PDA

View Full Version : Bài 64 - Hôn Nhân Và Đời Sống Độc Thân Trong Ánh Sáng Của Sự Phục Sinh Thân Xác


admin
10-09-2010, 10:05 PM
HÔN NHÂN VÀ ĐỜI SỐNG ĐỘC THÂN TRONG ÁNH SÁNG CỦA SỰ PHỤC SINH THÂN XÁC


Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II




BUỔI TIẾP KIẾN CHUNG VÀO NGÀY THỨ TƯ, 11/11/1981

Vào ngày thứ tư, 11 tháng 11, vào buối Tiếp Kiến Chung tại Quảng Trường Phaolô VI, Đức Thánh Cha đã tiếp tục bài giáo lý chủ đề thần học thân xác, bài nói chuyện dựa vào cuộc tranh luận giữa Đức Giêsu và các người Luật Sĩ. Sau đây là nội dung của bài nói chuyện của Đức Thánh Cha.

1. Sau một thời gian tạm dừng khá lâu, hôm nay chúng ta sẽ tiếp tục suy tư về những điều mà đã từ lâu chúng ta đã được kêu gọi để suy niệm về thần học thân xác.

Để tiếp tục, đây là lúc thích hợp để nhìn lại những lời trong Tin Mừng mà Đức Kitô đã nói đến liên quan đến sự phục sinh. Những lời này mang ý nghĩa tối quan trọng cho việc hiểu biết hôn nhân theo ý nghĩa Kitô giáo và việc hy sinh đời sống vợ chồng vì nước trời.

Việc phán quyết một cách rắc rối trong Cựu Ước trong lĩnh vực hôn nhân không chỉ làm cho những người Biệt Phái đến hỏi Đức Kitô về sự phân ly trong hôn nhân (x. Mt 19:3-9; Mc 10:2-12 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=mt+19.3-9/mc+10.2-12)). Mà nó cũng làm cho những người phái Xa-đốc có lần đến hỏi Người về điều gọi là luật hôn nhân thế huynh.[1] (http://www.gpnt.net/diendan/#_edn1) Cuộc đối thoại này đều được ghi chép lại bởi các Tin Mừng Nhất Lãm (x. Mt 22:24-30; Mc 12:18-27; Lc 20:27-40 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=mt+22.24-30|mc+12.18-27|lc+20.27-40)). Mặc dù tất cả ba trình thuật này gần như giống hệt như nhau, nhưng chúng ta cũng nhận ra được một vài sự khác biệt, chút ít thôi, nhưng lại hết sức quan trọng. Bởi vì đoạn đối thoại được ghi chép lại ở ba bản văn của Matthêu, Maccô và Luca, một sự phân tích cặn kẽ là hết sức quan trọng, bởi vì nó chứa đựng những yếu tố mà nó có một tầm quan trọng đối với thần học thân xác.

Cùng với hai cuộc đối thoại quan trọng khác, đó là, một cuộc đối thoại mà trong đó Đức Kitô nhắc đến điều mà “tự ban đầu” (x. Mt 19:3-9; Mc 10:2-12 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=mt+19.3-9/mc+10.2-12)), và cuộc đối thoại khác khi mà chính lòng trí con người được kêu gọi (tự con tim), ám chỉ đến ước muốn nhục dục của thân xác như là nguồn cội của tội lỗi (x. Mt 5:27-32 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=mt+5.27-32)), mà giờ đây chúng ta đưa ra để phân tích, tôi cho rằng, nhân tố thứ ba của ba lần mà chính Đức Kitô tuyên bố: một sự khẳng định trong ba lần là hết sức quan trọng và thiết yếu đối với thần học thân xác. Trong cuộc đối thoại này, Đức Giêsu đã ám chỉ đến sự sống lại, như thế mặc khải toàn bộ một khía cạnh mới về mầu nhiệm của con người.

