admin
02-10-2010, 02:11 AM
Giáo huấn của Thánh Phaolô về Đức Khiết Tịnh như là “đời sống theo Chúa Thánh Thần”
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II
Buổi tiếp kiến chung ngày 18 tháng Ba năm 1981
1. Trong cuộc gặp gỡ của chúng ta một vài tuần trước đây, chúng ta đã tập trung sự chú ý vào đoạn Thư Thứ Nhất gửi tín hữu Côrintô, trong đó Thánh Phaolô gọi thân xác con người là «đền thờ của Chúa Thánh Thần». Ngài viết: «Hay anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao? Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em là Thánh Thần chính Thiên Chúa đã ban cho anh em. Như thế, anh em đâu còn thuộc về mình nữa? vì Thiên Chúa đã trả giá đắt mà chuộc lấy anh em» (1 Cor 6,19-20 (http://www.giaoly.org/tk/tk.php?q=1cor+6:19-20)) . «Nào anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là phần thân thể của Đức Ki-tô sao?» (1 Cor 6,15 (http://www.giaoly.org/tk/tk.php?q=1cor+6:15)). Thánh Thánh Tông Đồ chỉ cho thấy mầu nhiệm «cứu chuộc thân xác», hoàn tất do Chúa Kitô, như là một nguồn nghĩa vụ luân lý đặc biệt, ràng buộc các Kitô hữu với đời sống khiết tịnh, với việc mà chính Thánh Phaolô định nghĩa cách khác như là sự đòi hỏi «gìn giữ thân xác mình trong sự thánh thiện và trọng kính». (1 Thes 4,4 (http://www.giaoly.org/tk/tk.php?q=1Thes+4:4)).
Ơn đạo đức phục vụ cho sự khiết tịnh
2. Tuy nhiên, chúng ta sẽ không khám phá được hoàn toàn sự phong phú của tư tưởng chứa đựng trong các bản văn của Thánh Phaolô, nếu chúng ta không lưu ý rằng các mầu nhiệm cứu chuộc sinh hoa trái nơi con người theo cách của ân sủng. Theo như lời Thánh Tông Đồ, Chúa Thánh Thần vào trong thân xác con người như là vào trong «đền thờ» của riêng mình, ngự ở đó và hoạt động cùng với những ơn thiêng liêng của mình. Trong số các ơn này, được biết đến trong lịch sử tu đức như là bảy ơn của Chúa Thánh Thần, ơn phù hợp nhất với nhân đức khiết tịnh có lẽ là ơn «đạo đức» (eusebeia, pietatis donum).[1] Nếu đức khiết tịnh chuẩn bị sẵn sàng con người để «gìn giữ thân xác mình trong sự thánh thiện và trọng kính», như chúng ta đọc thấy trong Thư I Thexalonica 4,3-5 (http://www.giaoly.org/tk/tk.php?q=1Thes+4:3-5), thì ơn đạo đức, là ơn của Chúa Thánh Thần, dường như phục vụ cho đức khiết tịnh một cách đặc biệt, bằng cách làm cho chủ thể nhân vị nhạy bén với cái phẩm tính thuộc về chính thân xác con người nhờ mầu nhiệm tạo dựng và cứu chuộc. Nhờ ơn đạo đức, những lời của thánh Phaolô có được sự thuyết phục của một trải nghiệm và trở nên sự thật sống động và được thực hiện qua hành các hành vi. Những lời ấy cũng mở ra một lối thâm nhập đầy đủ nhất vào kinh nghiệm về ý nghĩa hôn phối của thân xác và của sự tự do trao hiến được đính kết với thân xác ấy, nhờ đó, hé lộ dung nhan sâu xa của khiết tịnh và mối ràng buộc hữu cơ với tình yêu.
Hoa quả của việc được Chúa Thánh Thần cư ngụ
3. Mặc dù việc giữ gìn thân xác mình «trong sự thánh thiện và trọng kính» được hình thành nhờ vào sự kiêng tránh «việc ô uế» - và con đường ấy không thể thiếu được – thế nhưng lại luôn sinh hoa quả trong kinh nghiệm sâu xa nhất của tình yêu, được ghi khắc từ «thuở ban đầu», theo hình ảnh và giống như chính Thiên Chúa, nơi tất cả mọi người và do đó cũng nơi thân xác của họ. Vì thế, Thánh Phaolô kết thúc luận điểm của ngài trong chương 6 của Thư Thứ Nhất gửi tín hữu Côrintô với một lời khuyến khích đầy ý nghĩa: «Vậy anh em hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em» (câu 20 (http://www.giaoly.org/tk/tk.php?q=1cor+6:20)).
