ngài cùng cha Vachet đưa 12 chủng sinh sang Thái Lan. Cuối năm đó, ngài truyền chức cho cha Manuel Bổn, và lập Tu Viện Mến Thánh Giá cho nữ tu người Việt tại Thái Lan. Năm 1673 cha Bổn và hai thừa sai Vachet, Mahot đem thư và quà của đức cha cho Chúa Hiền. Các quan ở Quảng Ngãi bắt hai vị thừa sai nhưng sau đó trả tự do nhờ sự can thiệp của cha Bổn. Hiền Vương nhận thư và quà, ông cho phép giảng đạo, xây nhà thờ và trường học. Hai cha Bouchard và Courtaulin được cử đến năm 1674.
Tháng 9-1675, đức cha Lambert lại vào Ðàng Trong. Ngài lên tận phủ Chúa ở Kim Long (Huế), ở đấy nửa tháng, rồi đi kinh lý khắp nơi. Tại Quảng Ngãi, Ðàng Trong có thêm linh mục thứ bốn Lui Ðoan tác giả tập "Sấm truyền Ca". Tháng 5-1676, đức cha trở về Thái Lan sau khi phân phối tám linh mục (4 Việt, 4 Pháp) đến các tỉnh. Tại Juthia năm 1679, đức cha ngã bệnh trầm trọng và qua đời (15/6).
...Là một trong bốn linh mục Ðàng Trong đầu tiên được thụ phong tại Kẻ Chàm (Quãng Ngãi) năm 1676, Lữ Y Ðoan đã Việt hóa và Ðông phương hóa Kinh Thánh với một tinh thần dân tộc rất cao, việc làm mà chỉ từ công đồng Vatican II (1962) mới được cho phép. Ông đã dùng những quan niệm Tam cương, Ngũ Thường của nền luân lý Á đông cũng như những thực tế và truyền thống văn hóa dân tộc để giải thích giáo lý của Kinh Thánh về vũ trụ vạn vật. Ông đã theo sát Kinh Thánh Cựu Ước nhưng đồng thời chứng tỏ có óc sáng tạo độc đáo và tầm trí tuệ hiểu Thần học cao hơn cả các vị bề trên người Pháp của ông ; ngoài việc không hiểu văn hóa Ðông phương, đó có thể là lý do những người này loại Sấm Truyền Ca cho là dị đoan, sái đạo, đi lệch ra ngoài tinh thần cơ bản của Kinh Thánh. Lữ Y Ðoan chứng tỏ giới linh mục, tu sĩ thời đó có tinh thần độc lập, tự chủ, tự hào về văn hóa Việt Nam, bình đẳng với các thừa sai ngoại quốc chứ không mất độc lập và bình đẳng như sau này khi thực dân Pháp đã thôn tính cả nước Việt Nam.
(Trích từ: http://mevietnam.org/NgonNgu/tiengviet-a.html (http://mevietnam.org/NgonNgu/tiengviet-a.html))<O:p</O:p
1. Hoạt động của cha Antôn Hainques, hai linh mục tiên khởi địa phận Đàng Trong
Vào tháng 10, hai cha vào Phan Rí. Từ Phan Rí không một thuyền buôn nào của người Việt dám nhận chờ các cha vào khu vực Chúa Nguyễn. Cuộc bách hại của Hiền Vương đối với những thừa sai Bồ Đào Nha và với những giáo dân theo đạo của người Bồ Đào Nha làm họ khiếp sợ. Đang lúc kiếm thuyền thì cha Luigi Chevreul bị lên cơn sốt nặng. Cha Antôn Hainques muốn ở lại chờ cha mạnh để cùng lên đường với nhau, nhưng cha Chevreul thúc dục cha Hainques lên đường ngay. Bị cơn sốt giày vò, mất sức nhiều quá, cha Luigi không đủ sức theo đường bộ với cha Antôn được. Sau đó cha Luigi ở lại Cao Miên vì Đức Cha Lambertô de la Motte cũng đã trao cho ngài nhiệm vụ ở đó.
…
Sau khi thăm các họ đạo, cha chính Antôn Hainques cũng không quên nhiệm vụ chính yếu của ngài nữa. Đó là việc thành lập hàng Giáo sĩ bản quốc mà Đức Cha Lambertô de la Motte đã không quên nhắc cho ngài trước khi đi.
Trong chuyến đi thăm các họ đạo, cha đã gặp hầu hết các thầy giảng ở địa phận Đàng Trong, vì thế khi trở lại cửa Hội An, cha đã dễ dàng tổ chức cuộc hội họp các thầy giảng. Công việc đầu tiên của cha là làm cho các thầy công nhận quyền cha chính đại diện mà Đức Cha Lambertô de la Motte đã ban cho ngài trong xứ. Cha đã thành công dễ dàng vì cha có tài ăn nói và mềm dẻo hơn cha Luigi Chevreul.
Sau đó cha tuyển chọn trong số các thầy giảng, những người xứng đáng để đưa lên bàn Thánh… Cha Antôn Hainques đã chọn được hai thầy, đó là thầy Giuse Tràng và Luca Bền. Cha lo huấn luyện và dạy La ngữ cho các thầy để dọn mình làm linh mục đang khi có dịp để gửi qua Xiêm. Năm 1667, trong một chuyến thuyền về Xiêm, cha Antôn Hainques đã gửi được một thầy đến trường chung Yuthia đã dọn mình thụ phong linh mục. Trong thư gửi cho Đức Cha Phanxicô Pallu, Đức Cha Lambertô de la Motte đã báo tin : cha Hainques đã gửi đến tôi thầy giảng đầu tiên từ Đàng Trong, đó là thầy Giuse 28 tuổi để dọn mình làm linh mục, thầy có đủ dấu hiệu một người được Chúa chọn…
Nói đến thầy Giuse Tràng, bản nhật ký của khu truyền giáo Xiêm đã chú thích : thầy đã hân hạnh được chịu khổ hình phạt trượng ở trong tù xứ Đàng Trong, vì người ta đã bắt được thầy giúp đỡ các giáo dân can đảm xưng đạo đang bị giam trong tù. Những giáo dân này đã bị kết án tử hình chỉ vì người ta thù ghét họ là những người tuyên xưng đạo Công Giáo.
Ngày 31-03-1668, vọng Lễ Phục Sinh, thầy Giuse Tràng được thụ phong linh mục. Đó là vị linh mục Việt Nam tiên khởi của địa phận Đàng Trong, và cũng là vị linh mục tiên khởi của Giáo Hội Việt Nam, vì cha Gioan Huệ, linh mục tiên khởi của địa phận Đàng Ngoài, thụ phong vào đầu tháng sáu, cũng năm đó sau ba tháng. Cùng chịu chức với cha Giuse Tràng có cha Phanxicô Pérez, sau được chỉ đinh làm Giám mục đại diện Toà Thánh ở Đàng Trong (1690-1728).
Ngày 31-03-1668 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng của Giáo Hội Việt Nam, của tổ chức thầy giảng và sự thành lập hàng Giáo sĩ Việt Nam, mà ngày nay ta có thể tự hào có một số giáo sĩ đông hơn các nước truyền giáo ở Á-Phi.
Thầy Luca Bền được gửi đến trường chung ở Yuthia, sau thầy Giuse Tràng và cùng được chịu chức trong năm đó. Sau khi được thụ phong hai cha còn ở lại trường chung ít lâu để học hỏi thêm. Vào giữa năm 1669, hai cha trở về địa phận Đàng Trong. Cùng đi với hai cha, Đức Cha Lambertô de la Motte cũng sai thêm cha Brindeau. Năm 1666, cha Brindeau đã được Đức Cha Lambertô de la Motte sai đến Áo Môn để điều đình cho Đức Cha đi qua Áo Môn để vào đất Tàu, nhưng cha bị bắt và đưa về Goa. Cha đã bị giam gần hai năm ở Goa rồi mới được trở về Xiêm.
Về tới địa phận, hai cha Giuse Tràng và Luca Bền liền bắt tay vào công việc truyền giáo cho người đồng hương. Hai cha giải tội đêm ngày, người ta tranh nhau đến xưng tội với các ngài đông đến nỗi phải ngăn lại để các cha được nghỉ ngơi chút ít. Cha Bénigne Vachet đã khen cha Giuse Tràng : người thợ vườn nho thực xứng danh đó, với hân hạnh là linh mục tiên khởi của xứ Nam, chắc chắn đã lãnh nhận những ơn đặc biệt của chức linh mục, cha hăng hái nhiệt thành, khôn ngoan hiếm có và làm việc không thể tưởng được.
Cha Antôn Hainques không thể không hài lòng khi thấy giáo dân tuôn đến với linh mục của họ. Các ngài biết tiếng nói của họ, họ có thể trình bày tình trạng tâm hồn của họ một cách dễ dàng, các ngài cũng biết tâm tình của họ, phong tục của họ, các vấn đề sẽ được giải quyết theo đúng hoàn cảnh của nó. Cha cũng hài lòng về sự chọn lựa của mình, khi thấy hai cha làm việc rất hy sinh, tận tuỵ. Công việc đi thăm các họ đạo xa xôi, các thừa sai có thể yên trí trao cho các ngài. Dù có gặp bách hại, sự lẩn tránh và đi lại vẫn dễ dàng hơn các thừa sai ngoại quốc. Cha Antôn Hainques có thể tự hào là một trong những người có công đầu trong việc thành lập hàng Giáo sĩ Việt Nam và tự yên ủi vì thấy những kết quả công lao của mình.
...
Chương 6
...
2. Chủng viện đầu tiên và hai linh mục tiên khởi của địa phận Đàng Ngoài
Ngày 24-02-1668, nhận thấy hai thầy Bênêđictô Hiền và Gioan Huệ, sau hơn một năm trời học hỏi đã tạm đủ để có thể lãnh nhận chức linh mục, cha chính Deydier gửi hai thầy qua kinh đô Thái Lan để Đức Cha Lambertô de la Motte truyền chức. Bỏ Kẻ Chợ ngày 24-02 để ra cửa sông Cái, ngày 01-03, các thầy xuống một chiếc tàu buôn ở ngoài khơi. Chính ra chiếc tàu buôn này kéo buồm đi thẳng xuống Batavia, rồi ở đây các thầy chờ năm sau có chuyến đi Thái Lan. Nhưng vì giữa đường bị hư hỏng sao đó, tàu này bó buộc phải tạt qua Thái Lan. Nhờ thế vào tháng tư năm ấy, các thầy đã được gặp Đức Cha Lambertô de la Motte ở Yuthia.
Thời gian ở trường chung Yuthia, hai thầy đã tỏ ra rất gương mẫu. Đức Cha Lambertô hết lời khen ngợi các thầy, Đức Cha viết : “Các thầy tỏ ra những dấu hiệu đặc biệt về nhân đức khiêm nhường, đời sống đơn giản, lòng ái mộ khó nghèo, chăm lo nguyện ngắm, ưa thích hãm mình và nhất là sự hoạt bát khéo ăn khéo nói, trong việc giảng giải bằng tiếng của các thầy. Các thầy đã làm mọi người bỡ ngỡ, thán phục và coi như những môn đệ thời kỳ tiên khởi của Giáo Hội, đầy tràn ơn Chúa và có đủ mọi nhân đức.”
Vì thế, sau khi tới kinh đô Thái Lan được hai tháng, Đức Cha Lambertô de la Motte không ngần ngại truyền các chức nhỏ và ban chức linh mục cho các thầy. Hai cha được thụ phong vào đầu tháng 6. Có lẽ dịp lễ Bốn Mùa, thời kỳ Lễ Hiện Xuống, ngày thứ bảy, trước lễ Đức Chúa Trời Ba Ngôi, ngày 08-06-1668. Lúc thụ phong, cha Bênêđictô Hiền đã 54 tuổi và cha Gioan Huệ 47 tuổi. Sau khi thụ phong, “các cha muốn ở lại chủng viện một năm nữa để chăm lo việc nguyện ngắm và học hỏi đầy đủ cách làm các phép Bí tích và thi hành các chức vụ Giáo sĩ” nhưng Đức Cha Lambertô cho rằng địa phận đàng Ngoài cần sự có mặt của các cha. Vì thế, ngày 19-06 năm ấy, có chuyến tàu đến xứ Bắc, hai cha Bênêđictô Hiền và Gioan Huệ đã từ giã Kinh đô Thái Lan để trở về quê hương xứ sở, nơi các giáo dân địa phận Đàng Ngoài đang chờ đợi các cha.
