PDA

View Full Version : Bài 59 – Khoa Sư phạm về thân xác, luật luân lý và những biểu tỏ tình yêu


admin
07-10-2010, 09:02 PM
Bài 59 – Khoa Sư phạm về thân xác, luật luân lý, những biểu tỏ tình yêu
(8/04/1981)

1. Giờ đây đã đến lúc kết thúc những suy tư và phân tích dựa trên những lời Chúa Kitô công bố trong Bài Giảng trên Núi, Ngài vừa gợi lên lòng con người vừa khuyến dụ giữ lòng trong sạch: «Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi.» (Mt 5,27-28 (http://giaoly.org/tk/tk.php?q=mt+5:27-28)). Chúng ta đã bảo nhiều lần rằng những lời này, xưa kia đã được công bố cho một số người giới hạn đến nghe Bài Giảng ấy, giờ đây qui hướng về con người ở tất cả mọi thời và mọi nơi, và kêu gọi đến lòng con người, là nơi được ghi khắc tấn kịch lịch sử thâm sâu nhất và, có thể nói, trọng yếu nhất. Đó chính là lịch sử của Thiện và Ác (mà khởi điểm của nó gắn liền với cây mầu nhiệm biết lành biết dữ trong Sách Sáng Thế) và, đồng thời, là lịch sử cứu độ, mà lời nói của nó là Tin Mừng, sức mạnh của nó là Chúa Thánh Thần, được ban cho những ai đón nhận Tin Mừng với lòng thành thật.

2. Nếu lời kêu gọi của Chúa Kitô nại đến «lòng» con người và, trước đó nữa, gợi lại «thuở ban đầu» cho phép chúng ta xây dựng hoặc ít là phác thảo một môn nhân học, mà chúng ta gọi là «thần học thân xác», thì môn thần học đó cũng đồng thời là môn sư phạm. Môn sư phạm này hướng đến việc giáo dục con người, vừa đặt trước mặt những đòi hỏi, vừa khích lệ, và vừa chỉ cho thấy những con đường dẫn đến việc hiện thực hoá chúng.. Những lời loan báo của Đức Kitô cũng có mục đích này; đó là những lời loan báo «mang tính sư phạm». Những lời ấy chứa đựng một lối sư phạm của thân xác, bày tỏ cách chính xác và, đồng thời, hoàn hảo hơn bao giờ hết. Hoặc là câu trả lời cho các biệt phái về tính bất khả phân ly của hôn nhân, hoặc là những lời của Bài Giảng Trên Núi về sự chế ngự dục vọng, cho thấy – ít là cách gián tiếp – rằng Đấng Tạo Hoá đã giao như là trách nhiệm cho con người: thân xác, tính nam và tính nữ; rồi trong tính nam và tính nữ người đã giao cho họ cách nào đó như là trách nhiệm nhân tính của họ, phẩm tính của nhân vị, và kể cả dấu chỉ trong suốt của sự «hiệp thông» liên vị, ở đó con người hiện thực hoá chính mình qua việc trao tặng đích thực chính bản thân mình. Khi đặt trước con người những đòi hỏi trùng khớp với những trách nhiệm đã giao phó, Đấng Tạo Hoá đồng thời cũng chỉ cho con người, nam và nữ, thấy những con đường dẫn đến việc hấp thụ và thực hiện chúng.