Đức Kitô bác bỏ niềm tin của những người Luật Sĩ

2. Việc mặc khải về khía cạnh này của thân xác, với nội dung hết sức kỳ diệu – nhưng lại liên quan với Tin Mừng được đọc lại như là một tổng thể và với một chiều sâu – lộ ra trong cuộc đối thoại với những người phái Xa-đốc, “ai bảo rằng không có sự sống lại” (Mt 22:23 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=mt+22.23)).[2] (http://www.gpnt.net/diendan/#_edn2) Họ đã đến bắt bẻ Đức Kitô để chứng tỏ vị thế quyền uy của họ. Cuộc tranh luận này là để phủ nhận “giả thuyết về sự sống lại.” Lời tranh luận của những người phái Xa-đốc như sau: “Thưa Thầy, ông Môsê có viết cho chúng ta rằng nếu anh hay em của người nào chết đi, để lại vợ mà không để lại con, thì người ấy phải lấy nàng, để gầy dựng một dòng giống cho anh hay em mình” (Mc 12:19 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=mc+12.19)). Những người phái Xa-đốc đang ám chỉ đến điều gọi là luật hôn nhân thế huynh (x. Dnl 25:5-10 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=dnl+25.5-10)). Trích dẫn đoạn luật lệ xưa này ra rồi, họ liền trình bày tình huống này: “Vậy có bảy anh em trai. Người thứ nhất lấy vợ, nhưng chết đi mà không để lại một đứa con nối dòng. Người thứ hai lấy bà đó, rồi cũng chết mà không để lại một đứa con nối dòng. Người thứ ba cũng vậy. Cả bảy người đều không để lại một đứa con nối dòng. Sau cùng, người đàn bà cũng chết. Trong ngày sống lại, khi họ sống lại, bà ấy sẽ là vợ của ai trong số họ? Vì bảy người đó đã lấy bà làm vợ” (Mc 12:20-23 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=mc+12.20.23)).[3] (http://www.gpnt.net/diendan/#_edn3)

Sự khôn ngoan và quyền năng của chính Thiên Chúa

3. Câu trả lời của Đức Kitô là một trong những câu trả lời chính của Tin Mừng, mà trong đó có một khía cạnh của câu hỏi được mặc khải – chính xác bắt đầu từ những tranh luận thuần tuý con người với những mâu thuẫn – đó là khía cạnh mà nó đối chọi với sự khôn ngoan và quyền lực của chính Thiên Chúa. Tương tự như vậy là trường hợp xảy ra với đồng tiền thuế có hình Caesar trên đó và với mối tương quan đúng đắn giữa điều mà một bên là thần thiêng và một bên là con người (Caesar) trong phạm trù quyền lực (x. Mt 22:15-22 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=mt+22.15-22)). Lần này Đức Giêsu đã trả lời như sau: “Chẳng phải vì không biết Kinh Thánh và quyền năng Thiên Chúa mà các ông lầm sao? Quả vậy, khi người ta từ cõi chết sống lại, thì chẳng còn lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời” (Mc 12:24-25). Đây là câu trả lời cơ bản cho trường hợp này, đó là, cái vấn nạn của chính vấn đề. Khi biết được những suy nghĩ của những người phái Xa-đốc, và nhận ra những ý định thực của họ, Đức Kitô quay lại vấn nạn của sự sống lại, điều mà những người phái Xa-đốc đã chối bỏ: “Còn về vấn để kẻ chết sống lại, các ông đã không đọc trong sách Môsê đoạn nói về bụi gai sao? Thiên Chúa phán với ông ấy thế nào? Người phán: Ta là Thiên Chúa của Ápraham, Thiên Chúa của Ixaác, và Thiên Chúa của Giacóp. Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống” (Mc 12:26-27). Như chúng ta có thể thấy, Đức Kitô đã trích dẫn từ ông Môisê mà chính những người phái Xa-đốc đã nói tới, và kết thúc với lời quả quyết: “Các ông đã lầm to” (Mc 12:27)’

Lời quả quyết khác

4. Đức Kitô nhắc lại lời quả quyết cuối cùng này ngay cả lần thứ hai. Trong thực tế, Ngài đã nói điều này lần đầu tiên ngay lúc mở đầu lời giải thích của mình. Rồi Ngài nói: “Các ông lầm to, bởi vì các ông không biết cả Kinh Thánh lẫn quyền năng của Thiên Chúa” (Mt 22:29). Chúng ta đọc trong Tin Mừng Maccô: “Chẳng phải vì không biết Kinh Thánh và quyền năng của Thiên Chúa mà các ông lầm sao?” (Mc 12:24). Trong Tin Mừng Luca (20:27-36) thì ngược lại, cùng là câu trả lời của Đức Kitô nhưng không có giọng điệu luận chiến, không có “Các ông đã lầm to.” Mặt khác, Ngài rao giảng cùng một điều bởi vì trong câu trả lời Ngài đã giới thiệu nhiều yếu tố mà ta không tìm thấy trong cả Tin Mừng Matthêu lẫn Luca. Và đây là bản văn: “Ðức Giêsu đáp: ‘Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng. Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại’” (Lc 20:34-36). Liên quan đến việc có thể có sự sống lại, Luca – cũng giống như hai Tin Mừng Nhất Lãm khác – tham khảo từ Môisê, đó là, đoạn văn trong Sách Xuất Hành 3:2-6. Đoạn văn này thuật lại rằng nhà lập pháp vĩ đại của giao ước cũ đã nghe tiếng từ bụi gai, mà nó “đang cháy, nhưng không bị thiêu rụi.” những lời sau đây: “Ta là Thiên Chúa của cha ông ngươi, Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, và Thiên Chúa của Giacóp” (Xh 3:6). Cũng tại nơi đó, khi Môisê hỏi tên của Thiên Chúa, ông đã nghe câu trả lời: “Ta là Đấng Hiện Hữu” (Xh 3:14).