(Lm Nguyễn Hồng, Lịch sử Truyền Giáo ở Việt Nam, quyển II, chương 5 và 6 http://www.dunglac.net/bai/LmNguyenHong-LichSuTruyenGiao-ch5.htm; Xem: Niên Giám Công Giáo 2005, chương 11: Niên biểu Công giáo Việt Nam, trang 208 (http://))
admin
05-04-2008, 05:19 PM
Còn các linh mục Việt Nam, thì năm 1676, cha Giuse Tràng qua đời. Sau cuộc đi làm phúc ở vùng nước độc về bị ngã nước và sáu ngày sau cha qua đời ở Phú Yên, không kịp trở về Nước Măn, xứ mà trong chuyến kinh lược lần trước, Đức Cha Lambertô de la Motte đã đặt ngài trông coi. Còn lại có ba cha. Cha Luca Bền ở vùng Phú Yên và sống được đến năm 1684. Cha Emmanuel Bổn ở miền Bắc. Cha bị chết đắm thuyền năm 1698, trong một trận bão ở cửa biển Kao Sai, cùng với hai thầy giảng và ba chú. Cha Luigi Đoản mới chịu chức, thì ở miền Quảng Ngãi. Cha cũng không sống lâu, năm 1678, vào tháng 6, cha chết vì ngã nước.
http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=109&ict=474 (http://www.dunglac.org/index.php?m=module3&v=chapter&ib=109&ict=474)
duylinhpr
11-04-2008, 03:06 PM
1. LINH MỤC GIUSE TRANG
(1639-1676)
Năm sinh có lẽ là 1639, suy đoán căn cứ tài liệu của tác giả "Les Origines du Clergé Vietnamien":
"Năm 1667 thầy đến Juthia và vào chủng viện, khi ấy thầy mới 28 tuổi " (Nguyễn Hữu Trọng, sđd,tr. 215).
Quê quán thầy, có lẽ ở Quảng Nam - Quảng Ngãi, tại đó thầy có người em gái là Bề trên tu viện Mến Thánh giá thời điểm cuối năm 1671.
Giuse Trang vốn trước kia là thầy giảng được giáo sĩ dòng Tên đào tạo. Đã có lần thầy bị bắt, bị đánh đập và bị vào tù vì giúp đỡ giáo dân bị giam cầm trong các trận bắt đạo
Mặc dầu hoàn cảnh khó khăn, cha Antoine Hainques cũng tìm được cách để gửi thầy Trang qua chủng viện Juthia để được phong chức linh mục. Năm 1667 thầy đến Juthia và vào chủng viện, khi ấy thầy mới 28 tuổi.
Ngày 31 tháng 3 năm 1668, hôm vọng lễ Phục Sinh, Giám mục Lambert de la Motte đang tá túc tại Xiêm, đứng chủ lễ truyền chức linh mục cho thầy Giuse Trang. Cùng được truyền chức trong dịp này còn có thầy Francesco Pérez, người Bồ lai Thái mà sau này sẽ vào truyền giáo ở Đàng Trong khoảng 1691-1728 với cương vị Giám mục Tông tòa kế nhiệm Giám mục Mahot.
Tân linh mục Giuse Trang lưu lại Juthia vài tháng, rồi trở về Đàng Trong vào đầu năm 1669.
(NHÂN VẬT CÔNG GIÁO VIỆT NAM - Tập 1 - chương 2. Lê Ngọc Bích)
http://www.dunglac.net/baihd/nhanvatconggiao1/chuong3.2.htm
duylinhpr
11-04-2008, 03:10 PM
2. LINH MỤC LUCA BỀN
( ? - 1684)
Không rõ quê quán và năm sinh.
Cũng là thầy giảng được giáo sĩ dòng Tên đào tạo, được thừa sai Antoine Hainques tuyển chọn và dạy thần học để chuẩn bị thụ chức linh mục đồng môn với thầy Giuse Trang.
Thầy Luca Bền được gửi qua Juthia sau thầy Giuse Trang. Và có lẽ khoảng gần cuối năm 1668, Giám mục Lambert truyền chức linh mục cho Luca Bền. Dự lễ, chắc chắn có sự hiện diện của linh mục Giuse Trang.
Hai linh mục Giuse Trang và Luca Bền đều lưu lại chủng viện Juthia vài tháng để hoàn chỉnh chương trình đào tạo. Rồi đến đầu năm 1669 hai vị cùng trở về Đàng Trong, cùng đi có thừa sai Pierre Brindeau. Họ bắt liên lạc với giáo sĩ Antoine Hainques ở Poulo Cambi, một đảo đối diện vùng Nước Mặn - Nước Ngọt thuộc Qui Nhơn (xem Phụ lục 3). Vì Nước Mặn có đông đảo giáo dân, có nhà thờ, ba linh mục Trang, Bền và Brindeau vào đây để bắt liên lạc với Antoine Hainques.
Ngay sau khi về nước, hai linh mục Việt Nam nhanh chóng bắt tay vào công tác giảng đạo. Có lẽ địa bàn hoạt động của hai vị ở miền Trung từ Quảng Nam vào Bình Định, vì năm 1669 giáo sĩ dòng Tên Ignace Baudet có gặp hai linh mục này hoạt động gắn bó với thừa sai Hainques và Brindeau trong vùng Quảng Nam - Quảng Ngãi cho tới khi hai thừa sai này qua đời. Làm việc quá mức và bệnh sốt rét đã làm cho hai thừa sai lần lượt chết: đầu tháng 12-1670 giáo sĩ Antoine Hainques, an táng tại Bình Sơn Quảng Ngãi (Báo Nam kỳ Địa phận số 1351 ngày 16-5-1935, tr. 299); qua tháng 1-1671 giáo sĩ Pierre Brindeau (không rõ nơi an táng).
Cách nhau 2 tháng, hai thừa sai lần lượt qua đời, giáo đoàn chỉ còn hai linh mục Việt Nam. Quá lo âu về hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, hai linh mục phải sang Xiêm báo cáo với Giám mục Lambert. Đức cha quyết định sang Đàng Trong, là giáo phận thuộc trách nhiệm trực tiếp của Ngài.
Ngày 20 tháng 7 năm 1671 Giám mục Lambert lặng lẽ rời Juthia xuống tàu khởi hành sang Đàng Trong mở cuộc kinh lý. Cùng đi, có hai linh mục Giuse Trang, Luca Bền và hai giáo sĩ Guillaume Mahot, Benigne Vachet. Thuyền gặp bão ở Phú Quốc. Vào cuối tháng 8-1671 thuyền đến bờ biển gần Nha Trang, tìm kiếm nơi chắc chắn cập bến an toàn vào ban đêm. Hôm sau lúc 10 giờ 30 sáng, có 2 thầy giảng, 2 giáo đến xóm Làm Thuyền (họ đạo Chợ Mới, Nha Trang ngày nay). Chờ đến chiều tối, giáo dân rước Đức Cha đi võng, lặng lẽ từ bờ biển tiến vào xóm Làm Thuyền bình an đêm 1-9-1671 (Báo CG và DT số 1015, ngày 2-7-1995).
Tiếp tục cuộc hành trình, Đức cha đi Phan Rang, Phan Rí, tháp tùng có hai linh mục Việt Nam, Mahot và Vachet. Thời ấy, vùng này có khoảng 800 giáo dân, nếu kể luôn các vùng phụ thuộc con số có thể lên đến 3000 (Theo "Giáo hội Công giáo ở Việt Nam" Tập II, Ronéo, tr. 65). Giám mục Lambert chỉ định linh mục Luca Bền ở lại Phan Rí, giáo sĩ Mahot đi Bình Định. Còn giáo sĩ Vachet và linh mục Giuse Trang cùng đi với Đức cha ra Phú Yên. Quan Trấn thủ Phú Yên là người theo đạo Công giáo, tiếp đoàn tại tư dinh rất niềm nở. Giáo dân đến rất đông, cha Giuse Trang phải lo toan mọi việc tiếp giáo dân, giải tội vì Đức cha cũng như thừa sai Vachet không nói được tiếng Việt. Đức cha bị bệnh nặng cả tháng trời. Trong thời gian này cha Giuse Trang tích cực hoạt động giảng đạo, giải tội, thu hoạch thành quả tốt đẹp: rửa tội 72 người.
Bình phục, Đức cha ra Bình Định. Tháng 12-1671 tiếp tục ra Quảng Ngãi. Tại đây, Giám mục Lambert thành lập tu viện Mến Thánh giá tại An Chỉ. Tu viện có 10 nữ tu, Bề trên tu viện là em gái của linh mục Giuse Trang, 30 tuổi. Cơ sở nhà cửa đất đai do bà góa Luxia Ký (hay Kỳ) tự nguyện dâng hiến cho tu viện.
(An Chỉ, ngày nay là thôn An Chỉ, xã Hành Thiện (hay xã Hạnh Phước?), huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi. Nơi đây vì một xóm đạo nhỏ mươi nóc gia. Tư liệu của cô giáo Thu Hải, người gốc Quảng Ngãi cung cấp).
Đầu năm 1672, từ Quảng Ngãi Đức cha ra Hải Phố. Tại đây, trong hơn 1 tháng Đức cha ẩn náu trong túp lều tranh nhỏ trên một cù lao. Đến ngày 19 tháng 2 năm 1672, Đức cha triệu tập Công đồng tại Hải Phố. Hai linh mục Việt Nam là những thành viên tham dự Công đồng.
Sau Công đồng, Đức cha trở vào Bình Đinh, đến địa sở Nước Mặn. Đức cha chỉ định linh mục Giuse Trang chính thức phụ trách họ đạo này. (Xem PL 3).
Trong môi trường hoạt động mới và ổn định linh mục Giuse Trang hăng hái truyền giáo lên đến tận vùng núi phía Tây Bình Định. Vùng núi phía Tây Bình Định nói đây là vùng Suối Hai (giáo xứ An Sơn, huyện An Khê, tỉnh Gia Lai, giáo Phận KonTum ngày nay). Cha Giuse Trang cũng lên truyền giáo ở vùng rừng núi phía Tây Phú Yên, nơi buôn bán giữa Kinh - Thượng, như vùng Phúc (Phước) Sơn, nơi giao lưu qua lại vùng cư dân Jrai. (Theo tư liệu của Lm. Trần Sơn Nam, giáo phận KonTum).
Rừng thiêng nước độc đã quật ngã vị linh mục trẻ tuổi này. Sau 6 ngày lên cơn sét rét dữ dội, linh mục Giuse Trang qua đời cô đơn tại Phú Yên vào cuối năm 1676, lúc chưa tới tuổi 36, không có linh mục nào đến giúp đỡ lúc hấp hối.
Thừa sai Vachet, người đã cũng hoạt động sát cánh với cha Giuse Trang, ca tụng vị linh mục tiên khởi của Việt Nam "là một nhà truyền giáo rất nhiệt thành, khôn ngoan hiếm có và làm việc không biết mệt mỏi”. (Thư Courtaulin gửi Giám mục Laneau, Văn Khố MEP Quyển 734, số27).
Sau khi linh mục Giuse Trang qua đời, linh mục Luca Bền còn sống gần 10 năm nữa.
Cha Luca Bền có phụ trách một họ đạo ở Phú Yên (không rõ nơi nào) từ tháng 9-1671 cho đến khi cha qua đời ngày 1 tháng 6 năm 1684 . ( Nguyễn Hữu Trọng , sđd, tr. 221 . Và Nguyễn Văn Trinh, "Lược sử Giáo hội Việt Nam”, Ronéo, Tp.HCM 1990, tr. 117).
(NHÂN VẬT CÔNG GIÁO VIỆT NAM - TẬP I - Chương 2. Lê Ngọc Bích)
http://www.dunglac.net/baihd/nhanvatconggiao1/chuong3.2.htm
duylinhpr
11-04-2008, 03:13 PM
HỘI CÔNG ĐỒNG HẢI PHỐ kết thúc vào cuối tháng 3-1672, Giám mục Lambert rời Đàng Trong trở về Xiêm.
Cuối năm 1672, tại chủng viện Juthia, Giám mục Lambert truyền chức linh mục cho thầy MANUEL BỔN. Đây là vị linh mục thứ ba của giáo phận Đàng Trong.
3. LINH MỤC MANUEL NGUYỄN VĂN BỔN
( ? - 1698)
Không rõ năm sinh, là người Thừa Thiên Huế.
