PDA

View Full Version : Mạc như thụ nhân


KaTy
03-11-2006, 08:35 PM
“Mạc như thụ nhân” Đầu đề viết thế cho oai. Mượn chữ của Quản Trọng. Quản Trọng, 管 仲. Ông là một chính trị gia thời “Xuân Thu”, mất năm 645 trước Công Nguyên. Tên cha mẹ đặt cho là Di Ngô 夷 吾. Trọng là tên hiệu. Ông được Bảo Thúc Nha tiến cử. Ông đưa ra câu trên để tổng lược kế sách của mình. Tề Hoàn Công tin dùng, phong ông làm Tể tướng năm 685 trước Công Nguyên.

Nguyên văn câu nói:

“Nhất niên chi kế mạc như thụ cốc;
“Thập niên chi kế mạc như thụ mộc;
“Bách niên chi kế mạc như thụ nhân”

(Kế một năm không gì bằng trồng lúa;
Kế mười năm không gì bằng trồng cây;
Kế trăm năm không gì bằng trồng người)

Khi đọc tiếp những đoạn Kinh Thánh sau biến cố “Babel tung hoành (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=937)”, KaTy nhìn lại đời ông Abraham, thấy sao mà có điều tương hợp thú vị.

Thoạt đầu định đặt đề tựa “Người thụ giáo đầu tiên”, cho hợp với loạt bài “Cơn cám dỗ đầu tiên (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?p=654#post654)”, “Vụ án mạng đầu tiên (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=573)”. Đó là nhìn từ khía cạnh Abraham-người-học-trò. Nhưng nếu nhìn từ cách hành xử của Yahweh-Đại-Sư-Phụ, chúng ta thấy rõ Ngài nhọc lòng chuẩn bị kế hoạch trăm năm nơi cá nhân Abraham.

Abraham là ai ?

Cả ba tôn giáo lớn, Do thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo đều tin rằng đức tin của mình bắt nguồn từ mạc khải Thiên Chúa đã tỏ ra cho Abraham. Nhưng ba đức tin ấy lại khác nhau vì ý nghĩa của Mạc khải ấy, nghĩa là tuỳ thuộc vào cách chú giải Kinh Thánh.

Chẳng hạn người Do thái Samaritanô cho rằng Abraham hỏa tế Isaac trên núi Garizim. Người Do thái truyền thống lại cho rằng cuộc tế hiến xảy ra trên núi Moriah. Người Hồi giáo nói không phải Isaac, mà chính người con đầu của Abaraham, là Ishmael, mới bị tế hiến. Còn truyền thống Kitô giáo lại coi cuộc tế hiến Isaac, là khuôn mẫu, và hình bóng của việc Đức Giêsu tự hiến tế trên đồi Golgotha sau này.

Như thế vấn đề quả là lớn. Thế nào là chú giải Kinh Thánh? Nội dung mạc khải cho Abraham là gì? Nếu từ một bản văn mà có nhiều cách chú giải khác nhau, vậy phải chăng có yếu tố chủ quan ảnh hưởng trong đó?

Chú giải không chỉ là thuần túy suy luận, mà còn mang nặng phần hiện sinh. Việc tiếp xúc với bản văn và kinh nghiệm cá nhân không phải là hai lãnh vực độc lập. Cả hai ảnh hưởng và soi sáng lẫn nhau. Một biến cố hiện đại có thể giúp đọc và hiểu bản văn cổ qua một ý nghĩa mới. Mỗi thế hệ đọc và hiểu bản văn một cách khác nhau. Thậm chí từng cá nhân, tuỳ theo thời điểm, cũng đọc và hiểu bản văn cách khác nhau.

Mới đây, ông Bruce Feiler, để viết cuốn sách hiện đang nổi tiếng và bán chạy mang đề tựa “ABRAHAM: A Journey to the Heart of Three Faiths”, ông Bruce Feiler đã tự mình theo dấu chỉ dẫn của Kinh Thánh mà rong ruổi trên 10 ngàn dậm đường qua ba châu lục, năm quốc gia, và vượt bốn vùng giao tranh, để đi lại những chặng đường mà tổ phụ Abraham từng đặt chân đến.

Feiler tóm tắt trong một cuộc phỏng vấn:

“Ngay từ khởi đầu, Thiên Chúa dựng nên thế gian và tìm kiếm một con người làm cộng sự viên. Ngài dựng nên Ađam và Eva. Nhưng Ađam chọn Eva hơn chọn Thiên Chúa. Chương trình không thành. Thiên Chúa quay mặt khỏi họ. Trải qua mười thế hệ, rồi Thiên Chúa gọi Noe. Ông đóng tàu, cứu mọi thú vật. Nhưng lại sinh tật be bét rượu chè. Noe đã chọn rượu thay Thiên Chúa.”

Dĩ nhiên Thiên Chúa không thể gắn bó mãi với một anh chàng nghiện rượu.

“Trải qua thêm mười thế hệ nữa. Thiên Chúa hẳn tìm ra cách để kiếm cho được một người biết cần đến Ngài, biết chọn Ngài hơn bất cứ điều gì khác. Ngài chọn Abraham. Tại sao Abraham lại cần đến Thiên Chúa?
Ông đã cao niên, 75 tuổi đời mà vẫn chưa có con, sống trong thành Ur của người Chaldées. Vợ là Sarah không những đã già mà còn hiếm muộn. Dù giỏi xoay xở hay trăn trở, hai ông bà vẫn khô héo như sa mạc Trung đông, không thể sáng tạo.

Thiên Chúa gọi Abraham, đưa ra một giao kèo. Ông nhận lời. Abraham cần Thiên Chúa, mà Thiên Chúa cũng cần đến Abraham."

Như thế, với Sáng thế ký chương 12 , nhân loại bắt đầu đi vào một kỷ nguyên sáng tạo mới. Sáng tạo ra một giao ước mà, một khi đã ký kết, suốt dòng lịch sử nhân loại, giao ước ấy không thể tháo gỡ.

KaTy
03-11-2006, 08:48 PM
Những con số

Thuật trình về tháp Babel kết thúc 11 chương đầu sách Sáng Thế Ký. Các nhà chú giải cho rằng 11 chương đầu này thuộc một thể văn đặc biệt. Sang đến chương 12, chúng ta đã đi vào thời tạm gọi là lịch sử, vì các nhân vật đã có tên tuổi với ít nhiều nhiều thông tin chi tiết hơn.

Bắt đầu câu chuyện về Abraham, Kinh thánh đề cập ngay đến biến cố Thiên Chúa kêu gọi Abraham:

12:1 Vayomer HASHEM el-Avram Lech Lecha me'artzecha umimoladetecha umibeit avicha el-ha'aretz asher ar'eka.

HASHEM said to Avram, "Go from your land, from your birthplace, and from your father's house, [and go] to the land that I will show you.

ĐỨC CHÚA phán với ông Áp-ram: "Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi.


Nhưng dựa vào Kinh Thánh từ chương 11 câu 26 chúng ta biết được chút ít về thân thế và dòng họ của ông.

Thay vì bắt các Bạn đọc lại toàn bộ câu chuyện đời ông, KaTy chỉ tóm tắt ghi lại đây những nét chính, giúp cho những tản mạn của chúng ta không lạc đề quá xa.



Khoảng năm 2166 trước CN, Abram sinh ra tại thành “Ur của người Chaldeas” (thuộc miền nam Iraq ngày nay), cưới Sarai rồi dời cư đến Haran (phiá Bắc Iraq, trên bờ sông Euphrates ) với người cháu gọi mình bằng chú, là Lot, và với người bố tên là Terah. Terah chết tại Haran (St 11,26 tt (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2011:&FontSize=Txt10)).

Đó là thời khoảng 75 năm đầu tiên cuộc đời Abram.

Chừng năm 2091 TCN, Abram bỏ xứ Haran xuống vùng Canaan theo lệnh của Thiên Chúa.

Trong vòng mười năm kế tiếp, từ lúc tuổi 75 đến lúc tuổi 85, ông đi sâu mãi xuống tận vùng trung thổ xứ Canaan là Shechem, và được Thiên Chúa hứa ban cho ông miền đất này. Từ nơi này, ông đi đến Bethel, dựng tại đây một bàn thờ thứ hai.

Nạn đói khiến ông phải mang gia đình sang Ai Cập. Ông đánh lừa Pharaon, bằng cách cho rằng Sarai, vợ mình, chỉ là em gái. Vì thế ông trở nên giầu có. Khi biết rõ thực hư, Pharaon đuổi ông đi (St 12 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2012:&FontSize=Txt10)). Abram trở lại đất Canaan qua ngã sa mạc Negev. Đến Bethel, Abram và Lot chia tay nhau. Lot đem bầu đoàn thê tử và súc vật đi về phía thung lũng Giodan còn Abram ở lại miền cao nguyên.

Sau khi chia tay với Lot, Thiên Chúa lập lại lời hứa ban đất đai vùng ấy cho ông, và Abram dời cư đến Hebron. Ông lập bàn thờ thứ ba tại đây (St 13 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2013:&FontSize=Txt10)).

Khi đến Sodom , ông Lot bị nhóm “tứ nhân bang” đánh chiếm của cải đất đai và bị bắt. Abaram huy động gia đinh và những láng giềng hàng xóm giải cứu cho Lot. Khi trở về, ông gặp Melchizedek, vua ở Salem. Ông này chúc phúc cho Abaram nhân danh Thượng Đế Tối Cao. Abram nhận lời chúc phúc và cúng nộp cho Melchizedek một phần mười chiến lợi phẩm.

Sau đó Vua Sodom đến thăm xã giao Abram, nhưng Abram không nhận một tài vật nào của vua Sodom ( St 14 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2014:&FontSize=Txt10)).

Qua một nghi thức ký giao ước long trọng, Thiên Chúa trấn an Abram rằng những lời Ngài đã hứa thì sẽ được thực thi trọn vẹn (St 15 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2015:&FontSize=Txt10)).


Khoảng năm 2081 TCN, lúc chừng 85, 86 tuổi, theo “nhã ý” của bà xã Sarai, Abram cưới cô Hagar, nô tì của bà . Hagar có thai, còn bà Sarai lại đâm ra ghen tức. Trong lúc chạy trốn khỏi cơn “tam bành lục tặc” của bà chủ Sarai, Hagar gặp một sứ thần Thiên Chúa tại một giếng nước trong sa mạc. Vị này khuyên bà trở về lại và hứa rằng bà sẽ có con, đặt tên cho nó là Ismael. Nó sẽ là cha của một dân tộc (St 16 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2016:&FontSize=Txt10)).

Khoảng năm 2080 TCN, Ishmael ra đời lúc Abram được 86 tuổi. Kinh thánh không cho ta biết thêm một chi tiết gì về cuộc đời của Abran trong 13 năm kế tiếp sau khi Ismael ra đời. Khi ông Abram được 99 tuổi, Thiên Chúa ban cho ông giao ước Cắt Bì và cải danh ông từ Abram (ông bố được ca tụng) thành tên Abraham (người Cha của muôn dân). Từ lúc ấy, bà Sarai còn được biết dưới tên Sarah và sẽ sinh cho ông một người con trai và một người nối dõi (St 17 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2017:&FontSize=Txt10)).

Khoảng năm 2067 TCN, Hai thành Sodom và Gomorrah bị tiêu hủy. Vào năm ông được 100 tuổi, hai thiên sứ tới gặp Abraham và báo cho ông biết rằng sang năm bà Sarah sẽ sinh con. Hai vị cũng cho ông biết rằng thành Sodom và những thành khác trong đồng bằng sẽ bị trừng phạt vì tội lỗi của họ. Abraham đứng ra biện hộ cho Sodom. Thiên Chúa hứa sẽ tha cho thành nếu có kiếm ra được mười người công chính trong thành (St 18 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2018:&FontSize=Txt10)). Hai thiên sứ ghé vào Sodom, được Lot đón tiếp vào nhà ngủ trọ. Trong đêm, dân thành Sodom kéo tới đòi Lot phải giao nộp hai vị khách trọ cho họ. Hai vị thiên sứ khiến họ mù mắt và đem Lot, vợ ông và hai con gái ra khỏi thành kịp lúc trước khi Thiên Chúa giáng họa phá huỷ thành. Lot là người công chính duy nhất trong thành (St 19 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2019:&FontSize=Txt10)).

Sau đó Abraham dời cư tới lãnh địa của Abimelek, vua miền Gerar. Một lần nữa ông lại nói Sarah là em gái mình. Abimelek chiếm Sarah làm vợ. Nhưng một giấc mộng đã cứu ông khỏi tội ngoại tình. Abimelek phiền trách Abraham vì điều lấp liếm này. Sau khi nghe Abraham giải thích, Abimelek cho Abraham nhiều vàng bạc, của cải và súc vật, rồi trả Sarah về lại với ông (St 20 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2020:&FontSize=Txt10)) .


Khoảng năm 2066 TCN, Isaac sinh ra. Sau khi Isaac sinh ra, bà Sarah đuổi hai mẹ con Hagar và Ishmael đi cho khuất mắt. Thiên Chúa cho Abraham biết Ngài sẽ lo liệu cho hai mẹ con nàng và sẽ làm cho Ismael trở thành một dân tộc hùng mạnh.

Sau đó Abimelech gặp Abraham để giải quyết tranh chấp về một cái giếng mà người của Abimelek đã lấn chiếm. Hai bên đi đến một thoả thuận (St 21 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2021:&FontSize=Txt10)).

Đến thời điểm này Thiên Chúa thử thách Abraham bằng cách ra lệnh cho Abraham thiêu sinh con mình trên núi Moriah. Abraham vâng lời. Chỉ đến giấy lát cuối cùng, Thiên Chúa mới can thiệp và thế mạng Isaac bằng một lễ vật khác của chính mình. Đáp lại lòng vâng phục của Abraham, Thiên Chúa lập lại lời giao ước: Abraham sẽ con đàn cháu đống vô số kể (St 22 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2022:&FontSize=Txt10)).

Tất cả những điều này xảy ra trong khoảng Abraham tuổi 100 đến tuổi 137.

KaTy
03-11-2006, 08:48 PM
Khoảng năm 2029 TCN, bà Sarah qua đời ở lứa tuổi 127. Abraham mua một mảnh đất làm mộ phần cho gia đình từ nhà Ephron người Hittite (St 24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:&FontSize=Txt10)).

Vì không muốn con mình lấy gái địa phương xứ Canaan, Abraham, lúc ấy chừng 140 tuổi, sai một trong các thuộc hạ thân tín của mình về lại cố quận kiếm vợ cho con. Thiên Chúa an bài để gia nhân gặp được Rebecca, con gái của Bethuel, con của Milcah. Bà Milcah lại là vợ của Nabor, anh của Abraham (St 24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:&FontSize=Txt10)).

Khoảng năm 2026 TCN Isaac cưới Rebekah. Sau đó vài năm Abraham lấy thêm bà vợ khác, Keturah. Bà này sinh được sáu người con: Zimran, Jokshan, Medan, Midian, Ishbak và Dedan (St 25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2025:&FontSize=Txt10)).

Đến khoảng 2006 TCN , Isaac có thêm hai cháu Jacob và Esau.

Và cuối cùng, vào khoảng 1991 TCN, Abraham qua đời lúc được 175 tuổi và được chôn tại mộ phần của gia đình là hang Machpelah (Stk chương 25).



Những biến cố trong đời con người ngoại hạng, tổ phụ Abraham, thì nhiều vô kể. Rất nhiều điều có thể làm đề tài nghiên cứu và suy luận, nhưng ở đây, nhà cháu chỉ tản mạn hầu chuyện các Bà và các Bác hai biến cố gây.... bực mình trong đời Ngài tổ phụ đáng kính Abraham mà thôi.

Đó là Abraham hèn nhát (?) không dám coi Sarah là “vợ” mình, mà né tránh gọi Sarah là “em gái”.

Không phải một lần. Mà là hai lần.

Một lần để đối phó với Pharaon. Và lần kia với Abimelek. Kinh Thánh đã ghi rõ Abraham nêu lên lý do: “Người Ai cập thấy bà đẹp mà nói rằng bà ấy là vợ tôi. Họ sẽ giết tôi mà để cho bà sống (hòng chiếm lấy bà) - “vehargu oti ve'otach “They will kill me and let you live” (St 12,12 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2012:&FontSize=Txt10))

Này, các bà thử nghĩ coi, giả như có Bác SB nào dám coi nhẹ tình yêu và hạnh phúc gia đình như thế, các Bà sẽ phản ứng ra sao? Khi bác trai mà nói thế với mình, các Bà có nổi cơn “tam bành lục tặc” lên không?

Bão sẽ nổi lên ngay và sẽ là bão cấp 14 hay 15.

Tại sao Abraham lại hành xử như thế?

KaTy
03-11-2006, 08:54 PM
Tại sao Abraham có thái độ thiếu quân tử và coi thường hạnh phúc gia đình như thế?

Để biện minh - hay là “hiểu”, “thông cảm”- cho hành vi của Abraham, ít ra chúng ta phải biết chút ít về gia cảnh và con người của ông.

Chúng ta hãy trở lại những câu cuối của chương 11,24-32 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2011:24-32&FontSize=Txt10).

“ 24 Khi ông Na-kho được hai mươi chín tuổi, thì sinh ra Te-ra.25 Sau khi sinh Te-ra, ông Na-kho sống một trăm mười chín năm và sinh ra con trai con gái. 26 Khi ông Te-ra được bảy mươi tuổi, thì sinh ra Áp-ram, Na-kho và Ha-ran.

27 Đây là gia đình ông Te-ra: Ông Te-ra sinh ra Áp-ram, Na-kho và Ha-ran. Ha-ran sinh ra Lót.28 Ha-ran chết trước mặt cha mình là Te-ra, tại thành Ua của người Can-đê, quê hương ông.29 Ông Áp-ram và ông Na-kho lấy vợ; vợ ông Áp-ram tên là Xa-rai, vợ ông Na-kho tên là Min-ca, con gái ông Ha-ran; ông này là cha của bà Min-ca và bà Gít-ca.30 Bà Xa-rai hiếm hoi, không có con.

31 Ông Te-ra đem theo con trai là Áp-ram, cháu nội là Lót, con ông Ha-ran, con dâu là Xa-rai, vợ ông Áp-ram, con của ông; họ cùng với ông ra khỏi Ua của người Can-đê, để đi tới đất Ca-na-an. Họ đến Kha-ran và ở lại đó.

32 Ông Te-ra sống được hai trăm lẻ năm năm, rồi qua đời tại Kha-ran.”

(St 11,24-32 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2011:24-32&FontSize=Txt10))


Bố Terah

Đọc lại đoạn Kinh Thánh trên, chúng ta thấy Terah là hậu duệ đời thứ chín của Noe, là con của Shem, người con tốt lành nhất, đạo đức nhất của Noe. Shem đã che thân thể loã lồ của bố Noe mà không dám nhìn (St 9,23 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%209:23&FontSize=Txt10)).

Terah có con hơi muộn. Các tổ phụ dòng tộc ông đều có con sớm. Không ai đợi đến trên 35 tuổi mới có con. Riêng mình Terah mãi đến 70 tuổi mới sinh Abram. Terah chứng kiến cái chết của người con út, là Haran, bố của Lot.

Sau đó, Terah đem con trai là Abram, cháu là Lot và Sarai, vợ Abram, rời quê hương là thành “Ur của người Chaldees” (còn gọi là Babylonia) nhắm hướng Canaan mà đi.

Chúng ta không biết được lý do tại sao Terah rời quê. Nhưng trước khi Abram được lệnh tới Canaan thì bố ông đã muốn mang ông đến đó rồi: “Ông Te-ra đem theo con trai là Áp-ram, cháu nội là Lót, con ông Ha-ran, con dâu là Xa-rai, vợ ông Áp-ram, con của ông; họ cùng với ông ra khỏi Ua của người Can-đê, để đi tới đất Ca-na-an. Họ đến Kha-ran và ở lại đó.” (St 11,31 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2011:31&FontSize=Txt10))

Quê nhà của Terah là vùng hạ lưu châu thổ Lưỡng Hà. Lúc ấy dân chúng vùng này đang muốn tìm học cho biết cách vận chuyển các tinh tú, để dựa vào đó mà đoán ra vận mệnh nổi trôi từng phận người. Đó là vùng đất của Thiên văn học và Tử vi Lý số. Hơn thế Tử vi còn đóng vai trò tôn giáo của vùng này. Dân chúng chốn này thờ Mặt Trăng.

Tuy Terah nhận thấy đã có điều không ổn trong việc thờ phụng Bầu Trời và các Tinh tú trên đó, nhưng ông chưa hay không đi tới cùng. Ông chỉ dừng lại tại Haran.


Abram kiên cường

Ngược lại, người con Abram của ông kiên cường hơn, mang tên với nghĩa “Ông bố đáng khen”. Tuy thấy bố Terah đã lớn tuổi, ông chẳng can mà cũng chẳng ngại dời cư theo bố mình. Và rồi dù ông chú Nahor có bám trụ Haran và định cư luôn tại đó, Abram vẫn tỏ lòng hiếu bằng cách tiếp nối ý định ban đầu của bố Terah là tiếp tục dời cư xuống đến miền Canaan, tận dưới miền Nam xa xôi.

Lúc bắt đầu lên đường, Abram đã có bà Sara làm vợ: “Ông Áp-ram và ông Na-kho lấy vợ; vợ ông Áp-ram tên là Xa-rai, vợ ông Na-kho tên là Min-ca, con gái ông Ha-ran; ông này là cha của bà Min-ca và bà Gít-ca.30 Bà Xa-rai hiếm hoi, không có con." ( St 11,29-30 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2011:29-30&FontSize=Txt10))


Như thế chú Nahor của Abram lấy cháu gái mình là Minca, con của Haran. Còn họ hàng của bà Sarai như thế nào thì chúng ta không được biết. Chúng ta chỉ biết bà hiếm muộn, không con. Sau này, qua chính miệng Abram nói ra, chúng ta còn biết bà “rất đẹp”: “Người Ai cập thấy bà đẹp mà nói rằng bà ấy là vợ tôi. Họ sẽ giết tôi mà để cho bà sống.” (St 12,12 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2012:12&FontSize=Txt10)).


Như thế, qua những thông tin ngắn ngủi từ Kinh Thánh cho đến lúc này, chúng ta thấy Abram là một người “tam vô”: 1-không con nối dõi, 2-không nguồn gốc lai lịch, 3-không nhà không cửa, và biết đâu, nếu mạnh miệng, chúng ta có thể kết luận là Abram 4-vô tôn giáo, theo nghĩa chưa có vị Thần Linh rõ rệt nào để thờ.

Abram là con của một người lang thang, suốt đời đi tìm kiếm, suốt đời vượt qua nhiều chặng đường, vượt qua nhiều rào cản. Rào cản tự nhiên như biên giới các thị quốc, nằm dọc suốt tây ngạn sông Euprates, từ Ur lên đến Haran, rồi từ Haran xuống đến Canaan. Rào cản thiêng liêng như bao niềm tin, tôn giáo, và biết bao vị thần linh bằng đất nung, nhỏ bằng nắm tay, của các thị quốc địa phương ấy.

Mà không chỉ “vượt qua”, ông còn “vượt quá” các quan niệm thấp kém của đám con cháu những người từng hùa nhau xây tháp Babel hùng vĩ nhưng bất thành trước kia.

Ông rời bỏ họ, và các quan niệm bất toàn về thần linh của họ sau lưng, để tiếp tục kiếm tìm cho mình một cội nguồn, một vùng đất định cư, một đoàn hậu duệ, và có lẽ một điều gì cao cả hơn, một Vị Thần Linh tối thượng, chẳng hạn.

Nguyên chi tiết bỏ quê hương để lên đường, đã cho chúng ta thoáng thấy hai bố con Terah Abram đã có viễn kiến hay ấp ủ một hoài bão gì to lớn hơn thường, hay ít ra họ đang khao khát một điều gì mà một đời bình lặng tại một khung cảnh cũ đầy “đất lề quê thói” giữa luỹ tre kia không thể thoả mãn.

KaTy
03-11-2006, 08:57 PM
Tại Ur và suốt dọc đường dời cư lên Haran, Abram hẳn đã chứng kiến và biết mỗi thị quốc đã thờ phụng biết bao là vị thần.

Truyền thống Do thái còn lưu lại câu chuyện kể rằng nghề nhà ông Terah là buôn bán các tượng thần mà người địa phương thờ cúng. Khi thương mại đã dính dáng tới tôn giáo thì dĩ nhiên càng có nhiều thần được thờ thì thương vụ của gia đình càng phát đạt. Nhiều thần với nhiều mẫu mã nhiều kiểu dáng. Tha hồ cho người sùng đạo chọn lựa. Cái cảnh la liệt các vị thần trong sạp buôn của gia đình hẳn cũng giúp nhiều cho Abram ngộ ra chân lý. Một hôm Abram đập vỡ hết các hình tượng, chỉ để lại một tượng thần lớn nhất với một cái búa trong tay. Phải có một vị Thần lớn nhất, cao cả nhất, uy quyền nhất, cai trị đám thần lau nhau kia. Câu chuyện phản ảnh được phần nào cái tâm tư mà người ta muốn gán cho, hay muốn tìm thấy nơi Abraham, để lý giải cho lời kêu gọi Thiên Chúa dành cho ông.

Nếu ông không thật sự đập nát các tượng thần con con trong nhà của bố Terah, thì dọc đường dời cư, hẳn ông cũng nhận ra cái vô lý của sự kiện mỗi một thị quốc mà thờ lạy vô số các vị thần.

Chân lý, đối với ông, có lẽ phải là vô số các thị quốc chỉ phải thờ MỘT vị Thần duy nhất mà thôi.


Ấy là một lẽ.

Một chi tiết thú vị khác chúng ta không nên bỏ sót. Đó là sự kiện bà Sarah đẹp.

Đẹp mà không có con. Không có con, nhưng đẹp.

Nhà cháu cố ý nhấn mạnh cả hai khía cạnh. Cả hai yếu tố ấy đều quan trọng đối với Abram.

Nhưng quan trọng hơn nữa là, các Bác có bao giờ nghĩ rằng, với bà vợ tuy đẹp nhưng không có con như thế, mà Abram vẫn cứ gắn bó suốt đời, không thay lòng không đổi dạ, lại không hề nghĩ đến chuyện kiếm thêm bà hai để có được mụn con nối dõi.

Trong một xã hội cổ xưa, với quan niệm người không con là một điều xỉ nhục và là người bị chúc dữ, thì các Bà và các Bác nghĩ coi: đốt đuốc mà tìm thì có kiếm được người thứ hai như Abram không?

Nghĩa là Abram không phải là người nhe dạ, nông nổi. Ông phải là người trưởng thành về phương diện tâm lý và tính dục. Ông là người hiểu biết, có giáo dục.

Tắt một lời , ông là người chồng chung thủy.

Biết đâu, thái độ trưởng thành và có trách nhiệm trong tình yêu của ông lại là một điểm son thêm vào một tâm hồn vốn đang khao khát Đấng Tối Cao, khiến cho Abram trở thành đối tượng tốt nhất mà Thiên Chúa kiếm tìm cho “bách niên chi kế” của Ngài?



Thật ra chúng ta chỉ biết rõ tình trạng thật tâm hồn và con người ông qua lời Thiên Chúa nói với ông :

12:1 Vayomer HASHEM el-Avram - HASHEM said to Avram,-
Lech Lecha me'artzecha - "Go from your land,
umimoladetecha - from your birthplace,
umibeit avicha - and from your father's house,
el-ha'aretz asher ar'eka. - [and go] to the land that I will show you.