3. Khi phân tích những bản văn Kinh Thánh chìa khoá này, cho đến tận gốc rễ những ý nghĩa được ẩn chứa ở đó, chúng ta khám phá ra được chính khoa nhân học có thể được định danh là «thần học thân xác». Và rồi chính khoa thần học thân xác này xây dựng nên phương pháp tương hợp nhất của khoa sư phạm thân xác, nghĩa là khoa giáo dục (khoa tự giáo dục) con người. Điều này mang tính thời sự đặc biệt với với con người ngày nay, với ngành khoa học về lãnh vực sinh thể học và sinh dược học thật là tiên tiến. Tuy nhiên, ngành khoa học này xem xét con người về «mặt» xác định cụ thể và do đó có tính cách khiếm diện hơn là bao quát. Chúng ta biết rõ những tính năng của thân xác như là bộ phận, những chức năng này được liên kết với tính nam và tính nữ của nhân vị con người. Nhưng ngành khoa học ấy, tự nó, chưa triển khai được kiến thức về thân xác như là dấu chỉ của nhân vị, như là biểu hiện của tinh thần. Toàn bộ sự phát triển của khoa học đương đại, đối với thân xác như là bộ phận, có tính chất hiểu biết về sinh học hơn, bởi vì được đặt cơ sở trên việc tách biệt, nơi con người, những gì là xác thịt ra khỏi những gì là tinh thần. Sử dụng một sự hiểu biết một chiều như thế về những tính năng của thân xác như là bộ phận, thì không khó đi tới chỗ, theo phương pháp gần như là hệ thống, coi thân xác như là vật để thao túng; trong trường hợp đó, có thể nói được, con người không còn tự xác định theo cách chủ thể đối với thân xác mình, bởi vì thiếu mất ý nghĩa và phẩm tính xuất phát từ việc thân xác ấy chính là nhân vị. Chúng ta thấy ở đây cái giới hạn của các vấn đề, thường đòi hỏi những giải pháp cơ bản. Những giải pháp này không thể thực hiện được nếu không có một cái nhìn toàn diện về con người.

4. Chính ở đây xuất hiện cách rõ ràng khoa thần học thân xác, mà chúng ta đào lên được từ những bản văn chìa khoá về những lời của Chúa Kitô, trở thành phương pháp căn bản của khoa sư phạm, nghĩa là khoa giáo dục con người trên quan điểm nhìn thân xác, với sự xét đến đầy đủ tính nam và tính nữ. Khoa sư phạm này có thể được hiểu trên phương diện một «tính thần thiêng đặc trưng của thân xác» ; thật vậy, thân xác, nơi tính nam và tính nữ được ban cho như là nhiệm vụ đối với tinh thần con người (điều này đã được diễn tả cách kỳ diệu qua Thánh Phaolô bằng lối nói riêng của ngài) và nhờ sự trưởng thành xứng hợp của tinh thần, thì chính thân xác ấy trở nên dấu chỉ của nhân vị, nhờ đó nhân vị trở nên «chất thể» chính xác và đích thực trong sự hiệp thông ngôi vị. Nói cách khác: Con người, qua sự trưởng thành thiêng liêng, khám phá ra ý nghĩa hôn phối của chính thân xác.

Trong Bài Giảng Trên Núi, lời Chúa Kitô chỉ ra cho thấy dục vọng tự nó không mặc khải cho con người cái ý nghĩa ấy, mà trái lại, làm cho nó trở nên lu mờ và đen tối. Sự hiểu biết thuần «sinh lý» về các tính năng của thân xác như là bộ phận, nối kết với tính nam và tính nữ của nhân vị con người, có khả năng giúp khám phá ý nghĩa hôn phối đích thực của thân xác, chỉ khi nào cùng một lúc hoà hợp với sự trưởng thành thiêng liêng tương xứng của nhân vị con người. Không có điều này, sự hiểu biết ấy có thể có những hậu quả thậm chí ngược lại; và điều này được xác nhận bởi vô số những kinh nghiệm trong thời đại chúng ta.

5. Từ góc nhìn này cần phải xem xét cách cẩn trọng những tuyên huấn của Giáo Hội đương thời. Một sự hiểu biết và giải thích tương hợp, cũng như áp dụng thực tế của những huấn giáo đó (tức chính là khoa sư phạm) đòi hỏi phải đào sâu thần học thân xác mà chúng ta phát hiện ra nhất là từ những lời chìa khoá của Chúa Kitô. Về những tuyên huấn đương thời của Giáo Hội, cần phải hiểu biết Chương mang tựa đề «Phải đề cao phẩm giá của hôn nhân và gia đình», trong Hiến Chế Mục vụ Công Đồng Vaticanô II (GS, phần II, chương I) và, tiếp theo đó, Tông huấn «Humanae Vitae» của ĐTC Phaolô VI. Không còn nghi ngờ gì nữa, những lời của Chúa Kitô, mà chúng ta đã dành nhiều thời gian để phân tích, không có mục đích nào khác hơn là đề cao phẩm giá hôn nhân và gia đình; mà sự quy kết cơ bản giữa chúng và những gì cả hai hàm chứa đã được Giáo Hội đương thời đề cập đến. Chúa Kitô đã nói cho con người của tất cả mọi thời và mọi nơi; những giáo huấn của Giáo Hội cố gắng thực hiện những lời này của Chúa Kitô, và vì thế những lời này cần được đọc theo chìa khoá của khoa thần học và khoa sư phạm được bám rễ và nương tựa nơi những lời này của Chúa Kitô.