Đức khiết tịnh, là nhân đức nghĩa là khả năng «gìn giữ thân xác mình trong thánh thiện và trọng kính», được hỗ trợ bằng ơn đạo đức, hoa quả của việc Chúa Thánh Thần cư ngụ trong «đền thờ» thân xác, thực hiện nơi thân xác ấy một phẩm chất trong mối tương quan liên vị hoàn hảo đến nỗi nơi thân xác ấy chính Thiên Chúa được vinh quang. Đức khiết tịnh là vinh quang của thân xác con người trước mặt Thiên Chúa. Chính vinh quang của Thiên Chúa trong thân xác con người, mà qua đó tính nam và tính nữ được thể hiện. Từ nhân đức khiết tịnh này nẩy sinh vẻ đẹp độc đáo, thấm đượm vào mọi lãnh vực của đời sống chung hỗ tương của con người và cho phép thể hiện ở đó tính đơn sơ và sâu sắc, tính thân mật và xác thực không trùng lắp của việc tín thác nhân vị. (Có lẽ vào dịp khác sau này chúng ta sẽ bàn đến vấn đề này cách sâu rộng hơn. Mối ràng buộc giữa đức khiết tịnh và tình yêu và cũng là mối ràng buộc của chính sự khiết tịnh trong tình yêu với ơn Chúa Thánh Thần là ơn đạo đức, cấu thành nên kế đồ ít được biết đến về thần học thân xác, tuy nhiên lại đáng để đào sâu cách đặc biệt. Điều này có lẽ sẽ được thực hiện trong loạt bài phân tích về tính bí tích của hôn nhân).
Trong Cựu Ước
4. Và bây giờ tham chiếu một chút vào Cựu Ước. Giáo huấn của Thánh Phaolô về đức khiết tịnh, hiểu như là «đời sống theo Chúa Thánh Thần», dường như chỉ ra một sự kế tục nào đó đối với các Sách «thể loại khôn ngoan» trong Cựu Ước. Chẳng hạn, chúng ta gặp thấy ở đó lời cầu nguyện sau đây xin được sự trong sạch trong tư tưởng, lời nói và trong hành động: «Lạy Đức Chúa là Cha và Thiên Chúa của đời con ... xin đẩy dục vọng xa khỏi con, xin chớ để thói ăn chơi truỵ lạc thống trị con, đừng để con đắm chìm trong những dục vọng trơ trẽn» (Hc 23,4-6 (http://www.giaoly.org/tk/tk.php?q=huan_ca+23.4-6)).
Thật vậy, sự khiết tịnh là điều kiện để tìm thấy khôn ngoan để mà theo đuổi, như chúng ta đọc thấy trong cùng sách trên: «Tôi đã hướng lòng về đức khôn ngoan, và khi giữ mình trong sạch, tôi tìm được đức khôn ngoan.» (Hc 51,20 (http://www.giaoly.org/tk/tk.php?q=hc+51.20)).
Hơn nữa, chúng ta cũng có thể cách nào đó xem xét bản văn sách Khôn Ngoan, được biết đến trong phụng vụ theo bản dịch Kinh Thánh La Tinh Phổ Thông (Vulgata): «Scrivi quoniam aliter non possum esse continens, nisi Deus det; et hoc ipsum erat sapientiae, scire, cuius esset hoc donum» (Nhưng tôi vẫn hiểu rằng : Đức Khôn Ngoan, tôi không thể có được, nếu Thiên Chúa chẳng ban cho tôi, - biết được ơn này do ai ban tặng, thì cũng đã khôn ngoan phần nào rồi) (Kn 8,21 (http://www.giaoly.org/tk/tk.php?q=kn+8:21)). [2]
Theo khái niệm này, không chỉ đức khiết tịnh là điều kiện cho sự khôn ngoan, mà có lẽ sự khôn ngoan còn là điều kiện cho sự khiết tịnh nữa, như một ơn đặc biệt của Thiên Chúa. Dường như trong bản văn khôn ngoan nói trên ý nghĩa kép của sự khiết tịnh đã được đánh nổi lên: như là một nhân đức và một ơn huệ. Nhân đức là để phục vụ cho sự khôn ngoan, và sự khôn ngoan là một chuẩn bị trước để đón nhận ơn huệ đến từ Thiên Chúa. Ơn huệ này củng cố nhân đức và làm cho nó hưởng được, nhờ sự khôn ngoan, những hoa quả của một lối xử sự và một đời sống trong sạch.