Họ là Nguyễn Văn, tên Bổn. Xuất thân từ chủng viện Juthia.Thụ phong linh mục năm 1672, cha là vị linh mục tiên khởi xứ Huế và là thứ ba của giáo phận Đàng Trong.
Tháng 3 năm 1673 tân linh mục Manuel Bổn trở về Đàng Trong, cùng đi có thừa sai Benigne Vachet, đại diện Giám mục Lambert sẽ dâng lễ vật và thư của Giám mục gửi lên chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1648-1687).
Ngày 10-5-1673, Linh mục Bổn và Vachet về đến Quảng Ngãi thuộc địa hạt truyền giáo của thừa sai Mahot. Giáo sĩ Vachet bị bệnh phải nằm lâu ngày ở Quảng Ngãi. Trong hoàn cảnh như vậy, thừa sai Vachet phải nhờ thừa sai Mahot cùng linh mục Manuel Bổn cầm thư và lễ vật của Đức cha ra kinh đô. Vào cuối tháng 9-1673, trên đường ra kinh đô Thuận Hóa, hai linh mục bị quan địa phương bắt giam.
Giáo sĩ Mahot kể lại biến cố này như sau: '”Tôi đi qua tỉnh Quảng Ngãi (...) để gặp cha Vachet. Cuối tháng 9-1673, một viên Cai đội làng nọ tố cáo chúng tôi với quan tỉnh (...). Quan tỉnh có lòng tham: ông nắm chắc trong tay sẽ đoạt được món quà khi ông chặn bắt chúng tôi và bỏ tù. Ông ra lệnh cho linh bố ráp hai nơi khác nhau chỗ chúng tôi đang ở (...). Lính bắt được 4 cha trong một ngôi nhà và chiếm lấy tất cả hành lý (...). Cha Manuel, tôi (Mahot) cùng ông thầy giảng và hai học trò đều bị tống giam vào ngục (...). Chúng tôi bị giam 6 ngày liền (...). Cha Manuel và tôi, cả hai đều tỏ ra can đảm như hai con sư tử. Ở trong tù , chúng tôi vẫn rao giảng Tin Mừng (...). Chúng tôi tranh luận với sư sãi. Bị đưa ra tòa trước mặt quan tỉnh và nhiều quan chức khác, cha Manuel nói rất mạnh bạo về đạo Công giáo (...).
Nhờ tài lợi khẩu can đảm đó, hai vị linh mục được trả tự do (...). Quan ra !ệnh cấm người khác miệt thị khinh rẻ người Công giáo bằng bất cứ hình thức nào". Tác giả Nguyễn Hữu Trọng (sđd, tr.219) còn cho biết thêm: "Hai linh mục ra đến kinh đô bấy giờ ở làng Kim Long (huyện Hương Trà, Thừa Thiên ngày nay). Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần nhận thư và lễ vật của Đức cha Lambert gửi, lấy làm hài lòng, cho phép các giáo sĩ tự do truyền giáo, xây cất nhà thờ v.v...
Được Chúa Hiền dể dãi, cha Manuel Bổn hoạt động hăng hái và có hiệu quả. Theo báo cáo của thừa sai Labbé thì họ đạo Đốc Sơ được thành lập năm 1647.Và có lẽ do cha Manuel Bổn thành lập giáo xứ này, bởi lẽ toàn tỉnh Thừa Thiên hồi bấy giờ chỉ có cha Manuel hoạt động truyền giáo trên địa bàn kinh đô Kim Long và các vùng phụ cận.
Nhà thờ Đốc Sơ đầu tiên được cha Manuel Bổn cho dựng lên vào năm 1674, lúc đó chỉ là một Nhà Nguyện bằng gỗ lợp tranh ở sau lăng Đốc Sơ phía trong làng, cách nhà thờ hiện tại khoảng 800 mét.
Nhà Nguyện do cha M. Bổn cất vào năm 1647, đến năm 1905 được triệt giải để xây dựng một nhà thờ mới bằng gạch lợp ngói, tại một vị trí khác gần bờ hói ở trước làng, như đang còn thấy ngày nay.
Ngày nay giáo xứ Đốc Sơ thuộc xã Hương Sơ, thành phố Huế - Thừa Thiên.
Qua tháng Tư năm sau (1674), thừa sai Mahot trở ra kinh đô lần nữa, Ngài xin được chúa Hiền cấp giấy phép cho đi lại trong các tỉnh. Nhờ vậy, cha Manuel Bổn được cử đi giúp các họ đạo vùng Quảng Bình tiếp giáp lãnh thổ Bắc Bố Chính của Đàng Ngoài: họ Tam Tòa, Trung Quán, Đại Phong
Trong những năm đầu, cha Manuel Bổn truyền giáo rất có kết quả. Đức cha Lambert viết thư cho Đức cha Pallu nói về cha Manuel Bổn: "Cha Manuel Việt Nam (ý nói cha Manuel Bổn) đã rửa tội được 2000 người trong 6 tháng...".
Tháng 4-1674, Đức cha Lambert cử thừa sai Jean Courtaulin (1637- ? ) từ Xiêm sang Đàng Trong với chức danh Cha Chính Đại diện Giám mục. Giáo sĩ thừa sai này nghiên cứu để chuẩn bị cho công cuộc truyền giáo cư dân vùng núi phía Tây Quảng Ngãi. Hai linh mục Vachet và Manuel Bổn tình nguyện lên vùng rừng núi giảng đạo cho các dân tộc thiểu số (gọi chung là "người Thượng”) qua ngã vùng cao Quảng Ngãi. Nhưng kết quả không được như sở nguyện. Các hoạt động này của cha Manuel Bổn đều được thừa sai Courtaulin báo cáo với Giám mục Lambert.
Càng về sau, cha Manuel Bổn càng trở nên khó tính, nghiêm khắc quá đáng với giáo dân, quá khắc khe về công tác mục vụ . Ví dụ như bắt phải thuộc lòng 12 kinh đọc trước khi đến tòa Cáo giải xưng tội, bắt phải hiểu hết ý nghĩa kinh Tin Kính v.v... Cha bắt các ông chồng phải dạy cho các bà vợ, và ngược lại. Nếu không, cả hai vợ chồng không được xưng tội.
Linh mục Manuel Bổn lúc sinh thời có biệt danh là Manuel "Già “ Ngài qua đời ngày 2 tháng 11 năm 1698 trong trận bão lụt thiên tai khủng khiếp tại kinh đô. Các tài liệu kể lại:
Ngày 2 tháng 11 năm 1698, năm Mậu Dần, ngày lễ các linh hồn, một trận bão dữ dội ập vào vùng kinh đô Phú Xuân. Hơn 400 ghe bầu chở lúa từ các nơi đổ về đều bị đắm chìm. Trong cơn bão, linh mục Manuel Bổn đang trốn tránh dưới ghe với 7 giáo dân, 2 thầy giảng và 3 học sinh đều bị chết đuối.
Thiên tai khủng khiếp bất ngờ ập đến khiến triều đình và chúa Nguyễn Phúc Chu (1591-1725) quá sợ bị “Trời phạt” , do đó chính sách cấm đạo cũng dịu bớt đến suốt một năm sau.
Linh mục Nguyễn Văn Hội trong “Tiểu sử Linh mục giáo phận Huế”, Tập I, còn cho biết thêm: Cha Manuel Bổn bị chết chìm tại phá Cầu Hai. Trong tai nạn này, có 2 thầy giảng, 1 người con trai ông sĩ quan trong quân đội và 3 chủng sinh, tất cả đều bị chết .
Trận bão kèm theo sóng thần ngày 2-11-1698 nói trên, các đền đài cung điện, đình chùa, nhà cửa ở kinh thành Huế sụp đổ tan hoang. Chúa Nguyễn Phúc Chu thấy nguy ngập phải chạy lên núi, đem phủ chúa đến làng Dương Xuân và An Cựu sơ tán tránh cơn bão
(NHÂN VẬT CÔNG GIÁO VIỆT NAM - TẬP I. chương 2. Lê Ngọc Bích)
http://www.dunglac.net/baihd/nhanvatconggiao1/chuong3.2.htm
duylinhpr
12-04-2008, 03:22 PM
Giám mục Đại diện Tông tòa Đàng Trong kế nhiệm Giám mục Lambert là Đức cha Guillaume Mahot lãnh đạo giáo phận từ năm 1680. Nhưng rồi ngày 15-6-1684 Đức cha Mahot qua đời sau 18 tháng nắm quyền lãnh đạo giáo phận. Kế nhiệm là thừa sai Joseph Duchesne, nhưng chưa kịp nhận Sắc phong của Tòa thánh, Đức cha đã vội qua đời sau Đức cha Mahot 2 ngày, tại Xiêm ngày 17-6-1684.
Lần nữa, giáo phận lại đặt dưới quyền Giám quản của Giám mục giáo phận Xiêm Louis Laneau. Tại Juthia, Giámmục Laneau truyền chức linh mục cho 4 thầy Đàng Trong tòng học chủng viện Juthia:
- Maurice LỘC.
- Phanxicô VÂN.
- Tađêô NGHIÊM.
- Manuel BỔN (Manuel HUỲNH VĂN LÂU).
LINH MỤC MAURICE TRẦN THẾ LỘC
Không rõ quê quán. Danh tính là Trần Thế (Lịch sử giáo phận Huế, Tập I, tlđd, tr. 60).
Tên thánh, có tài liệu ghi là Maurô.
Linh mục Trần Thế Lộc được bố trí phụ trách các họ đạo vùng Phú Xuân (Thuận Hoá), nhưng vì nghe theo một ông quan quen thân với linh mục sao đó mà theo ông ấy vào Quảng Nam, bất chấp lệnh cha Labbé. Cha Labbé buộc lòng phải để cho linh mục Maurô Thế Lộc công tác ở Quảng Ngãi. Sau đó, ông quan nầy (không rõ danh tính) lại được đổi ra Phú Xuân, cha Thế Lộc lại đi theo quan ra kinh đô, bám sát quan và chỉ phục vụ cho gia đình quan. Không phải phục vụ về tôn giáo mà về lang y, chẳng là linh mục có biết về nghề y, khám chữa bệnh, bốc thuốc. Hăng say hoạt động lang y, cha lại lơ là công tác mục vụ, cùng lắm đôi khi mới ngồi giải tội cho giáo hữu. Cha Chính Labbé có lần cấm linh mục Maurô khám bệnh bốc thuốc để chăm lo mục vụ nhưng cha làm ngơ cứ chú trọng vào nghề lang y.
Năm 1696 khi theo ông quan ra kinh đô, được quan cấp cho một mảnh vườn, một ngôi nhà và 10 lạng vàng để cha xây một ngôi nhà thờ (không rõ địa điểm). Linh mục Maurô trú ngụ, dâng Thánh lễ và làm các việc khác tại nhà thờ.
Năm Tân Mùi 1691 chúa Ngãi qua đời. Kế vị là Nguyễn Phúc Chu (1691-1725).
(Về danh tính chúa Ngãi, lâu nay các nhà nghiên cứu ghi là Nguyễn Phúc TRĂN. Mới đây, trong "NGUYỄN PHÚC TỘC THẾ PHẢ” (NXB Thuận Hoá-Huế 1995) ghi là Nguyễn Phúc THÁI (tr. 133-134, 137,139, 141).
Năm 1700, chúa Nguyễn Phúc Chu ra lệnh cấm đạo, cơn khủng bố nhanh chóng bốc cao tàn khốc. Linh mục Trần Thế Lộc cũng bị truy nã ráo riết phải chạy lên ẩn trốn trên núi. Dân chúng chỉ điểm, lính bắt được dẫn về với 2 thầy giảng. Phiên tòa khai mạc, quan bảo Linh mục và 2 thầy giảng:
- Hãy bỏ đạo quá khóa.
Linh mục trả lời khẳng khái:
-Tôi sống nhiều năm ở Xiêm. Tôi theo đạo Công giáo, hơn nữa tôi là linh mục. Vậy lý do gì tôi phải từ chối đạo ngay lập tức và bỏ Chúa của tôi !
Linh mục còn nói thêm với quan:
-Tôi có thể hứa với quan, tôi sẽ không dạy đạo nữa, không làm nhà thờ nữa. Còn bỏ đạo thì không !
Chính vì những lời "nói thêm" này của linh mục khiến cho giáo dân và các thừa sai nghi ngờ cha Lộc chối đạo. Và mặc dầu những lời "có thể hứa với quan" như vậy, nhưng quan vẫn chặt 2 ngón tay và cạo trọc đầu linh mục Thế Lộc rồi cho về.