Thật khó mà thực hiện ở đây một phân tích bao quát những tuyên giáo vừa nêu của Huấn Quyền tối cao của Giáo Hội. Chúng ta chỉ giới hạn vào việc tường trình lại một vài đoạn trong đó thôi. Ở đây Công đồng Vaticanô II, giữa những vấn đề cấp thiết của Giáo Hội đương thời, khi «đề cao phẩm giá của hôn nhân và gia đình» đã vạch ra hiện tình tồn tại trong môi trường sống này: «Nhưng phẩm giá của định chế ấy không phải ở đâu cũng sáng tỏ như nhau, vì đã bị lu mờ bởi chế độ đa thê, nạn ly dị, bởi cái mà người ta gọi là tự do luyến ái, cùng những hình thức lệch lạc khác. Hơn nữa, tình yêu hôn nhân rất thường bị hoen ố vì lòng ích kỷ, khoái lạc chủ nghĩa và những lạm dụng bất hợp pháp cản trở sự sinh sản» (GS, 47 (http://gpnt.net/thuvien/gaudium/gs_05.htm)). ĐTC Phaolô VI, trình bày trong Tông huấn «Humanae Vitae» về vấn đề này, khi viết: «Cũng nên sợ rằng: khi người chồng đã quen sử dụng những phương pháp ngăn chận sự thụ thai, sẽ không còn tôn trọng người vợ, không đếm xỉa đến sự thăng bằng vật lý và tâm lý của họ, sẽ coi họ như một khí cụ cho khoái lạc ích kỷ, không còn là một người bạn phải kính nể và yêu thương.» (ĐTC Phaolô VI, Humanae Vitae, 17 (http://gpnt.net/thuvien/humanaevitae/)).
Phải chăng, ở đây chúng ta lại không thấy mình cũng đang ở trong bầu khí được quan tâm chăm sóc như lần kia Chúa Kitô nói về tính duy nhất và bất khả phân ly của hôn nhân, cũng như lúc Ngài nói về sự trong sạch trong lòng trong Bài Giảng Trên Núi và như những lời hết sức thông minh Thánh Phaolô khai triển sau này về việc chế ngự sự thống trị của nhục dục sao?

6. Cũng với tinh thần này Tác giả Tông huấn «Humanae Vitae», khi nói về những đòi buộc cụ thể của luân lý Kitô giáo, thì đồng thời giới thiệu khả năng để chu toàn những đòi buộc ấy, ngài viết: «Ðã hẳn, sự làm chủ bản năng nhờ lý trí và ý chí tự do, đòi hỏi một đời sống đức hạnh (asceticism) -ĐTC Phaolô dùng thuật ngữ này-, để những biểu lộ của tình yêu trong đời sống đôi bạn được dung hoà với trật tự chính đáng: điều đó càng trở nên cần thiết, khi phải thi hành sự kiêng cữ định kỳ. Nhưng kỷ luật đó, dành riêng cho đức khiết tịnh của đôi bạn, không làm tổn thương đến tình yêu của họ, mà còn gia tăng giá trị nhân loại của nó. Kỷ luật đó đòi hỏi một sự cố gắng liên tục (chính là sự cố gắng mà trên đây ngài gọi là “đời sống đức hạnh” (asceticism), nhưng ảnh hưởng tốt của nó sẽ giúp vợ chồng phát triển nhân phẩm của mình, thu lượm được nhiều ơn ích thiêng liêng… Nó giúp vợ chồng săn sóc và tôn trọng lẫn nhau, loại trừ ích kỷ là thù địch của tình yêu chân chính, và đào sâu ý thức trách nhiệm…» (ĐTC Phaolô VI, Humanae Vitae, 21 (http://gpnt.net/thuvien/humanaevitae/)).