Cái nhìn của Thiên Chúa
5. Cũng như Đức Kitô, trong Bát Phúc của Bài Giảng Trên Núi, nhắc đến những người «có lòng trong sạch», đã làm nổi bật mối phúc được «nhìn thấy Thiên Chúa», hoa quả của sự trong sạch và trong viễn tượng cánh chung, thì Thánh Phaolô, đến lượt mình cũng đưa ra ánh sáng sự toả chiếu của nó trong các chiều kích đời tạm này, khi viết: «Mọi sự đều trong sạch với những người trong sạch. Nhưng với những kẻ nhiễm uế và không có đức tin, thì không có gì là trong sạch cả; trái lại, trí khôn và lương tâm của họ đã bị nhiễm uế. Họ tuyên bố là biết Thiên Chúa, nhưng trong hành động họ lại chối Người...» (Tit 1,15-16 (http://www.giaoly.org/tk/tk.php?q=tit+1:15-16)). Những lời này có thể cũng quy chiếu về sự khiết tịnh theo nghĩa chung chung lẫn nghĩa chuyên biệt, giống như quy chiếu về những ghi chú đặc trưng về các điều thiện luân lý. Nhờ khái niệm của Thánh Phaolô về khiết tịnh theo ý nghĩa được nói đến trong Thư I Thessalonica (4,3-5 (http://www.giaoly.org/tk/tk.php?q=1Thes+4:3-5)) và Thư I Côrintô (6,13-20 (http://www.giaoly.org/tk/tk.php?q=1cor+6:13-20)), nghĩa là, theo ý nghĩa của «đời sống theo Chúa Thánh Thần», cũng như kết quả của toàn bộ những nghiên cứu này của chúng ta, dường như là nền tảng cho nền nhân học của sự tái sinh trong Chúa Thánh Thần (x. Ga 3,5 tt. (http://www.giaoly.org/tk/tk.php?q=ga+3:5-6)). Khái niệm đó phát triển từ cội rễ nằm vào trong thực tại ơn cứu chuộc thân xác, được Đức Kitô thực hiện hoàn tất nơi việc phục sinh. Có nhiều lý do sâu xa để kết nối toàn bộ chủ đề về sự khiết tịnh với những lời của Tin Mừng, mà Chúa Kitô nhắc đến sự sống lại (và đó sẽ là đề tài của giai đoạn cuối trong loạt bài nghiên cứu của chúng ta). Ở đây chúng ta trước tiên đặt chủ đề khiết tịnh trong tương quan với đạo lý (ethos) của việc cứu chuộc thân xác.
Nại đến “tâm lòng”
6. Cách hiểu và trình bày sự khiết tịnh - thừa hưởng từ truyền thống của Cựu Ước và đặc trưng là của những Sách «thể loại khôn ngoan» - đã chắc chắn là một sự chuẩn bị gián tiếp, nhưng thực sự cho giáo huấn của Thánh Phaolô về sự khiết tịnh được hiểu như là «đời sống theo Chúa Thánh Thần». Không chút nghi ngờ cách này cũng làm cho các những người nghe Bài Giảng trên núi dễ dàng hiểu được những lời của Đức Kitô, khi Người nhắc đến «lòng» con người để giải thích về điều răn «Chớ phạm tội ngoại tình»,. Toàn bộ những suy tư của chúng ta theo cách này đã có thể minh chứng, ít là ở mức độ nào đó, với sự súc tích và sâu xa ấy, chúng ta phân biệt được giáo huấn Thánh Phaolô về khiết tịnh nơi cùng những nguồn Cựu Ước và Tin Mừng.