Trở về nhà, linh mục Maurô vẫn tiếp tục làm thầy thuốc. Lần này, cha lưu trú trong nhà một bà góa có đạo. Giáo dân lấy làm chướng mắt, trách cứ cha tại sao chối Chúa dễ dàng như vậy? Cha trả lời thẳng thừng:
-Thánh Phêrô ngày xưa chối Chúa 3 lần hơn tôi. Còn tôi đây mới chỉ có một lần !
Khi thừa sai Labbé lên làm Giám mục Phó (1700-1723) đã gọi linh mục Trần Thế Lộc về Tòa Giám mục (bấy giờ ở Phủ Cam) giao công tác mục vụ và cho phép cử hành Thánh lễ trở lại. Vậy thì có một thời gian cha Maurô Lộc bị kỷ luật không được dâng Thánh lễ (thuật ngữ nhà đạo gọi là "treo chén ") chăng? (Lịch sử giáo phận Huế, tlđd, tr. 77-78).
Linh mục Maurice Trần Thế Lộc qua đời năm 1729 ( Tiểu sử Linh mục Huế, Tập I, tài liệu đánh máy của linh mục Nguyễn Văn Hội, tr. 17).
duylinhpr
12-04-2008, 03:26 PM
LINH MỤC PHANXICÔ VÂN
(1658 ? - 1690)
Không rõ năm sinh và quê quán. Cha còn có tên Nho, Văn. Xuất thân chủng viện Juthia.
Từ bốn năm trước khi hồi hương, cha đã bị bệnh phổi. Khi về nước, cha được gửi đến thừa sai Pierre Langlois (1640-1700) ở địa sở Phủ Cam (Huế) với chức Cha phó địa sở để được thừa sai Langlois điều trị săn sóc. (Xem PL8: Bản đồ vị trí giáo xứ Phủ Cam).
Linh mục Phanxicô Vân là Cha phó xứ Phủ Cam đầu tiên và qua đời tại đây ngày 6 tháng 8 năm 1690, lúc khoảng trên 30 tuổi (Lịch sử giáo phận Huế, tlđd, tr. 60). Suy đoán cha Vân sinh khoảng năm 1658 hoặc 1659.
duylinhpr
12-04-2008, 03:31 PM
LINH MỤC TAĐÊÔ NGHIÊM
( 1659-1692 )
Không rõ quê quán. Xuất thân từ chủng viện Juthia.
Khi hồi hương, linh mục Tađêô vội vàng ra kinh đô Thuận Hóa vì muốn gặp cha Manuel Nguyễn văn Bổn tại đó. Cha Chính giáo phận Labbé ghi lại cho biết: "Khi Tađêô về, ngài nói với một vài phụ nữ đến thăm hãy tìm giúp một chiếc thuyền để ngài ra kinh đô ngay vì ngài muốn gặp cha Manuel Bổn tại đó (...) " (Launay I, sđd, tr. 257, 358. Và Nguyễn Văn Hội, tlđd, tr. 22).
Linh mục Tađêô Nghiêm được điều động ra vùng Quảng Bình giáp giới Bắc Bố Chính của Đàng Ngoài. Linh mục Tađêô phụ trách đến 22 nhà thờ. (Nguyễn Văn Hội, tlđd, tr. 23).
Thời bấy giờ, chúa Ngãi đang cấm đạo gay gắt. Đức cha Francesco Pérez Giám mục Tông tòa Đàng Trong (1691- 1728) chỉ thị cho thừa sai Pierre Langlois gọi linh mục Tađêô Nghiêm và Lôrensô Lâu đang ở Dinh Cát (Quảng Trị) về Thuận Hóa với ý định tìm cách đưa hai linh mục trốn qua Cao Miên. Nhưng sau đó vẫn để hai linh mục ở Thuận Hóa. Chiến dịch bắt đạo vẫn tiếp diễn, giáo dân bị bắt, bị tan tác khốn khổ, cha Tađêô nhiệt tình giúp đỡ giáo dân. Bản thân cha cũng bị bắt giam 2, 3 tháng mang gông cùm nặng nề . Được phóng thích, cha về tạm trú ở Phủ Cam địa sở thừa sai Pierre Langlois. Cha Tađêô Nghiêm bị chứng bệnh về mật và dạ dày. Các thừa sai Barthélémy d’Acosta dòng Tên, Pierre Langlois và De Cappony hợp lực chữa trị mà đành bó tay.
Linh mục Tađêô Nghiêm qua đời vào ngày Chúa nhật mồng 3 tháng 2 năm 1692 tại Phủ cam.
duylinhpr
12-04-2008, 03:50 PM
LINH MỤC LÔRENSÔ HUỲNH VĂN LÂU
(1655 ? - 1732, 1733)
Linh mục này quí danh là Manuel Bổn, là anh bà I-Nê. Thường gọi Manoe (Manuel) Trẻ để phân biệt với một linh mục khóa đàn anh cũng có tên Manuel Bổn là vị linh mục thứ ba của Đàng Trong thụ chức tại Xiêm cuối năm 1672 được gọi Manuel Già.
Để khỏi nhầm lẫn, linh mục Bổn Trẻ cải tên là LORENSÔ LÂN, EMMANUEL LÂU.
Trong tài liệu có khi gọi Ngài là Loren, Lorensô - Emmanuel.
Linh mục Stanilas Nguyễn Văn Ngọc, người sưu tầm tư liệu lịch sử nổi tiếng ở Huế, ghi tên là LÂN, có khi LONG
Về quê quán, gia đình, danh tính của linh mục Lorensô chúng tôi dựa vào "INÊ TỬ ĐẠO VÃN " (Nhà in Tân Định, Sài Gòn 1949, in lần thứ mười hai), một áng thơ Vãn ra đời khoảng năm 1702 kể truyện bà Inê là em linh mục Loren chết trong tù vì đức Tin tại Nha Rư (Phú Yên ngày nay) ngày 25-12-1700 .
Theo thơ Vãn I-NÊ thì linh mục quê quán ở họ đạo Lâm Tuyền, phủ Diên Ninh:
“Diên Ninh ấy phủ, nhà nơi Lâm Tuyền " (Câu 8)
Lâm Tuyền là một họ đạo rất xưa, đã có tên trong thống kê hồi đầu lịch sử Giáo hội Đàng Trong, có tới 200 nhân danh theo bản thống kê làm từ năm 1747, đông nhất trong các họ đạo thuộc vùng Nha Trang thời bấy giờ.
...........
Phủ Diên Ninh ngày nay là tỉnh Khánh Hòa.
Lâm Tuyền là thôn hay làng, xã thuộc huyện nào ở Khánh Hòa?
.......................................
Và hiện nay, giáo phận Nha Trang có "giáo xứ NGỌC THỦY (Gò Dê) thuộc phường Ngọc Hiệp, Tp. Nha Trang". Suy đoán giáo xứ Ngọc Thủy hiện nay, ngày xưa là GÒ DÊ, là một phần trong 5 xứ của "LÂM TOẢN thôn" (là Lâm Toàn (của bản đồ 1838), là Lâm Tuyền (của Inê Vãn) trong huyện vĩnh Xương ngày xưa và trong huyện Khánh Vĩnh hiện nay. Vậy Giáo xứ Ngọc Thuỷ (Gò Dê) chính là giáo xứ Lâm Tuyền.
Linh mục Loren sinh khoảng năm 1654 hoặc 1655. Trong một tài liệu thừa sai Labbé viết vào khoảng năm 1701 nói cha Lorensô độ 46-47 tuổi.
Thiếu thời, Lorensô được gửi đi học chủng viện Juthia và thụ chức linh mục do Giám mục Laneau chủ phong, vào năm nào chưa rõ nhưng chắc chắn khoảng 1685.
Tân linh mục Lorensô trở về Đàng Trong cùng với 3 tân linh mục Maurô Lộc, Tađêô Nghiêm, Phanxicô Vân. Trên đường về nước, các vị dừng lại nhiều ngày trên các hải đảo, trốn tránh bọn cướp biển , lần hồi vào được lãnh thổ Đàng Trong vào cuối năm 1689 hoặc đầu năm 1690.
Sau khi về nước, cha Lorensô "đi Lâm Tuyền là tổ quán 15 bữa, sau vào Đồng Nai cho gặp phụ thân, chẳng ngờ phụ thân gặp trọng thương phải ở lại 4 tháng, luôn dịp lo linh hồn bổn đạo trong ấy". Cụ Calôlô vào lập nghiệp ở Đồng Nai từ lâu, gần 20 năm.
.........
Từ đây, cha Lorensô phụ trách vùng Dinh Cát rộng lớn có đến 30 họ đạo, trú sở chính tại Dương Lệ Văn, một họ đạo lớn với 80 nóc gia toàn Công giáo. Cha cất tại Dương Lệ Văn ngôi nhà thờ 7 căn và một trụ sở 5 căn.
.............
Qua tháng 12-1692, cha lại ra thăm các họ đạo Đại Phong, Trung Quán, Dinh Mười và Đồng Hới tiếp sức cho linh mục Manuel Bổn (Lớn) đang phục vụ tại vùng phía Bắc giáp giới Đàng Ngoài (L.ịch sử giáo xứ Tam Tòa).
Năm 1693, Đức cha F. Pérez Đại diện Tông tòa Đàng Trong đi kinh lược giáo phận. Tháp tùng Đức cha, có linh mục Lorensô.
..............
Từ 1700, giáo dân kinh đô sống trong cảnh điêu tàn, thiếu linh mục. Hai Giám mục Pérez và Labbé lẩn lút ở miền Nam, giáo dân tan đàn tù tội, chết chóc, hai thừa sai De Cappony và De Sennemand ở Phú Xuân như bị giam lỏng, cả giáo sĩ De Arnedo dòng Tên tuy được Minh Vương tin dùng nhưng khác gì cá chậu chim lồng. Chỉ có linh mục Lorensô Lâu đi bán thuốc dạo, chữa bệnh rày đây mai đó để có thể đến với giáo dân.
..................
Những năm cuối đời cha Loren, theo thư của Đức cha Labbé viết năm 1712, tác giả An Phang trích dẫn trong báo NKĐP số 1066 năm 1929 (tr. 620): "Cha Loren chết trong xứ Đồng Nai. "
Có tác giả khác, ông Đinh Đạo trong báo CG và DT số ngày 21-12-1975 cho biết "Linh mục Loren đến năm 1732 mới mất...” , nhưng không nói xuất xứ tư liệu nào ?
Có tác giả khác nữa, linh mục Nguyễn Văn Ngọc giáo phận Huế trong “Tập biên chép các tài liệu sưu tầm”, tư liệu riêng của ngài đoạn nói về giáo xứ Tam Tòa, thấy ghi: "Năm 1733, cha Lorensô bị bệnh và từ trần tại Phủ Cam. Giáo dân Quảng Trị và Quảng Bình rước linh cửu cha ra an táng tại nhà thờ Bố Liêu (Quảng Trị). Có đặt bia mộ bằng đá”. (“Lịch sử Giáo xứ Tam Toà”, của Lm. Nguyễn Văn Ngọc). Cũng rất liếc linh mục không ghi xuất xứ tư liệu nào ?
Tác giả An Phang trong báo NKĐP (số 1066, tr. 620) có viết: "Cha Gabriel Thành, ngày xưa coi họ Bến Gỗ (Đồng Nai) có nói mộ cha Loren ở đám đất trước nhà thờ Bến Gỗ bây giờ (1929). Nói vậy là vì lời truyền về gia quyến bà Inê nói: Cha người (thân phụ linh mục Loren) là ông Carôlô vô lập nghiệp ở đó. Có lẽ lúc cha Loren vào Đồng Nai ở lại giúp bổn đạo rồi chết ở đó ".