7. Chúng ta dừng lại ở những đoạn trích ngắn ngủi này, đặc biệt là đoạn cuối, vì chúng chứng minh cách rõ ràng thật là độc đáo (không thể thay thế), nhờ một sự hiểu biết tương hợp giáo huấn của Huấn Quyền Giáo Hội đương thời, khoa thần học thân xác, với những nền tảng được tìm thấy trước hết trong những lời của Chính Chúa Kitô. Chính khoa thần học này, như đã nói, phương pháp cơ bản của tất cả khoa sư phạm Kitô giáo về thân xác. Khi đối chiếu những lời vừa trích, chúng ta có thể xác quyết rằng mục đích của khoa sư phạm thân xác hệ tại chính ở việc làm thế nào cho «những biểu lộ của tình yêu» - nhất là «cách riêng của đời sống vợ chồng» - được dung hoà với trật tự luân lý, nghĩa là, cuối cùng, với phẩm giá con người. Trong những lời này, có thể thấy trở lại vấn đề quan hệ hỗ tương giữa «eros» (nhục dục) và «ethos» (đạo lý) mà chúng ta đã bàn đến. Khoa thần học này, hiểu như phương pháp sư phạm về thân xác, cũng chuẩn bị cho chúng ta đi đến những suy tư cuối cùng về tính bí tích của đời sống con người và đặc biệt là đời sống hôn nhân gia đình.

Tin Mừng về sự trong sạch trong lòng, hôm qua và hôm nay: với câu này đang khi kết thúc loạt bài đang suy tư – trước khi bước qua loạt bài kế tiếp, phân tích dựa trên những lời Chúa Kitô nói về sự sống lại của thân xác – chúng tôi còn muốn lưu ý một chút đến «sự cần thiết tạo nên một bầu khí thuận tiện cho việc giáo dục sự tiết chế», mà Tông huấn của Đức Phaolô VI bàn đến, và chúng tôi muốn tập trung những quan sát này về vấn đề đạo lý (ethos) của thân xác trong những tác phẩm văn hoá nghệ thuật, cụ thể quy chiếu về những tình huống chúng ta gặp phải trong cuộc sống đương thời.

Lm. Đôminicô Nguyễn Công Đắc chuyển ngữ.

Về Mục Lục (http://gpnt.net/diendan/showthread.php?t=217)