Như vậy, nói đến sự sống lại trong tương lai của thân xác, Đức Kitô nói đến quyền năng của Thiên Chúa của kẻ sống. Chúng ta sẽ phải xem xét một cách chi tiết chủ đề này lần sau.



<HR align=left SIZE=1 width="33%">[1] (http://www.gpnt.net/diendan/#_ednref1) Luật này, chứa đựng trong Đnl 25:7-10, nói đến các anh em sống chung dưới một mái nhà. Nếu một người trong những người đó chết đi mà chưa có con, thì người anh hay em của người đó phải cưới người vợ goá của người anh hay em của mình. Đứa con sinh ra sẽ được xem là con của người đã chết, để vì thế mà dòng dõi không bị tiêu diệt và di sản của gia đình vẫn sẽ được giữ gìn. (x. 3:9-4:12).
[2] (http://www.gpnt.net/diendan/#_ednref2) Vào thời Đức Kitô, những người phái Xa-đốc đã thiết lập, trong Do Thái giáo, một ranh giới xung quanh tầng lớp tư tế thống trị. Đối lập với truyền thống truyền khẩu và nền thần học mà nhóm Biệt Phái thiết lập, họ chọn bản văn giải thích theo nghĩa đen của bộ Ngũ Thư mà họ xem như là nguồn chính yếu của tôn giáo Giavê. Bởi vì không có nói đến cuộc sống mai hậu trong hầu hết các sách trong Kinh Thánh, những người phái Xa-đốc bác bỏ học thuyết thế mạc mà người Biệt Phái giảng dạy và quả quyết rằng “linh hồn chết cùng với thân xác” (x. Joseph, Antiquitates Judaicae, XVII, 1.4,16).
Những quan niệm của phái Xa-đốc không được lưu truyền trực tiếp cho chúng ta, tuy nhiên, bởi vì tất cả những bản văn của họ đã bị mất đi sau khi thành Jerusalem bị phá huỷ vào năm 70, giáo phái này cũng biến mất. Chúng ta chỉ có một ít thông tin về nhóm Xa-đốc qua những bản văn của những nhà đối lập tư tưởng của họ.
[3] (http://www.gpnt.net/diendan/#_ednref3) “Trường hợp” mà những người phái Xa-đốc nêu lên cho Đức Giêsu chỉ thuần tuý là một trường hợp theo lý thuyết, mà cùng lúc nhân tiện tấn công luôn quan niệm cơ bản về cuộc sống mai hậu của nhóm Biệt Phái. Họ nói vòng vo, trên thực tế, là niềm tin vào sự sống lại của thân xác dẫn đến việc thừa nhận chế độ một vợ nhiều chồng (nhất thê đa phu), mà nó trái với luật của Thiên Chúa.

Ngọc Thoại chuyển ngữ từ bản tiếng Anh:
L'Osservatore Romano
Weekly Edition in English

Về Mục lục (http://gpnt.net/diendan/showthread.php?t=217)