2 Ve'e'escha legoy-gadol -I will make you into a great nation,
va'avarechecha - I will bless you
va'agadelah shemecha - and make your name great;
veheyeh beracha. - and you will be a blessing.

3 Va'avarechah mevarachecha - I will bless those who bless you,
umekalelecha a'or - and he who curses you, I will curse;
venivrechu vecha - and through you, will be blessed
kol mishpechot ha'adamah. - all the families of the earth."


Chúng ta thường đặt tên cho biến cố mà đoạn Kinh Thánh (St 12,1-3 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2012:1-3&FontSize=Txt10)) vừa thuật lại là Thiên Chúa “gọi” Abram. Nhưng từ ngữ chính thức là “vayomer – nói, ngỏ lời” “Vayomer HASHEM el-Avram”: “Thiên Chúa nói với Abram rằng”.

Kinh Thánh không ghi lại vì lý do gì mà Thiên Chúa ngỏ lời với Abram. Mà Ngài không nói chuyện với Abram để trao một trách vụ gì. Chỉ bảo ông bỏ nhà cửa của bố mẹ mà ra đi đến một nơi Ngài sẽ chỉ cho sau. Đồng thời Ngài báo sẽ ban cho ông bảy lời hứa. (St 12,2-3 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2012:2-3&FontSize=Txt10))

Tất cả có bẩy điều, mà riêng ông được bốn điều. –
-“Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn,”
-“sẽ chúc phúc cho ngươi.”
-“Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, “
-“và ngươi sẽ là một mối phúc lành.”


Qua ông, các ngươì khác được ba điều:
-“Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi;
-“Ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa.
-“Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc."

Bù lại Ngài có bắt Abram làm điều chi không ? Không, hoàn toàn không.

KaTy
03-11-2006, 08:59 PM
Kinh Thánh ghi tiếp:


4 Vayelech Avram ka'asher diber elav HASHEM vayelech ito Lot ve'Avram ben chamesh shanim veshiv'im shanah betzeto meCharan.
Avram went as HASHEM had told him, and Lot went with him. Avram was seventy-five years old when he left Charan


Như thế Thiên Chúa đã chọn người, và Ngài chọn đúng người.

Abram nghe Thiên Chúa nói và lập tức thi hành ngay. Ông lên đường, ra đi, không chần chừ, cũng chẳng hề mở miệng thốt ra lấy một câu, dù là câu hỏi “Đi đâu ?” hay “Tại sao ?” mà bình thường ai nấy đều hỏi trong trường hợp tương tự.

Xem chừng Abram ra đi, bây giờ vì nghe theo tiếng Thiên Chúa ngỏ lời mà đi, nhưng bên ngoài vẫn như là tiếp nối hành trình theo đường hướng trước giờ bố Terah đã khởi đầu.

Chúng ta nên lưu ý, đọc lại bản văn Kinh Thánh theo nhãn quan bây giờ chúng ta có dễ có cảm tưởng như là Abram đã biết Thiên Chúa là ai (như chúng ta đang tin ngày nay) và khi Người mở miệng, tức thì Abram nghe và tuân theo tiếng Thiên Chúa vì lòng kính sợ Đức Chúa Trời.

Không! Abram chưa từng biết đến Thiên Chúa là ai. Mà cho đến lúc đấy Ngài chưa hề tỏ cho Abram biết Ngài là Thiên Chúa duy nhất và chân thật trong trời đất.

Kinh Thánh chỉ ghi “Thiên Chúa nói với Abram”. Nói bằng cách nào? Chúng ta không biết. Abram nghe ra được tiếng nói ấy trong lòng, hay ngoài tai, chúng ta cũng không hay.

Abram ra đi, tiếp tục ra đi chỉ vì trong tận đáy lòng, ông là người tham vọng đưọc cái lớn nhất, cái vĩ đại nhất, cái nhiều nhất, cái duy nhất. Ông ra đi vì ông tin rằng cách nào đó Tiếng Nói mà ông nghe được có thể phát xuất từ một Quyền Năng đủ mạnh để trao phó vận mệnh đời mình vào đấy.

Ống muốn đi đến tận cùng để xem Tiếng Nói ấy phát xuất từ Vị nào mà có thể thấu rõ lòng mình mà mình lại chẳng nhìn thấy dạng, tường tận từng nỗi khao khát đang âm ỉ tận đáy lòng mình mà không cần cho mình diện kiến .

Dường như Abram tự nhủ :“Cứ đi theo Tiếng nói đã chỉ. Xem coi sự thể rồi ra sẽ thế nào?” Và ông ra đi, “như đã thấy Đấng Vô Hình.”

Phải chăng đây đã được xem là niềm tin của Abram vào Thiên Chúa rồi .



Chúng ta hãy xét chi tiết đầu tiên Thiên Chúa thông báo cho Abram: “Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn.”

Nghe thế hẳn Abram sẽ thắc mắc làm sao Tiếng Nói ấy lại biết nỗi lòng sâu kín của ông? Lời thông báo vẽ ra một viễn cảnh hoàn toàn khác hẳn với thực tại, nếu không nói là bất khả thi xét theo hiện thực. Hai ông bà đã quá tuổi có con mà Sarah thì hiếm muộn.

“Dân tộc lớn” ấy sẽ và chỉ là đám hậu duệ của ông. Ông và vợ ông, bà Sarah, sẽ là những người thực hiện lời thông báo ấy. Để thực hiện lời thông báo, ông là một thành tố tất yếu, sine qua non, nhưng vợ ông, bà Sarah, cũng là một thành tố không kém phần quan trọng.

Bao nhiêu vua chúa trong các thị quốc mà ông từng đi qua, đều ao ước có con trai để nối dõi và để lưu truyền vương quyền muôn đời về sau. Không có con cái, các dòng vua sẽ kết thúc, hoàng gia sẽ bị loại bỏ và các đế quốc sẽ lụm tắt hay lọt vào tay dòng tộc khác. Các vua chúa lắm thê nhiều thiếp là vì lẽ ấy. Các hoàng đế có Đông cung, Tây cung, Nam cung ... là cũng vì lẽ đó. Hoàng hậu nào không cho hoàng đế được một mụn con trai cũng sẽ bị phế hay đày vào lãnh cung, cũng là vì lẽ đó. Tất cả các phụ nữ trong cung vua, được sủng ái hay không, đều chỉ được coi trọng qua khía cạnh “làm mẹ.”

Abram hiểu điều đó.

Nhưng tiếc là Abram không thấu triệt bài học theo cách nhìn của Thiên Chúa.

Cả hai vợ chồng đều phải có cùng một vai trò quan trọng như nhau trong việc thực hiện lời thông báo đầu tiên của Vị Thiên-Chúa-mới-tự-giới-thiệu-nhưng-đang-dấu-mặt.

Để “trở thành một dân tộc lớn” Abram phải cần đến bà Sarah như một người vợ chứ không chỉ như một người mẹ.

Thiên Chúa phải huấn luyện Abram về điều thoạt đầu nghe tưởng là nghịch lý này. Ngài bắt hai ông bà phải chờ thêm 25 năm nữa, sau khi thử thách ông bà nhiều lần, trước khi ban cho Isaac, “đứa con của Lời Hứa”.

Và hình như lần nào, Abram cũng đều thi rớt.

KaTy
04-11-2006, 08:25 AM
Vậy chúng ta tiếp tục theo dấu chân của Abram như đã ghi trong Kinh Thánh:

4 Vayelech Avram ka'asher diber elav HASHEM - Avram went as HASHEM had told him,
vayelech ito Lot - and Lot went with him.
ve'Avram ben chamesh shanim veshiv'im shanah betzeto meCharan. - Avram was seventy-five years old when he left Charan

Abram ra đi “như Thiên Chúa đã bảo. Có Lot đi cùng với ông.”


“Vayelech ito Lot" - Có Lot đi cùng với ông? Tại sao?

Chúa có nhắc Abram là: “Nhớ đem Lot đi theo.” không?

Chi tiết con con này cho chúng ta thấy điều gì? Khi đem Lót đi theo, có phải Abram muốn sống trọn tình trọn nghĩa với người em út đã khuất, thay mặt em mà lo lắng cho cháu? Hoặc ông vẫn còn nặng tình nghĩa họ hàng?

Hay, bạo mồm bạo miệng hơn, chúng ta có thế võ đoán rằng, vì hai ông bà nay đã luống tuổi, nên lòng thầm nghĩ rằng đứa cháu kia có thể là đầu mối hậu duệ của mình và lời nói của Đấng Vô Hình kia vậy là bắt đầu có cơ thực hiện? Cháu cũng như con. Dòng dõi nó cùng là dòng dõi nhà mình.

Hẳn Abram có lòng lo xa “dùm” Thiên Chúa. Nhưng Abram cũng chỉ lo xa được tới chừng đó. Rõ ràng ông không thể biết những bất ngờ Ngài còn dành cho ông, phía trước mặt. Ngài sẽ chỉnh đốn sự sai lạc này. Như chúng ta sẽ thấy, sau này hai chú cháu chia tay.

Abram đã thi rớt lần đầu tiên.

Nhưng bây giờ chúng ta hãy cứ tiếp tục đi theo hai chú cháu.

5 Vayikach Avram et-Sarai ishto ve'et-Lot ben-achiv - Avram took his wife Sarai, Lot, his brother's son,
ve'et-kol-rechusham asher rachashu - all their possessions they had acquired,
ve'et-hanefesh asher-asu veCharan - and the souls [people] that they had made [converted] in Charan
vayetze'u lalechet artzah Kena'an - , and they set out to go to the land of Kenaan.
vayavo'u artzah Kena'an. - They came to the land of Kenaan.

Không chỉ có hai chú cháu, nhưng còn có các “ve'et-hanefesh asher-asu veCharan - and the souls [people] that they had made [converted] in Charan – những người mà họ asu được . “Asu” có nghĩa là “làm ra”. Có người nghĩ rằng, đây là những nam nữ gia nhân đem theo. Người khác cho rằng, hơn thế nữa, đó là những người mà họ đã truyền đạt đức tin của mình, những người nghe theo lời họ mà tin vào vị Thần Mới của Abram.

Mà “Họ” đây, nghĩa là cả hai ông bà. Ông truyền đạo có người theo riêng. Bà truyền giảng có người theo riêng.



Khi tới đất Canaan, bất ngờ và ngỡ ngàng, ông nhận ra rằng, nơi đây không phải là vùng đất hoang chưa ai chiếm, chưa ai khai khẩn, chưa ai căm lều. Đất đã có chủ, đã có cư dân bản địa.

Đọc tiếp các câu St 12,5.6.7 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2012:5-7&FontSize=Txt10) chúng ta thấy gì?

"5 vayavo'u artzah Kena'an. They came to the land of Kenaan.
6 Vaya'avor Avram ba'aretz - Avram passed [traveled] through the land
ad mekom Shechem - until the place of Shechem,
ad elon Moreh - until the Plains of Moreh.
vehaKna'ani az ba'aretz. - The Kenaanim were then in the land.

7 Vayera HASHEM el-Avram vayomer - HASHEM appeared to Avram and said:
lezar'acha eten et-ha'aretz hazot - "To your descendants I will give this land."
vayiven sham mizbe'ach l'HASHEM hanir'eh elav. - There he built an altar to HASHEM Who had appeared to him.



Đã đến nơi rồi sao không dừng chân mà Abram còn đi qua vùng đấy cho mãi tới nơi gọi là Shechem?

Chỉ bởi vì “ehaKna'ani az ba'aretz. - The Kenaanim were then in the land. Người Canaan đang ngụ cư tại đó.” Dân bản địa Canaan này là một sắc dân hùng mạnh. Cơ ngơi, nhà cửa vườn tược đã đâu vào đấy từ lâu đời. Còn thành quách của họ thì không phải là nhỏ hay sơ sài.

Nhóm người tí tẹo kia đi theo hai ông bà già dĩ nhiên không dám dừng chân. Một chút lắng lo và se lòng chăng ? Dĩ nhiên là Abram sợ.


Vả lại, khi Thiên Chúa bảo Abram ra đi, Ngài chỉ bảo:

Lech Lecha me'artzecha - "Go from your land,
umimoladetecha - from your birthplace,
umibeit avicha - and from your father's house,
el-ha'aretz asher ar'eka. - [and go] to the land that I will show you.

“Đi đến đất Ta sẽ chỉ cho.” Ngài chưa hề hứa ban cho Abram đất ấy, hay đất nào khác. Ngài chỉ bảo “đi đến nơi Ngài sẽ chỉ cho.”


Vì thế, chúng ta không nghe nói Abram lập bàn thờ tại chỗ này!

Nghĩa là chưa dám trình bày niềm tin mới vào Vị Thần mới, trong một tông giáo mới.

Nghĩa là chưa dám giảng đạo, chưa dám truyền giáo công khai ở vùng đất mới.

Ông và gia đình cứ miệt mài đi mãi, đi qua vùng đất ấy, cho tới Shechem. Đến đây, Thiên Chúa hiện ra với ông.

À! Đây mới là lần đầu tiên Thiên Chúa tỏ hiện cho ông thấy. Vayera HASHEM el-Avram vayomer - HASHEM appeared to Avram and said:

Ngài hết còn là Đấng Vô Hình. Ngài không dấu mặt nữa. Nay Ngài đã là một Thực-Tại-Hữu-Hình.

Đồng thời với việc thần hiển, Ngài long trọng hứa ban Đất này cho hậu duệ ông.
lezar'acha eten et-ha'aretz hazot - "To your descendants I will give this land."

Chúng ta lưu ý Thiên Chúa không hứa ban đất cho ông, nhưng cho con cháu ông.


Bấy giờ ông mới lập bàn thờ đầu tiên. Tế lễ và Tạ ơn Vị Thần Chủ mới của gia đình.

“vayiven sham mizbe'ach l'HASHEM hanir'eh elav. - There he built an altar to HASHEM Who had appeared to him.


Nhân đây chúng ta mở một ngoặc đơn. Lẽ ra chúng ta nên nên ngạc nhiên khi lưu ý rằng, lần cuối cùng Thiên Chúa hiện ra tiếp xúc với loài người là lần hiện ra với Noe. Mới có cách mười thế hệ mà phàm nhân đã quên Chúa Cả Đất Trời.

Nay Ngài phải nhọc lòng tự giới thiệu lại cho loài người, qua Abram. Sau bao nhiêu thế hệ và bao nhiêu năm, niềm tin ấy được Abram truyền đạt cho con cháu, và qua con cháu ông, truyền đạt sang biết bao nhiêu dân tộc dưới vòm trời này.


Quả thực so với Abram, Noe là một thất bại ê chề.

KaTy
07-11-2006, 06:15 AM
Sau khi lập bàn thờ tại Shechem, Abram còn đi tiếp về phía núi

8 Vayatek misham haharah - From there he moved to the mountain
mikedem leVeit-El vayet aholoh - that was east of Beit-El and set up his tent.
Beit-El miyam veha'Ai mikedem - Beit-El was to the west and Ai was to the east.
vayiven-sham mizbe'ach l'HASHEM - There he built an altar to HASHEM,
vayikra beshem HASHEM. - and he proclaimed the Name, HASHEM.
9 Vayisa Avram haloch venasoa hanegbah. - Avram journeyed, traveling steadily southward.

Trước khi đi tiếp KaTy mời các Bạn tản mạn đôi điều về các địa danh của vùng linh địa, những nơi mà Abram từng lập các Bàn thờ.

So với các Cha Sở ngày nay, Abram là một trong những Vị xây được nhiều nhà thờ nhất!

Như chúng ta vừa đề cập, Abram lập bàn thờ đầu tiên tại Shechem, khi ông vừa mới vào đất Canaan. Đó là nơi đích thân Thiên Chúa hiện ra cho ông lần đầu tiên.

Sau này, Shechem cũng là thành trì đầu tiên dân Do thái đi vào khi vừa vượt qua sông Giodan để tiến vào Đất Hứa dưới sự lãnh đạo của Josue.

Shechem cũng là thành mà Dinah, con gái út của Giacob, bị bắt và bị hiếp. Sau này để trả thù cho cái nhục của em gái, hai anh Shimon và Lêvi, bất chấp thoả thuận của những anh em khác, giết hết dân thành khi họ đang đau đớn vì mới bị cắt bì. (St 34,25-28 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2034:25-28&FontSize=Txt10))

Shechem là nơi có mồ chôn Giuse, con cưng của Giacop. (St 37,24 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2037:24&FontSize=Txt10))

Và Shechem cũng là nơi phân giới, chia lãnh thổ Israel thống nhất thời David và Salomon thành hai vương quốc Bắc và Nam.


Abram lập bàn thờ thứ ba tại cây sồi ở Mambré, vùng Hebron (St 13,18 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2013:18&FontSize=Txt10)), nơi sau này có ngôi mộ chung của gia đình.

Núi Morah là nơi có bàn thờ thứ tư, nơi ông tế sinh Isaac (St 22,14 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2022:14&FontSize=Txt10)), nơi “Thiên Chúa được mọi người thấy.”


Còn một bàn thờ nữa, bàn thờ thứ hai này. Thoạt nhìn chừng như không quan trọng mấy, vì không được xác định rõ địa điểm (St 12,8 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2012:8&FontSize=Txt10)) Bản văn chỉ nói nó nằm giữa Beit El và Ai. Chỉ có một chi tiết thú vị là sau khi lưu lạc sang Aicập về, hai ông bà trở lại chốn này, và lập thêm một bàn thờ nữa tại đây (St 13,3-4 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2013:3-4&FontSize=Txt10)).

Chốn này có gì đặc biệt?

Trước hết là Beith-El . “Beith” là “nhà” và “El” là “Thiên Chúa”. “Beith-El” là “nhà của Thiên Chúa.”

Giacob trên đường lưu lạc về lại Haran tìm vợ, đêm nằm gối đầu trên hòn đá tại chỗ này mà ngủ. Trong giấc mộng Giacob mơ thấy có một cái thang dài từ đất nối lên trời, có thiên thần lên xuống (St 28,12 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2028:12&FontSize=Txt10)). Sau cơn bĩ cực trở về, Giacop cũng đi ngang qua nơi này lần nữa.

Thang dài nối liền trời đất, phải chăng biểu tượng cho con người phải biết đem công sức mình cộng tác vào ơn Trời.

Còn thành Ai là nơi Israel phạm tội tày trời, sau khi chiến thắng Giêricô, gia đình ông Akhan con của Ami không tuân theo lệnh tru diệt, đã lén chiếm làm của riêng một số chiến lợi phẩm, thay vì phải đốt sạch. Sau đó Israel tiến quân chiếm thành Ai. Lẽ ra đây phải là một chiến thắng oai hùng nữa. Nhưng Israel lại thua xiểng niễng.

Sau khi tìm ra do lai, Josue đành phải lên án tử gia đình Akhan. Lúc ấy, thành Ai mới bị triệt hạ.

Như vậy bàn thờ thứ hai của Abram dựng nên nằm giữa hai vị trí mang tính biểu tượng cho hậu thế. Nhưng con cháu của Abram sau này quên mất ý nghĩa của bài học địa danh này.

KaTy
07-11-2006, 06:20 AM
Đi tới đâu lập các bàn thờ ở đó, rồi Abram định cư.

Mà chưa chừng Abram chẳng có giờ để mà ở lâu. Thuật trình đang kể Abram cứ đi xuôi mãi xuống miền Nam “9 Vayisa Avram haloch venasoa hanegbah. - Avram journeyed, traveling steadily southward.” thì nạn đói ập tới, hoành hành nghiệt ngã.

Abram có chút nào thất vọng không, khi được hứa ban một mảnh đất mà, sau một hành trình dài gian khổ, trải qua bao dặm đường đất, để lại sau lưng quê nhà yên ấm, của cải gia tài, đến nơi chỉ gặp được một ...nạn đói?

Cuộc gặp gỡ đầu tiên với Miền Đất Hứa quả là để lại nhiều ấn tượng nhớ để đời.

Nếu nhà cháu là Abram, chắc chắn nhà cháu sẽ có nhiều cay đắng. Chứ không như hai ông bà Abram, không hề ca thán, chỉ dắt dìu nhau đi tiếp qua Ai Cập lánh nạn.

Abram phải tự mình đi mà không được chỉ định trước, tìm thực phẩm bên Ai cập, để sống còn. Lần đầu tiên, Abram biết thế nào là thân phận kẻ ngoại kiều trong một đất nước hoàn toàn xa lạ. Lần đầu tiên Abram phải đương đầu với những hoàn cảnh bất công và bại hoại, ngược hẳn với đường lối của Đấng Tối Cao. Lần đầu tiên ông biết xung khắc giữa tình yêu mình dành cho người nhà và bất công của xã hội.



Ông chia xẻ điều lo ngại đó với vợ:


11 Vayehi ka'asher hikriv lavo Mitzrayimah - As he came near and was about to enter Egypt,
vayomer el-Sarai - he said to his wife Sarai,
ishto hineh-na yadati ki ishah yefat-mar'eh at. - "Behold, I now realize that you are a woman of beautiful appearance. Bà coi, tôi biết bà là một người phụ nữ có nhan sắc.

12 Vehayah ki-yir'u otach haMitzrim ve'amru ishto zot vehargu oti ve'otach yechayu. It will happen when the Egyptians see you that they will say, 'This is his wife.' They will kill me and let you live. Khi người Ai-cập thấy bà, họ sẽ nói: "Vợ hắn đấy!", họ sẽ giết tôi và để cho bà sống.

13 Imri-na achoti at lema'an yitav-li va'avurech vechaytah nafshi biglalech.
Please say [therefore] that you are my sister, so that it will go well with me for your sake, and my life will be spared because of you." Vậy xin bà cứ nói bà là em tôi, để vì bà, người ta xử tốt với tôi, và nhờ bà, tôi được sống."



Như thế lo cho an nguy của tính mạng mình, Abram yêu cầu bà Sarah chối bỏ hôn nhân giữa hai người và chỉ tự nhận mình là “em gái”, mong rằng vì thế mà người Ai cập để ý đến nhan sắc của bà và chỉ để ý đến điều đó mà thôi. Nếu thế ông sẽ giữ được mạng.

Điều lạ là chính bà Sarah đã đồng ý như thế.

Sự thể xảy ra đúng như ông đã đoán. Chỉ có chút sai biệt là ông không ngờ chính Pharaon, chứ không ai khác, để ý tới nhan sắc của bà Sarah.

Làm phụ nữ có nhan sắc cũng... phiền, các Bạn nhỉ?

Hành vi của Abram không phải là ai cũng hoan nghênh.

Thánh Augustine chỉ nhận định "he silenced a little bit of truth, he didn't say anything false.- Tổ phụ im lặng không nói hết sự thật. Ngài không nói điều gì sai" (Xem Augustine contra Faustum 22. 34; PL, cuốn 42, cột 422)

Còn Gerhard von Rad, một học giả cự phách về KinhThánh Cựu ước, trách hành vi này là "cynical, utilitarian consideration.- toan tính bất chấp đạo lý, đầy thủ lợi" [ Xem Gerhard con Rad, Genesis, 2nd ed., bản dịch nhuận sắc của John H. Marks, in tại London, Nxb S.C.M. Press Ltd., 1963, trang. 222.]

Bible de Jerusalem, bản dịch mới năm 1985, trang 53, phần chú thích cuối trang số b) ghi như sau : “Cette histoire, dont le thème se retrouve en 20 (encore Sara) et 26 1-11, célèbre la beauté de l’aïeule de la race, l’habileté du Patriarche, la protection que Dieu accorde à tous deux. Elle porte la marque d’un âge moral où la conscience ne réprouvait pas toujours le mensonge et où la vie du mari valait plus que l’honneur de la femme . L’humanité, guidée par Dieu, n’a pris de la loi morale qu’une conscience progressive. – Câu chuyện này có chủ đề lập lại ở hai nơi, chương 20 (cũng Sara) và 26,1–11 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2026:1-11&FontSize=Txt10), nhằm ca ngợi sắc đẹp của tổ mẫu, nét linh lợi của của Tổ Phụ, và sự bảo vệ Thiên Chúa dành cho cả hai vị. Chuyện tích mang dấu ấn của một giai đoạn luân lý, thời mà lương tâm không phải lúc nào cũng lên án lời nói dối, thời mà mạng sống người chồng có giá trị hơn danh dự người vợ. Được Thiên Chúa hướng dẫn, nhân loại học dần dần quy luật luân lý qua một lương tâm tiệm tiến.”

Rất dễ dàng để chê trách Abram không lý gì đến an nguy của vợ mà chỉ nghĩ sắc đẹp của bà là đáng kể.

Tuy nhiên chúng ta phải nhớ rằng, cả hai đang rơi vào một nan đề. Họ đang chạy trốn cái chết chắc chắn tại Canaan do nạn đói đang hoành hành, và cả hai đều giả thiết rằng nhan sắc lộng lẫy của Bà sẽ khiến bà bị bắt đi. Bị bắt đi, nghĩa là bà chắc chắn còn có thể sống. Nan đề còn lại là phần Abram, liệu ông có thể sống sót được hay không? Trong tư cách là “chồng” thì ông chết chắc. Trong tư cách là “anh” thì ông có thể sống.

Hai kẻ được kể là chết đói kia có lẽ chẳng còn gì để mất. Tạm dung để ăn mày thực phẩm nơi đất khách quê người, thì chủ nhân đòi hỏi gì nơi mình mà chẳng được. Thói thường, trong hoàn cảnh ngặt nghèo như thế thì thực phẩm lại càng không phải là món miễn phí. Họ hoàn toàn lệ thuộc vào ý muốn bất ưng của chủ nhân sông Nil. Nếu Pharaon muốn có thêm một giai nhân vào trong hậu cung của mình, ai có thể từ chối?

Sau này còn có một mẫu đời khác tương tự, đó là câu chuyện của Esther, một thiếu nữ Do thái trong hậu cung hoàng đế Xerxes đế quốc Batư (486-465 TCN).


Thế ý kiến các Bạn thế nào?

KaTy
07-11-2006, 06:27 AM
Chúng ta không thể không thông cảm với Abram.

Ông đứng trước một nan đề: Hoặc ông giữ được mạng mình, nhưng với giá phải trả là tiết hạnh của bà vợ Sarah. Hoặc ông liều mình chết, để giữ danh tiết cho vợ. Nhưng dù thế, khi ông chết rồi, bà Sarah cũng bị bắt đi, mà lúc ấy chỉ còn là trong thân phận bà goá mà thôi!

Có thể Abram nghĩ tới lời Thiên Chúa hứa, mà lý luận rằng: ông có giữ được mạng sống thì Lời Chúa hứa mới có cơ thực hiện. Như thế, xét theo quan điểm phàm trần của ông, mạng sống của ông quan trọng cho Lời Hứa hơn là sự trung tín trong hôn nhân của hai ông bà.

Và biết đâu, có thể ông suy cho đến cùng, rằng vì Lời Chúa đã hứa với “cho ông và con cháu ông” nên, “con cháu của ông” thì “với ai” cũng được, chứ đâu cứ phải là con cháu của ông có cùng với bà Sarah!

Vả lại, đàng nào thì Sarah cũng hiếm muộn.

Mà có lẽ hai ông bà đã suy luận như thế thật. Vì bà cũng thuận tình với lời đề-nghị-thoạt- nghe-rất-hợp-lý ấy!



Chúng ta có thể trách tại sao Abram lại làm thế? Ông không tin tưởng vào Thiên Chúa sẽ cứu ông sao? Đức tin của ông đâu?

Nhưng chúng ta đừng quên rằng Thiên Chúa đã chỉ hứa ban cho con cháu ông được vùng đất tại Canaan kia thôi. Ngài đâu có dặn ông phải đi sang Ai cập! Ông tự ý đi qua Ai cập mà! Và Thiên Chúa đâu có hứa “sẽ bảo vệ ông”?