admin
10-01-2011, 07:25 PM
LIX

GIÁO DỤC THÂN XÁC, TRẬT TỰ LUÂN LÍ, SỰ BIỂU LỘ TÌNH CẢM

1. Đã đến lúc chúng ta kết thúc những suy tư và phân tích của mình vốn dựa trên lời của Đức Kitô trong bài giảng trên núi, với những lời ấy Người đã chạm đến tâm hồn con người và mời gọi nó sống thanh khiết: «Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi» (Mt 5,27-28). Nhiều lần chúng ta đã nói rằng những lời lẽ ấy đã một lần được Đức Giêsu ngỏ với một số giới hạn các người nghe diễn từ của Người lúc bấy giở, nhưng cũng được ngỏ với con người mọi nơi thuộc mọi thời đại, và chúng gọi mời cõi lòng con người là nơi ghi cốt chuyện thâm sâu và (theo nghĩa nào đó) quan yếu nhất của lịch sử. Đó là lịch sử của sự thiện và sự ác (mà khởi đầu có liên hệ với cái cây biết thiện biết ác bí nhiệm trong Sách Sáng thế), và đồng thời cũng là lịch sử của ơn cúu độ với lời là Tin mừng và sức mạnh là Thánh Thần được ban cho ai thành tâm đón nhận Tin mừng.
2. Nếu như vì Đức Kitô đã gọi mời tới «lòng» người và trước đó nữa, Người còn nại tới «thuở ban đầu», mà ta có thể xây dựng hay ít ra là phác thảo được một khoa nhân học, còn có thể gọi đó là «thần học thân xác», thì thần học đó cũng đồng thời là khoa sư phạm giáo dục, hướng tới việc giáo dục con người, bằng cách đặt ra trước mặt họ những yêu sách, tích cực tìm cách đáp ứng và chỉ đường để thực hiện. Những lời phát biểu của Đức Kitô cũng nhằm mục đích này, đó là mục đích «giáo dục». Những lời ấy chứa đựng một đường lối giáo dục thân xác, được diễn tả ngắn gọn nhưng đồng thời lại đầy đủ hơn hết. Dù là trả lời cho những người Pharisêu về tính chất bất khả phân li của hôn nhân, hay những lời phát biểu trong diễn từ trên núi liên hệ tới sự làm chủ dục vọng, Đức Kitô cũng cho thấy – ít là cách gián tiếp – rằng Đấng Tạo Hóa đã giao phó thân xác cho con người như một nhiệm vụ, một thân xác vốn có giới tính (là đàn ông hay là đàn bà). Và Người cũng cho thấy nơi giới tính ấy Tạo Hóa cách nào đó đã giao nhân tính, phẩm giá nhân vị, và cả dấu chỉ trong suốt của mối «hiệp thông» liên vị (trong đó con người thực hiện chính mình qua việc chân thành tự hiến) như một nhiệm vụ phải hoàn thành. Khi đặt ra trước mặt con người những yêu sách phù hợp với nhiệm vụ được giao, Đấng Tạo Hóa cũng đồng thời chỉ ra cho con người, nam cũng như nữ, những cách thức để đảm nhận và hoàn tất chúng.
3. Khi phân tích những bản văn chìa khóa này của Kinh thánh đến tận những ý nghĩa gốc rễ hàm ẩn trong đó, chúng ta khám phá chính xác một khoa nhân học có thể được gọi tên là «thần học thân xác». Và rồi chính thần học thân xác này trở thành nền tảng cho một phương pháp sư phạm thích hợp nhất về thân xác, tức là khoa giáo dục (đúng hơn, là một sự tự giáo dục) làm người. Điều đó rất hợp với thời sự cho con người thời nay, vốn đã đạt được nhiều tiến bộ khoa học trong lãnh vực sinh học – sinh lí học và sinh học – y học. Tuy nhiên, khoa học vẫn chỉ xét con người theo một «phương diện» nhất định nào đó thôi và do đó còn phiến diện, không đầy đủ. Chúng ta biết rõ các chức năng của thân thể xét như là một cơ thể, những chức năng liên kết với giới tính nam và nữ của con người. Nhưng khoa học đó tự thân chưa phát triển cái tâm thức của thân xác như là một dấu chỉ của nhân vị, như là một biểu lộ của tinh thần. Mọi phát triển của khoa học hiện nay về thân xác xét như là một cơ thể, mang đặc tính của tri thức sinh học nhiều hơn, vì nó dựa trên cơ sở tách biệt những gì thuộc thể xác khỏi những gì thuộc tinh thần nơi con người. Khi dùng những tri thức một chiều như thế về chức năng