Chúng tôi được linh mục Chánh xứ Bố Liêu hiện nay Augutinô Hồ Văn Quý cho biết: Hiện nay trong nhà thờ xứ Bố Liêu có bia mộ linh mục Lorensô. Chúng tôi ra tận Bố Liêu (Quảng Trị) can tấm bia chôn giữa lòng nhà thờ giáo xứ, bia bằng đá, có kích thước 0m39 x 0m54, hoa văn chạy chung quanh, lòng bia đo được 0m29 x 0m43 , có ghi 6 dòng chữ La tinh và hai dòng chữ Nôm bên dưới, nội dung như sau :
IN HOC SACELLO
JACET UT FERTUR
PATER LAURENTIUS
QUI SÆCULO XVIII
IN DISTRICTU DINH CÁT
AD LABORAVIT
Nghĩa là:
THEO TRUYỀN THUYẾT
TRONG NHÀ NGUYỆN NẦY
CÓ MAI TÁNG CHA LÔ-REN-SÔ
ĐÃ LÀM VIỆC TRONG HẠT DINH CÁT
Ở THẾ KỶ XVIII
(Dịch Việt ngữ của linh mục Hồ Văn Quý)
Hai dòng chữ Nôm, bên dưới (đọc từ phải sang trái):
TRONG NHÀ THỜ NI (NÀY) CÓ MẢ CHA LÔ REN
RIP
NHÂN VẬT CÔNG GIÁO VIỆT NAM - TẬP I - Chương 2 - Lê Ngọc Bích
http://www.dunglac.net/baihd/nhanvatconggiao1/chuong3.2.htm
admin
12-04-2008, 08:07 PM
Thân sinh linh mục Loren quí danh Carôlô Huỳnh Lam, thân mẫu là bà Save (Isave), gia đình có 12 anh chị em, Loren là trưởng nam. I-nê Vãn cho biết:
“ Có người đức hạnh danh Lam
Dòng truyền gia đạo nước Nam nên tài.
Carôlô hiệu là người,
Diên Ninh ấy phủ, nhà nơi Lâm Tuyền.
Vợ hiệu Save là tên,
Giai lão kết nguyền đạo đức kính tin.
Sinh đặng mười hai con hiền,
Bảy trai, năm gái, đã nên phước nhà.
Trọn bề trung hiếu thảo hòa,
Loren thứ nhứt thật là trưởng nam ". ( Câu 5-14)
(Carôlô = Sác-lơ= Charles
Save = Isave = Elizabeth)
Cụ Carôlô là người đạo đức, đã bỏ công bỏ của lập một nhà phước chị em Mến Thánh giá tại LâmTuyền lúc Inê mới 5 tuổi.
Các em gái của cha Loren:
"Gái thì đặng một Inê,
Là con thứ tám trọn bề thảo ngay" (Câu 19-20)
(Inê = Anê = Agnès)
Còn có người em gái nữa, là Mát-ta, Anê Bụi. Và người em trai là Du Minh (Đa Minh) Bền.
Linh mục Loren, danh tính là Huỳnh Văn Lâu, vì cô em gái Inê tử đạo họ Huỳnh:
"Mẫu thân Huỳnh thị, mẹ là Inê "
(Câu 377, thư bà Inê gửi vĩnh biệt hai con)
http://www.dunglac.net/baihd/nhanvatconggiao1/chuong3.2.htm
admin
12-04-2008, 08:12 PM
Linh mục Loren sinh khoảng năm 1654 hoặc 1655. Trong một tài liệu thừa sai Labbé viết vào khoảng năm 1701 nói cha Lorensô độ 46-47 tuổi.
Thiếu thời, Lorensô được gửi đi học chủng viện Juthia và thụ chức linh mục do Giám mục Laneau chủ phong, vào năm nào chưa rõ nhưng chắc chắn khoảng 1685.
Tân linh mục Lorensô trở về Đàng Trong cùng với 3 tân linh mục Maurô Lộc, Tađêô Nghiêm, Phanxicô Vân. Trên đường về nước, các vị dừng lại nhiều ngày trên các hải đảo, trốn tránh bọn cướp biển , lần hồi vào được lãnh thổ Đàng Trong vào cuối năm 1689 hoặc đầu năm 1690.
Sau khi về nước, cha Lorensô "đi Lâm Tuyền là tổ quán 15 bữa, sau vào Đồng Nai cho gặp phụ thân, chẳng ngờ phụ thân gặp trọng thương phải ở lại 4 tháng, luôn dịp lo linh hồn bổn đạo trong ấy". Cụ Calôlô vào lập nghiệp ở Đồng Nai từ lâu, gần 20 năm.
Đất Đồng Nai, năm 1679 chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) cho phép bọn cựu thần nhà Minh lưu vong cư trú, mở đất lập phố ở Giản Phố. Đến năm 1698 chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) cho Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh (còn có tên Kính, 1650-1700) lấy xứ Lộc Dã (tức Đồng Nai) đặt huyện Phúc Long. Trên vùng đất Đồng Nai, người có đạo Công giáo đã hiện diện từ thập kỷ 70 của thế kỷ XVII, sinh sống làm ăn và giữ đạo của họ. Linh mục Trần Phổ nghiên cứu vai trò lịch sử dòng Phanxicô ở Việt Nam, cho biết: ”Từ 1670 đã có một họ đạo ở Xích Lam hay Đất Đỏ gần Bà Rịa, nơi giáp giới VIỆT-MIÊN (thời bấy giờ) và là địa đầu làm bàn đạp để tiến sâu vào bên trong châu thổ. Trước 1685 ở Đất Đỏ đã có 300 giáo dân".
Cụ Carôlô Huỳnh Lam lập nghiệp ở vùng nào trên đất Đồng Nai? Có lẽ là vùng Cù Mi Cửa: Có 2 Cù Mi, Cù Mi Thượng (giáp núi) và Cù Mi Cửa. Từ Diên Ninh, bằng đường biển thuyền vào cửa Cù Mi. Inê Vãn nói:
"Cha tới cõi Cù viếng cảnh xa quê " (Câu 42)
"Cõi Cù” đây là vùng Cù Mi Cửa, nơi cụ Carôlô lập nghiệp chăng ?, là vùng sông Xích Lam (hay Xích Ram) ở phía Đông huyện Phước An, phủ Phước Tuy, tỉnh Biên Hòa, sau thuộc tỉnh Bà Rịa, nay thuộc huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.
Theo kế hoạch sắp xếp giữa thừa sai Labbé và thừa sai P. Langlois cùng với nhóm chức sắc giáo dân, khi 4 linh mục về nước sẽ đưa các vị ra Phú Xuân trình diện chúa Ngãi, như thế để tránh sự nghi ngờ và gây thiện cảm trước. Ra đến Hội An, hai cha Maurô Lộc và Lorensô Lâu bị tố cáo từ Xiêm về nước bất hợp pháp và mang theo nhiều vật quý giá. Cha Labbé gấp rút cho người đi liên lạc với hai cha Việt Nam, giới thiệu với quan Câu Kê (quan lo việc hải quan, tài chính), nhờ vậy hai linh mục được ra Phú Xuân bình an .
Cha Lorensô ra Huế vào ngày Chúa nhật lễ Chúa Ba Ngôi, được thừa sai Langlois và Labbé đón tiếp vào ngày lễ Mình Thánh Chúa. Sau đó, buổi chiều, hai thừa sai Langlois, Labbé đưa bốn cha Việt Nam đến thăm quan Chưởng cơ Thị vệ hầu cận chúa Ngãi. Quan này theo đạo Công giáo từ lâu. Các cha và quan Chưởng đàm đạo tại nhà quan nhiều vấn đề liên quan đến tôn giáo.
Ngày lễ thánh Gioan Baotixita, Cha Chính Labbé đưa cha Lorensô ra Dinh Cát, mời các chức sắc họ đạo họp mặt giới thiệu cha Lorensô thay cha Labbé phụ trách toàn vùng Dinh Cát. Ngay từ đầu, cha Lorensô chinh phục được một ông Nho sĩ thông thái mà rất kiêu căng trong địa phương Dinh Cát. Theo lời kể của cha Labbé, hôm đó có một Nho sĩ thông thái nổi tiếng, dân chúng thường gọi là " ông tiến sĩ”, ông này rất kiêu cho thiên hạ là "mục hạ vô nhân" cả. Khi nghe biết có "cha đạo" mới nhận chức, ông cũng tới để thử tài "cha đạo". Thấy ông xuất hiện trong nhà hội giáo dân đang chúc mừng vui vẻ, cha Labbé nói thầm bằng tiếng La tinh đề nghị cha Loren đón tiếp ông tiến sĩ nọ. Cha Loren và ông Nho sĩ trò chuyện trao đổi với nhau những vấn đề triết lý, thần học, thiên văn, địa lý, về hiện tượng nhật thực, nguyệt thực... Cha Loren phân giải rõ ràng, trưng nhiều ví dụ cụ thể chính xác, tranh luận thao thao bất tuyệt, giọng trầm ấm thuyết phục. Ông tiến sĩ nọ bèn bái cha Loren xưng tôn "sư phụ " và nói rằng Dinh Cát thật có phước vì được "cha đạo" thông thái.
Từ đây, cha Lorensô phụ trách vùng Dinh Cát rộng lớn có đến 30 họ đạo, trú sở chính tại Dương Lệ Văn, một họ đạo lớn với 80 nóc gia toàn Công giáo. Cha cất tại Dương Lệ Văn ngôi nhà thờ 7 căn và một trụ sở 5 căn.
Những tân tạo xây cất nhà thờ rộng lớn như vậy khiến cho thừa sai Labbé lo ngại sợ chính quyền và nhân dân địa phương vì ganh ghét mà gây khó dễ. Cha Labbé yêu cầu cha Loren chỉ thực hiện chức năng linh mục trong các việc mang tính mục vụ thôi, không cần mang tính phục vụ. Nhưng cha Loren, vì tính hào phóng vẫn mua đất, mua nhà, làm thêm nhà thờ mới.
Cha Lorensô tư chất bặt thiệp hảo khí lễ nghĩa, thể chất mạnh khỏe ham công việc, là một linh mục tài năng giỏi khoa ngôn ngữ, triết lý, thần học, la ngữ. Cha sống chan hòa với giáo dân, trong giờ kinh nguyện cha xuống ngồi với giáo hữu xướng kinh cho mọi người đọc theo. Cha soạn các kinh đọc theo ý của cha, như kinh cầu ông thánh Mác-tin bắt giáo dân đọc và còn trao cho cha Manuel Bổn (Lớn) phổ biến. Theo quan điểm các thừa sai Pháp thời bấy giờ, các kinh cha Lorensô soạn ra có vẻ "lạc đạo” , can ngăn cha Lorensô và Manuel. Hai linh mục vâng ý Bề trên.
Cha Loren có tính hào phóng cởi mở. Nhân lễ thánh Lorensô (10-3), cha dọn tiệc mời giáo dân quan khách có tới 100 mâm, giáo dân tấp nập tới dự, người không phải giáo dân thì lấy làm ngạc nhiên.
Thời gian linh mục Lorensô phục vụ tại vùng Dinh Cát ở Dương Lệ Văn, sau này qua Kẻ Bố (Bố Liêu), người ta thấy có hai công tác đặc sắc. Một là cất nhà thờ. Hai là đi kinh lý thăm giáo dân khắp nơi có thể đến được. Cất nhà thờ rộng lớn ở Dương Lệ Văn. Thời Đức cha Pérez (1691-1728), cha Loren cất một nhà nguyện lớn và một nhà ở cho Đức cha, Đức cha bằng lòng chấp nhận và đích thân đến thăm nhà cha Loren. Thời kỳ cấm đạo triều chúa Ngãi, 1691, các nhà thờ, nhà nguyện, các cơ sở đều bị triệt hạ.
Đi kinh lý thăm giáo dân trong địa hạt, cha Loren tỏ ra không biết mệt mỏi. Từ cuối tháng 12-1690 cho tới giữa tháng 2-1691, cha Loren lần Lượt đi thăm các họ đạo:
- Về vùng Ruộng Sâu thăm các họ Kế Môn, Văn Quỹ (Kẻ Văn), Kẻ Vịnh, Vĩnh Hưng, Hương Triều, Kim Long, Đông Dương.
-Về Cổ vưu, Phường Sãi nơi đóng bản doanh của quan trấn thủ, tại đây cha gặp một kỷ niệm đẹp. Hôm đó ngày 10 và 11-1-1691 có sứ thần nước Lào đến đây, các quan lớn trong trấn đón tiếp, có một quan lớn thứ hai sau quan trấn thủ có đạo tên là Đôminicô...? và bà vợ là Maria...? Ông quan Đôminicô được cha Loren rửa tội năm 1690 và bà vợ được cha B.d'Acosta rửa tội năm 1689. Hai ông bà vui mừng, xin xưng tội với cha Lorensô.
- Tiếp đến, đi thăm họ Kẻ Bố (Bố Liêu), họ An Lộng, họ Vệ Nghĩa, họ Phúc Lộc và Đại Hòa.
- Thăm họ Phường Hến trong 4 ngày, qua họ Vườn Chuối.
