admin
03-11-2006, 08:26 PM
ÐÂU LÀ SỨC MẠNH TRUYỀN THÔNG ?
(Mc 10,46-52)
Theo thống kê, trên thế giới trung bình mỗi gia đình coi truyền hình chừng ba hay bốn tiếng một ngày. Phương tiện truyền thông tràn ngập dưới mọi hình thức, nhất là truyền hình, internet v.v. Giáo Hội hôm nay rất quan tâm tới việc rao giảng Tin mừng qua phương tiện truyền thông. Quan tâm như thế có quá trễ không ? Dân Chúa đã nắm bắt được vấn đề như các vị lãnh đạo không ? Nắm bắt được vấn đề, nhưng có cơ hội và phương tiện để thực hiện không ? Ngay tại những nơi truyền thông Công giáo đang hoạt động mạnh như Âu Mỹ, Giáo Hội có thực sự thành công không ? Nếu không, tại sao ?
Ðó là vấn đề có thể tìm được câu giải đáp qua phép lạ Chúa làm cho người mù hôm nay. Giữa đám đông quần chúng, anh chỉ là một chấm nhỏ. Càng nhỏ hơn nữa khi anh thiếu một phương tiện quan trọng nhất trong việc gặp gỡ với tha nhân : đôi mắt. Rất may anh còn cái miệng. Nhưng làm sao anh có thể trấn át đám đông ? Giữa những luồng âm thanh hỗn độn, chắc chắn tiếng nói của anh như rơi vào sa mạc. Vậy mà, thực tế, anh đã thực hiện được mộng ước sau bao năm ấp ủ. Cơ may đã tới với anh khi Chúa Giêsu đi ngang qua Giêrikhô. Anh cương quyết không để lỡ cơ hội ngàn vàng.
Tin mừng Mátcô có hai câu truyện về người mù. Người mù đầu tiên vô danh tại Bếtxaiđa.[1] Người mù thứ hai tên Batimê ở Giêrikhô. Họ cùng chia sẻ một số phận và cùng được sáng mắt. Ði theo người nào cũng có một đám đông. Nhưng diễn tiến và phương cách chữa bệnh khác nhau. Người mù đầu tiên được dân chúng đem đến cho Chúa Giêsu. Tên tuổi và tiếng nói không ai biết. Trái lại, người mù thứ hai có tên. Tiếng anh kêu lớn đến nỗi át cả đám đông.
Ðó là những diễn biến ai cũng thấy. Nhưng tại sao người mù ở Giêrikhô mới có tên và tiếng nói, trong khi người mù tại Bếtxaiđa được chữa trị kỹ hơn nhiều?
Anh mù ở Bếtxaiđa không có một cố gắng nào. Anh hoàn toàn thụ động. Anh được dân chúng đem đến và được Chúa đưa ra khỏi làng. Trái lại, anh mù tại Giêrikhô hoàn toàn chủ động. Anh Batimê có bản lãnh hơn nhiều. Bản lãnh đó chính là niềm tin của anh. Anh không phải là người tầm thường, vì anh không chịu thua đám đông. Anh cũng không chịu đầu hàng trước những tiếng quát nạt, hăm dọa, áp đảo muốn chôn vùi giấc mộng lớn lao của đời anh.[2] Như thế, anh bị hai áp lực rất mạnh buộc anh phải im tiếng. Thứ nhất là sự ồn ào của quần chúng. Thứ hai là sự đe loi của những người lớn tiếng “quát nạt.” Nhưng cuối cùng chỉ có tiếng nói của đức tin mới thắng vượt tất cả và thu hút được quyền năng Thiên Chúa. Ðức tin là yếu tố quyết định sự thành công của anh, chứ không phải tại anh to miệng. Bởi đấy, anh được lưu danh muôn thuở
Bao nhiêu năm chìm đắm trong đêm tối, anh không thấy gì hết, ngoài hình ảnh “ông Giêsu, Con Vua Ðavít”[3] thêu dệt trong tưởng tượng qua những tiếng đồn thổi. Ðức tin đã khiến anh lưu danh muôn thuở. Cũng chính nhờ đức tin, Chúa đã dễ dàng cứu anh khỏi cảnh đui mù mà chẳng cần đụng chạm tới anh. Sau cùng, khác với anh mù ở Bếtxaiđa, nhờ đức tin vững mạnh, sau khi được Chúa thương, “anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi.”[4] Người đi đâu, nếu không phải lên Giêrusalem chịu khổ hình thập giá ? Anh đi theo Chúa, chứ không theo đám đông ồn ào. Cùng với anh, nhiều người tội lỗi và đau yếu được Chúa Giêsu quy tụ để làm thành một dân tộc tin theo Chúa.