của thân xác xét như là một cơ thể sẽ dễ đi tới chỗ đối xử với thân xác (một cách ít nhiều có tính hệ thống) chỉ như là một đồ vật cho ta tùy tiện sử dụng. Như thế, con người có thể nói không còn được đồng nhất với chính thân xác của mình như là chủ thể nữa, bởi vì nó mất đi ý nghĩa cùng phẩm giá có được từ sự kiện thân xác này là chính ngôi vị. Tại đây chúng ta đụng phải giới hạn của những vấn đề thường đòi hỏi phải có những giải pháp nền tảng, mà điều đó không thể thực hiện được nếu không có một cái nhìn toàn diện về con người.
4. Chính ở đây xem ra rõ ràng là thần học thân xác (những gì chúng ta khai phá từ các bản văn chìa khóa về lời của Đức Kitô) trở thành phương pháp nền tảng cho khoa sư phạm, hay đúng hơn khoa giáo dục làm người nhìn từ quan điểm về thân xác, xem xét toàn diện con người với nam tính và nữ tính của nó. Khoa sư phạm ấy có thể được hiểu theo phương diện của một nền linh đạo thân xác đặc biệt. Quả thật, thân xác với một giới tính cụ thể, của một người nam hay của một người nữ, được phú ban như hiện thể của tinh thần con người (điều này đã được thánh Phaolô diễn tả thật kì diệu theo ngôn ngữ riêng của ngài) và nhờ một tinh thần trưởng thành thích hợp thân xác cũng nên như dấu chỉ của nhân vị được ý thức, và nên như «chất thể» đích thực của sự hiệp thông các ngôi vị. Nói cách khác, con người nhờ sự trưởng thành tâm linh khám phá được ý nghĩa hôn phối của chính thân xác.
Những lời của Đức Kitô trong diễn từ trên núi cho thấy rằng dục vọng tự nó không tỏ lộ cho con người cái ý nghĩa ấy, mà ngược lại nó còn che khuất và làm lu mờ đi. Tri thức thuần túy «sinh học» về các hoạt động của thân xác xét như là một cơ thể, liên hệ tới giới tính của con người, có khả năng giúp ta khám phá ý nghĩa hôn phối đích thực của thân xác, chỉ khi nó đi cùng nhịp với một sự trưởng thành tâm linh thích hợp của nhân vị. Nếu không, sự hiểu biết ấy có thể gây tác dụng ngược hẳn. Điều đó được xác nhận qua rất nhiều kinh nghiệm của thời đại chúng ta.
5. Từ quan điểm này ta cần phải xem xét cách sáng suốt những lời tuyên bố của Giáo hội ngày nay. Để hiểu và giải thích cách thích đáng những lời ấy, cũng như để đem áp dụng thực hành (tức là đường lối sư phạm) người ta cần hiểu sâu xa nền thần học thân xác, mà xét cho cùng đó cũng là nhờ trên hết những lời chủ chốt của Đức Kitô. Về tuyên ngôn của Giáo hội ngày nay, ta cần biết đến chương «Phẩm giá của Hôn nhân và Gia đình được quí trọng» của Hiến chế Mục vụ Công Đồng Vaticanô II (Gaudium et spes, phần II, ch. I), và kế đến là thông điệp Humanae vitae của đức Phaolô VI. Chắc chắn là, theo như chúng ta đã phân tích rất nhiều, những lời của Đức Kitô không có mục đích nào khác ngoài việc đề cao phẩm giá của hôn nhân và gia đình; từ đó có điểm hội tụ căn bản giữa những lời của Người và nội dung của cả hai tuyên ngôn mà Giáo hội đề cập. Đức Kitô đã nói với con người thuộc mọi thời đại và ở mọi nơi. Còn tuyên ngôn của Giáo hội hướng đến thực hiện (hay thời sự hóa) lời của Đức Kitô, và do đó chúng phải được đọc lại theo chìa khóa của thần học thân xác và của khoa sư phạm vốn có cội rễ và nền tảng trong lời của Đức Kitô.