- Lên vùng núi thăm họ Ba Lòng, giáo dân tại chỗ và từ Lào về đông hơn 100 người.
- Các họ đạo chỉ 5 người, 3 người như Tô An, Chuôi (?) cha cũng tới.
- Đến họ Phường Lưu, mệt nhọc quá cha bị ho ra huyết.
- Nghỉ ngơi ít ngày, cha lại ra đi Nhu Lý, đi Kẻ Giáo (Giáo Liêm).
- Trở về Kẻ Bố (Bố Liêu) mừng lễ Đức Mẹ dâng Chúa Giê su vào đền thánh. Rồi đi Đồng Giám, đi họ Đại Be, ra Đông Hà gặp được 3 giáo hữu. Rồi lên họ Bái Trời giáo dân đông cả 100 người. Đến trung tuần tháng 2-1691 kết thúc chuyến kinh lý sau khi thăm viếng hai họ đạo Đồng Giám và Đại Be.
Sau hơn hai tháng kinh lý, cha Lorensô trở về Kẻ Bố nghỉ ngơi, viết bảng tường trình lên bề trên Giáo hội.
admin
12-04-2008, 08:21 PM
Qua tháng 12-1692, cha lại ra thăm các họ đạo Đại Phong, Trung Quán, Dinh Mười và Đồng Hới tiếp sức cho linh mục Manuel Bổn (Lớn) đang phục vụ tại vùng phía Bắc giáp giới Đàng Ngoài (L.ịch sử giáo xứ Tam Tòa).
Năm 1693, Đức cha F. Pérez Đại diện Tông tòa Đàng Trong đi kinh lược giáo phận. Tháp tùng Đức cha, có linh mục Lorensô. Xuất phát từ vùng Quảng Nam Quảng Ngãi ra Hội An, ra kinh đô Phú Xuân. Sau đó ra Dinh Cát, Quảng Bình. Đức cha lưu lại họ Trung Quán 2 ngày, ban phép Thêm Sức được 126 người. Đến họ Dinh Mười (gần cửa sông Nhật Lệ) nghỉ lại 3 ngày Thêm Sức được 165 người. Tới họ Lũy (= họ Đồng Hới = Sáo Bùn, (1797) = Tam Toà, 1886) 2 ngày ban phép Thêm Sức được 70 người. Sau đó ra vùng
Dinh Ngói.
Theo bảng tường trình, cho ta biết sơ qua tình hình dân số các họ đạo thời xưa: Cha Lorensô viết bảng tường trình ghi số giáo dân các họ đạo, có 74 họ đạo bấy giờ thuộc địa hạt giáo phận Huế ngày nay:
Họ đạo đông nhất là Kẻ Đại (Long Đại, Quảng Bình): 600 người.
Họ đạo Dinh Ngói (nay ở huyện Bố Trạch, Quảng Bình): 500 người.
Họ đạo Dương Triều: 420 người.
Họ đạo Bái Trời (nay ở huyện Bến Hải, Quảng Trị): 360 người.
Các họ đạo Phường Hến, Kẻ Bố, An Do, Liêm Công, Trung Quán, Dinh Mười, Ba Lòng, Văn Quĩ (Kẻ Văn): 100-190 người.
Các họ đạo có giáo dân từ 10-50 người: Ngô Xá, An Đôn, Dương Lộc (Quảng Trị) (Lm. Nguyễn Văn Ngọc sưu tầm).
Thời chúa Ngãi cấm đạo từ 1691, thừa sai Langlois phải mời cha Lorensô Quảng Trị, cha Manuel Bổn ở Quảng Bình vào Phú Xuân sắp xếp để đưa cha Chính Labbé trốn sang Cao Miên. Thiếu linh mục (chỉ còn 2 linh mục Việt Nam), cha Lâu phải phụ trách các vùng Ruộng Sâu, Dinh Cát, Quảng Bình... tất cả là 60 họ đạo với chừng 6.579 giáo hữu.
Cha Lorensô được quan trấn thủ Dinh Cát trọng kính, cấp cho cha giấy phép thông hành đóng dấu triện đỏ, nhờ vậy cha đi đây đó dễ đàng, vô sự . Đi đến đâu cha cũng an ủi, giải tội, dâng Thánh lễ cầu nguyện với giáo dân.
Khoảng năm 1679, 1698 cụ thân sinh cha Loren qua đời tại Đồng Nai, bấy giờ cô em Inê Huỳnh Thị Thanh đã 28 tuổi và cha Lorensô xa quê nhà đã 10 năm. Inê Vãn kể lại:
“Inê hai mươi tám thu
Cha tới cõi cù viếng cảnh xa quê.
Những trông báo bổ ơn nghì,
Hay đâu cha đã kíp về thượng thiên" (câu 41-44)
Bà Inê liền viết thư mời cha Loren vào giúp Inê lo liệu việc nhà :
“Inê lòng những lo phiền,
Kính cha, thương mẹ, cầu nguyền chẳng khuây.
Anh thì chịu chức làm thầy
Tôi thì xuất nghiệp, em rày cậy ai?
Mới toan thơ gởi cho thầy:
"Loren, cha hỡi về đây toan cùng " (Câu 45-49)
Được thư, cha Loren vội vàng:
"Trở về bổn quán, dạ âu lo lường.
Lòng thương cha mẹ võ vàng,
Phải về lo liệu toan đương em cùng " (câu 56-58)
Dĩ nhiên Inê mừng mừng tủi tủi dồn dập hỏi ông anh linh mục sau 10 năm biền biệt truyền giáo:
"Cha đã về cùng toan liệu làm sao ?
Mười năm cha ở phương nào ?
Lòng em trông nhớ, rày sao mới về ? " (Câu 60-62)
Cha Loren một mặt giải quyết việc nhà và an ủi các em, chia gia tài điền sản cho các em:
"Loren an ủi mọi bề:
Các em chớ dại, lỗi nghì chẳng nên.
Mới phân gia nghiệp điền viên:
Phần anh phú để cầu nguyền cho cha.
Các phần anh đã chia ra,
Em thì gìn giữ cửa nhà làm ăn.
Thìn lòng giữ đạo cho cần,
Inê em hỡi, giữ phần phước em " (câu 63-70)
(Thìn lòng: giữ gìn lòng dạ đứng đắn).
Mặt khác cho người vào Đồng Nai rước linh cữu thân phụ về quê Diên Ninh an táng:
"Sáu người huynh đệ mới toan,
Đồng Nai tới rước tài quan đam về.
Dần dà cõi nọ xứ kia,
Rước đặng đam về nơi phủ Diên Ninh" (câu 71-74)
( Tài quan: quan tài. Đam về: đem về).
Sau khi chôn cất thân phụ và chia gia tài cho các em, cha Loren trở lại Bình Khương (http://www.gpnt.net/diendan/showpost.php?p=5435&postcount=1) nghỉ ngơi và giúp đỡ giáo dân ở đây:
"Loren từ giã, phăng phăng lại dời.
Bình Khương vừa đến nghỉ ngơi,
Giữ gìn xem sóc mọi nơi linh hồn " (câu 100-102)
Mấy năm cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, dưới triều Minh vương Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) bắt đạo gay gắt, nhất là năm 1700. Gia đình cha Loren ở Lâm Tuyền cũng bị tố cáo. Nguyên là hồi đưa linh cữu cụ Carôlô ở Đồng Nai về Diên Ninh, thuyền chở linh cữu vào sông, vào trạm quan thuế kiểm soát thì gặp rắc rối: Nhân viên quan thuế trong khi làm nhiệm vụ đã cãi vã, đạp chân lên quan tài người chết với thái độ hỗn xược. Theo luật Nhà nước phong kiến, nhân viên này bị đánh đòn và bị đưa ra tòa đại hình ở Nha Rư (http://www.gpnt.net/diendan/showpost.php?p=5437&postcount=3) (Phú Yên), bị án phạt mấy chục quan tiền.
Đến thời bắt đạo gay gắt, nhân viên quan thuế này trả thù đi tố cáo gia đình cụ Carôlô là đạo Công giáo, mấy em và bà Inê bị bắt. Cha Loren nghe tin, vội vào Nha Rư cũng bị bắt. Ban đầu cha bị gông cùm, cha khai ở Dinh Cát có giấy phép thông hành của quan trấn Dinh Cát cấp trước kia, các quan Nha Ru (http://www.gpnt.net/diendan/showpost.php?p=5437&postcount=3) dựa vào đó và dựa vào số tiền đút lót bèn cho Loren tự do. Nhờ vậy Loren đi lại giúp đỡ nhiều người, nhất là gia đình của cha, dâng Thánh lễ, đọc kinh sách cho tù nhân Công giáo, có thừa sai Gouge đang bị tạm giam tham dự.
Cha Loren khăng khăng đòi ở lại Nha Rư (http://www.gpnt.net/diendan/showpost.php?p=5437&postcount=3) để được chết vì đức Tin cùng em gái:
”Này đoạn Loren về sau,
Nghe tin em phải chịu âu tử hình.
Viếng em an ủi tâm tình,
Mới toan liều mình chịu với cùng em.
Đồng sinh đồng tử cho êm !
Tôi xin trọn ngãi Chúa thêm sức cùng.
Anh em dốc chí một lòng
Sinh tử đạo đồng em hỡi Inê ! " (câu 173-180)
admin
12-04-2008, 08:25 PM
Bà Inê khuyên bảo cha Loren đừng quên nhiệm vụ Linh mục, biết bao giáo dân đang trông đợi. Loren vẫn dốc quyết tìm cái chết vì đạo. Cuối cùng, có lá thư Đức cha gửi cho Loren:
“Này lời thầy cả gởi khuyên,
Mọi lời sau trước căn nguyên đọc rằng:
"Chúa cả công bình cầm quờn thưởng phạt,
Phapha chính tước, thầy cả Vít vồ,
Ơn Chúa giúp cho Loren đặng tỏ,
Chúa chuộc tội dạy dỗ muôn dân,
Ba năm ân cần mới toan chịu chết.
Thầy rày dốc quyết muốn chịu tử nghì.
Bỏ bổn đạo đi, ai hầu an ủi ?
Các thầy khác thói ẩn yên đòi phương,
Nấy cho thầy giữ gìn dân lương.
Nỡ nào thầy lại toan về cùng Chúa ?
Ai hầu dạy dỗ bổn đạo linh hồn ?
Phú thầy Nam Việt các con.
Bằng chẳng chịu đài vàng mặt phán,
Lời lành diệu toán đến vận thần cơ.
Khuyên thầy ở lại sớm khuya,
Cùng bổn đạo khỏi thì nguy hiểm,
Giúp hạn mưa dào trợ hiểm,
Khỏi chưng thì hoạn nạn bốn dân,
Ơn Chúa đượm nhuần sáng soi phù hộ.
Nay thơ. "
( Inê Vãn, câu 219-240)
(Thầy cả: Trong mạch văn này có nghĩa Đức cha
Thầy cả Vít vồ: Đức Giám mục
Phapha: Đức Giáo hoàng
Cầm quờn: Cầm quyền
Đòi phương: Nhiều phương)
Từ 1700, giáo dân kinh đô sống trong cảnh điêu tàn, thiếu linh mục. Hai Giám mục Pérez và Labbé lẩn lút ở miền Nam, giáo dân tan đàn tù tội, chết chóc, hai thừa sai De Cappony và De Sennemand ở Phú Xuân như bị giam lỏng, cả giáo sĩ De Arnedo dòng Tên tuy được Minh Vương tin dùng nhưng khác gì cá chậu chim lồng. Chỉ có linh mục Lorensô Lâu đi bán thuốc dạo, chữa bệnh rày đây mai đó để có thể đến với giáo dân.
Năm 1711, cần người thông ngôn với thương gia Hồng Mao (người Anh), triều đình bắt ép cha Loren phải đảm nhận, ngôn ngữ trao đổi thời đó chắc là tiếng La tinh. Nói là triều đình bắt ép cha Lorensô ra làm thông ngôn vì thời đó các thừa sai người Ý, người Pháp... làm thông ngôn phải tự túc ăn uống, đi bộ có khi cả tháng trời theo thương gia ngoại quốc hết sức khổ cực, có khi chịu đói chịu khát, bị trấn lột...
Thừa sai Labbé nhận xét về cha Lorensô: "Cha Lorensô có tinh thần và thể xác lanh lẹ. Ngài có tính khôi hài. Thân xác ngài to lớn mập mạp. Ngài ưa sự quấy rầy của kẻ khác và siêng năng làm việc, công việc của Ngài lu bù Ngài thích dạy dỗ thăm viếng bổn đạo... Ngài tự ý làm luật sống cho mình hằng ngày.