Khi tuyên xưng Ðức Giêsu là Con vua Ðavít, anh cho thấy niềm tin sâu xa và chân thật vào Ðấng Thiên Sai. Sau khi chữa lành anh, Chúa long trọng vào thành Giêrusalem giữa tiếng hoan hô cùng một nội dung y như anh. Những lời tuyên xưng đó càng làm cho các môn đệ Chúa phấn khởi và nôn nóng về giấc mộng Thiên sai nặc mùi chính trị. Trước khi chữa trị anh Batimê, Chúa đã mở mắt cho hai anh em ông Giacôbê và Gioan cũng như các tông đồ. Nhưng có lẽ các ông vẫn chưa tỉnh ngộ. Bởi thế, “việc chữa lành cho người mù có lẽ trở thành một dụ ngôn nói về những gì sẽ xảy ra cho các môn đệ. Hiện tại, trước ý nghĩa của cuộc thương khó Chúa Giêsu và sự cần thiết phải chia sẻ nỗi thống khổ của Người, các môn đệ đang đui mù. Như các người đó đã nhìn thấy ánh sáng, sau khi Chúa phục sinh,các môn đệ cũng nhìn thấy điều mà nay họ đang mù tịt.”[5]
Ðức tin của anh Batimê hơn hẳn các môn đệ, nhất là sau khi được nhìn thấy ánh sáng và dung nhan Ðấng Thiên Sai anh vẫn mơ ước xưa nay. Anh không ôm hoài bão Thiên Sai như các môn đệ. Bằng chứng, sau khi được chữa mù, “anh đã đi theo Người trên con đường Người đi.” Khác với anh, các môn đệ vẫn theo Chúa trên con đường riêng của họ. Thày Trò đi trên hai con đường song song. Bi thảm thật !
(Mc 10,46-52)
Theo thống kê, trên thế giới trung bình mỗi gia đình coi truyền hình chừng ba hay bốn tiếng một ngày. Phương tiện truyền thông tràn ngập dưới mọi hình thức, nhất là truyền hình, internet v.v. Giáo Hội hôm nay rất quan tâm tới việc rao giảng Tin mừng qua phương tiện truyền thông. Quan tâm như thế có quá trễ không ? Dân Chúa đã nắm bắt được vấn đề như các vị lãnh đạo không ? Nắm bắt được vấn đề, nhưng có cơ hội và phương tiện để thực hiện không ? Ngay tại những nơi truyền thông Công giáo đang hoạt động mạnh như Âu Mỹ, Giáo Hội có thực sự thành công không ? Nếu không, tại sao ?
Ðó là vấn đề có thể tìm được câu giải đáp qua phép lạ Chúa làm cho người mù hôm nay. Giữa đám đông quần chúng, anh chỉ là một chấm nhỏ. Càng nhỏ hơn nữa khi anh thiếu một phương tiện quan trọng nhất trong việc gặp gỡ với tha nhân : đôi mắt. Rất may anh còn cái miệng. Nhưng làm sao anh có thể trấn át đám đông ? Giữa những luồng âm thanh hỗn độn, chắc chắn tiếng nói của anh như rơi vào sa mạc. Vậy mà, thực tế, anh đã thực hiện được mộng ước sau bao năm ấp ủ. Cơ may đã tới với anh khi Chúa Giêsu đi ngang qua Giêrikhô. Anh cương quyết không để lỡ cơ hội ngàn vàng.
Tin mừng Mátcô có hai câu truyện về người mù. Người mù đầu tiên vô danh tại Bếtxaiđa.[1] Người mù thứ hai tên Batimê ở Giêrikhô. Họ cùng chia sẻ một số phận và cùng được sáng mắt. Ði theo người nào cũng có một đám đông. Nhưng diễn tiến và phương cách chữa bệnh khác nhau. Người mù đầu tiên được dân chúng đem đến cho Chúa Giêsu. Tên tuổi và tiếng nói không ai biết. Trái lại, người mù thứ hai có tên. Tiếng anh kêu lớn đến nỗi át cả đám đông.