Ở đây khó mà làm một phân tích tổng thể những lời tuyên bố trích dẫn từ Huấn quyền tối cao của Hội thánh. Chúng ta tự giới hạn lại chỉ đưa ra một vài đoạn văn. Công Đồng Vaticanô II – giữa những vấn đề cấp bách nhất của Giáo hội trong thế giới ngày nay đã đề cao «phẩm giá của Hôn nhân và Gia đình» – ghi nhận đặc trưng của hoàn cảnh của lãnh vực hôn nhân – gia đình hiện nay như sau: «phẩm giá của định chế ấy (tức của hôn nhân và gia đình) không phải ở đâu cũng sáng tỏ như nhau, vì đã bị lu mờ bởi chế độ đa thê, nạn li dị, bởi cái gọi là tự do luyến ái, cùng những hình thức lệch lạc khác. Hơn nữa, tình yêu vợ chồng rất thường bị hoen ố bởi lòng ích kỉ, chủ nghĩa lạc thú và những lạm dụng bất hợp pháp chống sinh sản» (Gaudium et spes 47). Khi nêu lên vấn đề sau cùng này trong thông điệp Humanae vitae, đức Phaolô VI viết như sau: «cũng có thể lo ngại con người, một khi đã quen thực hành chống thụ thai, sẽ đi tới chỗ đánh mất lòng kính trọng đối với phụ nữ và (...) xem họ chỉ như là dụng cụ để hưởng lạc ích kỉ, chứ không còn là người bạn đường được quí trọng và yêu mến của mình» (Humanae vitae 17).
Không phải ở đây chúng ta cùng một bận tâm chung với Đức Kitô như một lần đã nghe Người nói về sự duy nhất và bất khả phân li của hôn nhân, cũng như những lời lẽ đã nói trong diễn từ trên núi về lòng trong sạch và sự làm chủ dục vọng xác thịt (cũng được thánh Phaolô tông đồ triển khai về sau rất sắc sảo) sao?
6. Cũng trong tinh thần đó, tác giả của thông điệp Humanae vitae, trong khi nói đến những đòi hỏi của chính luân lí kitô giáo, đã trình bày sự thực thi luân lí ấy là khả thể. Người viết như sau: «Để làm chủ bản năng, nhờ lí trí và ý chí tự do, chắc chắn ta cần phải khổ chế (đức Phaolô VI dùng chính từ ngữ này) sao cho những biểu lộ tình cảm của đời sống hôn nhân hợp với một trật tự đúng đắn và nhất là nhờ biết tiết dục định kì. Tính kỉ luật này do đôi bạn sống thanh khiết không hề làm nguy hại gì đến tình yêu vợ chồng, trái lại còn làm tăng thêm giá trị nhân bản cho tình yêu ấy. Nó đòi hỏi phải cố gắng liên tục (cố gắng ấy được gọi là sự “khổ chế” như trên đây), nhưng nhờ ảnh hưởng tích cực của nó đôi vợ chồng phát triển nhân cách của họ toàn vẹn và được phong phú thêm bởi các giá trị tâm linh. Tinh thần kỉ luật ấy ... giúp quan tâm hơn đến người bạn đời của mình, giúp loại bỏ tính ích kỉ, là kẻ thù của tình yêu thật, và làm cho tinh thần trách nhiệm thêm sâu sắc...» (Humanae vitae 21).
7. Chúng ta dừng lại chỉ ở vài đoạn ít ỏi này. Những đoạn này – đặc biệt là đoạn sau cùng – cho thấy rõ ràng (nhờ hiểu đúng tuyên ngôn của Huấn quyền của Giáo hội ngày nay) thần học thân xác (mà nền tảng dựa trên lời của Đức Kitô) quả là rất cần thiết. Như đã nói, thần học thân xác trở thành một phương pháp nền tảng cho toàn bộ khoa sư phạm Kitô giáo về thân xác. Tham chiếu những lời trích dẫn trên đây, ta có thể khẳng định rằng mục đích của khoa sư phạm về thân xác hệ tại ở chỗ làm sao để «những biểu lộ tình cảm» – nhất là của «riêng đời sống vợ chồng» – phù hợp với trật tự luân lí, hay xét cho cùng phù hợp với phẩm giá con người. Những lời này lại cho thấy trở lại vấn đề mối tương quan giữa «eros» và «ethos» mà ta đã nói. Thần học thân xác, hiểu như là phương pháp của khoa sư phạm về thân xác, còn giúp chúng ta chuẩn bị cho suy tư về tính bí tích của đời sống nhân bản và, nhất là, của đời sống hôn nhân.
Tin mừng về sự thanh khiết tâm hồn, hôm qua và hôm nay: khi kết luận phần thứ hai này với đoạn trên đây – trước khi đi qua phần kế tiếp về cơ bản sẽ là những phân tích lời Đức Kitô về thân xác phục sinh – chúng ta còn muốn dành một chút lưu ý tới «sự cần thiết phải tạo ra một bầu khí thuận lợi cho giáo dục đức khiết tịnh», mà thông điệp của đức Phaolô VI đã có nói tới (x.Humanae vitae 22), và chúng ta muốn qui tập những nhận xét này về ethos của thân xác trong các công trình văn hóa nghệ thuật, với sự tham chiếu đặc biệt đến hoàn cảnh mà ta gặp ngày nay.

Louis Nguyễn Anh Tuấn chuyển dịch