admin
22-04-2011, 05:34 PM
Tập Ba

XÁC THỂ PHỤC SINH
LVIV
LỜI TRONG «CUỘC ĐỐI CHẤT VỚI NHỮNG NGƯỜI SAĐĐUCÊU» THIẾT YẾU ĐỐI VỚI THẦN HỌC THÂN XÁC
http://www.ubmvgiadinh.org/uploads/pictures/Agata/danghienhuu.jpg1. Chương này bắt đầu một phần mới những suy tư tiếp nối các chương trước về thần học thân xác.
Lần này, để tiếp nối chúng ta cần trở lại với những lời Tin mừng Đức Kitô nói tới sự phục sinh : những lời có tầm quan trọng căn bản để hiểu hôn nhân kitô giáo và «sự chối từ» đời sống vợ chồng «vì Nước Trời».
Những nố luật phức tạp của Cựu ước về hôn nhân khiến những người Sađđucêu đến với Đức Kitô để không những đặt ra cho Người vấn đề hôn nhân bất khả phân li (x. Mt 19,3-9; Mc 10,2-12), mà còn để (ở một lần khác) chất vấn Người về luật gọi là Lêviratô [1]. Cuộc trao đổi này được các Tin mừng Nhất Lãm kể lại khá tương hợp nhau (x. Mt 22,24-30; Mc 12,18-27; Lc 20,27-40). Dù cả ba bản văn được soạn hầu như giống nhau, thế nhưng người ta cũng nhận thấy có vài điểm dị biệt nhỏ nhưng cũng rất ý nghĩa. Vì cuộc trao đổi được kể lại trong ba bổn (Matthêu, Marcô và Luca), cho nên nó cần đi sâu phân tích, xét vì nó chứa đựng nội dung với một ý nghĩa thiết yếu đối với thần học về thân xác.
Ngoài hai cuộc trao đổi quan trọng, đó là : cuộc trao đổi trong đó Đức Kitô nhắc đến «thuở ban đầu» (x.Mt 19,3-9; Mc 10,2-12) và cuộc trao đổi trong đó Người gợi đến phần thâm sâu của con người («lòng») và cho thấy khát vọng và dục vọng xác thịt như mạch nguồn của tội lỗi (Mt 5,27-32), cuộc trao đổi mà chúng ta đưa ra ở đây để phân tích, có thể nói, là phần thứ ba của bộ sưu tập những phát biểu của chính Đức Kitô : bộ sưu tập những lời của Đức Kitô cốt yếu và cơ bản đối với thần học thân xác. Trong cuộc trao đổi này Đức Giêsu liên hệ đến sự phục sinh, điều này mở ra một chiều kích hoàn toàn mới của mầu nhiệm con người.

2. Mạc khải của chiều kích này của thân xác, thật kì diệu về nội dung – và được nối kết với Tin mừng được đọc lại trong toàn thể và tận chiều sâu của nó – xuất hiện trong cuộc đối chất với những người Sađđucêu, là «những người khẳng định không có sự phục sinh» (Mt 22,23) [2]. Họ đã đến với Đức Kitô để trình bày một lập luận, mà theo đánh giá của họ, củng cố cho quan điểm của họ hợp lí. Lập luận ấy phải đối nghịch cùng «giả thuyết về sự phục sinh». Những người Sađđucêu lí luận như sau: «Thưa Thầy, ông Môsê có viết cho chúng ta rằng nếu anh hay em của một người nào chết đi, để lại vợ mà không để lại con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình» (Mc 12,19). Những người Sađđucêu ở đây qui chiếu đến một luật gọi là lêviratô (x. Đnl 25,5-10), và nối kết lại với luật cổ ấy họ trình bày “trường hợp” sau đây: «Vậy có bảy anh em trai. Người thứ nhất lấy vợ, nhưng chết đi mà không để lại một đứa con nối dòng. Người thứ hai lấy bà đó, rồi cũng chết mà không để lại một đứa con nối dòng. Người thứ ba cũng vậy. Cả bảy người đều không để lại một đứa con nối dòng. Sau cùng, người đàn bà cũng chết. Trong ngày phục sinh, khi họ sống lại, bà ấy sẽ là vợ của ai trong số họ? Vì cả bảy người đó đã lấy bà làm vợ» (Mc 12,20-23) [3].

3. Câu trả lời của Đức Kitô là một trong những chìa khóa của Tin Mừng mạc khải – chính khởi đi từ những lí luận thuần túy nhân loại và tương phản với chúng – một chiều kích khác của vấn đề, đó là sự khôn ngoan và quyền năng của chính Thiên Chúa . Tương tự, ví dụ như, trường hợp của đồng xu nộp thuế có in hình hoàng đế Cêsar và mối tương quan trong lãnh vực năng quyền đúng đắn giữa cái gì thuộc về Thiên Chúa và cái gì thuộc về thế gian («thuộc về Cêsar») (x. Mt 22,15-22). Lần này Đức Giêsu trả lời như sau: «Chẳng phải vì không biết Kinh Thánh và quyền năng Thiên Chúa mà các ông lầm sao? Quả vậy, khi người ta từ cõi chết sống lại, thì chẳng còn lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời» (Mc 12,24-25). Đây là câu trả lời căn bản cho «trường hợp» này, tức cho vấn đề đang nói đến ở đấy. Biết quan niệm của những người Sađđucêu và nhận ra ngay đích thị ý hướng của họ, ngài nói tiếp vấn đề về sự sống lại mà những người Sađđucêu vốn khước từ: «Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, các ông đã không đọc trong sách Môsê đoạn nói về bụi gai sao? Thiên Chúa phán với ông ấy thế nào? Người phán: Ta là Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Giacop. Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống» (Mc 12,26-27). Như ta thấy, Đức Kitô trích dẫn chính Môsê, cũng là người mà những người Sađđucêu đã nại đến, và kết thúc bằng một lời khẳng định: «Các ông lầm to» (Mc 12,27).