Hoàn cảnh đưa đẩy sang Ai cập mang thân viễn khách, Abram hẳn nghe biết Ai cập có luật lệ riêng, có các Thần riêng, và Pharaon cũng là một trong số các thần quyền uy ấy.

Vì không biết Vị Chủ Thần của mình có quyền hạn tại Ai cập hay không, nên cách tốt nhất, trong khả năng mình có thể, là giữ cho được mạng sống mình, ít là của chính mình.





Chuyện tráo trở vậy mà thành công. Không những không ai đụng đến ông anh Abram, mà Pharaon còn ban cho “anh rể” Abram nhiều quà tặng lấy lòng:


16 Ule-Avram heytiv ba'avurah vayehi-lo tzon-uvakar vachamorim va'avadim ushfachot va'atonot ugemalim.- And he treated Avram well for her sake, and he acquired sheep, cattle, and male donkeys, male and female slaves, female donkeys and camels.

Bỗng chốc trong một sớm một chiều, Abram giầu lên, như một ông hoàng: có tôi nam tớ nữ, có đàn súc vật, lừa đực, lừa cái và cả lạc đà (Xem chú thích 1*).


Tất cả với cái giá phải trả là nhan sắc và tiết hạnh của bà Sarah.



-----

Chú thích (1*)

Sáng thế ký nhắc đến “lạc đà" (Camelus dromedarius) tất cả 28 lần (St 12,16; 24; 30,43; 31,17.34; 32,7.15; 37,25 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2012:16,24:;30:43;31:17,34;32:7,15;37:25&FontSize=Txt10)). Nhiều nhà chú giải cho rằng đây là một chi tiết lạc thời. Bright cho rằng tác giả bản văn kể thêm “lạc đà” vì khoa trương "...để cho câu chuyện thêm thú vị đối với người đọc." ( Xem Bright, John . A History of Israel. In lần ba, London: SCM, 1980, trang 81). Vì theo Seters, lạc đà chỉ mới được thuần hóa sau này, vào thiên niên kỷ thứ nhất trước Công Nguyên (Xem Seters, John van. Abraham In History And Tradition. New Haven: Yale University Press,1975, trang 17).


Nhưng theo Wiseman, lạc đà và lừa đã từng được sử dụng để chuyên chở từ thiên niên kỷ thứ ba trước Công Nguyên, nhưng chỉ được thuần hoá rộng rãi vào khoảng năm1500-1250 trước Công Nguyên ( Xem Wiseman, D.J. 1979. "Archaeology & The Old Testament," F.E. Gaebelein, gen.ed. Expositor’s Bible Commentary, Vol. 1. Grand Rapids: Zondervan, trang 316).


Còn một chi tiết quan trọng khác. Lần đầu tiên Kinh Thánh nhắc tới “con ngựa” là thời Giuse đang làm quan lớn trong triều Pharaon. (St 47,17 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2047:17&FontSize=Txt10)) Đó là thời điểm thế kỷ 18 đến thế kỷ 16 trước Công Nguyên. Ngựa xuất hiện trong vùng Trung Đông khoảng những năm 2300 trước Công Nguyên. Lúc ấy ngựa là con vật rất được coi trọng và quý giá. Nên nếu một tác giả vào thiên niên kỷ thứ nhất, nếu muốn nhấn mạnh đến sự giầu có của các Tổ phụ hẳn đã phải thêm “ngựa” thay vì “lạc đà” như trong bản văn trên đây, vì vào lúc ấy dù sao lạc đà cũng đã thông dụng và bình dân hơn. Chứ “ngựa” vẫn còn là con vật hiếm và đắt tiền (Xem Millard, Alan R. 1980. "Methods Of Studying The Patriarchal Narratives As Ancient Texts," A.R Millard.& D.J.Wiseman, eds. Essays On The Patriarchal Narratives. Leicester: IVP, trang 50).

KaTy
09-11-2006, 06:21 AM
Cuộc dàn xếp tưởng là biến báo, khôn ngoan, nhưng rõ ràng Thiên Chúa không hài lòng. Những trừng phạt xảy đến cấp kỳ, không báo trước:

17 Vayenaga HASHEM et-Par'oh nega'im gedolim ve'et-beito al-dvar Sarai eshet-Avram. HASHEM afflicted Pharaoh with severe plagues, and also his household, because of Sarai, Avram's wife.

Thiên Chúa bận tâm, lo lắng bảo vệ cho bà Sarah. Đối với Pharaon, bà chỉ là một phụ nữ đẹp, thêm vào số những thê thiếp đã sẵn có nhiều trong cung cấm. Đối với Abram, bà là người em gái. Nhưng đối với Thiên Chúa, Sarah là “Vợ của Abram - eshet-Avram.”

Thiên Chúa ra tay can thiệp để chấm dứt tình trạng ngoại tình này, không phải vì Sarah là một phụ nữ đẹp, mà vì Sarah là vợ của Abram. Đồng thời Ngài dạy cho Abram - và cho cả chúng ta nữa - bài học về nhân phẩm cao quý của người vợ.



Không chỉ một mình Pharaon chịu hình phạt, mà “cả nhà ông” cùng chung số phận. Bản văn Kinh thánh nhấn mạnh, không chỉ cho Pharaon, mà còn, và nhất là, cho Abram : “al-dvar Sarai eshet-Avram.- vì Sara, vợ của Abram.”


Điều cần lưu ý là sau khi bị trừng phạt, Pharaon - chứ không phải Thiên Chúa - trách Abram:

18 Vayikra Far'oh le-Avram vayomer - Pharaoh summoned Avram and said,
ma-zot asita li lamah -"What is this you have done to me?
lo-higadeta li ki ishtecha hi. - Why did you not tell me that she is your wife?

19 Lamah amarta achoti hi va'ekach otah li le'ishah ve'atah hineh ishtecha kach valech.
Why did you say, 'She is my sister,' so that I would take her as my wife? Now here is your wife; take [her] and go."

Nhưng qua giọng trách móc của Pharon, chúng ta nghe chừng như chính Thiên Chúa đang rầy la Abram: “Why did you say, 'She is my sister,'? “

Chúng ta không biết Thiên Chúa trừng phạt Pharaon và gia đình ông ra sao. Chỉ biết là “rất nặng nề - nega'im gedolim ” đến nỗi sau khi bị trừng phạt, Pharaon phiền trách Abram, và biện minh cho mình bằng cách đổ lỗi cho Abram đã không nói hết sự thật ! Pharaon không đả động gì đến việc quấy quá của mình là chiếm hữu người trái phép!

Và chúng ta không biết, giả như không bị trừng phạt thì Pharaon có trả Sarah về lại cho Abram hay không, Ông ta có hối lỗi vì đã chiếm vợ người, hay không?

Phần Abram, ông giữ im lặng khi nghe Pharaon trách móc! Không biết ông đã thấu triệt được bài học Thiên Chúa gửi gắm qua miệng Pharaon. Ngày nay khi đọc lại thuật trrình này, chúng ta biết có Thiên Chúa đứng sau mọi chuyện xảy ra cho Pharaon lúc ấy. Nhưng Abram không hề biết điều ấy.

Có thể sau khi Sarah được trả về, Abram biết rằng Pharaon không hoàn toàn quyền năng như mình từng sợ. Nhưng bảo rằng ông đã thấu triệt bài học về “ý nghĩa và tầm quan trọng của người vợ” chưa (Xem chú thích 2*), thì chúng ta còn nhiều nghi ngờ lắm!

Ậy! Không phải KaTy quá lời, mà quả thực chúng ta có lý do để cho là thế! Các Bạn chỉ cần đọc thêm một vài chương nữa thì biết ngay.

Abram còn phải được tôi luyện nhiều về khía cạnh này. Ông có vợ. Nhưng chưa quán triệt được ý nghĩa của người vợ trong gia đình, nhất là trong tư thế một tổ phụ và tổ mẫu của cả một dân tộc vĩ đại.



Kết quả của biến cố không-lấy-gì-làm-anh-hùng này, là hai ông bà rời Ai cập với một số vốn trong tay. Và dĩ nhiên thêm được một chút tiếng tăm: Được Pharaon kiềng nể!

Tuy chưa đúng mức, nhưng chúng ta thấy Abram đã bắt đầu có chút ý thức về vai trò của Sarah, nếu chúng ta lưu ý rằng, khi miêu tả ông từ Ai cập trở về lại đất Canaan, Kinh Thánh kín đáo viết:

13:1 (http://scripturetext.com/genesis/13-1.htm) Vaya'al Avram miMitzrayim hu ve'ishto vechol-asher-lo veLot imo haNegbah. Avram went up from Egypt; he, his wife, and all that was his, together with Lot into the south. -D'Égypte, Abram avec sa femme et tout ce qu'il possédait, et Lot avec lui, remonta au Négeb.(BJ) - Abram đi lên từ Ai cập, ông , vợ ông, và tất cả những gì thuộc về ông, cùng với Lot, đến lên đến miền Nam.

Động từ “đi lên”dùng thật khéo chỗ này, vừa chỉ chuyển động trong không gian, vừa có thể giúp hiểu được hướng thăng tiến của tâm hồn Abram.

Hơn nữa bà Sarah, được nhắc đến qua vai trò “vợ ông”, được kể đi liền ngay sau ông, trước khi nói đến của cải. Còn Lot, người cháu, mà ban đầu ông đặt hy vọng làm hậu duệ, nay xa dần ông, đi cuối cùng.

“Abram đi lên từ Ai cập, ông ,vợ ông, và tất cả những gì thuộc về ông, cùng với Lot.”




...>>>

Chú thích (2*)
Các Bạn đừng cười "mím chi" khi nghe công thức quen thuộc này, nhá. (!)

KaTy
09-11-2006, 06:22 AM
Sau khi ổn định tại Canaan, và sau nhiều biến cố như chia tay với Lot, giải cứu Lot khỏi tay bốn vị vua liên minh với nhau, gặp Melchizedeck, và ký giao ước với Thiên Chúa, Abram vẫn chưa có con.

Chúng ta lướt qua những biến cố ấy, và chỉ chú trọng tới những gì kế tiếp:

Sau cuộc giao chiến giải cứu Lot, đụng chạm tới cái chết, dường như Abram lo sợ cho vận mệnh mình, rủi ro có chuyện gì chẳng lành đột ngột xảy ra, thì lời hứa kia làm sao thành toàn. Ông nói lên điều lo lắng với Thiên Chúa:

2 (http://scripturetext.com/genesis/15-2.htm) Vayomer Avram adonai HASHEM mah-titen-li ve'anochi holech ariri uven-meshek beiti hu Dammesek Eli'ezer.
Avram said: "My Master, God, what will You give me since I continue to be childless, and the manager of my household is Eliezer of Damascus?"

3 (http://scripturetext.com/genesis/15-3.htm) Vayomer Avram hen li lo natatah zara vehineh ven-beiti yoresh oti.
And Avram said: "Behold, You have not given me children, and thus one of my household will be my heir.

Ông đề nghị: “Hay là lấy người nô bộc thân tín của con là Eliezer đây làm hậu duệ.”?

Abram áy náy, lo lắng vì thực tế không thấy có dấu hiệu khác biệt hay chuyển biến thuận lợi nào. Ngày qua ngày lại, hai ông bà vẫn cứ già đi theo bốn mùa thay đổi, mà hoa khôi Sarah thì vẫn hoài hiếm muộn.

Bài học đức tin vẫn quá cao, ông chưa thấu đáo. Ông vẫn còn lấy bụng mình làm thước đo lòng Thiên Chúa.


Không, Thiên Chúa nhấn mạnh một lần nữa:

4 (http://scripturetext.com/genesis/15-4.htm) Vehineh dvar HASHEM elav lemor lo yirashecha zeh ki-im asher yetze mime'echa hu yirashecha.
Suddenly the word of Hashem came to him, saying: "That one will not be your heir; only he that will come from within your body will be your heir."

Chính người con do bụng dạ ngươi sinh ra mới thừa tự lời Ta hứa!


Sau khi được Thiên Chúa nhấn mạnh như thế, đến lúc này Kinh Thánh ghi lại một câu khiến chúng ta mát ruột với Abram và chính câu quan trọng này cho thấy ông trở thành mẫu gương cho tất cả những kẻ tin vào Thiên Chúa:

6 Vehe'emin b'HASHEM vayachsheveha lo tzedakah.
He believed in Hashem, and this He accounted to him for righteousness.
Abram crut en Yahvé, qui le lui compta comme justice.(BJ)
Abram put his faith in the LORD, who credited it to him as an act of righteousness. (NAB)
(St 15,6 (http://scripturetext.com/genesis/15-6.htm))

Ông tin vào Giavê, và Thiên Chúa tính điều đó là hành vi công chính cho ông. (3*)



....>>>

Chú thích (3*)

Bản NAB chú giải chỗ này như sau: Lòng tin Abram đặt vào lời Thiên Chúa hứa được coi như là hành vi công chính -act of righteousness –. Điều này diễn tả hạnh kiểm đúng đắn của con người đối với Thiên Chúa. Về phần Thiên Chúa, Ngài xem ông như xứng đáng để hưởng trọn vẹn lời Hứa. Vì thế thánh Phaolô trong hai đoạn thư Roma 4,1-25 và Gl 3,6-9 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Rm%204:1-25; Gl 3:6-9&FontSize=Txt10)) đã đưa Abraham làm mẫu mực đức tin cho các Kytô hữu.

Động từ λογίζομαι , chung trong các câu Ro 4: 3 “ἐλογίσθη” ,4 “λογίζεται” , và 5 “λογίζεται”, có nhiều nghĩa, mà một là “tính sổ như là- rendered credited "made an entry." Như thư ký, hay kế toán viên, cuối ngày ghi vào sổ món nào chi ra món nào thu vào. Món nào là lời - credit, món nào là lỗ - debit ! Thánh Phaolô, làm nghề may lều, quen với số sách kế toán, nên dùng từ ngữ kế toán để nói về tội lỗi và công trạng.

Câu thư Ro 4:8 “Hạnh phúc thay người Chúa không kể là có tội !” thánh Phaolô đề cập đến “tội lỗi” được “ghi vào sổ - tính như là ” như là “món nợ - debit”. Từ ngữ kết toán kinh tế này đã được dùng trong đoạn Sáng thế ký 15:6, "vayachsheveha lo tzedakah.- credited it to him – tính [vào sổ sách] cho ông như là hành vi công chính," và Thánh Phaolô dùng từ ấy trong thư Ro 4:7-8. hay còn gặp trong TV 32:2 “Happy those to whom the LORD imputes no guilt, in whose spirit is no deceit.” Như thế từ vayachsheveha còn dùng để chỉ việc “quy trách là tội”.

Do vậy thánh Phaolô mới lý luận được rằng đức tin của Abram được tính sổ như là hành vi công chính có sức tha tội mà mọi tín hữu sau này cũng được hưởng dụng qua đức tin của mình.

KaTy
09-11-2006, 06:26 AM
Abram dường như đã thuộc bài, nhưng Sarah đã có thấu triệt được bài học chưa?

Chúng ta hãy theo dòng tư tưởng tản mạn mà đi tiếp, nhá.

Sarah vào cuộc. Biết ông nhà đã có lời Hứa mà nay biết thêm người con sẽ là con ruột của ông, mà mình thì như “mảnh đất khô cằn” nên Bà tự nghĩ mình phải “thế thiên hành đạo”.

Bà kiếm thiếp cho chồng.

2 Vatomer Sarai el-Avram hineh-na atzarani HASHEM miledet bo-na el-shifchati ulai ibaneh mimenah vayishma Avram lekol Sarai.
Sarai said to Avram: "See now, Hashem has restrained me from having children; pray, come to my handmaid perhaps I will be built-up through her." Avram hearkened to the voice of Sarai.

3 Vatikach Sarai eshet Avram et-Hagar haMitzrit shifchatah miketz eser shanim leshevet Avram be'eretz Kena'an vatiten otah le-Avram ishah lo le'ishah.
Sarai, the wife of Avram took Hagar the Egyptian, her handmaid, at the end of ten years that Avram had lived in the Land of Kenaan and gave her to Avram her husband to be his wife.

(St 16,2-3 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2016:2-3&FontSize=Txt10))

Bà có người tớ nữ gốc Ai cập. Bà bảo ông: “Hãy đi lại với tớ nữ của tôi.”

Lần trước, tại Ai cập, khi ông đề nghị, bà nghe lời ông. Nay bà đề nghị. Dĩ nhiên ông phải nghe lời.

Không những ông “đi lại” với người tớ nữ, mà ông còn “đi đi lại lại”.

Và kết quả là mười năm sau khi định cư tại đất Canaan, ông Abram có con, của riêng mình, với người tớ nữ.

Hai ông bà chưa kịp vui mừng, tưởng rằng đây sẽ là đứa con thừa tự của Lời Hứa, thì “chiến cuộc” bùng nổ.

Tuy tập tục thê thiếp này quá thông thường tại miền Cận Đông thời cổ ấy. Nhưng trong trường hợp Abram, việc ấy đã có điều không ổn. Chỉ cần chúng ta lưu ý tới điểm tế nhị mà Kinh Thánh khéo léo nhấn mạnh, chúng ta thấy ngay điểm trục trặc:

"Mười năm sau khi ông Áp-ram lập nghiệp tại đất Ca-na-an, bà Xa-rai, vợ ông, đem nữ tỳ của bà là Ha-ga, người Ai-cập, hiến cho ông Áp-ram, chồng bà, để nàng làm vợ ông. - Ainsi, au bout de dix ans qu'Abram résidait au pays de Canaan, sa femme Saraï prit Agar l'Égyptienne, sa servante, et la donna pour femme à son mari, Abram."

Trong câu trên, khi nhắc đến “Sarah”, bản văn kèm theo chữ “vợ ông”. Cũng thế, khi nhắc đến “Abram”, thì có chữ “chồng bà” đi liền. Nghĩa là đâu còn có chỗ cho người thứ ba nào khác chèn vào giữa?

Sarah tưởng bà khéo tính. Nhưng nước cờ hóa vụng. Bà thua cả mẹ lẫn con cô nữ tỳ.

Nhất là bà thua chính mình. Bà tưởng bà cao thượng đủ để “nín thở qua sông”. Nhưng khi thấy cái bản mặt vênh vênh, và cái bụng vượt mặt của cô nữ tỳ vừa trẻ vừa “phong nhiêu” kia, thì bà... điên tiết.

4 Vayavo el-Hagar vatahar vatere ki haratah vatekal gevirtah be'eyneiha.
He came to Hagar and she conceived. When she realized that she was pregnant, her mistress became slighted in her eyes.

5 Vatomer Sarai el-Avram chamasi aleicha anochi natati shifchati becheikecha vatere ki haratah va'ekal be'eyneiha yishpot HASHEM beini uveyneicha.
Sari said to Avram: "The insult against me is your fault. I gave my maid to you and when she saw that she had conceived, I became slighted in her eyes. Let Hashem judge between me and you."

6 Vayomer Avram el-Sarai hineh shifchatech beyadech asi-lah hatov be'eynaych vate'aneha Sarai vativrach mipaneiha.
Avram said to Sarai: "[The fate of] your maid is in your hands, do with her as you see fit." Sarai dealt harshly with her, and she [Hagar] ran away from her.

Câu chuyện ghen tuông rất thông thường có thể xảy ra bất cứ ở đây giữa các chị em phụ nữ với nhau. Như thế hình ảnh và con người của bà tổ nữ Sarah hay của tổ phụ Abram, đối với chúng ta rất quen thuộc, rất bình dân và rất đời thường.

Họ không phải là những siêu nhân. Họ chỉ là những phiến đá sần sùi thô kệch, nhiều góc cạnh như chúng ta. Nên không lạ gì mà Thiên Chúa cần phải nhẫn nại hao nhọc nhiều công sức để giáo huấn, để mài dũa. Và Ngài còn phải chấp nhận cả những thất bại vào những lúc bất ngờ nhất!

Chính bà Sarah đưa người nữ tỳ đến với chồng. Giờ đây bà bực mình đổ lỗi cho chồng : “chamasi aleicha anochi - The insult against me is your fault. - Tôi bị sỉ nhục là tại ông đấy!”

Các Bà ơi, câu đổ tội này mấy ông nghe quen tai lắm ! (Oops! Tội lỗi tội lỗi!)

Bà Sarah lên cơn. Bà yêu cầu điều gì, ông Abram phải chịu một phép :
“hineh shifchatech beyadech asi-lah hatov be'eynaych - [The fate of] your maid is in your hands, do with her as you see fit." "Nữ tỳ của bà ở trong tay bà đấy; đối với nó, cái gì tốt cho bà thì bà cứ làm!

Bà chẳng “làm” gì nhiều, bà chỉ ra tay:
"vate'aneha Sarai vativrach mipaneiha. - Sarai dealt harshly with her, and she [Hagar] ran away from her. Bà Xa-rai hành hạ Ha-ga khiến nàng phải trốn bà."


Chúng ta hãy nghe Kinh Thánh kể tiếp câu chuyện thương tâm của Hagar nhé :

7 Vayimtza'ah mal'ach HASHEM al-ein hamayim bamidbar al-ha'ayin bederech Shur.
An angel of Hashem found her by a spring of water in the desert, at the spring on the road to Shur.

8 Vayomar Hagar shifchat Sarai ey-mizeh vat ve'anah telechi vatomer mipenei Sarai gevirti anochi borachat.
And he said: "Hagar, handmaid of Sarai, from where have you come and where are you going?" She said: "I am runing away from my mistress, Sarai."

9 Vayomer lah mal'ach HASHEM shuvi el-gevirtech vehit'ani tachat yadeyha.
The angel of Hashem said to her: "Return to your mistress and submit yourself to her."

10 Vayomer lah mal'ach HASHEM harbah arbeh et-zar'ech velo yisafer merov.
The angel of Hashem said to her: "I will greatly multiply your descendants that they can not be counted because of their great number."

11 Vayomer lah mal'ach HASHEM hinach harah veyoladet ben vekarat shemo Yishma'el ki-shama HASHEM el-onyech.
The angel of Hashem said to her: " Behold you will conceive, and give birth to a son. You shall name him Yishmael, for Hashem has heard your prayer.

12 Vehu yihyeh pereh adam yado vakol veyad kol bo ve'al-penei chol-echav yishkon.
He will be a wild, uncivilized man. His hand [will be] against everyone and everyone's hand will be against him; and in the presence of all his brothers he will dwell."

13 Vatikra shem-HASHEM hadover eleyha atah El Ro'i ki amerah hagam halom ra'iti acharei ro'i.
She called the Name Hashem Who had spoken to her: "You are Almighty Who sees," for she said: "Have I also seen here [a vestige] after He saw me."

14 Al-ken kara labe'er Be'er-lachai-ro'i hineh veyn-Kadesh uvein Bared.
Therefore the well was called: "Be'er Lachai Ro'i (Well of the Living One appearing to me);" it is between Kadesh and Bared.

15 Vateled Hagar le-Avram ben vayikra Avram shem-beno asher-yaledah Hagar Yishma'el.
Hagar bore Avram a son and Avram named his son, that Hagar bore him, Yishmael.

16 Ve'Avram ben-shmonim shanah veshesh shanim beledet-Hagar et-Yishma'el le-Avram.
Avram was eighty-six years old when Hagar bore Yishmael to Avram.


Trong cơn bão cấp 12 ấy, dường như Thiên Chúa cũng đành chiều lòng người :
“Nhưng Thiên Chúa phán với ông Áp-ra-ham: "Đừng bực mình vì chuyện đứa trẻ và người nữ tỳ của ngươi. Tất cả những gì Xa-ra nói với ngươi, cứ nghe, bởi vì chính nhờ I-xa-ác mà ngươi sẽ có một dòng dõi mang tên ngươi.13 Còn con trai của người nữ tỳ, Ta cũng sẽ làm cho nó thành một dân tộc lớn, vì nó là dòng dõi ngươi." (St 21,12-13 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2021:12-13&FontSize=Txt10))


Dễ có mấy tay, các Bà nhỉ?

Nhưng các Bà ơi, trên đây là theo dòng suy nghĩ KaTy tán rộng ra cho vui câu chuyện, dùng mực đen mà vẽ chân dung và tâm tính Sarah. Chứ chẳng lẽ Sarah, - và các Bà nói chung - lại đáng tội như thế sao?

Nghĩa là KaTy muốn đưa thêm đề tài suy luận, rằng bà tổ mẫu Sarah quả có xấu tính xấu nết đến như thế sao? "vate'aneha Sarai - Sarai dealt harshly with her - Saraï la maltraita tellement"


Mời các Bà lên tiếng.

KaTy
10-11-2006, 04:57 AM
Tổ mẫu Sarah tầm thường như vậy sao? Có lý do nào để biện minh, hay ít ra, để hiểu thêm cho rõ cách cư xử thoạt nhìn như là tiền-hậu-bất-nhất của Sarah hay không?

Hẳn các phu nhân sẽ hài lòng khi KaTy, và nhiều người khác, dĩ nhiên, không dám dựa vào cách hành xử của tổ mẫu Sarah để mà nói “bóng nói nói gió” về các “tổ mẫu sarah” trong nhà mình.

Để công bằng phê phán cách đối xử cứng rắn của Sarah, chúng ta phải tìm hiểu thái độ của nữ tì Hagar.

Kinh Thánh mách cho ta chi tiết :
“..ki haratah vatekal gevirtah be'eyneiha.... her mistress became slighted in her eyes. - Khi thấy mình có thai, thì nàng coi khinh bà chủ.”


À thì ra là thế :
“Có vậy nó mới ra vầy,
Có trây ra váy nó mới dây ra quần”

Bản văn không xác định thêm nàng Hagar coi khinh bà chủ Sarah như thế nào, bằng lời nói như cải lại, lên mặt, hay không tuân lệnh Sarah, hoặc có những thái độ thiếu kính trọng?

Nhưng dù sao đi nữa, một thay đổi, dù là nhỏ, khiến tình hình tệ đi, trong cung cách của Hagar đáp lại Sarah, cũng là điều không nên và rất đáng trách. Vì dù sao Hagar phải mang ơn bà Sarah, vì bà là bà chủ, đã đưa Hagar vào địa vị ưu ái như hiện nay.

Vả lại bà chủ Sarah, vì đã lớn tuổi, nên cần nhiều tế nhị và an ủi dành cho bà hơn mức bình thường. Những ánh mắt ra kiểu từ-trên-cao-ngó-xuống, hay những cách lên-giọng-hơn-mức-cần-thiết từ một thiếu nữ trẻ đang mang bầu, đều là những điều khiến một phụ nữ già hiếm muộn phải xót xa càng thêm tủi phận. Và dễ gây... bực mình!

Nhưng có người vẫn không đồng ý với thái độ Sarah hành hạ Hagar.

Dù phải cảm thông với cảnh hiếm muộn, và hiểu rằng Bà phải ít nhiều cam phận chịu lép vế vì cô tớ nữ nay giở chứng lên mặt, chúng ta có chấp nhận cho Bà “hành hạ Hagar khiến nàng phải trốn biệt” không?

Hẳn Bà “hành hạ” dữ lắm nên Hagar mới trốn biệt vào sa mạc, lâm cảnh nguy hiểm đến tính mạng.



Chúng ta phải biện giải cho Sarah làm sao đây?

a- Trước hết, không nên quên khoảng cách thời gian mấy ngàn năm từ chúng ta đến thời tổ mẫu Sarah. Nếu không khéo, chúng ta lại dùng quan điểm, pháp luật hay tập tục, văn hoá ngày nay mà phê phán người đời xưa, e rằng chúng ta thiếu khách quan và công bình.