-----
Ghi chú:
[1] Eusebeia hoặc pietas trong thời Hy-La thường chỉ sự tôn kính các thần (như "thờ phượng"), nhưng còn giữ ý nghĩa nguyên thuỷ rộng rãi hơn của sự kính trọng đối với những cấu trúc quan trọng.
Eusebeia qui định cách cư xử qua lại giữa những người cùng huyết thống, những quan hệ giữa vợ chồng, và cũng quy định thái độ cần phải có của quân binh đối với César hoặc các nô lệ đối với chủ.
Trong Tân Ước, chỉ những bản văn muộn thời mới áp dụng eusebeia cho các Kitô hữu; trong những bản văn xưa hơn thuật ngữ này chỉ các đặc biệt những "người lương thiện" (Cv 10,2.7; 17,23 (http://www.giaoly.org/tk/tk.php?q=tdcv+10:2,7/17:23)).
Và như thế từ Hy lạp eusebeia, cũng như từ ngữ donum pietatis, mặc dù chắc chắn qui chiếu về việc tôn kính thần thánh, vẫn có nền tảng phổ biến theo nghĩa rộng về những tương quan lien vị (cf. W. Foerster, art. eusebeia, "Từ điển thần học Tân Ước", Vol. 7, ed. G. Kittel, G. Bromley [Grand Rapids: Eerdmans, 1971], pp. 177-182).
[2] Bản dịch Phổ Thông này, được duy trì bởi nhóm Neo-Vulgate (Tân Phổ Thông) và bởi phụng vụ, được Thánh Augustinô trích dẫn nhiều lần (De S. Virg., par. 43; Confess. VI, 11; X, 29; Serm. CLX, 7), dù vậy, đã thay đổi ý nghĩa của từ gốc Hy lạp, mà ta có thể dịch như sau: "Nói khác đi, hiểu rằng tôi sẽ không có được nó [Khôn Ngoan], nếu Thiên Chúa không ban nó cho tôi...
Lm. Đôminicô Nguyễn Công Đắc chuyển ngữ
Về mục lục (http://gpnt.net/diendan/showthread.php?t=217)
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II
Buổi tiếp kiến chung ngày 18 tháng Ba năm 1981
1. Trong cuộc gặp gỡ của chúng ta một vài tuần trước đây, chúng ta đã tập trung sự chú ý vào đoạn Thư Thứ Nhất gửi tín hữu Côrintô, trong đó Thánh Phaolô gọi thân xác con người là «đền thờ của Chúa Thánh Thần». Ngài viết: «Hay anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao? Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em là Thánh Thần chính Thiên Chúa đã ban cho anh em. Như thế, anh em đâu còn thuộc về mình nữa? vì Thiên Chúa đã trả giá đắt mà chuộc lấy anh em» (1 Cor 6,19-20 (http://www.giaoly.org/tk/tk.php?q=1cor+6:19-20)) . «Nào anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là phần thân thể của Đức Ki-tô sao?» (1 Cor 6,15 (http://www.giaoly.org/tk/tk.php?q=1cor+6:15)). Thánh Thánh Tông Đồ chỉ cho thấy mầu nhiệm «cứu chuộc thân xác», hoàn tất do Chúa Kitô, như là một nguồn nghĩa vụ luân lý đặc biệt, ràng buộc các Kitô hữu với đời sống khiết tịnh, với việc mà chính Thánh Phaolô định nghĩa cách khác như là sự đòi hỏi «gìn giữ thân xác mình trong sự thánh thiện và trọng kính». (1 Thes 4,4 (http://www.giaoly.org/tk/tk.php?q=1Thes+4:4)).