Ðó là những diễn biến ai cũng thấy. Nhưng tại sao người mù ở Giêrikhô mới có tên và tiếng nói, trong khi người mù tại Bếtxaiđa được chữa trị kỹ hơn nhiều?
Anh mù ở Bếtxaiđa không có một cố gắng nào. Anh hoàn toàn thụ động. Anh được dân chúng đem đến và được Chúa đưa ra khỏi làng. Trái lại, anh mù tại Giêrikhô hoàn toàn chủ động. Anh Batimê có bản lãnh hơn nhiều. Bản lãnh đó chính là niềm tin của anh. Anh không phải là người tầm thường, vì anh không chịu thua đám đông. Anh cũng không chịu đầu hàng trước những tiếng quát nạt, hăm dọa, áp đảo muốn chôn vùi giấc mộng lớn lao của đời anh.[2] Như thế, anh bị hai áp lực rất mạnh buộc anh phải im tiếng. Thứ nhất là sự ồn ào của quần chúng. Thứ hai là sự đe loi của những người lớn tiếng “quát nạt.” Nhưng cuối cùng chỉ có tiếng nói của đức tin mới thắng vượt tất cả và thu hút được quyền năng Thiên Chúa. Ðức tin là yếu tố quyết định sự thành công của anh, chứ không phải tại anh to miệng. Bởi đấy, anh được lưu danh muôn thuở
Bao nhiêu năm chìm đắm trong đêm tối, anh không thấy gì hết, ngoài hình ảnh “ông Giêsu, Con Vua Ðavít”[3] thêu dệt trong tưởng tượng qua những tiếng đồn thổi. Ðức tin đã khiến anh lưu danh muôn thuở. Cũng chính nhờ đức tin, Chúa đã dễ dàng cứu anh khỏi cảnh đui mù mà chẳng cần đụng chạm tới anh. Sau cùng, khác với anh mù ở Bếtxaiđa, nhờ đức tin vững mạnh, sau khi được Chúa thương, “anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi.”[4] Người đi đâu, nếu không phải lên Giêrusalem chịu khổ hình thập giá ? Anh đi theo Chúa, chứ không theo đám đông ồn ào. Cùng với anh, nhiều người tội lỗi và đau yếu được Chúa Giêsu quy tụ để làm thành một dân tộc tin theo Chúa.
Khi tuyên xưng Ðức Giêsu là Con vua Ðavít, anh cho thấy niềm tin sâu xa và chân thật vào Ðấng Thiên Sai. Sau khi chữa lành anh, Chúa long trọng vào thành Giêrusalem giữa tiếng hoan hô cùng một nội dung y như anh. Những lời tuyên xưng đó càng làm cho các môn đệ Chúa phấn khởi và nôn nóng về giấc mộng Thiên sai nặc mùi chính trị. Trước khi chữa trị anh Batimê, Chúa đã mở mắt cho hai anh em ông Giacôbê và Gioan cũng như các tông đồ. Nhưng có lẽ các ông vẫn chưa tỉnh ngộ. Bởi thế, “việc chữa lành cho người mù có lẽ trở thành một dụ ngôn nói về những gì sẽ xảy ra cho các môn đệ. Hiện tại, trước ý nghĩa của cuộc thương khó Chúa Giêsu và sự cần thiết phải chia sẻ nỗi thống khổ của Người, các môn đệ đang đui mù. Như các người đó đã nhìn thấy ánh sáng, sau khi Chúa phục sinh,các môn đệ cũng nhìn thấy điều mà nay họ đang mù tịt.”[5]
Ðức tin của anh Batimê hơn hẳn các môn đệ, nhất là sau khi được nhìn thấy ánh sáng và dung nhan Ðấng Thiên Sai anh vẫn mơ ước xưa nay. Anh không ôm hoài bão Thiên Sai như các môn đệ. Bằng chứng, sau khi được chữa mù, “anh đã đi theo Người trên con đường Người đi.” Khác với anh, các môn đệ vẫn theo Chúa trên con đường riêng của họ. Thày Trò đi trên hai con đường song song. Bi thảm thật !