Chuyện đẩy tớ nữ vào vòng tay chồng không phải là tập tục hiếm có vào thời ấy. Đến đời cháu dâu của Abaram, nghĩa là bà Rachel, vợ của Giacob, đã đẩy cô tỳ nữ Bilha vào lòng Giacop. Cô này sinh cho ông hai người con : Dan và Naphtali. Sau đó Rachel nói rõ là nhận hai người con này như là hai con ruột của mình (St 30,6-8 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2030:6-8&FontSize=Txt10)). Đến phiên người chị Leah cũng “gió đưa cây cải” Zilpa “về trời” Giacop! (St 30,9-13 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2030:9-13&FontSize=Txt10)).

Nhưng sau thời các tổ phụ này, chúng ta không còn thấy tục lệ “tốt đẹp” này xảy ra nữa.

Có lẽ là vì sau đó đã có khoản luật "shifcha kenaanit" (người giúp việc ngoại đạo), cấm đàn ông Do thái cưới nữ tỳ không phải là Do thái. Nếu nữ tỳ là người Do thái thì được lấy.

Chúng ta thấy tập tục người phụ nữ Do thái hiếm muộn kiếm thiếp cho chồng không phải là tập tục riêng của vùng đất Canaan thời đó, mà trong bộ luật Hammurabi, ảnh hưởng trên các dân cư toàn vùng Trung đông thời đó, đã có các khoản luật quy định tập tục này. Bộ luật Hammurabi gồm tất cả 282 khoản. Các khoản 144-147 liên quan đến cách giải quyết tranh chấp giữa người vợ hiếm muộn và người tì thiếp có con như sau:

144 : “If a man take a wife and this woman give her husband a maid-servant, and she bear him children, but this man wishes to take another wife, this shall not be permitted to him; he shall not take a second wife.”

145 : “If a man take a wife, and she bear him no children, and he intend to take another wife: if he take this second wife, and bring her into the house, this second wife shall not be allowed equality with his wife.”

146 : “If a man take a wife and she give this man a maid-servant as wife and she bear him children, and then this maid assume equality with the wife: because she has borne him children her master shall not sell her for money, but he may keep her as a slave, reckoning her among the maid-servants.”

147 : “If she have not borne him children, then her mistress may sell her for money.” (Xin xem chú thích 4*)


Xem thế, bộ luật ấn định rằng, nếu người vợ gả tỳ nữ mình cho người chồng, người vợ vẫn còn quyền bà chủ trên người nữ tỳ. Tuy nhiên, nếu vì cưới ông chủ, thân phận nữ tỳ thay đổi, lên thành bà chủ, thì người tỳ nữ sống trong nhà “như” một bà chủ. Ấy là bao lâu mà tương quan giữa hai phụ nữ ấy còn đằm thắm. Nhưng khi người tỳ nữ “lên mặt ngang hàng với bà chủ” (nố 145) vì mình có con với ông chủ như một người vợ, nhưng vì thân phận cố hữu của mình vẫn là tỳ nữ, thì người vợ vẫn có toàn quyền đuổi người tỳ nữ trở về lại thân phận nô tỳ.

Bà chủ có quyền gắn, hay in một dấu chứng trên người nữ tỳ cho ai nấy đều biết thân phận nữ tỳ phải vâng phục chủ. Thậm chí bà chủ có thể bán người nữ tỳ ấy nếu cô ta không có con.

Truyền thuyết cho rằng, bà Sarah đã dựa vào khoản luật này để in dấu chứng trên người nô tỳ Hagar, bằng cách bắt cô ta và con cháu cô, từ nay phải xỏ lỗ tai! Từ đó trở đi nhân loại có tập tục xỏ lỗ tai, để đeo bông tai. Không biết các Bà có để ý chi tiết này không?


Mà thái độ cô nữ tỳ Hagar có vẻ lên mặt kênh kiệu thật đấy. Vì chúng ta tìm thấy dấu vết chứng minh qua chính bản văn Kinh Thánh.

Trong câu St 16,4 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2016:4&FontSize=Txt10) (tiếng Do thái (http://www.mechon-mamre.org/p/pt/pt0116.htm))
ד וַיָּבֹא אֶל-הָגָר, וַתַּהַר; וַתֵּרֶא כִּי הָרָתָה, וַתֵּקַל גְּבִרְתָּהּ בְּעֵינֶיהָ.
“4 Vayavo el-Hagar vatahar vatere ki haratah vatekal gevirtah be'eyneiha.
He came to Hagar and she conceived. When she realized that she was pregnant, her mistress became slighted in her eyes.”

“Ông đến với Hagar và cô có thai!” Lần đầu tiên nói đến đám cưới giữa Abram và Hagar. Lần đầu tiên Hagar được nhắc đến tên mà không có từ “nữ tỳ” đi kèm.

Thôi nhé, từ nay đã là “bà chủ” rồi, đâu còn là “nô tỳ” nữa!

Như thế khi cô có con, cô cho mình có quyền “assume equality with the wife – coi mình ngang hàng với bà vợ”, nói theo ngôn ngữ của bộ luật Hammurabi.

Dĩ nhiên điều này quá đáng, quá lố, chạm vào tự ái bà Sarah, và nhất là chạm vào luật lệ!

Bà Sarah lên tiếng phàn nàn.

Abram chăm chỉ lắng nghe và đồng thuận. Kinh Thánh ghi lời ông nói:

6 Vayomer Avram el-Sarai hineh shifchatech beyadech asi-lah hatov be'eynaych vate'aneha Sarai vativrach mipaneiha.
Avram said to Sarai: "[The fate of] your maid is in your hands, do with her as you see fit." Sarai dealt harshly with her, and she [Hagar] ran away from her.

Đúng hơn ông còn nhớ mà nhắc lại thân phận nô tỳ của Hagar khi ông dùng chữ : “shifchatech - your maid - nữ tỳ của Bà”



...>>>

Chú thích (4*)

Đọc toàn bộ Luật Hammurabi tại đây :
http://www.wsu.edu/~dee/MESO/CODE.HTM (http://www.wsu.edu/~dee/MESO/CODE.HTM)

Có thể tìm bản văn Kinh Thánh song ngữ Do Thái - Anh tại đây (http://www.mechon-mamre.org/p/pt/pt0.htm)

KaTy
10-11-2006, 05:03 AM
b- Chính động từ “Vate’aneha Sarai – Bà Sarah hành hạ” trong bản văn cũng cần chúng ta hiểu lại cho đúng, hầu minh oan cho tổ mẫu Sarah.

Không hẳn xúc phạm đến thân thể như đánh đập gây thương tích thì mới gọi là “vate’aneha - hành hạ”. Sau này, chúng ta gặp sách Xuất hành dùng động từ này để miêu tả người Ai cập hành hạ con dân Do thái. Khi thấy dân Do thái sinh sản đông đúc lan tràn khắp xứ, thì:

11 Vayasimu alav sarey misim lema'an anoto besivlotam vayiven arey miskenot le-Par'oh et-Pitom ve'et-Ra'amses.
So they appointed taskmasters over it in order to afflict it with their burdens; it built storage cities for Pharaoh, Pitom and Ra'amses. - Người ta bèn đặt lên đầu lên cổ họ những viên đốc công, để hành hạ họ bằng những việc khổ sai; họ phải xây cho Pha-ra-ô các thành làm kho lương thực là Pi-thôm và Ram-xết.

12 Vecha'asher ye'anu oto ken yirbeh vechen yifrotz vayakutzu mipeney benei Yisra'el.
But as much as they would afflict it, so it would increase and so it would spread out; and they became disgusted because of the Children of Yisrael. - Nhưng chúng càng hành hạ họ, thì họ càng nên đông đúc và lan tràn, khiến chúng đâm ra sợ con cái Ít-ra-en.
(Xh 1:11-2)

Theo nghĩa đó, khi mất tự do là tình trạng đã trở nên cực nhọc tương đương với bị hành hạ rồi. “Đặt các đốc công trên đầu trên cổ” là đã hành hạ rồi .

Y hệt như ngày trước, ngồi sau lưng mình có thầy Giám thị là đã thấy nặng nề rồi, tuy các vị đâu có hành hạ chúng ta?

Như vậy dù vẫn mang thân phận nữ tỳ nô lệ, sau một thời gian hưởng cái ung dung tự tại của một bà chủ tự do, khi mất đi cái nhàn nhã ấy, hoặc mỗi khi ra vào qua lại trong lều, thấy bà Sarah và ý thức mình vẫn mang thân phận tớ nữ, điều ấy đối với Hagar đã là một hành hạ khó có thể chịu đựng .


c- Nhưng có lẽ mẫu đối thoại giữa Hagar với sứ thần trong sa mạc mới cho ta thêm các chi tiết thú vị khác.

Sứ thần ngỏ lời với Hagar cả thảy bốn lần. Hai câu đầu hỏi về tình trạng chạy trốn của Hagar. Hai câu sau nói về tương lai của nàng và đứa con.

Chúng ta đọc lại những chi tiết đặc biệt trong hai câu đầu:

8 Vayomar Hagar shifchat Sarai ey-mizeh vat ve'anah telechi vatomer mipenei Sarai gevirti anochi borachat.
And he said: "Hagar, handmaid of Sarai, from where have you come and where are you going?" She said: "I am runing away from my mistress, Sarai."

9 Vayomer lah mal'ach HASHEM shuvi el-gevirtech vehit'ani tachat yadeyha.
The angel of Hashem said to her: "Return to your mistress and submit yourself to her."


Chúng ta có lưu ý thấy rằng sứ thần khôn khéo nhắc đến thân phận tỳ nữ khi gọi rằng : “Hagar, nữ tỳ của Sarai ...”

Và chúng ta có để ý thấy câu hỏi của sứ thần lạ lùng không : “From where have you come and where are you going ? Ngươi từ đâu đến và đi đâu?”

Hẳn sứ thần quá biết Hagar từ đâu đến và đi đâu. Nhưng chúng ta không thể không cho rằng ngài nhắc khéo “Hagar, con biết thân phận con từ đâu đến mà con lại còn muốn đi đến đâu nữa kia?”

Tuy có thể hiểu đây là câu nói mở đầu , như một lời ngỏ làm đầu câu chuyện. Nhưng chúng ta cũng không thể không nhớ tới câu hỏi của Thiên Chúa khi hỏi Adam, và Cain: “Where - đâu ”

Câu hỏi bắt đầu cho việc trách móc một điều xấu vừa xảy ra. Adam vừa ăn trái cấm: “Ngươi ở đâu ?”. Cain vừa giết em: “Em ngươi đâu ?”. Còn bây giờ “Ngươi từ đâu đến và người đi đâu ?” Ý rằng “Tại sao không ở nhà mà phục vụ chủ ngươi ?”

Câu hỏi chỉ rõ là Hagar đã có làm điều gì đó không nên không phải.


Hagar cũng đồng thuận như thế khi hậm hực trả lời rằng: “Con đang trốn bà Sarai, chủ con”. Ý rằng “Bà đã cho con tự do. Đã gả con cho ông nhà. Nay lại muốn con trở lại làm nô lệ”

Nhưng nhất là Hagar không hề mách lại cho sứ thần một hành vi hành hạ nào, mà dường như chỉ có thế nhắc lại thân phận bà chủ của Sarai. Hagar nhắc tên bà “Sarai” trước, rồi mới nhấn mạnh “bà chủ”: “Sarai gevirti anochi borachat. -I am runing away from my mistress, Sarai."

Nhắc lại như thế là đồng nghĩa với hàm ý:” Thì con vẫn cứ phải là nô tỳ. Điều đó nay con không chịu được nữa.”

Sứ thần gần như ra lệnh, vì không gọi tên Hagar ở đầu câu nữa, mà chỉ nói: “Cứ về với bà chủ ngươi và chịu luỵ bà ấy.”

Nếu quả thực bà Sara hành hạ Hagar, gây thương tích trên thân thể chẳng hạn thì chúng ta sẽ khó hiểu được tại sao sứ thần lại có thể cứ giục Hagar trở về chốn cũ để chịu nhục hình như thế?

Khi bảo Hagar trở về chốn cũ, sứ thần đồng thuận với việc bà Sarah trả Hagar về lại thân phận cố hữu của mình: nữ tỳ.

Sứ thần biết điều này rất khó đối với Hagar, nên ngài nhắc đến tương lai huy hoàng của đứa con, hầu giúp người mẹ, Hagar thêm sức chịu đựng và kiên nhẫn.

10 Vayomer lah mal'ach HASHEM harbah arbeh et-zar'ech velo yisafer merov.
The angel of Hashem said to her: "I will greatly multiply your descendants that they can not be counted because of their great number."

Một viễn ảnh huy hoàng: Con cháu cô sẽ đông không thể đếm xuể

11 Vayomer lah mal'ach HASHEM hinach harah veyoladet ben vekarat shemo Yishma'el ki-shama HASHEM el-onyech.
The angel of Hashem said to her: " Behold you will conceive, and give birth to a son. You shall name him Yishmael, for Hashem has heard your prayer.

Khi sứ thần nhắc cô phải đặt tên đứa con là “Yishmael” ngài lý giải thành: “ki-shama HASHEM el-onyech.- For Hashem has heard your prayer.”

Vi tên “Ishmael”, là một từ do thái có nghĩa là "God has heard.- Thiên Chúa đã nghe.”



Một từ khác trong câu cũng quan trọng là từ “onyech” ở cuối câu. Bản Bible de Jerusalem dịch thành: “tu lui donneras le nom d'Ismaèl, car Yahvé a entendu ta détresse.”

"Onyech- detresse – suffering” ở đây chỉ là tình trạng hiện thời cô Hagar đang lâm vào, nghĩa là đang khốn đốn trong sa mạc. Chứ không thể là tình trạng thê thảm trong tương quan Sarah-Hagar ở lều của Abram. Vì như chúng ta đã nêu trên, sứ thần không thể bắt cô Hagar trở về để lâm vào cảnh bị hành hung thế xác.

Sau này khi biến cố này lập lại một lần nữa ở St 21,15-17 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2021:15-17&FontSize=Txt10). lúc ấy bé Yismael đang khóc trong bụi cây còn mẹ nó gần chết lả vì khát. Sứ thần hiện ra và nói: "For the LORD has heard you - Thiên Chúa đang nghe cảnh túng quẫn của cô!”.

Câu nói tiếp của sứ thần khi bàn về tương lai của đứa trẻ còn giúp cho ta cắt nghĩa theo hướng trên:


12 Vehu yihyeh pereh adam yado vakol veyad kol bo ve'al-penei chol-echav yishkon.
He will be a wild, uncivilized man. His hand [will be] against everyone and everyone's hand will be against him; and in the presence of all his brothers he will dwell."

Nó sẽ trở thành “pereh adam”. Pereh nghĩa như “bất kham”, như con lừa không chịu luồn cúi nhận cái gông tròng cổ. Nó sẽ không chịu ai thống trị, quật cường, chỉ muốn đời tự do.

Chứ không hề nói đến sự xung khắc giữa Yismael và các dân tộc khác sau này. Lại càng không hề có chút tiên tri nào về sự xung khắc giữa Do thái và Ả rập sau này.

Như thế là sứ thần đủ trấn an cô Hagar. Cô biết nếu hiện nay mình chịu phận nô tỳ, mai sau đời đứa con rồi sẽ khác hẳn.


Bàn như thế thì nếu tính nết tổ mẫu Sarah lúc này có khắc khe, thì âu cũng chỉ là trong chừng mực khuôn phép sẵn có.


Chắc các Bà hài lòng.



...>>>

KaTy
11-11-2006, 05:00 AM
Mà nói cho ngay, tuy đây là biến cố không đẹp trong gia đình Abram, nhưng nhìn trong viễn cảnh chung các tản mạn chúng ta đang tuần tự theo đuổi, đây cũng là một bài học - hay một trắc nghiệm- dành cho cả hai tổ phụ tổ mẫu.

Từ khi cả hai được chọn làm tổ phụ tổ mẫu cả một dân tộc, các biến cố xảy ra liên tiếp như một chuỗi các thử thách hay bài học. Không biết hai ông bà có tỏ ra mình ở đúng tầm mức vai trò ngoại hạng như trên không?

Sau khi cháu Lot chia tay, người nô bộc Eliézer là ứng viên sáng giá làm hậu duệ hai cụ để hưởng được đất đai làm sản nghiệp do lời Thiên Chúa Hứa.

Nhưng khi Thiên Chúa đã tỏ rõ rằng chính người con do cụ ông sinh ra mới là người thừa kế lời Hứa thì Sarah đề nghị Hagar cho cụ nhà.

Khi Abram “đến” với Hagar, hẳn ông nghĩ rằng, chính con của ông, với ai cũng được, miễn là con ông, mới là người thừa kế.

Khi Hagar có con, thì Hagar nghĩ rằng chính người con của cô với cụ nhà Abram sẽ là hậu duệ chính đáng thừa hưởng lời Hứa.

Nhưng qua chi tiết Sarah hành hạ Hagar thì chúng ta biết ngay cụ bà Sarah bực tức vì vai trò tổ mẫu của mình bị Hagar chiếm. Như thế phản ứng mạnh mẽ và gắt gao của Sarah dành cho Hagar là để lấy lại vị-trí-bất-khả-nhượng của bà là tổ mẫu cùng với Abram.

Hai ông bà dần dà hiểu được bài học.

Có lẽ vì thế mà đến chương 27, cả hai cụ được Thiên Chúa đổi tên?

Trước khi tản mạn tiếp, các Bạn cho phép Katy kết luận một đôi điều cỏn con chăng?

Rằng thì là người thứ ba luôn luôn là kẻ gây rối, và mang lại phiền phức. Chấm hết. phải không nào?




Bây giờ chúng ta ngừng lại một chút. Vì tính từ “haMitzrit – người Ai cập”.

“3 Vatikach Sarai eshet Avram et-Hagar haMitzrit shifchatah - Sarai, the wife of Avram took Hagar the Egyptian, her handmaid,” (St 16,3 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2016:3&FontSize=Txt10))


Cô nữ tỳ “Hagar, người Ai cập!”

Như thế là con cụ Abram là người con lai, lai Ai cập. Y hệt như trước kia suýt nữa thì con bà Sarah cũng là con lai, lai Ai Cập.

Không biết bà Sarah có chủ đích trả thù hay không, khi đề nghị Abram “đi lại” với cô nữ tỳ Ai Cập của mình.

Ngày trước suýt nữa thì bà rơi vào một hôn-nhân-ngoại-tình do ông chủ xướng. Ông đóng vai người anh của bà. Còn bây giờ bà đẩy ông vào một cuộc hôn nhân gần-như-là-ngoại-tình với Hagar và bà đóng vai “chị hai” trong nhà!

Ông thực hiện điều đó vì lo sợ cho tính mạng và muốn có của cải. Còn bà thì vì tự ái hổ ngươi và muốn tiến thân.

Vì muốn có con, bây giờ Abram lại hành xử giống như Pharaon, có thêm một bà nữa cho hậu cung, và coi người đàn bà chỉ trong vai trò người mẹ sinh con cho mình mà thôi.

Vậy là cả hai đều chưa nắm bắt được ý nghĩa hai chữ vợ chồng.

Hậu quả là gậy ông đập lưng ông. Gia cảnh trở thành bát nháo. Tỳ nữ có con thì lên mặt. Bà Sarah tưởng mình sẽ lên chức, “thăng tiến hôn nhân”, ai ngờ lại bị coi thường. Bà bực tức đổ tội cho ông. Còn ông vì muốn cho yên cửa yên nhà, đành nghe lời “chị hai” đuổi hai mẹ con người thứ ba đi. Bi đát.

Nhưng ít là ông giữ được vợ. Ông chọn người vợ hơn là người-chỉ-làm-mẹ. Hai người giờ về với nhau, gần nhau hơn và dần dà khám phá thêm ý nghĩa của vợ của chồng.

Hy vọng là thế.

KaTy
11-11-2006, 05:06 AM
Chúng ta chỉ dám viết “Hy vọng là thế” vì, trong thực tế, đời Abraham - Sarah còn nhiều thăng trầm. Có lúc tưởng hai ông bà cụ tổ đã nắm vững vấn đề. Nhưng khi hữu sự, hai cụ tổ lại có những hành sự dưới mức trung bình, nếu không nói là đáng thất vọng.

Trước khi bàn đến chỗ đáng tiếc ấy, chúng ta mở ngoặc đơn để lướt qua những diễn biến tuần tự xảy ra theo thời gian.

Sau khi nội bộ gia đình êm ấm trở lại, và trong nỗ lực giáo dục hai ông bà, Thiên Chúa dành cho hai ông bà, và hậu duệ hai người, một giao ước đặc biệt. Gia tộc và hậu duệ của ông trở thành Dân Riêng của Thiên Chúa. Dấu hiệu phân biệt là việc Cắt bì. Và họ phải/chỉ thờ phụng một mình Thiên Chúa là Chúa duy nhất của họ. Phần Thiên Chúa Ngài hứa ban cho con cháu ông đất Canaan làm sản nghiệp.

Trong giao ước này Thiên Chúa đổi tên Abram thành Abraham và Sarai thành Sarah.

Có thể nói qua giao ước này dân tộc Do thái được thành lập. Họ là con cháu ông Abram và tất thảy đàn ông con trai đều cắt bì.


Đến cuối cuộc nói chuyện bàn về giao ước này, Thiên Chúa báo tin vui về bà Sarah: bà sẽ có con, và bà sẽ là tổ mẫu nhiều dân tộc.

16 Uverachti otah vegam natati mimenah lecha ben uverachtiha vehayetah legoyim malchei amim mimenah yihyu.
I will bless her, and I will also give you a son through her. I will bless her, and she will be [a mother] of nations, kings of peoples will descend from her."

Khi báo như thế, Thiên chúa chỉ mới nói cho Abraham biết mà thôi. Như thế từ nay Abraham sẽ không còn lý do gì để tìm con mình nơi những người phụ nữ khác.

Có điều là liệu Abraham có tin rằng cụ bà Sarah gần trăm tuổi của ông có còn sinh được con nữa không? Lời báo tin vui đến có quá muộn không?


Quả đúng như điều chúng ta e ngại, Abraham xem chừng còn nghi ngờ. Ông nắm con cá có sẵn trong tay hơn là con cá chưa câu được. Ông thắc mắc, cho rằng đứa con Yismael kia chính là đứa con thừa tự rồi!

יז וַיִּפֹּל אַבְרָהָם עַל-פָּנָיו, וַיִּצְחָק; וַיֹּאמֶר בְּלִבּוֹ, הַלְּבֶן מֵאָה-שָׁנָה יִוָּלֵד, וְאִם-שָׂרָה, הֲבַת-תִּשְׁעִים שָׁנָה תֵּלֵד.
17 Vayipol Avraham al-panav vayitzchak vayomer belibo haleven me'ah-shanah yivaled ve'im-Sarah havat-tish'im shanah teled.
Avraham fell on his face and laughed. He said in his heart: "Can a hundred year old man have children? Shall Sarah, who is ninety years old give birth?"

יח וַיֹּאמֶר אַבְרָהָם, אֶל-הָאֱלֹהִים: לוּ יִשְׁמָעֵאל, יִחְיֶה לְפָנֶיךָ.
18 Vayomer Avraham el-ha'Elokim lu Yishma'el yichyeh lefanecha.
And Avraham said to G-d: "May it be granted that Yishmael live before You."

“Ông Áp-ra-ham cúi rạp xuống; ông cười và nghĩ bụng: "Đàn ông trăm tuổi mà có con được sao? Còn bà Xa-ra đã chín mươi tuổi mà sinh đẻ được sao? " Ông Áp-ra-ham thưa với Thiên Chúa: "Ước chi Ít-ma-ên được sống trước nhan Ngài! "


Thiên Chúa làm như không nghe và không bận tâm để ý đến chuyện ông cười. Ngài tiếp tục cẩn thận dạy học cho ông.

Thiên Chúa nói một chữ không to tướng bằng cách nhấn mạnh cho ông học trò chậm lãnh hội kia ba điều, rằng:

1- Chính “Sarah ishtecha - Sarah vợ ông” - Ngài dùng hai chữ đi liền với nhau – mang thai một đứa con trai.

2- “et-shemo Yitzchak - Ông sẽ đặt tên cho cậu quý tử là Isaac.”

3- Thời gian là “giờ này sang năm.”

יט וַיֹּאמֶר אֱלֹהִים, אֲבָל שָׂרָה אִשְׁתְּךָ יֹלֶדֶת לְךָ בֵּן, וְקָרָאתָ אֶת-שְׁמוֹ, יִצְחָק; וַהֲקִמֹתִי אֶת-בְּרִיתִי אִתּוֹ לִבְרִית עוֹלָם, לְזַרְעוֹ אַחֲרָיו.
19 Vayomer Elokim aval Sarah ishtecha yoledet lecha ben vekarata et-shemo Yitzchak vahakimoti et-briti ito livrit olam lezar'o acharav.
G-d said: "Indeed, your wife Sarah will bear you a son, and you will name him Yitzchak. I will establish My covenant with him as an eternal covenant to his descendants after him.

כ וּלְיִשְׁמָעֵאל, שְׁמַעְתִּיךָ--הִנֵּה בֵּרַכְתִּי אֹתוֹ וְהִפְרֵיתִי אֹתוֹ וְהִרְבֵּיתִי אֹתוֹ, בִּמְאֹד מְאֹד: שְׁנֵים-עָשָׂר נְשִׂיאִם יוֹלִיד, וּנְתַתִּיו לְגוֹי גָּדוֹל.
20 Ule-Yishma'el shmaticha hineh berachti oto vehifreyti oto vehirbeyti oto bime'od me'od shneym-asar nesi'im yolid unetativ legoy gadol.
And as for Yishmael, I have heard you. I have blessed him, and I will make him fruitful, and will increase him exceedingly. He will become the father of twelve princes, and I will make him into a great nation.

21 Ve'et briti akim et-Yitzchak asher teled lecha Sarah lamo'ed hazeh bashanah ha'acheret.
But I will establish My covenant with Yitzchak, who Sarah will bear to you at this time next year."



Cụ Abraham bật cười, các Bà ạ.

Trong biến cố xảy ra ba ngày sau đó, khi cụ Abraham và mọi nam nhân trong nhà đang đau vì vết thương cắt bì chưa lành (St 18,1-16 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2018:1-16&FontSize=Txt10)), thì có ba người khách lạ tới thăm Abraham tại lều ông ở. Họ nhắc lại lời báo tin rằng cụ bà Sarah sinh con. Cụ bà Sarah lại cũng cười.

Bị bắt quả tang, lần này Thiên Chúa tra vấn ngay: “zeh tzachakah Sarah- Why did Sarah laugh – Sao Sarah lại cười?

Sarah vội vàng chùi miệng, chối biến: “lo tzachakti ki - I did not laugh, – Tôi đâu có cười!”

Thiên Chúa vẫn quả quyết: “lo ki tzachakt.” - Not so, for you did laugh.- Có mà, Bà có cười mà!”



Chúng ta thử tản mạn đôi chút về những nụ cười này. Hai nụ cười đều nổ ra xoay quanh tin bà Sarah sẽ mang thai con trai. Thậm chí vì tiếng cười đó, mà tên người con trai được chính Thiên Chúa đặt cho là “Yitzchak”.

Như thế ta có quyền ngạc nhiên rằng phải chăng những tiếng cười ở đây, vào thời điểm này trong đời hai cụ tổ phụ, hẳn mang nhiều ý nghĩa, nên người con mới mang cái tên Nguyễn văn “Sẽ Cười”- Yitzchak - này?

Chúng ta được mời xem chú thích (5*) để nghe một cố gắng trả lời.