Ơn đạo đức phục vụ cho sự khiết tịnh
2. Tuy nhiên, chúng ta sẽ không khám phá được hoàn toàn sự phong phú của tư tưởng chứa đựng trong các bản văn của Thánh Phaolô, nếu chúng ta không lưu ý rằng các mầu nhiệm cứu chuộc sinh hoa trái nơi con người theo cách của ân sủng. Theo như lời Thánh Tông Đồ, Chúa Thánh Thần vào trong thân xác con người như là vào trong «đền thờ» của riêng mình, ngự ở đó và hoạt động cùng với những ơn thiêng liêng của mình. Trong số các ơn này, được biết đến trong lịch sử tu đức như là bảy ơn của Chúa Thánh Thần, ơn phù hợp nhất với nhân đức khiết tịnh có lẽ là ơn «đạo đức» (eusebeia, pietatis donum).[1] Nếu đức khiết tịnh chuẩn bị sẵn sàng con người để «gìn giữ thân xác mình trong sự thánh thiện và trọng kính», như chúng ta đọc thấy trong Thư I Thexalonica 4,3-5 (http://www.giaoly.org/tk/tk.php?q=1Thes+4:3-5), thì ơn đạo đức, là ơn của Chúa Thánh Thần, dường như phục vụ cho đức khiết tịnh một cách đặc biệt, bằng cách làm cho chủ thể nhân vị nhạy bén với cái phẩm tính thuộc về chính thân xác con người nhờ mầu nhiệm tạo dựng và cứu chuộc. Nhờ ơn đạo đức, những lời của thánh Phaolô có được sự thuyết phục của một trải nghiệm và trở nên sự thật sống động và được thực hiện qua hành các hành vi. Những lời ấy cũng mở ra một lối thâm nhập đầy đủ nhất vào kinh nghiệm về ý nghĩa hôn phối của thân xác và của sự tự do trao hiến được đính kết với thân xác ấy, nhờ đó, hé lộ dung nhan sâu xa của khiết tịnh và mối ràng buộc hữu cơ với tình yêu.
Hoa quả của việc được Chúa Thánh Thần cư ngụ
3. Mặc dù việc giữ gìn thân xác mình «trong sự thánh thiện và trọng kính» được hình thành nhờ vào sự kiêng tránh «việc ô uế» - và con đường ấy không thể thiếu được – thế nhưng lại luôn sinh hoa quả trong kinh nghiệm sâu xa nhất của tình yêu, được ghi khắc từ «thuở ban đầu», theo hình ảnh và giống như chính Thiên Chúa, nơi tất cả mọi người và do đó cũng nơi thân xác của họ. Vì thế, Thánh Phaolô kết thúc luận điểm của ngài trong chương 6 của Thư Thứ Nhất gửi tín hữu Côrintô với một lời khuyến khích đầy ý nghĩa: «Vậy anh em hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em» (câu 20 (http://www.giaoly.org/tk/tk.php?q=1cor+6:20)).
Đức khiết tịnh, là nhân đức nghĩa là khả năng «gìn giữ thân xác mình trong thánh thiện và trọng kính», được hỗ trợ bằng ơn đạo đức, hoa quả của việc Chúa Thánh Thần cư ngụ trong «đền thờ» thân xác, thực hiện nơi thân xác ấy một phẩm chất trong mối tương quan liên vị hoàn hảo đến nỗi nơi thân xác ấy chính Thiên Chúa được vinh quang. Đức khiết tịnh là vinh quang của thân xác con người trước mặt Thiên Chúa. Chính vinh quang của Thiên Chúa trong thân xác con người, mà qua đó tính nam và tính nữ được thể hiện. Từ nhân đức khiết tịnh này nẩy sinh vẻ đẹp độc đáo, thấm đượm vào mọi lãnh vực của đời sống chung hỗ tương của con người và cho phép thể hiện ở đó tính đơn sơ và sâu sắc, tính thân mật và xác thực không trùng lắp của việc tín thác nhân vị. (Có lẽ vào dịp khác sau này chúng ta sẽ bàn đến vấn đề này cách sâu rộng hơn. Mối ràng buộc giữa đức khiết tịnh và tình yêu và cũng là mối ràng buộc của chính sự khiết tịnh trong tình yêu với ơn Chúa Thánh Thần là ơn đạo đức, cấu thành nên kế đồ ít được biết đến về thần học thân xác, tuy nhiên lại đáng để đào sâu cách đặc biệt. Điều này có lẽ sẽ được thực hiện trong loạt bài phân tích về tính bí tích của hôn nhân).