Những năm cuối đời cha Loren, theo thư của Đức cha Labbé viết năm 1712, tác giả An Phang trích dẫn trong báo NKĐP số 1066 năm 1929 (tr. 620): "Cha Loren chết trong xứ Đồng Nai. "
Có tác giả khác, ông Đinh Đạo trong báo CG và DT số ngày 21-12-1975 cho biết "Linh mục Loren đến năm 1732 mới mất...” , nhưng không nói xuất xứ tư liệu nào ?
Có tác giả khác nữa, linh mục Nguyễn Văn Ngọc giáo phận Huế trong “Tập biên chép các tài liệu sưu tầm”, tư liệu riêng của ngài đoạn nói về giáo xứ Tam Tòa, thấy ghi: "Năm 1733, cha Lorensô bị bệnh và từ trần tại Phủ Cam. Giáo dân Quảng Trị và Quảng Bình rước linh cửu cha ra an táng tại nhà thờ Bố Liêu (Quảng Trị). Có đặt bia mộ bằng đá”. (“Lịch sử Giáo xứ Tam Toà”, của Lm. Nguyễn Văn Ngọc). Cũng rất liếc linh mục không ghi xuất xứ tư liệu nào ?
Tác giả An Phang trong báo NKĐP (số 1066, tr. 620) có viết: "Cha Gabriel Thành, ngày xưa coi họ Bến Gỗ (Đồng Nai) có nói mộ cha Loren ở đám đất trước nhà thờ Bến Gỗ bây giờ (1929). Nói vậy là vì lời truyền về gia quyến bà Inê nói: Cha người (thân phụ linh mục Loren) là ông Carôlô vô lập nghiệp ở đó. Có lẽ lúc cha Loren vào Đồng Nai ở lại giúp bổn đạo rồi chết ở đó ".
Chúng tôi được linh mục Chánh xứ Bố Liêu hiện nay Augutinô Hồ Văn Quý cho biết: Hiện nay trong nhà thờ xứ Bố Liêu có bia mộ linh mục Lorensô. Chúng tôi ra tận Bố Liêu (Quảng Trị) can tấm bia chôn giữa lòng nhà thờ giáo xứ, bia bằng đá, có kích thước 0m39 x 0m54, hoa văn chạy chung quanh, lòng bia đo được 0m29 x 0m43 , có ghi 6 dòng chữ La tinh và hai dòng chữ Nôm bên dưới, nội dung như sau (xem bản chụp tấm bia):
IN HOC SACELLO
JACET UT FERTUR
PATER LAURENTIUS
QUI SÆCULO XVIII
IN DISTRICTU DINH CÁT
AD LABORAVIT
Nghĩa là:
THEO TRUYỀN THUYẾT
TRONG NHÀ NGUYỆN NẦY
CÓ MAI TÁNG CHA LÔ-REN-SÔ
ĐÃ LÀM VIỆC TRONG
HẠT DINH CÁT
Ở THẾ KỶ XVIII
(Dịch Việt ngữ của linh mục Hồ Văn Quý)
Hai dòng chữ Nôm, bên dưới (đọc từ phải sang trái):
TRONG NHÀ THỜ NI (NÀY) CÓ MẢ
CHA LÔ REN
RIP
Với khám phá và công bố này, chúng tôi hy vọng vấn đề nơi qua đời và nơi an táng cha Lorensô có thể được sáng tỏ.
http://www.dunglac.net/baihd/nhanvatconggiao1/NhanvatCGVN-PLVanLau.jpg
Hình PL11 : Bia chụp tại nhà thờ giáo xứ Bố Liêu,
xã Triệu Hoa, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Tài liệu tham khảo:
- "Lịch sử giáo phận Huế, Tập 1,2,3 Ronéo của Lm. Nguyễn Văn Hội, Nguyễn Văn Ngọc.
- "Les Origines du Clergé Vietnamien” , của Lm. Nguyễn Hữu Trọng.
- "Báo Nam Kỳ Địa Phận năm 1929, loạt bài của An Phang.
- "Inê Tử đạo Vãn” , Tân Định ấn quán, Sài Gòn 1949.
- "Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn, tỉnh Khánh Hòa" của Nguyễn Đình Đầu, Tp. HCM, 1997.
- Báo CG và DT.
- "Sấm truyền Ca " bản chép tay của Nguyễn Văn Nhạn.
- "Đại Nam Nhất thống chí" NXB Thuận Hóa – Huế 1992.
- "Sổ tay Địa danh Việt Nam”, của Đinh Xuân Vinh, NXB Lao Động Hà Nội, 1996.
- "Dòng Phanxicô trên đất Việt", Lm. Trần Phổ, Ronéo.
- "Lịch sử giáo phận KonTum”, Tài liệu đánh máy của Lm. Trần Sơn Nam, giáo phận KonTum.
- "Công giáo Việt Nam 1945-1995”, CG và DT xuất bản, Tp. HCM 1996.
- "Lịch sử giáo xứ Tam Tòa (Quảng Bình) ", Tài liệu của Lm. Nguyễn Văn Ngọc.
- “ Về sách báo của tác giả Công giáo Thế kỷ XVII”, Trường Đại học Tổng hợp TP HCM - Khoa Ngữ văn,
1993.
- Hội nhập văn hóa của Kitô Giáo tại Việt Nam qua một số tác phẩm và tác giả Công giáo của thế kỷ XVII, XVIII... Tài liệu hội thảo, Ronéo, Tp. HCM 2-4/10/1995.
Bài "Sấm truyền ca của Lữ Y Đoan (1670) " của Nguyễn Văn Trung.
Bài “ Một Cảm tưởng " của Hãn Nguyên Nguyễn Nhã.
Bài của Trần Thái Đỉnh.
Bài của Trần Thanh Đạm.
Bài "Thần học trong mạch sống văn hóa xã hội Á châu" của Msts Lưu Hồng Khanh, Frankfurt, 9-1994.
admin
04-09-2009, 10:13 PM
Tình trạng giáo xứ Động Hải trong thế kỷ XVII, XVIII với các vị chủ chân: Linh mục Manuel Nguyễn Văn Bổn (? – 1698) và Linh mục Lôrensô Huỳnh Văn Lâu (1655?-1733).
Tháng 9 năm 1692, trong một báo cáo gửi về Rôma, linh mục Lorensô Huỳnh Văn Lâu có viết: “Tôi tới thăm các họ Đại Phong, Trung Quán, Dinh Mười, Động Hải, tại vùng này có dinh quan Chưởng Cơ và quân đội chúa Nguyễn, có lũy lớn gọi là lũy Trấn Ninh, ở đây có 50 lính Công Giáo...” [18] Đây là một trong những tư liệu khá ít ỏi còn lại liên quan đến các hoạt động mục vụ của các giáo sĩ tại vùng đất phía nam Quảng Bình, nơi được xem là một trong những cái nôi của đạo Công Giáo Việt Nam cuối thế kỷ XVII.
Các giáo xứ này sau khi được thành lập đã sống đạo và giữ đạo tự lực, không có linh mục coi sóc mà chỉ có những thầy giảng giúp dạy thêm giáo lý, kinh nguyện và tổ chức sinh hoạt mục vụ trong từng thôn, xóm. Chỉ thỉnh thoảng mới có vài vị giáo sĩ ở Huế ra thăm nếu là thời gian được giữ đạo tự do còn trong thời kỳ cấm cách, thì lâu lắm mới có giáo sĩ tới thăm.
Năm 1643, giáo sĩ Đắc-Lộ trên đường thăm lại Thuận Hóa, đã ra tới tận làng Kẻ Đại rửa tội cho khoảng 300 giáo dân. Khoảng năm 1650, linh mục João Barbosa cũng có những nhận định tương tự như linh mục João Cabral về lòng nhiệt thành đạo đức của bổn đạo Đàng Ngoài đặc biệt là Đàng Trong, được cha Đắc-Lộ tóm lược như sau: “Ở Đàng Trong, cụ thể là tại Thành Chiêm, Hội An, bổn đạo rất thích đeo tràng hạtMân Côi trên cổ, mà đeo ngoài cổ áo, chẳng những vì sùng mộ, mà xem ra muốn chứng tỏ cho những người khac biết là mình đã theo đạo Đức Chúa Blời đất. Vào năm 1625, các quan chức Quảng Nam dinh tỏ ra không ưa đạo Hoa Lang, vì cho rằng đó là đạo mọi rợ, ngoại lai, làm cho con gnười mất lòng yêu kính, hiếu thảo với cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Trước tình trạng này, các thừa sai phải yêu cẩu bổn đạo đừng đeo ảnh Thánh giá và tràng hạt ngoài cổ áo. Nhưng bổn đạo cho rằng làm như thế là hèn nhát, không xứng đáng với “con nhà có đạo”. Các cha phải giải thích là đạo không ngăn cản người ta can đảm, mà chỉ ngăn cản kẻ càn đở. Bổn đạo nghe ra, chịu theo lời các cha.” [19] Trong thế kỷ 17, từ biên giới sông Gianh trở vào có tất cả 12 dinh các đơn vị hành chánh sau này được gọi là tỉnh thì lúc bấy giờ gọi là dinh, thí dụ Quảng Bình dinh, Chánh dinh (tức là nơi chúa Nguyễn đóng kinh đô, tức Thừa Thiên), Quảng Nam dinh là nơi thường giao cho người con cả của Chúa làm Trấn thủ để thực tập công việc cai trị, giao thương với các nước ngoài (qua cảng phố Hội An). Nếu toàn bộ lãnh thổ Quảng Bình là một cơ sở quân sự thì phủ trị Động Hải (hay Đồng Hới) cũng là một đơn vị quân sự nhỏ hơn nhưng quan trọng vì là vùng địa đầu giới tuyến. Tư liệu của linh mục Lorensô Lâu cho biết năm 1692, ở họ Lũy (tức giáo xứ Động Hải) có 50 lính Công Giáo thuộc quyền quan Chưởng dinh. Quan đội là cơ cấu được chúa Nguyễn tin cậy nhất vì chỉ có cơ cấu đó mới giữ được chính quyền nhất là trong thời chiến. Những người lính Công Giáo này có lẽ không thuộc về chánh binh tức quân chính quy mà là thuộc binh hay thổ binh. Li Tana trong tác phẩm Xứ Đàng Trong cho biết: “Mỗi tỉnh đều có mộ binh cho địa phương của mình. Đội binh này được gọi là thổ binh (địa phương quân) hoặc thuộc binh (đội quân phụ thuộc). Người ta cho rằng loại quân binh này còn đông hơn gấp nhiều lần đội quân chính quy. Xem ra chúa Nguyễn muốn có nhiều người vào thổ binh hơn là vào quân đội chính quy vì chính quyền trung ương và chính quyền địa phương đều không phải trả lương cho thổ binh. Người gia nhập thổ binh được miễn thuế. Đa số hoạt động như dân quân, tuần tra, phu khuân vác hoặc lao công hơn là binh sĩ thực thụ.” [20] Một số tư liệu cho biết năm 1697, họ Lũy dời về xóm Bùn (Cầu Ngắn) và có tên là giáo xứ Sáo Bùn. Lý do dời về Sáo Bùn không có tư liệu nào nói rõ nhưng ta có thể đôi chút.. Năm 1631, hệ thống lũy Đâu Mâu – Nhật Lệ (trong đó có một phần lũy Trấn Ninh là nơi có giáo xứ Động Hải cũng gọi là họ Lũy) được xây dựng. Để tránh ảnh hưởng của chiến tranh giữa Đàng Ngoài và Đàng Trong mà chiến trường lúc bấy giờ là mặt bắc của phủ trị Đồng Hới nên giáo xứ này phải dời vào khu vực Cầu Ngắn, bên này bờ nam sông Lệ Kỳ. Với vị trí mới này vốn được che chở một phía là sông Lệ Kỳ và một phía là tả ngạn sông nhật Lệ, cương giới xứ đạo Sáo Bùn có vẻ được an ninh hơn. Lý do khác có thể mật độ giáo dân gia tăng nên khu vực cũ (gần lũy Trấn Ninh) đã không thuận tiện cho việc mở mang các cơ sở xã hội như tu viện, viện dục anh v.v... Giáo xứ Sáo Bùn tuy thế cũng không tránh khỏi cảnh chiến tranh hay tai ương tàn phá bởi vì cho đến khi có linh mục Pontvianne nhận bài sai đến giáo xứ Sáo Bùn năm 1864, thì giáo xứ này không có nhà xứ hay rõ hơn nhà xứ chỉ là một nhà tranh ba gian hai chái dựng tạm trên nền đất nhà thờ cũ. Nhà thờ cũ có lẽ bị đốt phá do chiến cuộc?