Chú thích (5*)

Đích thân Thiên Chúa đặt tên cho hài nhi là: "Yitzchak (Isaac)". Theo tiếng Do thái, từ này có nghĩa là "Nó sẽ cười- he will laugh". Dường như Thiên Chúa dựa vào chính sự kiện đang xảy ra lúc bấy giờ mà đặt tên cho đứa trẻ: bố nó cười khi nghe tin báo. Tuy nhiên, nếu hiểu như thế thì không đúng lắm với thực tại, vì cụ Abraham thưc sự đã cười rồi. Lẽ ra tên cháu phải là "Tzachak", có nghĩa là "Nó đã cười - he laughed", thì mới thích hợp hơn.

Thiên Chúa muốn thông báo sứ điệp gì cho Abraham - và cho chúng ta - , khi bảo Abraham đặt tên cho cháu bé là "Yitzchak - Nó sẽ cười - He will laugh" thay vì "Tzachak - Nó đã cười - He laughed" ?

KaTy
13-11-2006, 09:28 PM
Sau đây là một cố gắng giải thích dựa vào cách chơi chữ độc đáo của ngôn ngữ Do thái:

Cụm từ "vayitzchak" được thành hình do bộ gốc gồm các phụ âm "vav", "yud", "tzadi", "chet" và "kuf" theo mô hình “VxYxTZxCHxK”, trong đó x thay cho các nguyên âm. Câu này mang nghĩa là "Và nó đã cười - and he laughed".

Nhưng chi tiết thú vị là nếu từ câu “VxYxTZxCHxK” chúng ta bỏ liên từ “Vx” đọc thành “Va” có nghĩa là “và”, thì cụm từ "vayitzchak" trở thành "yitzchak" với các phụ âm "yud", "tzadi", "chet" và "kuf" hay “YxTZxCHxK". Khi bỏ liên từ “và” thì cụm từ “Và nó đã cười” này không chỉ mất liên từ “và” để chỉ còn nghĩa “Nó đã cười” nhưng thì của động từ cũng thay đổi. Nghĩa là "vayitzchak", bỏ “va”, trở thành "yitzchak" là động từ “cười” ở thì tương lai:"he will laugh - Nó sẽ cười”.

Thiên Chúa đã chuyển phản ứng Abraham đã từng cười vì nghi hoặc trong quá khứ, "vayitzchak" – người cười hôm trước - để tiên báo một nụ cười hân hoan trong tương lai – hôm sau vẫn sẽ cười - Yitzchak –

Bản thân và cả cái tên của יִצְחָק - Yitzchak – Isaac – chính là sứ điệp Thiên Chúa muốn gửi gắm.

Ngài muốn Abraham nhìn vào tương lai mà tin, hơn là cứ mãi trì trệ trong nghi hoặc như quá khứ đã từng.





Trước khi đi tiếp, chúng ta đọc kỹ ba câu này trong thuật trình, xem có điểm nào thú vị.

יא וְאַבְרָהָם וְשָׂרָה זְקֵנִים, בָּאִים בַּיָּמִים; חָדַל לִהְיוֹת לְשָׂרָה, אֹרַח כַּנָּשִׁים.
11 Ve'Avraham veSarah zekenim ba'im bayamim chadal lihyot le-Sarah orach kanashim.
Avraham and Sarah were old, well on in years. Sarah no longer had the way of women.

יב וַתִּצְחַק שָׂרָה, בְּקִרְבָּהּ לֵאמֹר: אַחֲרֵי בְלֹתִי הָיְתָה-לִּי עֶדְנָה, וַאדֹנִי זָקֵן.
12 Vatitzchak Sarah bekirbah lemor acharei veloti hayetah-li ednah va'adoni zaken.
Sarah laughed to herself saying, "Now that I am worn out, shall I have the pleasure [of a son], my master being [also] an old man."

יג וַיֹּאמֶר יְהוָה, אֶל-אַבְרָהָם: לָמָּה זֶּה צָחֲקָה שָׂרָה לֵאמֹר, הַאַף אֻמְנָם אֵלֵד--וַאֲנִי זָקַנְתִּי.
13 Vayomer HASHEM el-Avraham lamah zeh tzachakah Sarah lemor ha'af umnam eled va'ani zakanti.
HASHEM said to Avraham, "Why did Sarah laugh saying, 'Can I really give birth when I am old?'



Các Bạn có thấy Thiên Chúa rất tế nhị không?

Bà Sarah nghĩ thầm trong bụng, rằng: "Mình đã cằn cỗi rồi, còn hưởng được vui thú nữa sao? Ông nhà mình lại là một ông lão!" (St 18,12 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2018:12&FontSize=Txt10))

Nhưng khi “mách” lại ý nghĩ trong bụng của Sarah cho Abraham nghe, Thiên Chúa chỉ nói: "Tại sao Xa-ra lại cười và nói: "Có thật tôi già thế này mà còn sinh đẻ được chăng?”

Ngài đã tế nhị tránh không nhắc lại cho cụ ông Abraham cái thực tại phũ phàng mà bà Sarah thẳng thừng nói đến: “Ông nhà mình lại là một ông lão.” ! Ngài chỉ nhắc lại nhận xét của Sarah về chính mình: "Có thật tôi già thế này mà còn sinh đẻ được chăng?”

Một kín đáo tế nhị đầy tâm lý vừa cho người già, vừa giữ cho được hoà khí giữa đôi vợ chồng “không còn trẻ” lắm.

Biết đâu nhờ vậy mà tránh cho bà Sarah ăn một cái “bợp tai” chăng?

Các Bà ơi, nhớ bắt chước Ngài. Ai lại phũ phàng mà nói thẳng thừng với ông nhà rằng: “Ông già rồi. Còn làm ăn gì được nữa đâu mà rị mọ !”

----
* St 18,11-13 (http://www.mechon-mamre.org/p/pt/pt0118.htm) (Do Thái)

KaTy
14-11-2006, 06:59 AM
Tản mạn thêm một chút về đôi đặc tính của con người Yitzchak.

KaTy đã có bài tản mạn về đôi nét cuộc đời Isaac - Rebecca (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=1516). (6*) Ở đây chúng ta chỉ nói thêm một vài điểm liên quan đến cái tên của Vị tổ phụ suýt-chết-non này.

Yitzchak là tổ phụ duy nhất mà tên không bị thay đổi. Bố Abram được đổi tên thành Abraham, có nghĩa là “Av Hamon Goyim - Cha của đông đảo dân tộc” (St 17,5 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2017:5&FontSize=Txt10)). Giacop, sau khi vật lộn với một người lạ mặt suốt đêm tại khúc sông cạn Jabbok, được đổi tên thành “Yisrael – Kẻ chế ngự”.

Còn Yitzchak, sinh ra là Yitzchak, và chết cũng là Yitzchak. Căn cước không thay tên đổi họ.

Tên ông gắn liền với một biến cố và thái độ của hai ông bà cụ thân sinh. Cả hai đã bật cười lúc nghe báo tin “lão bạng sinh châu”.

Khi ông chưa sinh ra, tên ông đã được nhắc xa nhắc gần đến bốn lần (St 17,17,19; 18,10-12 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2017:17,19,18:10-12&FontSize=Txt10)) Khi bà cụ Sarah sinh ông, bà hân hoan tuyên bố: “Vatomer Sarah tzechok asah li Elokim kol-hashomea yitzachak-li. Sarah said, "G-d has given me laughter. All who hear will laugh with me. - Bà Xa-ra nói: "Thiên Chúa đã làm cho tôi cười; tất cả những ai nghe biết sẽ cười tôi."(St 21,6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2021:6&FontSize=Txt10))

Cười là thế, vui là thế, nhưng khi bà Sarah thấy Yismael, đứa con của tỳ nữ Hagar đang cười nhạo – metzachek”, thì tiếng cười của Yisma’el khiến bà nhớ tới lời Hứa, mà bực mình đề nghị đuổi hai mẹ con cô Hagar đi.

ט וַתֵּרֶא שָׂרָה אֶת-בֶּן-הָגָר הַמִּצְרִית, אֲשֶׁר-יָלְדָה לְאַבְרָהָם--מְצַחֵק.
9 Vatere Sarah et-ben-Hagar haMitzrit asher-yaldah le-Avraham metzachek.
Sarah saw that the son of Hagar, the Egyptian, that she had born to Avraham, was mocking. - Bà Xa-ra thấy đứa con mà Ha-ga, người Ai-cập, đã sinh ra cho ông Áp-ra-ham, đang cười giỡn.”

י וַתֹּאמֶר, לְאַבְרָהָם, גָּרֵשׁ הָאָמָה הַזֹּאת, וְאֶת-בְּנָהּ: כִּי לֹא יִירַשׁ בֶּן-הָאָמָה הַזֹּאת, עִם-בְּנִי עִם-יִצְחָק.
10 Vatomer le-Avraham garesh ha'amah hazot ve'et-benah ki lo yirash ben-ha'amah hazot im-beny im-Yitzchak.
She said to Avraham, "Drive out this slave-woman and her son, for the son of this slave woman will not inherit with my son, with Yitzchak. " Bà nói với ông Áp-ra-ham: "Ông hãy đuổi hai mẹ con đứa nữ tỳ này đi, vì con trai đứa nữ tỳ không được thừa kế cùng với I-xa-ác, con trai tôi."

Cười nhạo– מְצַחֵק “metzachek” không thể chung sống với cười tươi - יִצְחָק “Yitzachak”

Tuy hai anh em lúc bắt đầu lớn lên đã chia lìa nhau, và sau đó Kinh thánh không hề nói thêm về phận số của hai mẹ con Yisma’el, nhưng khi ông Abraham mất, Yisma’el có về chịu tang, cùng với Yitzchak:

ט וַיִּקְבְּרוּ אֹתוֹ יִצְחָק וְיִשְׁמָעֵאל, בָּנָיו, אֶל-מְעָרַת, הַמַּכְפֵּלָה: אֶל-שְׂדֵה עֶפְרֹן בֶּן-צֹחַר, הַחִתִּי, אֲשֶׁר, עַל-פְּנֵי מַמְרֵא.
“Vayikberu oto Yitzchak veYishma'el banav el-me'arat haMachpelah el-sedeh Efron ben-Tzochar hachitti asher al-penei Mamre. - His sons Yitzchak and YIshmael buried him in the Machpelah cave, in the field of Efron, son of Tzochar, the Chitti, which faces Mamre. - Các con ông I-xa-ác và Ít-ma-ên chôn cất ông trong hang Mác-pê-la, (St 25,9 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2025:9&FontSize=Txt10))

Như thế dù anh em sống xa nhau, dù cha mẹ phân ly, nhưng dường như Yitzchak vẫn không xa anh Yisma’el. Hai anh em đã cộng tác với nhau trong việc chôn cất bố Abraham.


Nhưng có một chi tiết quan trọng không thế bỏ sót khiến chúng ta thấy rõ hơn nét đặc biệt trong đời của Yitzchak.

Sau cuộc tế hiến hụt trên Núi Moriah, thay vì tế con, Abraham đã hiến tế con cừu đực cho Thiên Chúa. Hai bố con xuống núi trở về. Kinh thánh chỉ đơn giản ghi:

19 Vayashov Avraham el-ne'arav vayakumu vayelchu yachdav el-Be'er-sheva vayeshev Avraham biVe'er-sheva. Avraham returned to his attendants, and they rose and went together to Beer-sheva. Avraham dwelt in Beer-sheva.- Ông Áp-ra-ham trở lại với các đầy tớ của ông; họ đứng dậy và cùng nhau đi đến Bơ-e Se-va. Ông Áp-ra-ham sống ở Bơ-e Se-va.”


Không hề nhắc đến Yitzchak một mảy may. Bản văn chỉ nói “Abraham trở lại với các đầy tớ”. Làm như Yitzchak không còn ở đó nữa ! Y hệt như là dù Yitzchak không chết trong cuộc tế hiến, vì đã có con cừu thế mạng, Yitzchak cũng không còn hiện hữu trên đời này nữa vậy.

Cả hai bố con vừa trải qua một cuộc thử thách khủng khiếp. Cả hai cùng lên núi. Yitzchak vác củi. Nhưng lúc xuống núi trở về thì chỉ nhắc đến một mình Abraham. Vậy Yitzchak đâu?

Dường như cuộc hiến tế đã thay đổi tận căn con người Yitzchak. Ông hiểu ra được lẽ tử sinh. Ông nghiệm ra được sự kề cận của vị Thiên Chúa của gia tộc mình, tuy vô hình, nhưng luôn gần gũi.

Nên ông sống đời nội tâm nhiều hơn mọi người khác. Ông sống trong trần thế này nhưng lòng trí vẫn bận rộn với thế giới bên kia. Vì thế mà khi xuống núi Moriah, ông trở về sống tại “Be'er-lachai-ro'i” Tên địa danh lạ lùng này có nghĩa là - Well of the Living One appearing to me - Giếng nước Đấng Hằng Sống đã hiện ra cho tôi”. Đó là nơi mà mẹ con người anh cùng cha, Yisma’el, đã từng thấy Đấng Vô Hình.

KaTy
14-11-2006, 07:01 AM
13 Vatikra shem-HASHEM hadover eleyha atah El Ro'i ki amerah hagam halom ra'iti acharei ro'i.
She called the Name Hashem Who had spoken to her: "You are Almighty Who sees," for she said: "Have I also seen here [a vestige] after He saw me."
14 Al-ken kara labe'er Be'er-lachai-ro'i hineh veyn-Kadesh uvein Bared.
Therefore the well was called: "Be'er Lachai Ro'i (Well of the Living One appearing to me);" it is between Kadesh and Bared.


Vì thế ông thường xuyên tiếp xúc với vị Thiên Chúa của gia tộc, sống trong trần thế này nhưng tâm trí cứ như phiêu diêu trong cõi vô hình.

Mẹ mất, ông cứ mãi thương nhớ mẹ cả gần ba năm, tuy đã là thanh niên ba mươi mấy tuổi. Chuyện vợ con cũng do người khác lo toan cho. Ông có để ý gì đến đâu vậy?



Khi người nô bộc dẫn cô, Rebecca, vợ chưa cưới về, thì đó là lúc mà ông đang từ chỗ giếng “Be’er-Lachai –Roi” này đi lang thang ngoài đồng. Kinh Thánh nói lúc đó ông đang đi để cầu nguyện:

וְיִצְחָק בָּא מִבּוֹא, בְּאֵר לַחַי רֹאִי; וְהוּא יוֹשֵׁב, בְּאֶרֶץ הַנֶּגֶב.
62 VeYitzchak ba mibo Be'er-lachai-ro'i vehu yoshev be'eretz haNegev.
Yitzchak had just come from the well [called] Lachi Ro'i for he lived in the land of the Negev.

סג וַיֵּצֵא יִצְחָק לָשׂוּחַ בַּשָּׂדֶה, לִפְנוֹת עָרֶב; וַיִּשָּׂא עֵינָיו וַיַּרְא, וְהִנֵּה גְמַלִּים בָּאִים.
63 Vayetze Yitzchak lasuach basadeh lifnot arev vayisa eynav vayar vehineh gemalim ba'im.
Yitzchak went out to meditate in the field towards evening. He raised his eyes and suddenly saw camels approaching.
(St 24,62-63 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:62-63&FontSize=Txt10))

Có ai lạ đời như ông không? Vợ sắp cưới về mà còn đang cầu nguyện, như một thầy dòng ẩn tu?


Bận suy tư, lo chiêm niệm, ông ít để ý đến chuyện nhà. Đến khi đứa con trai đầu, Esau, lấy vợ người địa phương trái với tập tục gia đình, ông cũng chẳng can ngăn hay dàn xếp trước. Hai cô dâu này gây cho hai ông bà nhiều phiền muộn cay đắng, hai ông bà chỉ đành chịu: “Khi Ê-xau được bốn mươi tuổi thì lấy hai người vợ là Giu-đi-tha, con gái ông Bơ-ê-ri người Khết, và Ba-xơ-mát, con gái ông Ê-lôn người Khết.35 Hai người phụ nữ này làm cho ông I-xa-ác và bà Rê-bê-ca phải cay đắng trong lòng.” (Stk 26:34-35)



Có đôi mắt, nhưng không bận tâm nhìn cuộc đời này, chỉ lo chiêm ngắm, nên lúc luống tuổi, ông bị mù.

Chỉ có hai chi tiết cho thấy đời ông tươi vui. Đó là lúc nào ông cũng thành công trong việc đào giếng. Trong vùng sa mạc đất đai khô cằn, thì giếng nước là nguồn sống. Có một cái giếng nước là hơn cả một kho tàng. Chiến tranh cũng vì giành giếng nước. Giếng phải đào sâu và thật khó mới trúng được mạch nước.

Vây mà trước sau ông đào ít nhất được bốn cái giếng : Hai cái đầu, mang tên “Esek - Tranh chấp” (St 26,19 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2026:19&FontSize=Txt10)) và “Sitnah - Lấp che” đều bị người địa phương tranh giành . Đến cái giếng thứ ba, người ta không tranh chấp nữa, ông đặt tên là “Rechovot – Mênh mông.” Cái giếng thứ tư ông đặt tên là Shiva. (St 26,25-32 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2026:25-32&FontSize=Txt10)) .

Nhưng những cái giếng chưa chắc làm đời ông vui bằng bà Rebecca. Khi gặp bà lần đầu tiên, ông nguôi ngoai ngay lập tức nỗi buồn mất mẹ.

Khi xảy ra nạn đói tại vùng đó, câu chuyện đời bố Abraham được ông bắt chước, hai ông bà lưu lạc xuống vùng Gerar của vua Abimelech, vua người Philitinh. Khi người dân địa phương hỏi ông Rebecca là ai. Ông nói: “Achoti - Nàng là em tôi ”. Ông sợ chết như bố ông, Abraham, đã từng sợ trong trường hợp tương tự. Vì Rebecca cũng là cô gái đẹp.

7 Vayish'alu anshei hamakom le'ishto vayomer achoti hi ki yare lemor ishti pen-yaharguni anshei hamakom al-Rivkah ki-tovat mar'eh hi.
[When] the local men asked about his wife, he said, "She is my sister." He was afraid to say, "]she is] my wife, lest the local men kill me for Rivkah, for she is so good looking."

Chuyện cũ tái diễn. Nhưng lần này chính cái cười của ông đã cứu ông

8 Vayehi ki archu-lo sham hayamim vayashkef Avimelech melech Pelishtim be'ad hachalon vayar vehineh Yitzchak metzachek et Rivkah ishto.
Once, after [Yitzchak] had been there a long while, Avimelech, king of the Pelishtim, looked out the window, and he saw, and behold, Yitzchak was amusing himself with Rivkah, his wife.
9 Vayikra Avimelech le-Yitzchak vayomer ach hineh ishtecha hi ve'eych amarta achoti hi vayomer elav Yitzchak ki amarti pen-amut aleyha.
Avimelech called Yitzchak and he said, "But she is your wife. How could you have said, 'She is my sister'?" Yitzchak said to him, "Because I said, 'I might die because of her."'


Nhìn qua cửa sổ, vua Abimelech thấy ông cười giỡn với Rebecca. Vua nhận ra sự thật.

Cùng là chuyện hy hữu và thú vị, người mang tên Yitzchak - Nguyễn văn Sẽ-Cười, bây giờ nhờ “metzachek et Rivkah ishto.- cười giỡn với Rebecca vợ mình”, không những được toàn mạng mà còn giữ được tiết hạnh cho vợ và bảo vệ hạnh phúc gia đình.

Các Bà ơi tối nay, mau giở Kinh Thánh sách Sáng Thế ký chương 26, đọc các câu 6-12 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2026:6-12&FontSize=Txt10) cho các ông nghe mà bắt chước Yitzchak, metzachek - cười giỡn với vợ mình.


Coi chừng lại sinh đôi như Isaac, nghen bà con!



Chú thích (6*)

Đọc thêm bài “Isaac - Rebecca (http://www.gpnt.net/diendan/showthread.php?t=1516)”

KaTy
15-11-2006, 05:09 AM
Bây giờ, chúng ta hãy trở lại dòng tư tưởng chính.

Mãi cho đến 25 năm sau lần Thiên Chúa gọi đầu tiên, cụ ông cụ bà Abraham-Sarah mới thực sự có đứa con do hai người sinh ra. Bài học về vợ chồng đồng công đồng trạng trong việc thừa hưởng lời Hứa kéo dài 25 năm quả là ... lâu.

Đủ lâu để làm nản lòng rất nhiều người.

Không chỉ thời gian đã lâu, mà các bài học, và thử thách kèm theo, cũng đa dạng. Huấn luyện một con người để trở thành tổ phụ của đông đảo dân tộc hẳn đòi hỏi nhiều công sức và nhẫn nại. Chức phận cao đòi hỏi bản lãnh phải cao. Và kinh nghiệm cũng cần phải dồi dào và đa dạng.

Sau khi tiên báo trong một năm nữa đứa con Yitzchak của hai ngươì sẽ ra đời, Thiên Chúa nâng Abraham lên một cấp độ mới, thành người bạn của Thiên Chúa và học làm quan toà cầm cân nảy mực giữa công bình và chính trực.


Bài học sắp tới sẽ khiến cho Abraham có một cái nhìn mới thế giới. Ông sẽ biết rằng, làm cha con cái trong một gia đình khác hẳn với tư thế làm cha của đông đảo các dân tộc trên thế giới.

Ông phải học bài học về số phận của hai thành Sodom và Gomorrah (St 18,17tt (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2018:&FontSize=Txt10))

Thiên Chúa khai mào bài học bằng cách tư lự, phân vân. Nghĩa là Ngài coi trong Abraham lắm, nên mới tỏ vẻ phân vân như thế.

Ngài nghĩ đi, rồi Ngài nghĩ lại.

Có hai điều chúng ta thấy được ở đây: Thứ nhất, Thiên Chúa coi trọng Abraham, chọn ông làm bạn tâm giao, nên mới chia xẻ điều sắp làm với ông.

Thứ hai, Ngài cố ý cho Abraham biết Ngài đang phân vân.


17 Va'HASHEM amar hamechaseh ani me'Avraham asher ani oseh.
HASHEM said, "Shall I conceal from Avraham what I am about to do?
Yahvé s'était dit : Vais-je cacher à Abraham ce que je vais faire,
ĐỨC CHÚA phán: "Ta có nên giấu Áp-ra-ham điều Ta sắp làm chăng?


Nên nhớ lúc đó, có Abraham cùng đi theo để tiễn chân ba người khách tới báo tin tại cây sồi ở Mambré (St 18,1-16 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2018:1-16&FontSize=Txt10)). Nghĩa là có Abraham bên cạnh.

Không biết Thiên Chúa có “phân vân” to tiếng không, nhưng chúng ta có thể đoán chắc Ngài nói điều phân vân ấy ra và Abraham quả thực đã nghe và đã học được bài học này ngay, vì sau này chính Abraham bắt chước Ngài, đã kỳ nèo để buộc Thiên Chúa suy đi rồi nghĩ lại.



18 Ve'Avraham hayoh yihyeh legoy gadol ve'atzum veniverechu-vo kol goyei ha'aretz.
Avraham is indeed to become a great and mighty nation, and through him shall be blessed all the nations of the world.
Alors qu'Abraham deviendra une nation grande et puissante et que par lui se béniront toutes les nations de la terre ?
Áp-ra-ham sẽ trở thành một dân tộc lớn mạnh và mọi dân tộc sẽ được chúc phúc nhờ nó.


19 Kiyedativ lema'an asher yetzaveh et-banav ve'et-beyto acharav veshameru derech HASHEM la'asot tzedakah umishpat lema'an havi HASHEM al-Avraham et asher-diber alav.
For I have given him special attention because he commands his children, and his household after him, and they will preserve the way of HASHEM, doing charity and justice, so that HASHEM will bring upon Avraham all that which He has spoken of him."
Car je l'ai distingué, pour qu'il prescrive à ses fils et à sa maison après lui de garder la voie de Yahvé en accomplissant la justice et le droit; de la sorte, Yahvé réalisera pour Abraham ce qu'il lui a promis.
Thật vậy, Ta đã chọn nó, để nó truyền cho con cái nó và gia tộc nó sau này phải giữ đường lối của ĐỨC CHÚA mà thực hiện điều công minh chính trực; như thế ĐỨC CHÚA sẽ làm cho Áp-ra-ham điều Người đã phán về nó."



Đọc lại hai câu trên, chúng ta thấy Ngài nhắc lại Lời Hứa, nhắc lại sự tuyển chọn của Ngài, nhất là nhắc lại mục đích của bài học “la'asot tzedakah umishpat - doing charity and justice - en accomplissant la justice et le droit - thực hiện điều công minh và điều chính trực.”

Ngài tỏ cho Abraham biết điều Ngài sắp làm, và chờ đợi Abraham lên tiếng “đôi co” với Thiên Chúa.

Mà điều tuyệt diệu là Thiên Chúa muốn Abraham “đôi co”, để sau này chính Abraham dạy lại cho con cháu của ông, nghĩa là chính chúng ta, “biết thực hiện điều công minh và điều chính trực.”

Ngài muốn Abraham, sau khi có một lương tâm luân lý ngay thẳng, còn phải biết biện biệt, xét đoán theo lẽ công minh và theo điều chính trực.

Bằng cách nào?

Ngài không những muốn Abraham biết cách Ngài phán xét Sodom và Gomorrah, mà Ngài còn muốn Abraham biết rằng Ngài phán xét như thế là đúng đắn.

Hơn nữa Ngài muốn Abraham cộng tác vào vai trò quan tòa, như một người bồi thẩm, cùng chịu trách nhiệm với Thiên Chúa trong việc đoán phạt.

Abraham đang học bài học về ngành tư pháp.

Thiên Chúa bắt đầu bài học. Ngài nói to cho Abraham biết nội vụ: Công tố viện bắt đầu kết án:

20 Vayomer HASHEM za'akat Sedom va'Amorah ki-rabah vechatatam ki khavedah me'od.
[Thus] HASHEM said, "The wailing concerning Sedom and 'Amorah is so great, and their sin is so very grave.

21 Erdah-na ve'er'eh haketza'akatah haba'ah elay asu kalah ve'im-lo eda'ah.
I will descend now and see, if their wailing which has come to Me is indicative of their conduct; destruction [shall come upon them]. If not I will know."

ĐỨC CHÚA phán: "Tiếng kêu trách Xơ-đôm và Gô-mô-ra thật quá lớn! Tội lỗi của chúng quá nặng nề!21 Ta phải xuống xem thật sự chúng có làm như tiếng kêu trách đã thấu đến Ta không. Có hay không, Ta sẽ biết."


Tiếng kêu trách bất công từ hai thành vọng thấu tai Thiên Chúa . Nhưng Ngài không xét xử dựa trên những gì chỉ “nghe” nói, mà Ngài đích thân xuống tận hiện trường xem thực hư “Erdah-na ve'er'eh - I will descend now and see,”. Nghĩa là dựa trên những điều chính Ngài đã tai nghe mắt thấy, dựa trên nhân chứng vật chứng!


Nghe thế Abraham can thiệp ngay:

23 Vayigash Avraham vayomar ha'af tispeh tzaddik im-rasha.
Avraham came forward and said, "Will You ]actually] destroy the righteous with the wicked?

24 Ulay yesh chamishim tzaddikim betoch ha'ir ha'af tispeh velo-tisa lamakom lema'an chamishim hatzaddikim asher bekirbah.
Suppose there are fifty righteous people in the midst of the city. Would You still destroy it, and not bear with the place for the sake of the fifty righteous people inside it.