4. Lời khẳng quyết này cũng được Đức Kitô lặp lại lần thứ hai. Quả thật, lần thứ nhất ngài tuyên bố như thế vào lúc bắt đầu giải thích. Khi ấy Người nói: «Các ông lầm, vì không biết Kinh Thánh, cũng chẳng biết quyền năng Thiên Chúa» chúng ta đọc thấy như vậy trong Matthêu (Mt 22,29). Và trong Marcô: «Chẳng phải vì không biết Kinh Thánh và quyền năng Thiên Chúa mà các ông lầm sao?» (Mc 12,24). Thế nhưng, cùng một câu trả lời ấy của Đức Kitô trong bản của Luca (20,27-36) lại thiếu đi tính chất tranh luận, không có câu «các ông lầm to». Tuy nhiên, Người tuyên bố cùng một sự kiện ấy đang khi giới thiệu qua câu trả lời của mình một vài yếu tố cả trong Matthêu và trong Marcô cũng không có. Sau đây là chính bản văn: «Đức Giêsu đáp : “Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng. Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại» (Lc 20,34-36). Về vấn đề phục sinh, Luca – cũng như hai tác giả nhất lãm kia – tham chiếu đến Môsê, hay đúng hơn là đoạn Sách Xuất Hành 3,2-6 kể lại rằng vị lập pháp vĩ đại của Cựu ước đã nghe từ bụi cây «cháy bừng nhưng không bị thiêu rụi» những lời sau đây: «Ta là Thiên Chúa của cha ngươi, Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Giacop» (Xh3,6). Cũng nơi ấy, khi Môsê hỏi Tên của Thiên Chúa, ông đã nghe đáp rằng: «Ta là Đấng Hiện Hữu» (Xh 3,14).
Như vậy, khi nói về sự phục sinh tương lai của thân xác, Đức Kitô nại tới chính quyền năng của Thiên Chúa hằng sống. Chúng tôi sẽ xét đến luận cứ này một cách đặc biệt trong lần sau.

Louis Nguyễn Anh Tuấn Chuyển dịch

--------------------------------
[1] Luật này, nói trong Đnl 25,7-10, liên hệ đến những người anh em sống trong cùng một mái nhà. Nếu một người trong số đó chết đi mà không có con, người anh/em của kẻ đã chết đó phải lấy người phụ nữ góa chồng ấy làm vợ. Đứa con sinh ra do cuộc kết hợp này được công nhận như con của kẻ quá cố, hầu dòng dõi của người ấy không bị tắt ngấm và của thừa kế được bảo tồn trong gia đình (x. St 38,8).
[2] Vào thời của Đức Kitô, những người Sađđucêu, trong bối cảnh của Do thái giáo, thành một giáo phái liên kết với tầng lớp tư tế quí tộc. Ngược với truyền thống truyền khẩu và thần học do những người Pharisêu chủ trương, những người Sađđucêu không chấp nhận lối giải thích sát mặt chữ sách Ngũ Thư, sách mà họ xem như nguồn chính yếu của tôn giáo Giavê. Vì trong những quyển sách Thánh cổ nhất không hề có đề cập tới đời sống bên kia nấm mồ, những người Sađđucêu từ chối cánh chung luận mà những người Pharisêu chủ trương, và khẳng định rằng «các linh hồn chết cùng với thân xác» (x. Joseph., Antiquitates Judaicae, XVII, 1. 4,16).
Thế nhưng các quan niệm của những người Sađđucêu không được trực tiếp biết đến nhiều, bởi lẽ mọi văn thư của họ đã bị mất mát sau khi thành Giêrusalem bị hủy diệt năm 70 và giáo phái đó cũng tan biến. Thông tin về nhóm Sađđucêu rất hiếm hoi. Chúng ta biết gì về họ là nhờ các tài liệu còn lưu lại của các đối thủ về ý thức hệ của họ.
[3] Liên hệ tới Đức Giêsu trong một “vụ việc” thuần túy lí thuyết, những người Sađđucêu cũng muốn tấn công những người Pharisêu về quan niệm từ xa xưa của họ về sự sống sau khi xác sống lại. Họ nói bóng gió rằng nếu tin có sự sống lại vị tất người ta phải chấp nhận tình trạng đa thê, đó là điều nghịch cùng Lề Luật của Thiên Chúa.