Trong Cựu Ước
4. Và bây giờ tham chiếu một chút vào Cựu Ước. Giáo huấn của Thánh Phaolô về đức khiết tịnh, hiểu như là «đời sống theo Chúa Thánh Thần», dường như chỉ ra một sự kế tục nào đó đối với các Sách «thể loại khôn ngoan» trong Cựu Ước. Chẳng hạn, chúng ta gặp thấy ở đó lời cầu nguyện sau đây xin được sự trong sạch trong tư tưởng, lời nói và trong hành động: «Lạy Đức Chúa là Cha và Thiên Chúa của đời con ... xin đẩy dục vọng xa khỏi con, xin chớ để thói ăn chơi truỵ lạc thống trị con, đừng để con đắm chìm trong những dục vọng trơ trẽn» (Hc 23,4-6 (http://www.giaoly.org/tk/tk.php?q=huan_ca+23.4-6)).
Thật vậy, sự khiết tịnh là điều kiện để tìm thấy khôn ngoan để mà theo đuổi, như chúng ta đọc thấy trong cùng sách trên: «Tôi đã hướng lòng về đức khôn ngoan, và khi giữ mình trong sạch, tôi tìm được đức khôn ngoan.» (Hc 51,20 (http://www.giaoly.org/tk/tk.php?q=hc+51.20)).
Hơn nữa, chúng ta cũng có thể cách nào đó xem xét bản văn sách Khôn Ngoan, được biết đến trong phụng vụ theo bản dịch Kinh Thánh La Tinh Phổ Thông (Vulgata): «Scrivi quoniam aliter non possum esse continens, nisi Deus det; et hoc ipsum erat sapientiae, scire, cuius esset hoc donum» (Nhưng tôi vẫn hiểu rằng : Đức Khôn Ngoan, tôi không thể có được, nếu Thiên Chúa chẳng ban cho tôi, - biết được ơn này do ai ban tặng, thì cũng đã khôn ngoan phần nào rồi) (Kn 8,21 (http://www.giaoly.org/tk/tk.php?q=kn+8:21)). [2]
Theo khái niệm này, không chỉ đức khiết tịnh là điều kiện cho sự khôn ngoan, mà có lẽ sự khôn ngoan còn là điều kiện cho sự khiết tịnh nữa, như một ơn đặc biệt của Thiên Chúa. Dường như trong bản văn khôn ngoan nói trên ý nghĩa kép của sự khiết tịnh đã được đánh nổi lên: như là một nhân đức và một ơn huệ. Nhân đức là để phục vụ cho sự khôn ngoan, và sự khôn ngoan là một chuẩn bị trước để đón nhận ơn huệ đến từ Thiên Chúa. Ơn huệ này củng cố nhân đức và làm cho nó hưởng được, nhờ sự khôn ngoan, những hoa quả của một lối xử sự và một đời sống trong sạch.
Cái nhìn của Thiên Chúa
5. Cũng như Đức Kitô, trong Bát Phúc của Bài Giảng Trên Núi, nhắc đến những người «có lòng trong sạch», đã làm nổi bật mối phúc được «nhìn thấy Thiên Chúa», hoa quả của sự trong sạch và trong viễn tượng cánh chung, thì Thánh Phaolô, đến lượt mình cũng đưa ra ánh sáng sự toả chiếu của nó trong các chiều kích đời tạm này, khi viết: «Mọi sự đều trong sạch với những người trong sạch. Nhưng với những kẻ nhiễm uế và không có đức tin, thì không có gì là trong sạch cả; trái lại, trí khôn và lương tâm của họ đã bị nhiễm uế. Họ tuyên bố là biết Thiên Chúa, nhưng trong hành động họ lại chối Người...» (Tit 1,15-16 (http://www.giaoly.org/tk/tk.php?q=tit+1:15-16)). Những lời này có thể cũng quy chiếu về sự khiết tịnh theo nghĩa chung chung lẫn nghĩa chuyên biệt, giống như quy chiếu về những ghi chú đặc trưng về các điều thiện luân lý. Nhờ khái niệm của Thánh Phaolô về khiết tịnh theo ý nghĩa được nói đến trong Thư I Thessalonica (4,3-5 (http://www.giaoly.org/tk/tk.php?q=1Thes+4:3-5)) và Thư I Côrintô (6,13-20 (http://www.giaoly.org/tk/tk.php?q=1cor+6:13-20)), nghĩa là, theo ý nghĩa của «đời sống theo Chúa Thánh Thần», cũng như kết quả của toàn bộ những nghiên cứu này của chúng ta, dường như là nền tảng cho nền nhân học của sự tái sinh trong Chúa Thánh Thần (x. Ga 3,5 tt. (http://www.giaoly.org/tk/tk.php?q=ga+3:5-6)). Khái niệm đó phát triển từ cội rễ nằm vào trong thực tại ơn cứu chuộc thân xác, được Đức Kitô thực hiện hoàn tất nơi việc phục sinh. Có nhiều lý do sâu xa để kết nối toàn bộ chủ đề về sự khiết tịnh với những lời của Tin Mừng, mà Chúa Kitô nhắc đến sự sống lại (và đó sẽ là đề tài của giai đoạn cuối trong loạt bài nghiên cứu của chúng ta). Ở đây chúng ta trước tiên đặt chủ đề khiết tịnh trong tương quan với đạo lý (ethos) của việc cứu chuộc thân xác.