25 Chalilah lecha me'asot kadavar hazeh lehamit tzaddik im-rasha vehayah hatzaddik karasha chalilah lach hashofet kol-ha'aretz lo ya'aseh mishpat.
It would be sacrilege [to attribute] to You such an act, to kill the righteous with the wicked, treating the righteous and the wicked alike. It would be sacrilege to attribute this to You: Shall the Judge of all the earth not do justice?"


Abraham “lại gần và thưa: "Chẳng lẽ Ngài tiêu diệt người lành một trật với kẻ dữ sao ?”

Khác với những lần trước, lần nay Abraham đề cập ngay vào vấn đề. Ông không còn sợ sệt hay e dè như trước kia. Sau khi biết mình sẽ có con, xem chừng ông mạnh dạn hơn xưa. Tình cảm giữa ông và Thiên Chúa gắn bó hơn. Ông mạnh dạn hơn khi ngỏ lời với Thiên Chúa. Như một người bạn thân.

Ông không nhập đề lung khởi, cũng chẳng xin lỗi trước vì đã cả gan can thiệp vào “chuyện” của Thiên Chúa.

Abraham “lại gần và thưa: "Chẳng lẽ Ngài tiêu diệt người lành một trật với kẻ dữ sao?”

KaTy
15-11-2006, 05:10 AM
À mà có điều lý thú.

Thiên Chúa chưa hề nói mình sẽ phạt hay không phạt Sodom và Gomorrah. Đành rằng “tội lỗi của chúng quá nặng nề” nhưng Ngài mới chỉ cho biết đích thân xuống xem xét sự tình tình ra sao thôi.

"Tiếng kêu trách Xơ-đôm và Gô-mô-ra thật quá lớn! Tội lỗi của chúng quá nặng nề! Ta phải xuống xem thật sự chúng có làm như tiếng kêu trách đã thấu đến Ta không. Có hay không, Ta sẽ biết."

Vây mà Abarahm đã thấy ra hình phạt. Ông dùng chữ “tiêu diệt” "ha'af tispeh tzaddik im-rasha.- Chẳng lẽ Ngài tiêu diệt người lành một trật với kẻ dữ sao?”

Như vậy thoạt đầu, trong tâm trí, Abraham đã nghĩ tới công lý, công đạo - justice, chứ không phải cảm thông hay thương xót.

Và lý thú hơn nữa là, khi nói thêm:

כד אוּלַי יֵשׁ חֲמִשִּׁים צַדִּיקִם, בְּתוֹךְ הָעִיר; הַאַף תִּסְפֶּה וְלֹא-תִשָּׂא לַמָּקוֹם, לְמַעַן חֲמִשִּׁים הַצַּדִּיקִם אֲשֶׁר בְּקִרְבָּהּ.
24 Ulay yesh chamishim tzaddikim betoch ha'ir ha'af tispeh velo-tisa lamakom lema'an chamishim hatzaddikim asher bekirbah.
Suppose there are fifty righteous people in the midst of the city. Would You still destroy it, and not bear with the place for the sake of the fifty righteous people inside it.
Giả như trong thành có năm mươi người lành, chẳng lẽ Ngài tiêu diệt họ thật sao? Chẳng lẽ Ngài không dung thứ cho thành đó, vì năm mươi người lành trong đó sao?
Peut-être y a-t-il cinquante justes dans la ville. Vas-tu vraiment les supprimer et ne pardonneras-tu pas à la cité pour les cinquante justes qui sont dans son sein?

ông chỉ ám chỉ đến MỘT thành mà thôi “ha’ir - the city – dans la ville ” .

Ông lại không nói tên thành đó ra là thành nào, trong khi Thiên Chúa nói rõ tên hai thành là Sodom và Gomorrha!


Thành đó là thành nào mà Abraham ám chỉ đến? Và tại sao vậy? Các Bạn đoán thử xem?

Thiên Chúa không cần đoán như chúng ta. Ngài biết trong đầu Abraham nghĩ đến thành nào. Trong những câu kế tiếp, Ngài nói tên thành đó ra.

Abraham tiếp tục biện hộ:


25 Chalilah lecha me'asot kadavar hazeh lehamit tzaddik im-rasha vehayah hatzaddik karasha chalilah lach hashofet kol-ha'aretz lo ya'aseh mishpat.
It would be sacrilege [to attribute] to You such an act, to kill the righteous with the wicked, treating the righteous and the wicked alike. It would be sacrilege to attribute this to You: Shall the Judge of all the earth not do justice?"

Thiên Chúa nói huỵch toẹt tên thành :

כו וַיֹּאמֶר יְהוָה, אִם-אֶמְצָא בִסְדֹם חֲמִשִּׁים צַדִּיקִם בְּתוֹךְ הָעִיר--וְנָשָׂאתִי לְכָל-הַמָּקוֹם, בַּעֲבוּרָם.
26 Vayomer HASHEM im-emtza viSedom chamishim tzaddikim betoch ha'ir venasati lechol-hamakom ba'avuram.
HASHEM said: "If, in Sedom, I find fifty righteous within the city, I will bear with the entire place for their sake."
"Nếu Ta tìm được trong thành Xơ-đôm năm mươi người lành, thì vì họ, Ta sẽ dung thứ cho tất cả thành đó."


Sodom là thành có Lot, cháu của Abraham, đang cư ngụ.

Cả hai, bây giờ, đều nói cùng một tần số.

Như vậy nếu chúng ta chỉ cho rằng Abraham nài nỉ xin/cầu bầu Thiên Chúa tha không tiêu diệt cả thành vì trong đó có 50, 40, 30 người công chính trong thành, là chúng ta đã nhìn trật một chút.

Dĩ nhiên, trong quá khứ, Abraham đã từng huy động 318 gia đinh của mình, nhập cuộc chiến tranh binh lửa, để cứu cháu Lot ra khỏi tay giam giữ của bốn vị vua, thì bây giờ Abraham chẳng thể nào ngồi yên nhìn cháu Lot sắp lâm hoạ diệt vong mà không cứu giúp.

Lot là cái nguyên do, cái cớ, đồng thời cũng là mục đích để Abraham biện hộ can thiệp. Việc công việc tư đôi đàng toàn vẹn.

KaTy
16-11-2006, 04:37 AM
Nhưng dù cho Lot không phải là mục tiêu mà Abraham muốn biện hộ để cứu, thì luật sư Abraham đã đứng trên quan điểm “công chính cá nhân” để bào chữa.

Nghĩa là luật sư Abraham lý luận: “Nếu một người sống công chính thì người ấy được gì?”

Nói cách khác, cụ thể hơn, là trong trường hợp Sodom đây, thì Abraham chú trọng đến nguy cơ người công chính bị phạt oan uổng. Người luật sư già của chúng ta không lý luận rằng kẻ xấu nên được tha thứ, bỏ qua vì lòng thương xót, nhưng nhấn mạnh rằng người công chính không nên bị phạt lây vì kẻ dữ.

כה חָלִלָה לְּךָ מֵעֲשֹׂת כַּדָּבָר הַזֶּה, לְהָמִית צַדִּיק עִם-רָשָׁע, וְהָיָה כַצַּדִּיק, כָּרָשָׁע; חָלִלָה לָּךְ--הֲשֹׁפֵט כָּל-הָאָרֶץ, לֹא יַעֲשֶׂה מִשְׁפָּט.
25 Chalilah lecha me'asot kadavar hazeh lehamit tzaddik im-rasha vehayah hatzaddik karasha chalilah lach hashofet kol-ha'aretz lo ya'aseh mishpat.
It would be sacrilege [to attribute] to You such an act, to kill the righteous with the wicked, treating the righteous and the wicked alike. It would be sacrilege to attribute this to You: Shall the Judge of all the earth not do justice?"


Mà có khi Abraham đã không hoàn toàn vô vị lợi trong lập luận của mình.

Có lẽ, khi đôi co, kỳ nèo trả giá với Thiên Chúa, ông muốn biết rằng, suốt đời sống công chính, ông có được đền bù như đã hứa? Nếu Thiên Chúa, vị Thần ông mới làm quen 25 năm qua, mà xốc nổi, hời hợt, thì hẳn ông có cố sống công chính suốt đời cũng bằng thừa. Có khi ông còn bị chịu phạt lây một cách bất công, hay không được tưởng thưởng xứng đáng, đúng mức.

Chúng ta còn có thể nhìn ra được những vấn đề to lớn hơn liên quan đến tương giao giữa ông và Thiên Chúa, cũng như có ảnh hưởng quan yếu đến tư cách làm “tổ phụ đông đảo dân tộc” của ông.

Trong những biện hộ mà luật sư Abraham đã đưa ra, ông còn muốn biết việc xét xử của Thiên Chúa có giống với việc đoán xét của loài người, nghĩa là người tốt có được giầu có sung túc,vận mệnh hanh thông, và kẻ xấu có bị kéo lê đời sống vất vưởng khốn khổ hay không.

Sự công chính của Thiên Chúa, xét theo nhãn quan loài người, có độc đoán, thất thường hay hời hợt không? Nghĩa là có thể hết lòng tin tưởng phó thác trọn đời sống mình cho Ngài hay không?

Vì thế ông muốn biết rõ, cho thật rõ, rằng người công chính có bị phạt chung với kẻ dữ hay không ?

25 Chalilah lecha me'asot kadavar hazeh lehamit tzaddik im-rasha vehayah hatzaddik karasha chalilah lach hashofet kol-ha'aretz lo ya'aseh mishpat.
It would be sacrilege [to attribute] to You such an act, to kill the righteous with the wicked, treating the righteous and the wicked alike. It would be sacrilege to attribute this to You: Shall the Judge of all the earth not do justice?"



Nhưng đồng thời, đứng về phía Thiên Chúa mà xét, điều Abraham muốn biết chắc trên đây, cũng chính là điều Thiên Chúa muốn dạy bảo cho học sinh Abraham thấu triệt.

Khi Abraham lên tiếng can gián, Thiên Chúa biết ngay Abraham mơ hồ biết rằng giữa một cá nhân công chính và thành phố tốt lành người đó ngụ cư, hẳn phải có một tương quan. Ông tiên cảm rằng, nếu xét đoán chung cả một thành, thì hậu quả sẽ bất công đối với các cá nhân công chính trong thành đó, vì sẽ có vài người công chính chịu hình phạt oan uổng vì thành.

Vì thế ông bắt đầu biện hộ từ điểm này: tránh nhắc đến số phận của toàn thành mà chỉ nhấn mạnh rằng vài kẻ công chính sẽ bị phạt oan nếu phạt cả thành! “lehamit tzaddik im-rasha -, to kill the righteous with the wicked”


Ông nói thêm: Chẳng lẽ “hashofet kol-ha'aretz lo ya'aseh mishpat. Đấng xét xử cả trần gian lại không xét xử công minh sao?”

Với ông, “xét xử công minh” là trả lại cho mỗi người điều họ đáng được và chỉ những gì họ đáng được mà thôi.

admin
16-11-2006, 04:53 AM
Ngược lại, Thiên Chúa tỏ vẻ bận tâm tới cả thành cùng những sự ác độc trong đó hơn là những cá nhân công chính. Nhưng Ngài vẫn chấp nhận lắng nghe Abraham tỏ bày nỗi bất bình nhân danh những người công chính. Để giáo dục ông.


Khi nghe Abraham biện hộ nhân danh 50 người công chính:

כד אוּלַי יֵשׁ חֲמִשִּׁים צַדִּיקִם, בְּתוֹךְ הָעִיר; הַאַף תִּסְפֶּה וְלֹא-תִשָּׂא לַמָּקוֹם, לְמַעַן חֲמִשִּׁים הַצַּדִּיקִם אֲשֶׁר בְּקִרְבָּהּ.
24 Ulay yesh chamishim tzaddikim betoch ha'ir ha'af tispeh velo-tisa lamakom lema'an chamishim hatzaddikim asher bekirbah.
Suppose there are fifty righteous people in the midst of the city. Would You still destroy it, and not bear with the place for the sake of the fifty righteous people inside it.
Giả như trong thành có năm mươi người lành, chẳng lẽ Ngài tiêu diệt họ thật sao? Chẳng lẽ Ngài không dung thứ cho thành đó, vì năm mươi người lành trong đó sao?

Ngài chấp nhận tha cho thành vì năm mươi người ấy:

כו וַיֹּאמֶר יְהוָה, אִם-אֶמְצָא בִסְדֹם חֲמִשִּׁים צַדִּיקִם בְּתוֹךְ הָעִיר--וְנָשָׂאתִי לְכָל-הַמָּקוֹם, בַּעֲבוּרָם.
26 Vayomer HASHEM im-emtza viSedom chamishim tzaddikim betoch ha'ir venasati lechol hamakom ba'avuram.
HASHEM said: "If, in Sedom, I find fifty righteous within the city, I will bear with the entire place for their sake."
"Nếu Ta tìm được trong thành Xơ-đôm năm mươi người lành, thì vì họ, Ta sẽ dung thứ cho tất cả thành đó."

Nhưng Ngài kín đáo nhắc cho Abraham nghĩ tới toàn bộ vấn đề. Ngài nhấn mạnh đến chữ “tất cả - lechol”.


Khi tiếp tục biện hộ, Abraham dùng lại chữ “et-kol-ha'ir- tất cả thành” , nhưng rõ ràng ông không để tâm vào chữ này.

כז וַיַּעַן אַבְרָהָם, וַיֹּאמַר: הִנֵּה-נָא הוֹאַלְתִּי לְדַבֵּר אֶל-אֲדֹנָי, וְאָנֹכִי עָפָר וָאֵפֶר.
27 Vaya'an Avraham vayomar hineh-na ho'alti ledaber el-Ad-nai ve'anochi afar va'efer.
Avraham responded and said, "Here I have begun to speak to my Master, and I am but dust and ashes.

כח אוּלַי יַחְסְרוּן חֲמִשִּׁים הַצַּדִּיקִם, חֲמִשָּׁה--הֲתַשְׁחִית בַּחֲמִשָּׁה, אֶת-כָּל-הָעִיר; וַיֹּאמֶר, לֹא אַשְׁחִית, אִם-אֶמְצָא שָׁם, אַרְבָּעִים וַחֲמִשָּׁה.
28 Ulay yachserun chamishim hatzaddikim chamishah hatashchit bachamishah et-kol-ha'ir vayomer lo ashchit im-emtza sham arba'im vachamishah.
But suppose they lack five of the fifty righteous? Will You destroy all the city because of five?" He said, "I will not destroy if I find forty-five there."

Ông chỉ muốn Thiên Chúa nhìn vào sự kiện lỡ mà thiếu 5 người công chính thì sao?

Và rồi cứ thế ông mặc cả với Thiên Chúa dựa trên con số người công chính càng ngày càng nhỏ dần.

Bốn mươi. Rồi ba mươi. Rồi hai mươi. Và cuối cùng là mười người.

Nhưng khi xuống còn đến mười, ông đột nhiên không còn mặc cả nữa. Thật là lạ.

Tại sao vậy?

---
Xem Kinh Thánh tiếng Do Thái (St 18 (http://www.mechon-mamre.org/p/pt/pt0118.htm))

KaTy
18-11-2006, 06:13 AM
Cứ lý mà xét, khi bắt đầu cuộc bào chữa dựa trên sự công chính của cá nhân, luật sư biện hộ Abraham sẽ trả giá xuống tiếp đến năm người, rồi cuối cùng đi đến kết luận: Phải tha thứ cho cả thành vì một người công công chính!

Vậy mà Abraham dừng lại ở mức 10 người.

Có lẽ Abraham ngại không dám “già néo” sợ “đứt giây”, hoặc ngại Thiên Chúa cho mình là “tự phụ”.

Hay ông ngại Thiên Chúa biết “tỏng tòng tong” rằng ông nhắm đến số phận của Lot, cháu mình!

Hay là chúng ta có thể đưa ra thêm một sự thật: Khi trả giá xuống còn mười người mà Thiên Chúa vẫn đồng ý tha cho cả thành vì mười người công chính, ông chợt “ngộ” ra được bài học, ông đã hiểu được bài học của Thiên Chúa!


Khi thấy Thiên Chúa vẫn đồng thuận với những kỳ nèo mình đưa ra, Abraham học được rằng, ngoài mối lo lắng cho cá nhân, cho người thân trong gia đình, mình còn phải biết lo lắng đến an nguy và sự công chính của cả thành, của cả một quốc gia, một dân tộc.

Đó phải là cái tâm, cái trí dũng, cái hoài bão của một người được Thiên Chúa chọn làm Cha của đông đảo dân tộc. Chứ không thể cận thị, chỉ biết nhắm đến sự công chính cho cá nhân con cháu trong nhà, trong gia tộc riêng mình.

Như thế, khi dừng ở mức 10 người, cách nào đó Abraham đã chấp nhận Lot phải hy sinh. Lot, người cháu thân thương, người mà ông đã có lần chọn làm con, làm hậu duệ cho chính mình, người mà ông đã vào sinh ra tử để cứu thoát, người mà ông từng gọi là “anh em”: " כִּי-אֲנָשִׁים אַחִים, אֲנָחְנוּ. - ki-anashim achim anachnu - car nous sommes des frères !" (St 13,8 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2013:8&FontSize=Txt10))

Phận số của toàn thành, của toàn dân đương nhiên là phải kéo theo sự đau khổ của vài người công chính, hay vô tội. Người nắm vận mệnh của toàn thành hay toàn dân hẳn phải biết bên nào trọng bên nào khinh. Đôi khi còn phải chấp nhận những hy sinh của một vài người, cho an nguy và công chính của cả dân tộc.


Giữa Thiên Chúa và Abraham, xét cho cùng, vẫn có rất nhiều điểm chung. Ngài động lòng vì những lập luận của Abraham. Ngài chấp nhận tha thứ cho cả thành, miễn là có đủ túc số những người công chính để vực thành dậy và cải tạo đời sống luân lý trong thành.

Khi đồng thuận cho Abraham kỳ nèo, Ngài muốn cho Abraham thấy được quan điểm của Ngài trong lãnh vực chính trị: Người ta phải biết nhìn rộng ra cho toàn thế giới, toàn cầu, toàn dân chứ không nên thiển cận trong nội bộ gia đình hay gia tộc.

Với Ngài, Abraham còn phải biết “trị quốc, bình thiên hạ”, chứ không chỉ biết “tu thân, tề gia” mà thôi!

KaTy
18-11-2006, 06:27 AM
Bài học không kết thúc cùng với cuộc đối thoại.

Mang tâm trạng não nề bi thảm trở về, sáng hôm sau, Abraham thức dậy và thấy khói đen từng cuộn ngùn ngụt bốc cao từ phía hai thành Sodom và Gomorrah.

כח וַיַּשְׁקֵף, עַל-פְּנֵי סְדֹם וַעֲמֹרָה, וְעַל-כָּל-פְּנֵי, אֶרֶץ הַכִּכָּר; וַיַּרְא, וְהִנֵּה עָלָה קִיטֹר הָאָרֶץ, כְּקִיטֹר, הַכִּבְשָׁן.
28 (http://www.mechon-mamre.org/p/pt/pt0119.htm) Vayashkef al-penei Sedom va'Amorah ve'al kol-penei eretz hakikar vayar vehineh alah kitor ha'aretz kekitor hakivshan.
He [Avraham] stared at Sedom and 'Amorah, and the whole land of the plain, and he saw the heavy smoke rising from the earth like the smoke of a furnace.
Et il jeta son regard sur Sodome, sur Gomorrhe et sur toute la Plaine, et voici qu'il vit la fumée monter du pays comme la fumée d'une fournaise !


Bản văn không miêu tả tâm trạng Abraham lúc đó, nhưng chúng ta đoán ra được ngay.

Hẳn ông phải cảm nghiệm được rằng Thiên Chúa đáng kính sợ như thế nào.

Khi nghĩ đến những người công chính mà hôm qua ông đã cố công kỳ nèo, hẳn ông biết ít là có được chín người công chính phải bị phạt chết theo với thành. Chưa kể nhiều trẻ em sơ sinh, còn thơ ngây, chưa hề phạm tội, cũng bị vạ lây.

Và số phận của Lot người cháu thân thương của ông nữa. Nhìn đám khói bốc cao, ông chắc hẳn Lot và gia đình đã thiệt mạng trong khói lửa mịt mùng.

Lòng nặng như đeo chì, hẳn ông cảm thấy dầu sao ông cũng có trách nhiệm trong cái chết của Lot, không chỉ vì mình đã đồng ý để cho mười người công chính phải chết, mà còn vì đã không tận lực giáo dục Lot trong sự công chính và vì trước kia đã đồng ý để cho Lot chia tay mà cư trú tại Sodom này.

Khi thấy khói bốc lên nghi ngút, như nhiều lần ông tế sinh trên những bàn thờ ông đã từng dựng nên, hẳn ông biết rằng Lot chết như một lễ vật thiêu sinh.


Dù Abraham không nghĩ đến, nhưng Thiên Chúa đã nghĩ thấu. Cho nên:

כט וַיְהִי, בְּשַׁחֵת אֱלֹהִים אֶת-עָרֵי הַכִּכָּר, וַיִּזְכֹּר אֱלֹהִים, אֶת-אַבְרָהָם; וַיְשַׁלַּח אֶת-לוֹט, מִתּוֹךְ הַהֲפֵכָה, בַּהֲפֹךְ אֶת-הֶעָרִים, אֲשֶׁר-יָשַׁב בָּהֵן לוֹט.
29 “Vayehi beshachet Elokim et-arei hakikar vayizkor Elokim et-Avraham vayeshalach et-Lot mitoch hahafecha bahafoch et-he'arim asher-yashav bahen Lot.
When G-d destroyed the cities of the plain; G-d remembered Avraham, and He sent Lot out of the upheaval when He overturned the cities in which Lot had lived.
Như vậy, khi Thiên Chúa phá huỷ các thành trong cả Vùng, Thiên Chúa đã nhớ đến ông Áp-ra-ham và đã cứu ông Lót khỏi cuộc tàn phá, khi Người phá đổ các thành nơi ông Lót ở. (Xin xem chú thích 7*)
Ainsi, lorsque Dieu détruisit les villes de la Plaine, il s'est souvenu d'Abraham et il a retiré Lot du milieu de la catastrophe, dans le renversement des villes où habitait Lot.


Như thế Thiên Chúa đã tỏ lòng thương xót, cứu Lot vì Abraham. Nhưng Ngài không hề nói cho Abraham biết điều này. Ngài còn đủ thời gian, sau này, để dạy cho Abraham và con cháu ông bài học về lòng thương xót.

Hiện tại bây giờ Thiên Chúa giữ im lặng. Ngài không lên tiếng báo tin hay an ủi Abraham, vì ông cần phải thấm thía bài học về bản lĩnh làm “cha gia đình” và làm “cha đông đảo dân tộc”.

Và nhất là ông phải đoạn trường chứng kiến cuộn khói đang bốc cao kia từ Sodom và Gomorrah, để chuẩn bị cho một thử thách lớn lao và nghiệt ngã hơn.

Thiên Chúa sẽ không mời ông đồng ngồi ghế xử án, mà mời ông làm người giết con ruột chính mình sinh ra.

....>>>


Chú thích (7*)

Có điều thú vị với động từ “vayeshalach” dùng ở đây.

Bản tiếng Việt dịch thành “cứu ông Lot”. Bản Bible de Jerusalem dịch thành “il a retiré Lot” vẫn chưa lột được ý nghĩa của động từ này. “Vayeshalach” có nghĩa là “to send forth - thả ra, thả tự do, sai đi.- lâcher”

Chúng ta sẽ thấy điều đặc biệt ở câu St 8,8 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%208:8&FontSize=Txt10). Lúc trên tàu, khi mực nước lụt đã rút xuống, tàu đã chạm đất, ông Noe vayeshalach/thả/sai con chim bồ câu đi, để xem mặt đất đã ló ra chưa .

ח וַיְשַׁלַּח אֶת-הַיּוֹנָה, מֵאִתּוֹ--לִרְאוֹת הֲקַלּוּ הַמַּיִם, מֵעַל פְּנֵי הָאֲדָמָה.
8 (http://www.mechon-mamre.org/p/pt/pt0108.htm) Vayeshalach et-hayonah me'ito lir'ot hakalu hamayim me'al penei ha'adamah.
He [then] sent the dove to see if the water had subsided from the surface of the ground.
Alors il lâcha d'auprès de lui la colombe pour voir si les eaux avaient diminué à la surface du sol. (St 8,8)

Khi được thả ra, con chim bồ câu chỉ biết nó được tung cánh bay tự do. Người thả chim, ông Noe, mới là người mong nơi nó một sứ vụ, xem coi nó có trở về lại chốn cũ hay không?

Trước khi phạt Sodom, Thiên Chúa, vì nhớ đến Abraham, đã vayeshalach/thả/sai Lot ra đi. Xem coi ông có quay về chốn cũ hay không?

Chim bồ câu không quay trở lại. Không cần tàu của ông Noe làm nhà. Vì bây giờ, cả thế gian bao la bên ngoài là nơi nó trú thân.

Hẳn Lot - và cả bà Lot - phải hiểu ra, nên một khi nhanh chân thoát ra khỏi Sodom, thì không nên quay đầu lại

KaTy
22-11-2006, 07:24 AM
Ngay khi cột khói bốc lên từ Sodom và Gomorrah lụi tàn, dường như để tránh nỗi buồn mất cháu, Abraham rời chỗ đó - cây sồi tại Mambré (St 18,1 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2018:1&FontSize=Txt10)) - dời cư xuống miền Negev. Ông định cư tại miền Gerar. Đó là địa phương của người Philistin, và vua của họ là Abimelech.

Đi đến đâu ông đều tuyên bố với mọi người rằng Sarah là אֲחֹתִי הִוא “ishto achoti - em gái mình” (St 20,2 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2020:2&FontSize=Txt10)).

Và chuyện thật mà như đùa, Abimelech sai người đến “vayikach etSarah - bắt Sarah” làm thiếp.

Quả thực bà Sarah là “thiên hạ đệ nhất giai nhân.” Một cụ bà 89 tuổi mà còn có thể làm cho vua Abimelech say đắm.

Đến đây thì nên lo ra một chút: Nói cho ngay, có vợ đẹp cũng “rầy” thật đấy các Bạn nhỉ? Đi đến đâu cũng không ai để cho mà yên thân. Ra đường thì mình phải ngó trước ngó sau, xem chừng có ai đó đang toan tính những điều “không nên không phải” . Đi đến đâu cũng lo lắng, không biết chỗ ấy có “đàng hoàng” không? Biết thế mà rút kinh nghiệm. Lần sau thì sẽ trèo thấp hơn. Nhưng cũng đừng nên chậm chân mà trèo cây bưởi. Sẽ “khóc người rưng rưng” đó, các Bạn ạ.



Chúng ta có thể đưa ra thêm giả thuyết Abimelech muốn liên minh với Abraham qua hôn nhân với “cô em gái” Sarah? Dầu sao thì Abraham đã là người giầu lên, sau kinh nghiệm tại Ai Cập. Đàn vật đông đúc, gia nhân nhiều, tài vật của chìm của nổi không thiếu. Abimelech muốn có thêm một đồng minh giầu có là điều dễ hiểu.

Nhưng xét về cách hành xử của Abraham, chúng ta thấy quả thực không dễ hiểu chút nào . Dù sau này, khi câu chuyện đổ bể, ông cho là vì “sợ chết” mà làm thế. Nhưng có thể vì thấy mưu mô thành công, đem lại giầu có như trước kia đã từng được tại Ai Cập, nên ông muốn “bổn cũ soạn lại”?

Hay ông vẫn còn cố chấp mà chưa tin lắm vào lời Hứa Sarah sẽ có con?


Abimelech khác với Pharaon, nên Thiên Chúa xử với ông khác với Pharaon.