Các cơ sở vật chất của một giáo xứ tuy cần thiết nhưng quan trọng hơn cả và phải được đánh giá cao hơn cả đó là tinh thần phục vụ của các vị mục tử trong giai đoạn sơ khởi khi hạt giống đức tin mới được gieo xuống, mà đối với giáo xứ Động Hải (họ Lũy), thế kỷ XVIII hay giáo xứ Sáo Bùn trong thế kỷ XIX, hoặc giáo xứ Tam Tòa ở cuối thế kỷ XIX cho đến ngày hôm nay, các linh mục Manuel Nguyễn Văn Bổn hay Lorensô Huỳnh Văn Lâu được coi là những tấm gương đầy hy sinh.
Linh mục Manuel Nguyễn Văn Bổn là vị mục tử tiên khởi của Huế, không rõ năm sinh và quê quán, xuất thân từ chủng viện Juthia [21] thụ phong năm 1672 là năm khỉ sự chấm dứt cuộc phân tranh giữa hại họ Trịnh và Nguyễn. Khi còn chiến tranh với Đàng Ngoài, các chúa Nguyễn cần các vị giáo sĩ Dòng Tên để liên lạc mua thêm súng ống nhất là đại bác, như trường hợp chúa Hiền (1648-1687) đã đưa cho cha Marquez, một giáo sĩ Dòng Tên 10.000 nén bạc để mua súng ở Macao vào khoảng năm 1658. Một năm sau, chờ mãi không thấy cha Marquez trở lại Nam Hà, vị chúa này ra lệnh cấm đạo, triệt hạ tất cả các nhà thờ trong xứ, nhưng rồi mùa xuân 1659, thừa sai Marquez trở lại với các khẩu đại bác cho chúa Nguyễn, lệnh tha đạo lại được ban hành. [22] Nhưng nay chiến tranh đã chấm dứt, không còn nhu cầu cần đến các vị giáo sĩ nữa, các chúa Nguyễn lại trở về với chính sách cũ.
Những năm đầu mới lên cầm quyền, chúa Nguyễn Phúc Chu cấm đạo nghiêm ngặt vì chúa có ý nghi ngờ một số giáo sĩ tham dự vào cuộc nội loạn chống phủ chúa., một số khác bị cáo buộc là mượn áo tu sĩ để dọ thám tin tức. Tất cả chỉ là những cáo buộc vô căn cứ mặc dù chính Adrien Launay trong sách của ông có nêu tên một số giáo sĩ bị tình nghi như Féret, De Caponi, De Sennemand bị truy chụp là có liên lạc với giặc Chân Lạp dưới sự chỉ huy của Nặc ông Thu (1700). Về sau, chính sách đó trở nên mềm dẽo hơn khi bên cạnh Minh Vương có thừa sai Jean de Arnedo vừa là thầy thuốc vừa là người giúp nhà chúa rất nhiều trong ngành khoa học và thiên văn học.
Khoảng tháng 3 năm 1673, linh mục Manuel Bổn cùng với cha Benigne Vachet mang thư và lễ vật của Giám Mục Lambert de la Motte ra Huế yết kiến chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần để xin phép vào giảng đạo. Trên đường đi qua Quảng Ngãi, cha Vachet bị đau nên nhờ thừa sai Mahot đi với cha Bổn ra Huế. Cả hai bị bắt giam nhưng sau đó được thả. Hai linh mục ra được kinh đô Huế lúc đó đóng tại Kim Long, được chúa Hiền tiếp kiến, nhận thư và lễ vật của Đức Cha Lambert rồi cho phép hai vị tư do truyền đạo, xây cất thánh đường v.v... Trong dịp này, linh mục Bổn đã xây cất nhà thờ giáo xứ Đốc Sơ năm 1674.
Tháng tư năm 1674, thừa sai Mahot lại trở ra Huế xin được chúa Hiền cấp giấy phép đi lại tự do trong các tỉnh, nhờ vậy cha Bổn được cử đi giúp mục vụ tại các xứ đạo vùng nam Quàng Bình như giáo xứ Động Hải (Tam Tòa), Trung Quán, Đại Phong, Dinh Mười. Công cuộc truyền giáo của cha Bổn trong những năm đầu đạt nhiều thành quả khiến cho Giám Mục Lambert trong thư gửi cho Giám Mục Pallu đã nói về cha như sau: “Cha Manuel Việt Nam (ý nói cha Manuel Bổn) đã rửa tội được 2000 người trong 6 tháng…...” [23] Có thời gian cha Bổn cùng với cha Vachet tìm cách đi truyền giáo ở vùng núi tây Quảng Ngãi cho người Thượng Đá-Vách nhưng dự án đó không thành và cũng được thừa sai Courtaulin báo cáo về cho Giám Mục Lambert [24]. Tương truyền cha Bổn lúc về già tính tình rất khó, nghiêm khắc quá đáng đối với giáo dân trong công tác mục vụ thí dụ bắt phải thuộc lòng 12 kinh đọc trước khi đến tòa xưng tội (confession), buộc giáo dân phải hiểu hết ý nghĩa Kinh Tin Kính, bắt ông chồng phải dạy bà vợ hay bà vợ phải dạy ông chồng, nếu không biết thì cả hai không được xưng tội v.v... [25]. Ngày 2.11.1698, một trận bão dữ dội xảy ra ở vùng kinh đô Huế, cha Manuel Nguyễn Văn Bổn bị chết chìm tại phá Cầu Hai, cùng chung tai nạn này có 2 thầy giảng, 3 chủng sinh và 1 người con trai một viên suất đội trong quân đội chúa Nguyễn.
Ngày nay giáo dân Tam Tòa đọc lại lịch sử giáo xứ của mình trong tâm tình biết ơn vì nói như linh mục Thánh Gioan Vianney của giáo xứ Ars (Pháp quốc) “linh mục thánh thiện thì giáo dân đạo đức” . Cũng nhờ có những linh mục hoạt động hăng say trong bước đầu xây dựng giáo xứ mà nền tảng đức tin vững vàng được truyền lại cho các thế hệ giáo dân sau này.
Dưới thời các chúa Nguyễn, khi đạo Công Giáo mới được các thừa sai Dòng Tên đến rao giảng tại Đàng Trong (1615), vì phải luôn đối phó với sự cấm đoán, bách hại của nhà cầm quyền cho nên hệ thống tổ chức các xứ đạo chưa đi vào quy củ như dưới thời các giáo sĩ Hội Thừa Sai Paris. Việc bảo lưu các tài liệu liên quan đến hoạt động mục vụ của các cha Dòng Tên trong bước đầu cũng không phải là chuyện dễ dàng mặc dù các vị giáo sĩ nổi tiếng như linh mục Đắc Lộ chẳng hạn đã ra công ghi lại nhật ký, các báo cáo gửi về Bề Trên Tổng Quyền, các thủ bút, tài liệu nghiên cứu v.v...
Vi linh mục thứ hai, nối tiếp công việc của cha Manuel Nguyễn Văn Bổn từng hoạt động trên một địa bàn rộng lớn gồm ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên và cũng đã rảo chân khắp nhiều giáo xứ nam Quảng Bình đó là linh mục Lôrensô Huỳnh Văn Lâu (1655?-1733).
Cha Lorensô Huỳnh Văn Lâu có lẽ sinh khoảng năm 1655 tại giáo xứ Lâm Tuyền, phủ Diên Ninh (tức Diên Khánh), Nha Trang, cũng gọi là giáo xứ Ngọc Thủy (Gò Dê). Em gái của ngài là bà Inê chết rũ tù vì đức tin tại nhà lao Nha Rư (Ninh Hòa, Nha Trang) ngày 25.12.1700. Cha Lorensô con cụ Carôlô Huỳnh Lam, thân mẫu là bà Isave (Elizabeth), nhà có 12 người con là cha là trưởng nam.
Lúc nhỏ linh mục đi tu tại chủng viên Juthia (Thái Lan), thụ chức linh mục do Giám Mục Laneau chủ phong, khoảng năm 1685. Năm 1689 chúa Nguyễn Phúc Chu ra lệnh cho Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh vào mở đất Đồng Nai [26]. Lúc này trên vùng đất Đồng Nai cũng đã có người Công Giáo xuất hiện.
Tân linh mục Lorensô trở về Đàng Trong với 3 tân linh mục Maurô Lộc, Tađêô Nghiêm, Phanxicô Vân. Các thừa sai Labbé và P. Langlois sắp đặt để bốn vị linh mục này ra Huế yết kiến chúa Ngãi Vương. Trước đó họ đã gặp quan Chưởng cơ Thị vệ hầu cận chúa Ngãi.
Lúc bấy giờ cha Labbé là Cha Chính địa phận đưa cha Lôrensô ra Dinh Cát là một giáo hạt với một phạm vi rộng gồm 30 họ đạo. Cha Lôrensô vốn tính hoạt động, cởi mở lại thông thạo nhiều ngôn ngữ. Ngài soạn thảo nhiều kinh bổn cho giáo dân đọc và đối với ngài hai công tác trọng yếu đó là xây cất nhà thờ và đi thăm bổn đạo dù bất cứ vùng xa xôi nào.
Sau các cuộc kinh lý là ngài trở về giáo xứ Kẻ Bố (Bố Liêu, Quảng Trị) nghỉ ngơi rồi viết các bản tường trình hoạt động gửi về Tòa thánh Rôma.
Tháng 12-1692, cha đi thăm các họ đạo Đại Phong, Trung Quán, Dinh Mười và Động Hải ở nam Quảng Bình, tiếp sức cho linh mục Manuel Bổn đang phục vụ tại vùng phía bắc giáp giới Đàng Ngoài.
Năm 1693, linh mục Lôrensô tháp tùng Giám Mục F, Pérez đi kinh lược giáo phận. Xuất phát từ vùng Nam Ngãi, phái đoàn tới Hội An, ra Huế đến Dinh Cát rồi Quảng Bình. Đức Giám Mục lưu lại họ Trung Quán hai ngày, ban phép Thêm Sức cho 126 người, đến họ giáo Dinh Mười nghỉ lại ba ngày Thêm Sức được 165 người, tới họ Lũy (Động Hải) hai ngày, ban phép Thêm Sức được 70 người, sau đó ra vùng Dinh Ngói. Bản tường trình của cha Lôrensô ghi nhận giáo phận Huế lúc bấy giờ có khoảng 74 giáo xứ. [27]
Năm 1700, dưới thời Minh Vương Nguyễn Phúc Chu, một sắc chỉ cấm đạo được ban hành vì tại kinh đô xảy ra việc đốt phá nhà thờ của các cha Dòng Tên và nhà thờ của Cha chính Langlois và cũng do việc một số biện pháp ngăn chặn đã được sử dụng mà không có kết quả. Một chỉ dụ cho phép bắt những người Công giáo đi sưu dịch cho chính quyền và phải nộp thuế nhiều hơn ba lần người không theo đạo hay người bên lương. Từ thời điểm đó, tại kinh đô, giáo dân sống trong sợ hãi, thiếu linh mục coi sóc. Hai giám mục Pérez và Labbé lẩn trốn ở Miền Nam. Một số linh mục bị giam lỏng tại Huế, cha Lôrensô cải trang làm người bán thuốc dạo và chữa bệnh, di chuyển lặng lẽ từ vùng này sang vùng khác để thăm viếng giáo dân. Năm 1711, cha bị triều đình buộc về Huế làm thông ngôn với thương gia Hồng Mao (Anh quốc). Thừa sai Labbé nhận xét về cha Lôrensô như sau: “Cha Lôrensô có tinh thần và thể xác lanh lẹ, Ngài có tính khôi hài. Thân xác ngài to lớn mập mạp. Ngài ưa sự quay rối của kẻ khác và siêng năng làm việc, công việc của Ngài lu bù. Ngài thích dạy dỗ thăm viếng bổn đạo... Ngài tự ý làm luật sống cho mình hằng ngày.”
...
http://vietcatholic.net/News/Html/70818.htm (http://vietcatholic.net/News/Html/70818.htm)
vBulletin v3.5.2, Copyright ©2000-2012, Jelsoft Enterprises Ltd.