Nại đến “tâm lòng”
6. Cách hiểu và trình bày sự khiết tịnh - thừa hưởng từ truyền thống của Cựu Ước và đặc trưng là của những Sách «thể loại khôn ngoan» - đã chắc chắn là một sự chuẩn bị gián tiếp, nhưng thực sự cho giáo huấn của Thánh Phaolô về sự khiết tịnh được hiểu như là «đời sống theo Chúa Thánh Thần». Không chút nghi ngờ cách này cũng làm cho các những người nghe Bài Giảng trên núi dễ dàng hiểu được những lời của Đức Kitô, khi Người nhắc đến «lòng» con người để giải thích về điều răn «Chớ phạm tội ngoại tình»,. Toàn bộ những suy tư của chúng ta theo cách này đã có thể minh chứng, ít là ở mức độ nào đó, với sự súc tích và sâu xa ấy, chúng ta phân biệt được giáo huấn Thánh Phaolô về khiết tịnh nơi cùng những nguồn Cựu Ước và Tin Mừng.
-----
Ghi chú:
[1] Eusebeia hoặc pietas trong thời Hy-La thường chỉ sự tôn kính các thần (như "thờ phượng"), nhưng còn giữ ý nghĩa nguyên thuỷ rộng rãi hơn của sự kính trọng đối với những cấu trúc quan trọng.
Eusebeia qui định cách cư xử qua lại giữa những người cùng huyết thống, những quan hệ giữa vợ chồng, và cũng quy định thái độ cần phải có của quân binh đối với César hoặc các nô lệ đối với chủ.
Trong Tân Ước, chỉ những bản văn muộn thời mới áp dụng eusebeia cho các Kitô hữu; trong những bản văn xưa hơn thuật ngữ này chỉ các đặc biệt những "người lương thiện" (Cv 10,2.7; 17,23 (http://www.giaoly.org/tk/tk.php?q=tdcv+10:2,7/17:23)).
Và như thế từ Hy lạp eusebeia, cũng như từ ngữ donum pietatis, mặc dù chắc chắn qui chiếu về việc tôn kính thần thánh, vẫn có nền tảng phổ biến theo nghĩa rộng về những tương quan lien vị (cf. W. Foerster, art. eusebeia, "Từ điển thần học Tân Ước", Vol. 7, ed. G. Kittel, G. Bromley [Grand Rapids: Eerdmans, 1971], pp. 177-182).
[2] Bản dịch Phổ Thông này, được duy trì bởi nhóm Neo-Vulgate (Tân Phổ Thông) và bởi phụng vụ, được Thánh Augustinô trích dẫn nhiều lần (De S. Virg., par. 43; Confess. VI, 11; X, 29; Serm. CLX, 7), dù vậy, đã thay đổi ý nghĩa của từ gốc Hy lạp, mà ta có thể dịch như sau: "Nói khác đi, hiểu rằng tôi sẽ không có được nó [Khôn Ngoan], nếu Thiên Chúa không ban nó cho tôi...
Lm. Đôminicô Nguyễn Công Đắc chuyển ngữ
Về mục lục (http://gpnt.net/diendan/showthread.php?t=217)