Với Pharaon, Thiên Chúa phạt mà không cảnh báo (St 12,17 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2012:17&FontSize=Txt10)). Còn đối với Abimelech, Ngài có phạt ông qua cánh phụ nữ trong gia đình

יח כִּי-עָצֹר עָצַר יְהוָה, בְּעַד כָּל-רֶחֶם לְבֵית אֲבִימֶלֶךְ, עַל-דְּבַר שָׂרָה, אֵשֶׁת אַבְרָהָם.
18 Ki-atzor atzar HASHEM be'ad kol-rechem leveyt Avimelech al-devar Sarah eshet-Avraham.
For HASHEM had restrained every womb in the house of Avimelech because of Sarah, Avraham's wife.
Bởi trước đấy ĐỨC CHÚA đã làm cho mọi phụ nữ trong gia đình vua A-vi-me-léc không sinh đẻ được, vì chuyện bà Xa-ra, vợ ông Áp-ra-ham.
(St 20,18 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2020:18&FontSize=Txt10)).


Phần ông Thiên Chúa cảnh báo ông qua giấc mộng trong đêm, cho ông biết sự thật.

3 Vayavo Elokim el-Avimelech bachalom halailah vayomer lo hinecha met al-ha'ishah asher-lakachta vehi be'ulat ba'al.
G-d came to Avimelech in a dream at night, and said to him, "Behold, you shall die because of the woman you took, for she is a married woman."
Nhưng ban đêm Thiên Chúa đến báo mộng cho vua A-vi-me-léc rằng: "Này ngươi sắp phải chết vì người đàn bà mà ngươi đã bắt, bởi người ấy có chồng."


Abimelech vì chưa từng đụng chạm đến Sarah nên cực lực minh oan cho mình và cho... dân tộc mình:

“...vayomar Ad-nai hagoy gam-tzaddik taharog.-
He said, "My Master, will You also kill an innocent nation?
Vua thưa: "Lạy Chúa, một dân công chính mà Ngài cũng giết sao?

Halo hu amar-li akchoti hi vehi-gam-hi amerah achi hu betom-levavi uvenikyon kapay asiti zot.
Did he not say to me, 'She is my sister?' And she also said, 'He is my brother.' With an innocent heart and clean hands I did this."
Ông ấy đã chẳng bảo tôi rằng: "Nàng là em tôi" đó sao? Và ngay cả bà ấy cũng đã nói rằng: "Ông ấy là anh tôi. Tôi đã làm điều đó với tấm lòng thuần khiết và bàn tay vô tội."
(St 20,4-5 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2020:4-5&FontSize=Txt10))


Thiên Chúa chấp nhận lời biện hộ của Abimelech, và cho biết chính Ngài đã gìn giữ Sarah, để Abimelech khỏi phạm tội chống lại chính Thiên Chúa.

6 Vayomer elav ha'Elokim bachalom gam anochi yadati ki vetom-levavcha asita zot ve'echsoch gam-anochi otcha mechato-li al-ken lo-netaticha linego'ah eleiha.
G-d said to him in a dream, "I also know that you did this with an innocent heart. I also prevented you from sinning against Me. That is why I did not give you the chance to touch her.
Thiên Chúa báo mộng cho vua rằng: "Ta cũng biết là ngươi đã làm điều đó với tấm lòng thuần khiết, và cũng chính Ta đã ngăn cản ngươi khỏi mắc tội đối với Ta. Vì thế, Ta đã không để cho ngươi động đến người ấy


Và Ngài ra lệnh phải trả Sarah về lại cho Abraham.


Vì sợ chết , và nhất là vì biết rằng đàng sau Abraham còn có một vị Thần đã toàn năng, lại còn biết rõ trước sau trong ngoài, Abimelech quay sang “hạch tội” Abraham.

Abimelech giờ đây hành xử như một quan toà, thay mặt Thiên Chúa .

9 Vayikra Avimelech le-Avraham vayomer lo meh-asita lanu umeh-chatati lach ki-heveta alay ve'al mamlachti chata'ah gedolah ma'asim asher lo-ye'asu asita imadi.
Avimelech called Avraham and said to him, "What have you done to us? What wrong did I do to you that you brought on me and upon my kingdom such a great sin? Deeds that ought not to be done, you have done to me."

Vua A-vi-me-léc cho gọi ông Áp-ra-ham đến và nói với ông: "Ông đã làm gì chúng tôi thế? Tôi mắc tội gì đối với ông, mà ông lại làm cho tôi và nước tôi phải vương vào một tội lớn như thế? Ông đã làm cho tôi những điều không nên làm!"

10 Vayomer Avimelech el-Avraham mah ra'ita ki asita et-hadavar hazeh.
Avimelech [then] said to Avraham, "What did you see that you did such a thing?"
Vua A-vi-me-léc nói với ông Áp-ra-ham: "Ông nhắm mục đích gì khi làm điều ấy?"

Như thế Abimelech dạy lại cho Abraham một bài học luân lý cơ bản về hôn nhân, rằng tội ngoại tình là một trọng tội, gây ảnh hưởng xấu trên toàn thể dân tộc. Đó là một hành vi trầm trọng không nên làm.
Và ông đòi Abraham một câu trả lời cho câu hỏi : “mah ra'ita ki asita et-hadavar hazeh. "What did you see that you did such a thing?"


Mấy năm trước, trong hoàn cảnh tương tự bên Aicập, khi Pharaon hỏi Abraham: "Vayikra Far'oh le-Avram vayomer ma-zot asita li lamah lo-higadeta li ki ishtecha hi. - Pharaoh summoned Avram and said, "What is this you have done to me? Why did you not tell me that she is your wife? (St 12,18 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2012:18&FontSize=Txt10))

Abraham không hề trả lời câu nào.

Nay cũng vậy khi Abimelech hỏi: “lo meh-asita lanu umeh-chatati lach ki-heveta alay ve'al mamlachti chata'ah gedolah ma'asim asher lo-ye'asu asita imadi. - "What have you done to us? What wrong did I do to you that you brought on me and upon my kingdom such a great sin? Deeds that ought not to be done, you have done to me."

Abraham cũng không trả lời.

Chỉ khi Abimelech hỏi: “mah ra'ita ki asita et-hadavar hazeh. - What did you see that you did such a thing? - Ông nhắm mục đích gì khi làm điều ấy?"

Động từ “ra’ita” có nghĩa “ông đã thấy.”

Lúc bấy giờ Abraham mới lên tiếng trả lời.


Trong lời biện hộ, Abraham cho chúng ta biết hai chi tiết quan trọng :

11 Vayomer Avraham ki amarti rak eyn-yir'at Elokim bamakom hazeh vaharaguni al-devar ishti.
Avraham said, "Because I said [thought] there is no fear of G-d in this place, and they will kill me [in order] to take my wife.
Ông Áp-ra-ham trả lời: "Tôi nghĩ bụng: "Ở nơi này người ta chẳng kính sợ gì Thiên Chúa, và vì vợ tôi họ sẽ giết tôi."

Abtraham đã thấy điều mà Abimalech và những người địa phương không thấy: “ki amarti rak eyn-yir'at Elokim bamakom hazeh - there is no fear of G-d in this place

KaTy
22-11-2006, 10:54 PM
Hẳn lửa khói điêu linh bốc lên từ Sodom và Gomorrah thêm cho Abraham lòng kính sợ Thiên Chúa.

Ông đã biết Ngài. Ông đã ít nhiều tin vào Ngài.
Bây giờ ông cảm nghiệm thêm rằng kính sợ Thiên Chúa là điều cần thiết và rất nên. Đó lại là thước đo mức luân lý của dân địa phương và là vòng đai an toàn dành cho ngoại kiều.

Vì không thấy có “yir’at Elokim” tại Gerar nên Abraham mới tuyên bố “Sarah là em gái.”



Abraham còn cho chúng ta biết thêm chi tiết thứ hai đầy bất ngờ:

12 Vegam omnah achoti vat-avi hi ach lo vat-imi vatehi-li le'ishah.
In any case, she is my sister, the daughter of my father, but not the daughter of my mother, and she became my wife.
Vả lại, nàng đúng là em gái tôi, con cùng cha khác mẹ, và nàng đã trở thành vợ tôi.

À ra thế ! Trước kia Sarah là em cùng cha khác mẹ với Abraham. Sau đó hai người mới lấy nhau. (Xem chú thích 8*)



Nhưng lời giải thích không thoả đáng. Dù Sarah đúng là em cùng cha, Abraham mới chỉ nói có một nửa sự thật. Nửa sự thật kia là Sarah (cũng) là vợ ông.

Chúng ta đừng cho rằng hai phạm trù “em gái” và “vợ”, trong trường hợp Abraham đây, loại trừ nhau. Hơn chúng ta ngày nay, Abimelech hiểu rất rõ rằng Sarah vừa là em vừa là vợ Abraham.

Abraham không nói dối vì điều đã nói. Nhưng ông đã nói dối vì điều không nói ra. Phần sự thật quan trọng nhất, ông lại không nói ra!

Abraham kết thúc lời biện hộ:

13 Vayehi ka'asher hite'u oti Elokim mibeit avi va'omar lah zeh chasdech asher ta'asi imadi el kol-hamakom asher navo shamah imri-li achi hu.
When G-d caused me to wander from my father's house, I said to her, 'this is the kindness you shall do for me. At every place we come to, say of me, 'He is my brother.'"
Khi Thiên Chúa bắt tôi đi lang thang xa nhà cha tôi, thì tôi đã bảo nàng: "Xin bà làm cho tôi ơn này là bất cứ nơi nào chúng ta đến, bà cứ nói: "Ông ấy là anh tôi."
Alors, quand Dieu m'a fait errer loin de ma famille, je lui ai dit : Voici la faveur que tu me feras : partout où nous arriverons, dis de moi que je suis ton frère.

Hình như Abraham có một chút gì.. chưa trọn vẹn, chưa là đại trượng phu. Đã phải biến báo thì tại sao chính ông không can đảm nói "Tôi là anh bà ấy", mà bắt bà Sarah phải nói: "Ông ấy là anh tôi?" Quả là thái độ "chồng (là) chúa, vợ (là) tôi (tớ)"? Chắc chắn các Bà ngày nay sẽ bĩu môi phê bình, như thế.


Abimelech dường như chẳng bận tâm lắm đến lời thanh minh này. Ông không trả lời Abraham. Nói cho ngay, thay vì trả lời, ông tặng nhiều, rất nhiều quà cho Abraham, và ông trả vợ lại cho Abraham.

14 Vayikach Avimelech tzon uvakar va'avadim ushfachot vayiten le-Avraham vayashev lo et Sarah ishto.
Avimelech took sheep, cattle, male and female slaves, and he gave them to Avraham. He [also] returned his wife Sarah to him.

Kinh Thánh nhấn mạnh chữ “lo et Sarah ishto - his wife Sarah to him.”


Không những thế, ông còn mời họ muốn định cư chỗ nào tùy ý.

Ông còn mỉa mai nhấn mạnh tới chữ “achich - ông anh của bà” khi nói với bà Sarah:

16 Ule-Sarah amar hineh natati elef kesef le'achich hineh hu-lach ksut eynayim lechol asher itach ve'et kol venochachat.
To Sarah, he said, "Behold I have given to your brother a thousand pieces of silver. It will be for you a [compensational] eye covering for all who are with you, that you may face every one."

Một ngàn đồng tiền bạc để giải oan, để trả lại danh dự cho bà Sarah, để “che mắt” thiên hạ. Ý rằng bà vẫn là người vợ trung thành.

Abraham nhận ra sự tế nhị và nét cao thượng của Abimelech, khi ông này luôn tỏ ra coi trọng bà Sarah.


Và Abraham cầu nguyện.

"17 Vayitpalel Avraham el-ha'Elokim .... Avraham prayed to G-d",

Đây là [B]lần cầu nguyện [COLOR=darkred]đầu tiên, và duy nhất, của Abraham trong Sáng Thế Ký[/B].



Chúng ta không biết ông cầu nguyện những gì. Nhưng chính hành động này xảy ra ngay sau biến cố cho phép chúng ta đoán rằng ông “trở lại” cùng Thiên Chúa và nó đồng nghĩa với một lời thú tội.



Thiên Chúa nhận lòng thành của ông nên Ngài chữa bệnh hiếm muộn cho cả nhà Abimelech:

17 Vayitpalel Avraham el-ha'Elokim vayirpa Elokim et-Avimelech ve'et-ishto ve'amehotav vayeledu.[/COLOR]
Avraham prayed to G-d, and G-d healed Avimelech, his wife, and his female slaves, and they gave birth.



Như thế nhờ Abimelech (xem chú thích 9*), mà Thiên Chúa nhắc lại cho Abraham bài học về “ý nghĩa và tầm quan trọng” của người vợ Sarah của ông, cho ông thấy ra được điều lỗi điều phải của ông, và là cơ hội khiến ông cầu nguyện.



Sau những ngày tháng tại Gerar, thời gian đã chín mùi để lời Hứa từ 25 năm trước nay thành tựu. Bà Sarah sinh con. Bà sinh Yiztchak.




...>>>

Chú thích (8*)

Thời ấy hôn nhân giữa hai người chỉ cùng một cha hay một mẹ như thế này vẫn được phép và thịnh hành. Y hệt trong xã hội Trung hoa thời trước.

Chỉ mãi sau này hôn nhân như thế mới bị cấm chỉ. (Xem Levi 18,9 và 20,17 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Lv%2018:9, 20:17&FontSize=Txt10) như sau)

You shall not have intercourse with your sister, your father's daughter or your mother's daughter, whether she was born in your own household or born elsewhere.(NAB)
Tu ne découvriras pas la nudité de ta sœur, qu'elle soit fille de ton père ou fille de ta mère. Qu'elle soit née à la maison, qu'elle soit née au-dehors, tu n'en découvriras pas la nudité.(BJ)
9 Ngươi không được lột trần chỗ kín của chị em ngươi, dù là con gái của cha ngươi hay con gái của mẹ ngươi, sinh tại nhà hay sinh ở ngoài; ngươi không được lột trần chỗ kín của chúng. (PVCGK)


If a man consummates marriage with his sister or his half-sister, they shall be publicly cut off from their people for this shameful deed; the man shall pay the penalty of having had intercourse with his own sister.(NAB) L'homme qui prend pour épouse sa sœur, la fille de son père ou la fille de sa mère : s'il voit sa nudité et qu'elle voie la sienne, c'est une ignominie. Ils seront exterminés sous les yeux des membres de leur peuple, car il a découvert la nudité de sa sœur et il portera le poids de sa faute.(BJ)
17 Khi người đàn ông nào lấy chị em mình, dù là con gái của cha mình hay con gái của mẹ mình, và thấy chỗ kín của người chị em cũng như người này thấy chỗ kín của nó, thì đó là điều bỉ ổi; chúng sẽ bị khai trừ trước mắt những người thuộc về dân của chúng; nó đã lột trần chỗ kín của người chị em nó, thì nó sẽ phải mang lấy tội mình. (PVCGK)


Chú thích (9*)

Chiết tự [B]Abimelech[/B] chúng ta có “Ab = bố”, “Melech = vua”. Như thế Abimelech có nghĩa “Bố tôi là Vua” hay “Cha của Vua”. Đây là tên gọi thông dụng của các vị vua người Philistinh.

Trong thời Sáng Thế Ký có hai vị vua Abimelech nổi tiếng cùng tên. Dường như đây là hai cha con.

1- Abimelech, vua Philistinh cùng thời với Abraham mà chúng ta đang nói đến trên đây (Xem St 20,1-18 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2020:1-18&FontSize=Txt10)). Sau đó vài năm, vuia Abimelech này tới thăm Abraham, lúc đó đang ở tận miền Nam. Hai người ký giao ước với nhau. Đây là giao ước đầu tiên mà chúng ta có sử sách ghi lại. Giao ước này được xác nhận bằng lời thề của hai bên Beer-sheba (Xem St 21,22-34 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2021:22-34&FontSize=Txt10)).

2-Một vua Abimelech khác tại Gerar, vào thời Isaac, có lẽ là con của vua trên đây (xem St 26,1-22 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2026:1-22&FontSize=Txt10)). Isaac trôi dạt xuống lãnh thổ của ông để tránh đói và Isaac lập lại kế hoạch của bố Abraham, gọi cô Rebecca vợ mình là “em gái’. Câu chuyện xảy ra và kết thúc y hệt câu chuyện của thời Abraham, bố mình. Chỉ khác là một điều là, sau đó, Isaac ở lại Gerar một thời gian, rồi giầu tướng lên, đến độ Abimelech phải mời ông rời đi. Sau đó Abimelech đến chỗ ông cắm trại tại Beer-sheba, và muốn tái lập giao ước mà trước kia hai ông bố đã ký với nhau (Xem St 26,26-31 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2026:26-31&FontSize=Txt10)).

KaTy
22-11-2006, 10:55 PM
Qua biến cố kinh hoàng tại Sodom và Gomorah, Thiên Chúa dạy cho Abraham biết lòng kính sợ Thiên Chúa và phục vụ Ngài trong công chính.

Những tháng năm tại Gerar dạy cho Abraham biết ý nghĩa và sự quan trọng của Sarah trong tư cách người vợ đồng hành trong đức tin và trong Lời Hứa.

Bây giờ, đã đến lúc bà Sarah sinh Isaac. Bà 90 tuổi, còn ông đã 101 tuổi. Lão bạng sinh châu!

Những sự kiện xảy ra chung quanh biến cố sinh con trong lúc tuổi đã quá già thêm cho Abraham và Sarah một bài học nữa. Việc sinh con không phải là công lao của hai cha mẹ. Con cái không phải là do cha mẹ sáng tạo, dựng nên. Nhưng rõ ràng con cái là do quyền năng Thiên Chúa ban tặng như một món quà quý giá.

Thiên Chúa không chỉ biết ra lệnh phá hủy, trừng phạt, như Sodom và Gomorrah, nhưng Ngài còn là nguồn tái tạo, phát sinh.

Tám ngày sau Abraham cắt bì cho cháu Yitzchak:
4 Vayamol Avraham et-Yitzchak beno ben-shmonat yamim ka'asher tzivah oto Elokim. Avraham circumcised his son, Yitzchak, when he was eight days old, as G-d had commanded him." (St 21,4 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2021:4&FontSize=Txt10)).


Bà Sarah vui mừng, cười tươi với số phận giờ rạng rỡ như hoa nở trên môi miệng hàng xóm:

6 Vatomer Sarah tzechok asah li Elokim kol-hashomea yitzachak-li. Sarah said, "G-d has given me laughter. All who hear will laugh with me." (St 21,6 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2021:6&FontSize=Txt10)).

Ông Abraham vui mừng không kém. Ông làm tiệc lớn mừng cháu Isaac cai sữa :
8 Vayigdal hayeled vayigamal vaya'as Avraham mishteh gadol beyom higamel et-Yitzchak. The child grew and was weaned. Avraham made a great feast on the day Yitzchak was weaned.
(St 21,8 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2021:8&FontSize=Txt10))


Sau đó Abraham giải quyết chuyện lục đục trong nhà.

Ba Sarah không muốn Ismael, con của tỳ nữ Hagar, người Ai Cập, cũng được thừa hưởng Lời Hứa của hai vợ chồng, nên bà đề nghị Abraham đuổi hai mẹ con “đi cho khuất mắt.” Abraham nghe theo lời Bà . ( St 21,9-20 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2021:9-20&FontSize=Txt10))


Hết chuyện trong nhà đến chuyện lân bang.

Abraham ký giao ước “chung sống hoà bình” với vua Abimelech tại Beer-sheva. Abraham đưa cho Abimelech bảy con cừu, còn Abimelech và dân của ông không được xâm phạm giếng nước của Abraham tại Beer-Sheva (St 21,22-34 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2021:22-34&FontSize=Txt10)).


Mọi chuyện giờ đây tưởng như êm thắm, không còn gì để nói. Cuộc đời cứ thế sẽ êm trôi.


Đúng lúc ấy, sấm nổ giữa trời nắng trưa:

22:1 Vayehi achar hadevarim ha'eleh veha'Elokim nisa et-Avraham ...After these events, G-d tested Avraham .
Sau các việc đó, Thiên Chúa thử lòng ông Áp-ra-ham.

KaTy
23-11-2006, 07:20 AM
Ít có thuật trình Kinh Thánh nào mà tình tiết bi hùng lại gây nhiều chấn động cho bằng câu chuyện “Abraham đem con lên núi tế lễ Đức Chúa Trời.”

Chúng ta nên vẽ lại khung cảnh tâm hồn của Abrahm trước khi chậm rãi tản mạn từng chi tiết trong câu chuyện mang nhiều ý nghĩa này.

Thời điểm xảy ra cuộc thử thách hẳn là rất thích hợp. Nếu Thiên Chúa thử thách Abraham sớm hơn, như từ lúc đầu khi mới gọi Abraham ra đi, chẳng hạn, thì Abraham đã khó vượt qua nổi. Thử thách này chính là để xác định xem ông đã có thấu triệt được những bài học đích thân Thiên Chúa đã dạy.

Mọi chuyện chuẩn bị chung quanh đời ông giờ đây đã sẵn sàng để Abraham phải biết chọn cái “option fondamentale” cho đời mình, nói theo ngôn ngữ của Karl Rahner.

Qua thử thách này, Abraham phải biết là cái “chọn lựa cơ bản” của chính ông, cũng là chọn lựa cơ bản và quan yếu cho mọi tương giao khác trong đời ông.

Những kinh nghiệm ông đã trải qua trong đời bây giờ sẽ giúp ông sẵn sàng để đương đầu với cuộc thử thách nghiệt ngã sắp tới.

Ông đã tự cắt bì đế ký kết giao ước hoàn toàn dấn thân cho Thiên Chúa. Ông đã cùng với Ngài phán xử Sodom và Gomorrah. Ông đã phần nào chấp nhận trách nhiệm về số phận của Lot (mà ông tưởng rằng đã chết).

Vui cười khi Isaac sinh ra, nhưng cũng phải “nuốt lệ vào trong” khi phải đành đoạn đuổi hai mẹ con Hagar đi, theo ý của Thiên Chúa.

Như thế ông đã có kinh nghiệm về “tấm lòng” của Vị Thiên Chúa đã tỏ mình cho ông và đã gọi ông. Ông biết Ngài thấu suốt lòng người. Ông biết Ngài ân cần, chăm sóc gia đình ông lúc gặp khốn đốn bên Ai cập và tại Gerar. Ông biết Ngài công chính xét xử mà vẫn còn là bạn thân của ông trong vụ Sodom và Gomorrah.

Cách gián tiếp, ông nhận quà và phẩm vật từ Thiên Chúa qua tay Melchizedeck, vua của vùng Salem, và Tư tế của Thiên Chúa Đất Trời (St 14,18-20 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2014:18-20&FontSize=Txt10)). Và quà cáp từ Abimelech (St 21,22 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2021:22&FontSize=Txt10)) như một dấu chứng người ngoại cũng biết và kính sợ Vị Thiên Chúa của gia đình ông.

Trên hết những thức ấy, món quá quý nhất Thiên Chúa tặng ông chính là “Nụ cười của Ngài”, Isaac, người con cưng của ông và Sarah.

Như thế, từ ban đầu, ông đáp lời Thiên Chúa gọi vì những phần thưởng Ngài “hứa” ban.

Bây giờ, đến phiên ông, ông phải đáp trả một Vị Thiên-Chúa-đáng-phải-kính-sợ.


Thiên Chúa gọi tên đột ngột.

Câu trả lời cũng nhanh chóng, chừng như lúc nào Abarham cũng đã sẵn sàng để thưa.

22:1 ... vayomer elav Avraham vayomer hineni.
... G-d said to him, "Avraham! And he [Avraham] said, "Here I am."

Thiên Chúa gọi “Abraham”.
Ông thưa : “Hineni – Here I am - Này tôi đây.”


Thuật trình lạnh lùng kể tiếp:

2 Vayomer kach-na et-bincha et-yechidecha asher-ahavta et-Yitzchak velech-lecha el-eretz haMoriyah veha'alehu sham le'olah al achad heharim asher omar eleicha.
He said, "Please take your son, your only one, who you love - Yitzchak - and go to the land of Moriyah. Sacrifice him as a burnt-offering on one of the mountains which I will designate to you."
Dieu dit : Prends ton fils, ton unique, que tu chéris, Isaac, et va-t'en au pays de Moriyya, et là tu l'offriras en holocauste sur une montagne que je t'indiquerai.
Người phán: "Hãy đem con của ngươi, đứa con một yêu dấu của ngươi là I-xa-ác, hãy đi đến xứ Mô-ri-gia mà dâng nó làm lễ toàn thiêu ở đấy, trên một ngọn núi Ta sẽ chỉ cho."



Chỉ tiếc là bản dịch tiếng Pháp của Bible de Jerusalem và bản PVCGK bỏ sót tố ngữ “na” khiến động từ “kach” thiếu mất vẻ uyển chuyển của một lời đề nghị: “Kach-na – Please, take ... – Prends ..., s’il vous plaît ”.

Thành thử vì mất đi một yếu tố quan trọng để hiểu đích xác tâm tình của Thiên Chúa, thuật trình vì thế thiếu mất một nét duyên dáng, Thiên Chúa mang vẻ quá cứng cỏi, còn Abraham mất hẳn lòng hăng hái. Và thiệt hại nặng nhất chính là cách hiểu câu chuyện cũng bị sai đi nhiều.

Thiên Chúa lịch sự, tế nhị, và nhẹ nhàng nói “Please – Xin – S’il vous plaît - Nếu ông vui lòng thì ...”

Nghĩa là nếu Abraham không “vui lòng”, không thích, không muốn thì ông có quyền từ chối.

KaTy
28-11-2006, 04:56 AM
Câu dịch tiếng Việt của bản PVCGK còn thiếu những dấu phẩy cần thiết, để nêu rõ điều Thiên Chúa muốn nhấn mạnh.

Phân tích sát từng chữ của nguyên bản Do thái chúng ta thấy Thiên Chúa dùng một loạt những chỉ định túc từ để chỉ đích danh Isaac:

Vayomer kach-na = He said, "Please take
et-bincha = your son,
et-yechidecha = your only one,
asher = who
-ahavta = you love ,
et-Yitzchak = Yitzchak


Người phán: "(Xin)Hãy đem con của ngươi, đứa con duy nhất (của ngươi) , người (mà ngươi) yêu dấu, là I-xa-ác,”

Phân tích như thế chúng ta thấy có những điểm đặc biệt sau đây trong thuật trình:

1-Thiên Chúa chỉ coi Yitzchak là người con duy nhất của Abraham. Ngài không đả động gì đến Ismael. (xem chú thích 10*)

2-Thiên Chúa không ra lệnh cho Abraham đi tế hiến con, Ngài chỉ “yêu cầu”. Hàm ngụ rằng Abraham có quyền từ chối.


Bản văn miêu tả sự nhậm lẹ của Abraham bằng một loạt các động từ kế tiếp nhau.

Trong lòng ông nghĩ gì, chúng ta không biết. Ông có thở dài, hay chần chừ, do dự không ? Không. Bản văn cho biết ông chững chạc làm từng việc một, hết việc nọ đến việc kia, mà không nói lời nào.

3 Vayashkem Avraham baboker vayachavosh et-chamoro vayikach et-shnei ne'arav ito ve'et Yitzchak beno vayevaka atzei olah vayakom vayelech el-hamakom asher-amar-lo ha'Elokim.
Avraham awoke early in the morning, saddled his donkey, and took his two attendants with him, and also his son, Yitzchak. He split the wood of the burnt-offering, rose, and went to the place that G-d had designated to him.
Sáng hôm sau, ông Áp-ra-ham dậy sớm, thắng lừa, đem theo hai đầy tớ và con ông là I-xa-ác, ông bổ củi dùng để đốt lễ toàn thiêu, rồi lên đường đi tới nơi Thiên Chúa bảo

Như thế sự vâng lời của Abraham là mau chóng, tuyệt đối, “không biện bác”.


...>>>


Chú thích 10*

Đây là những lý luận người Hồi giáo thường đưa ra để minh chứng rằng Thiên Chúa muốn Abraham hiến tế Ismael, con của người tớ nữ Hagar, chứ không phải Isaac, con của bà Sarah.

Bà Sarah sinh Isaac lúc Abraham được 100 tuổi và bà thì đã 90 (St 21,5). Nếu quả vậy thì đây là phép lạ lớn nhất trong Kinh Thánh: Một lão bà 90 tuổi sinh con!

Trong suốt Sáng Thế Ký, Thiên Chúa hứa với Abraham rằng con cái ông sẽ đông đúc. Abarahm sẽ thành một dân tộc vĩ đại (St 12,2). Con cái ông sẽ đông đúc như sao trên trời, nhiều vô số như bụi đất (St 13,16; 15,5 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2013:16;15,5&FontSize=Txt10)). Abraham sẽ là Cha của đông đảo dân tộc (St 17,4) và con cháu ông sẽ sở hữu đất Canaan (St 17,8). Thiên Chúa cũng hứa như thế với Hagar, Ishmael và Isaac. Ngài nói với Hagar rằng con cái bà sẽ đông đúc (St 16,10). Nếu Thiên Chúa nói với Sarah rằng bà sẽ là mẹ nhiều dân tộc (St 17,16). Thì Ngài cùng nói với Abraham rằng Ishmael sẽ sinh ra 12 hoàng tử (St 17,20).

Vấn đề nảy sinh ở câu St 22,17, khi Thiên Chúa nói với Abraham: “Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông, nên nhiều như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển."

Mà Isaac trẻ hơn Ishmael 14 tuổi. Khi Abraham đemcon đi tế thì đứa trẻ chừng 13 tuổi. Thiên Chúa thường nói với Abraham về con ông rằng đó là con duy nhất của ông . Ngài nói "Hãy đem con của ngươi, đứa con một yêu dấu của ngươi là I-xa-ác" (St 22,2 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2022:2&FontSize=Txt10)). Khi ngăn cản ông giết con, Ngài nói : "Đối với Ta, con của ngươi, con một của ngươi, ngươi cũng chẳng tiếc !" (St 22,12 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2022:12&FontSize=Txt10)).

Vậy ra Thiên Chúa đã lầm chăng ? Chẳng lẽ Thiên Chúa không biết rằng Abraham có hai người con trai là Ishmael và Isaac?

Dĩ nhiên Thiên Chúa không lầm.

Điều thực sự đã xảy ra là lúc Thiên Chúa ra lệnh tế con thì Isaac CHƯA sinh ra. Ishamel lúc đó, lúc 13 tuổi, là người con duy nhất của Abraham. Isaac chỉ sinh ra sau đó một năm.

Vậy Kinh Thánh ghi SAI chỗ này.

Bây giờ nếu chúng ta nhìn theo một khía cạnh khác.

Nếu quả là Isaac bị tế hiến thì Isaac lúc đó 13 tuổi còn Ishmael đã 27 tuổi, Abraham đã 113 tuổi và Sarah đã 103 tuổi. Khó mà tưởng tượng được rằng một ông lão 113 tuổi lại có thể leo núi, bữa củi, khiêng đá chồng lên thành bàn thờ, trói gô đứa con lại ... rồi sau đó còn giết được một con cừu !

Hơn nữa nếu ông tự làm tất cả một mình thì sao ông không nhờ đến chàng thanh niên khoẻ mạnh 27 tuổi là Ismael trợ giúp ?

KaTy
29-11-2006, 04:48 AM
Thiên Chúa có vô lý quá không khi Ngài đề nghị Abraham giết con để làm lễ tế “olah – burnt offering -lễ Toàn thiêu.”? Nghĩa là tế vật phải bị thiêu cháy hoàn toàn. Mà tế vật lại là chính Yitzchak, người con mà Abraham phải chờ 25 năm mới được ban cho.

Nếu chúng ta là Abraham hẳn chúng ta phải thốt lên: “Sao? Giết Yitzchak? Thật là thậm vô lý!”

Hay nói cách khác, khi đề nghị giết Yitzchak, người con của lời Hứa sau 25 năm mới thành toàn, Thiên Chúa thử thách Abraham về điều chi?


Chúng ta hãy nghe câu trả lời của Đức Giáo Hoàng. Ngài chú giải thuật trình này theo quan điểm của tác giả Thư Do thái (xem thêm Chú thích 11*).


1. "Người phán với ông: "Ta là ĐỨC CHÚA, Đấng đã đưa ngươi ra khỏi thành Ua của người Can-đê, để ban cho ngươi đất này làm sở hữu. ... Hôm đó, ĐỨC CHÚA lập giao ước với ông Áp-ram như sau: "Ta ban cho dòng dõi ngươi đất này, từ sông Ai-cập đến Sông Cả, tức sông Êu-phơ-rát" (St 15,7.18 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2015:7,8&FontSize=Txt10)).

Trước khi Môsê nghe Thiên Chúa Yahweh nói câu nổi tiếng trên ngọn Sinai: ""Ta là ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ.” (Xh 20,2), thì tổ phụ Abraham đã nghe Thiên Chúa nói câu sau " Ta là ĐỨC CHÚA, Đấng đã đưa ngươi ra khỏi thành Ua của người Can-đê".

Vì thế, chúng ta hãy nhớ lại thời điểm này trong lịch sử của Dân Thiên Chúa, tìm lại nguồn gốc của Giao Ước giữa Thiên Chúa và loài người. Chính vậy, trong năm Toàn Xá này, khi tâm trí chúng ta nhìn về nguồn gốc Giao Ước Thiên Chúa ký kết với nhân loại, chúng ta nhìn về Abraham, về nơi ông nghe Thiên Chúa kêu gọi lần đầu tiên và đáp trả với lòng tuân phục đức tin - obedience of faith. Cùng với chúng ta, các anh em Do thái và Hồi giáo cũng nhìn vào Abraham như là gương mẫu cho thái độ tuân phục thánh ý Thiên Chúa vô điều kiện. (Xem Nostra aetate, số 3).

Tác giả bức Thư gửi người Do thái viết " Nhờ đức tin, ông Áp-ra-ham đã vâng nghe tiếng Chúa gọi mà ra đi đến một nơi ông sẽ được lãnh nhận làm gia nghiệp, và ông đã ra đi mà không biết mình đi đâu” (Dt 11,8).

Abraham,người được các Tông Đồ gọi bằng danh xưng "tổ phụ chúng ta trên đường đức tin " (xem Rm 4,11-16 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Rm%204:11-16&FontSize=Txt10)), đã tin vào Thiên Chúa, tin vào Đấng đã gọi ông. Ông tin vào lời Hứa của Ngài. Thiên Chúa nói với Abraham: "Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, và ngươi sẽ là một mối phúc lành. Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi; Ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa. Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc.” (St 12,1-3 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2012:1-3&FontSize=Txt10)).

Có phải chúng ta đang nói tới một trong nhiều lộ trình di cư tiêu biểu của thời du mục mà kinh tế căn bản chính là chăn nuôi đàn súc vật hay sử dụng? Có thể là như thế. Những chắc chắn đó không phải là lộ trình duy nhất. Trong đời Abraham, đánh dấu khởi điểm cho lịch sử cứu độ, chúng ta có thể biết được một ý nghĩa khác của Lời Kêu Gọi và Lời Hứa.

Vùng đất, trên đó nhân loại di chuyển theo tiếng gọi Thiên Chúa hướng dẫn, đang chuyển động. Vùng đất ấy không lệ thuộc tuyệt đối vào địa dư thế giới này. Abraham, người tín hữu đã chấp nhận lời Thiên Chúa mời gọi, là người đang tiến về, một vùng đất Hứa không thuộc về thế gian này.


2. Trong thư gửi người Do Thái, chúng ta đọc được: " Nhờ đức tin, khi bị thử thách, ông Áp-ra-ham đã hiến tế I-xa-ác; dù đã nhận được lời hứa, ông vẫn hiến tế người con một. Về người con này, Thiên Chúa đã phán bảo: Chính do I-xa-ác mà sẽ có một dòng dõi mang tên ngươi. Quả thật, ông Áp-ra-ham nghĩ rằng Thiên Chúa có quyền năng cho người chết trỗi dậy. Rốt cuộc, ông đã nhận lại người con ấy như là một biểu tượng." (Dt 11,17-18 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Dt%2011:17-18&FontSize=Txt10)).

Đó là cao điểm đức tin của Abraham. Thiên Chúa thử thách Abraham, là chính vị Thiên Chúa mà ông tin tưởng vào. Ông nhận được lời Hứa từ Ngài loan báo một tương lai còn xa vời: " Chính do I-xa-ác mà sẽ có một dòng dõi mang tên ngươi." (Dt 11,18).

Vậy mà Abraham được kêu gọi để toàn thiêu chính người con Isaac, người con duy nhất, người con, mà cả ông lẫn lời Thiên Chúa hứa, đều phải đặt trên nền tảng đó. Như thế lời Thiên Chúa hứa rằng ông sẽ đông con nhiều cháu, làm sao thực hiện được, nếu như Isaac, người con duy nhất, phải bị tế hiến chết thiêu?

Nhờ đức Tin Abraham vượt qua cuộc thử thách cách vinh quang. Đó là cuộc thử thách nghiệt ngã nhằm vào chính đức tin của ông. "Quả thật, ông nghĩ rằng", tác giả thư Do Thái viết, "Thiên Chúa có quyền năng cho người chết trỗi dậy" (Dt 11,19). Chính vào giây phút bi thảm nhất theo lẽ loài người, lúc ông sẵn sàng để giết con mình, Abraham vẫn không ngừng tin tưởng Thiên Chúa. Quả vậy, Lòng ông tin vào lời Thiên Chúa hứa đạt tới cực điểm. “Ông nghĩ rằng Thiên Chúa có quyền năng cho người chết trỗi dậy”.


Đó là điều mà người bố này nghĩ tới, đang lúc bị thử thách vượt quá sức người. Và đức tin của ông, lòng ông phó thác hoàn toàn vào Thiên chúa, đã không khiến ông thất vọng. Kinh Thánh viết: " Rốt cuộc, ông đã nhận lại người con ấy như là một biểu tượng.” (Dt 1,19 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=Dt%201:19&FontSize=Txt10)). Thiên Chúa trả Isaac lại cho ông, bởi vì ông tin tưởng tuyệt đối và vô điều kiện vào Thiên Chúa.

Tác giả bức thư dường như còn muốn nói thêm điều này: Kinh nghiệm mà Abraham đã trải qua là một hình ảnh loại suy về biến cố cứu chuộc mang lại do cái chết và việc sống lại của Chúa Kytô. Con người này, Abraham, ở ngay nguồn cội đức tin chúng ta, là một phần trong chương trình của Thiên Chúa. Có truyền thống cho rằng nơi mà Abraham hy tế con mình, cũng chính là nơi mà một người Cha khác, người Cha Vĩnh Cữu, chấp nhận hy lễ do người Con Duy Nhất, mà Ngài yêu quý nhất, Chúa Giêsu Kytô, dâng lên.

Vậy hiến tế của Abraham có thể được xem như là dấu tiên báo hy tế của Chúa Kytô. Thánh Gioan viết: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một.” (Ga 3,16).

Theo một nghĩa nào đó, tổ phụ Abraham, người Cha của chúng ta theo đức tin, đã bao trọn mọi tín hữu vào trong chương trình đã có từ vĩnh cữu của Thiên Chúa. Trong chương trình này, việc cứu chuộc thế gian được hoàn tất.



....>>>

KaTy
29-11-2006, 04:48 AM
Chú thích (11*)

Bài giảng của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II vào ngày thứ Tư, 23 tháng Hai năm 2000, mang đề tựa “Tưởng nhớ Abraham.”


Chìa khoá để trả lời cho câu hỏi “Thiên Chúa thử thách Abraham về điều chi?” lại do cách hiểu thành ngữ “Obedience of Faith – Obéissance de la Foi - Vâng phục vì/do Đức Tin”.

Nếu hiểu cách subjective: Faith là subject của Obedience, thì chúng ta hiểu rằng “vì có Đức Tin -hay vì Đức Tin mạnh mẽ, nên ông vâng lời.” Hành vi vâng lời giết con là do lòng Tin. Vậy Thiên Chúa thử thách Đức Tin của Abraham.

Còn nếu hiểu cách objective: hay Faith là object của Obedience, thì chúng ta hiểu rằng ông vâng lời để biểu lộ đức tin của mình. Thiên Chúa muốn biết ông có vâng lời hay không?

Phân biệt subjective/objective đôi khi là rất cần thiết để hiểu cho đúng tố ngữ “of – de - của”

Chẳng hạn trong kiểu nói ĐTC thường hay dùng sau khi ký tên vào dưới các Tự Sắc. Ngài hay viết “Servus Servorum - serviteur des serviteurs - Servant of the Servants of God”

Ngài là “đầy tớ phục vụ các đầy tớ khác” (objective), hay Ngài là “đầy tớ mà các đầy tớ khác phải phục vụ Ngài” (subjective)?

KaTy
29-11-2006, 04:53 AM
Nhưng nếu dựa vào lời Thiên sứ cho chúng ta biết:

12 Vayomer al-tishlach yadcha el-hana'ar ve'al-ta'as lo me'umah ki atah yadati ki-yere Elokim atah velo chasachta et-bincha et-yechidecha mimeni.
He [G-d] said, "Do not touch the lad, nor do anything to [harm] him; for now I know that you are one who fears G-d and have not withheld your son, your only one, from Me."
“Bây giờ Ta biết ngươi là kẻ kính sợ Thiên Chúa: đối với Ta, con của ngươi, con một của ngươi, ngươi cũng chẳng tiếc!" (St 22,12)

thì chúng ta có thể tản mạn thêm rằng Thiên Chúa thử thách Abraham để xem ông có thật sự “kính sợ Thiên Chúa” hay không.

Lòng kính sợ là khởi đầu cho sự khôn ngoan. Lòng “kính sợ Thiên Chúa - yere Elokim” là từ bỏ ý riêng mình và chỉ muốn thi hành ý Thiên Chúa mà thôi.

Từ “yere-kính sợ” không chỉ có nghĩa “kinh hãi, kinh sợ” mà còn mang nội hàm “kính uý”. Đó là xung lực tôn giáo phát sinh đầu tiên khi một vật thụ tạo cảm nghiệm được một điều gì, hay một Đấng nào vượt quá tầm hiểu biết. Hay khi kinh qua một sức mạnh kinh hoàng mà vật thụ tạo không thể đương đầu. Hoặc tiếp xúc được một sự thánh thiêng siêu nghiệm, le sacré transcendental, mà vật thụ tạo nhận ra được khoảng cách vô cùng giữa hai thực tại.

Lòng kính sợ chính là nhận ra khoảng cách giữa đôi bờ, đồng thời lại là chiếc cầu nối kết đôi bên. Y hệt như lòng kính sợ cha mẹ theo lệnh Thiên Chúa truyền: “Mỗi người trong các ngươi phải kính sợ cha mẹ” (Lv 19,3).


Như thế ta có thể diễn tả cuộc thử thách của Thiên Chúa bằng câu hỏi sau:

Abraham, ngươi có kính và sợ Ta hơn cả lòng thương yêu ngươi dành cho đứa con duy nhất, và qua nó, là ước muốn nổi danh, làm tổ phụ muôn dân tộc, trở thành giầu có sung túc, và hơn cả chính giao ước Ta ký kết với ngươi?


Nhưng xét cho cùng, chúng ta có thể nói cuộc thử thách, tuy khắc nghiệt, vẫn còn mang một chút rủi ro.

Giả như Abraham không đành lòng giết con thì sao?

Thì Abraham không qua được cuộc trắc nghiệm. Abraham đã tỏ ra không xứng đáng cho vai trò tổ phụ, làm Cha các dân tộc.

Đành là thế.

Nhưng nếu thế, Thiên Chúa có vẫn tiếp tục chu toàn lời đã hứa với Abraham hay không? Nghĩa là Ngài có hủy bỏ giao ước không? Hay vẫn cứ cho Abraham làm tổ phụ các dân tộc dù ông không giết con?

Nếu vì Abraham không giết con, mà Thiên Chúa hủy bỏ giao ước thì, dưới quan điểm của Abraham, Thiên Chúa cũng không còn đáng tin cậy.

Xét như thế, thuật trình này đồng thời cũng nói lên lòng tín nhiệm Thiên Chúa dành cho Abraham hơn là Abraham dành cho Thiên Chúa.

Chừng như Abraham đã nhận ra được lòng tín nhiệm này, nên ông nhậm lẹ đáp trả lời yêu cầu. Không ngần ngại, không nói một lời, dù với Sarah, hay với cả Thiên Chúa, “sáng hôm sau, ông Áp-ra-ham dậy sớm, thắng lừa, đem theo hai đầy tớ và con ông là I-xa-ác, ông bổ củi dùng để đốt lễ toàn thiêu, rồi lên đường đi tới nơi Thiên Chúa bảo.”

Khi đến nơi Thiên Chúa đã chỉ, Abraham bảo các đầy tớ ở lại dưới chân núi cùng với lừa ngựa. Ông không muốn họ phải chứng kiến cảnh đổ máu. Ông biết công việc sắp tới chỉ liên quan đến Isaac, ông và Thiên Chúa mà thôi.


6 Vayikach Avraham et-atzey ha'olah vayashem al-Yitzchak beno vayikach beyado et-ha'esh ve'et-hama'achelet vayelchu shneyhem yachdav.
Avraham took the wood of the burnt-offering and placed it on his son Yitzchak. In his hand he took the fire and the knife, and they both went together.


Isaac vác củi trên vai, còn ông tay mang dao tay mang lửa, hai cha con cùng leo núi. Bản văn dùng chữ “yachdav”, cả hai “hợp nhất”, “làm một với nhau” mà leo núi.


....>>

KaTy
29-11-2006, 04:56 AM
Trên đường lên núi, hai bố con nói chuyện. Đây là cuộc nói chuyện duy nhất giữa hai bố con được ghi lại trong Kinh Thánh.

Chỉ vài câu trao đổi, nhưng cuộc nói chuyện diễn tả đầy đủ tương quan giữa hai cha con.

7 Vayomer Yitzchak el-Avraham aviv vayomer avi vayomer hineni veni vayomer hineh ha'esh veha'etzim ve'ayeh haseh le'olah.
Yitzchak spoke to Avraham, his father, and said, "Father" And he [Avraham] said, "Here I am, my son." He said, "Here are the fire and the wood, but where is the lamb for the burnt-offering?"
I-xa-ác thưa với cha là ông Áp-ra-ham: "Cha!" Ông Áp-ra-ham đáp: "Cha đây con!" Cậu nói: "Có lửa, có củi đây, còn chiên để làm lễ toàn thiêu đâu?"

8 Vayomer Avraham Elokim yir'eh-lo haseh le'olah beni vayelchu shneihem yachdav.
Avraham said, "G-d will show the lamb for a burnt-offering, my son." And the two of them went together.
Ông Áp-ra-ham đáp: "Chiên làm lễ toàn thiêu, chính Thiên Chúa sẽ liệu, con ạ." Rồi cả hai cùng đi.


Chúng ta thấy Isaac phá tan bầu im lặng, nhưng chỉ là để làm cho tình hình bắt đầu căng thẳng thêm thôi.

Isaac nhắc tới điều đang làm cả hai cha con bận tâm.

Isaac gọi: “Avi – Father- Cha ơi?”
Abrahan trả lời : “Hineni veni – Here I am, my son – Cha đây, con.”

Chỉ cần ba chữ nói ra, chúng ta thấy rõ tình thân mật giữa cha con. “Avi? - Hineni veni”. Trước đó Abraham dùng chính những từ đó để trả lời Thiên Chúa: “Hineni. – Here I am - Con đây.”

Isaac thắc mắc: “hineh ha'esh veha'etzim ve'ayeh haseh le'olah.- Here are the fire and the wood, but where is the lamb for the burnt-offering? - Có lửa, có củi đây, còn chiên để làm lễ toàn thiêu đâu?”

Trẻ Isaac ngây thơ hỏi. Abraham bình tâm trả lời với giọng vỗ về của một người cha lưu tâm đến con. Ông nói ra quá những điều ông biết để giục Isaac tin tưởng vào Thiên Chúa.

Dĩ nhiên Abraham đâu có nói sai. Con chiên hy tế với ông lúc bấy giờ, Isaac, chẳng do Thiên Chúa ban cho đó sao?

Cuộc nói chuyện vẫn chưa làm thay đổi tương quan cha con. “Vayelchu shneihem yachdav.- Cả hai vẫn cùng nhau, hiệp nhất lên núi.”


Diễn tiến sự việc đạt cao điểm bi thảm khi Abraham bình lặng, nhẩn nha nhưng kiên quyết "Tới nơi Thiên Chúa đã chỉ, ông Áp-ra-ham dựng bàn thờ tại đó, xếp củi lên, trói I-xa-ác con ông lại, và đặt lên bàn thờ, trên đống củi. Rồi ông Áp-ra-ham đưa tay ra, cầm lấy dao để sát tế con mình."

9 Vayavo'u el-hamakom asher amar-lo ha'Elokim vayiven sham Avraham et-hamizbeach vaya'aroch et-ha'etzim vaya'akod et-Yitzchak beno vayasem oto al-hamizbeach mima'al la'etzim.
They came to the place that G-d had designated to him. Avraham built the altar there, and arranged the wood.

10 Vayishlach Avraham et-yado vayikach et-hama'achelet lishchot et-beno.
Avraham extended his hand and took the knife to slaughter his son.


Bảy động tác tuần tự chậm rãi đi liền nhau: “dựng bàn thờ”, “xếp củi “, “trói Isaac” , “đặt lên bàn thờ”, “đưa tay ra” , “cầm lấy dao”, và....”sát tế con”. Tất cả đều xảy ra trong thinh lặng.

Và chung quanh khắp nơi, dưới đất và trên trời, tất cả đều im lặng .

Chỉ vào phút giây cuối cùng. sự im lặng mới bị phá vỡ.

Trời phải thảng thốt kêu: “Abraham ! Abraham !”

11 Vayikra elav mal'ach HASHEM min-hashamayim vayomer Avraham Avraham vayomer hineni.
An angel of HASHEM called to him from heaven and said, "Avraham, Avraham!" And he said, "Here I am."


Không phải một lần như lúc đầu bảo ông đi sát tế con, bây giờ thiên sứ phải gọi ông đến hai lần: “Abraham Abraham !”

Ông trả lời, vẫn với một giọng bình thản: “Hineni - Here I am .- Này tôi đây!”

Tại sao thiên sứ phải kêu ông đến hai lần?

KaTy
29-11-2006, 09:36 PM
Có ý kiến cho rằng Abraham là một người quá đáng.

Ông là tín hữu đầu tiên tin vào một vị Thiên Chúa. Nhưng ông cuồng tín. Thiên Chúa bảo sao, ông cứ thế mà làm, chẳng hề suy nghĩ, biện biệt.

Ông bắt đầu biết lý luận chút ít với Thiên Chúa trong biến cố Sodom và Gomorrah. Nhưng ông không dám đi tới cùng lý luận!

Khi Thiên Chúa bảo ông hiến tế con, ông thi hành “mà không biện bác”!

Không phải là ông không có tình cảm nhân loại, hay tình thương cha con, nhưng ông cứ bị ám ảnh mãi bởi bổn phận phải chu toàn, mà ông trở thành gần như là một người máy.

Vì thế một khi khi ông cầm dao giơ lên trong hành vi giết con, thì người ông như ngây lại, Thiên Chúa phải kêu đến hai lần mới thức tỉnh nổi ông! (xem chú thích 12*)



Có ý kiến khác cho rằng Abraham đã không vượt qua được thử thách, vì đã không dám từ chối thi hành mệnh lệnh Thiên Chúa, mà cứ nhất quyết giết trẻ thơ vô tội trong một hành vi tế sinh ấu nhi, như một kẻ cuồng tín quá khích.

Vì thế Thiên Chúa đã quá bối rối vì thái độ của ông, nên đã không đích thân can thiệp mà chỉ sai thiên sứ xuống ngăn cản.

Đến nỗi, từ đó về sau trong Sáng Thế Ký, Thiên Chúa không hề nói với ông lần nào nữa. (13*)


Ý kiến của người khác thì.. kệ người khác. Còn chúng ta thì sao?

Chúng ta có những lý chứng mạnh mẽ để có quyền không đồng ý với những ý kiến trên đây.

Khi thiên sứ ngăn cản Abraham giết con, ngài không những không trách mắng, mà còn chuyển lời Thiên Chúa khen và công nhận lòng thành của ông:

Ngài còn hiện ra lần thứ hai và lặp lại lời chúc phúc cho ông, trong đó có thêm những chi tiết mới:

15 Vayikra mal'ach HASHEM el-Avraham shenit min-hashamayim.
An angel of HASHEM called to Avraham, as a second time, from heaven.

16 Vayomer bi nishbati ne'um-HASHEM ki ya'an asher asita et-hadavar hazeh velo chasachta et-bincha et-yechidecha.
And said, "'I have sworn by Myself,' declares HASHEM , 'that because you performed this deed, and did not withhold your only son,

17 Ki-varech avarechecha veharbah arbeh et-zar'acha kechochevey hashamayim vehachol asher al-sfat hayam veyirash zar'acha et sha'ar oyvav.
I will greatly bless you and make your descendants as numerous as the stars of the sky and like the sand on the seashore. Your descendants will inherit the gate of their enemies.

18 Vehitbarchu bezar'acha kol goyey ha'aretz ekev asher shamata bekoli.
Through your children, will be blessed all the nations of the world, because you heeded My voice."

Bản CGKPV đọc như sau :
"Sứ thần của ĐỨC CHÚA từ trời gọi ông Áp-ra-ham một lần nữa16 và nói: "Đây là sấm ngôn của ĐỨC CHÚA, Ta lấy chính danh Ta mà thề: bởi vì ngươi đã làm điều đó, đã không tiếc con của ngươi, con một của ngươi,17 nên Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông, nên nhiều như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển. Dòng dõi ngươi sẽ chiếm được thành trì của địch.18 Mọi dân tộc trên mặt đất sẽ cầu chúc cho nhau được phúc như dòng dõi ngươi, chính bởi vì ngươi đã vâng lời Ta."


Qua cuộc thử thách này, nếu Thiên Chúa biết lòng Abraham, thì ngược lại chúng ta cũng biết được lòng Thiên Chúa. Rõ ràng Ngài muốn chúng ta kính sợ, hoàn toàn phó thác cho Ngài hơn là chính những lễ vật và việc dâng lễ vật.

Khi thay thế Isaac bằng một con cừu do chính Ngài cung cấp, Ngài cho Abraham - và chúng ta - biết rằng Ngài không phải là vị Thiên Chúa ham uống máu hay thích ngửi mùi thịt người vô tội. Và như thế Ngài cấm tiệt việc giết người để tế sinh.

Qua thuật trình đầy kinh hoàng này, chúng ta thấy được lòng kính sợ Thiên Chúa, và tình yêu dành cho Ngài có thể đi đôi với tình yêu dành cho người trong gia đình.

Thiên-Chúa-đáng-kính-sợ không muốn hiến tế sự sống, nhưng chỉ muốn thánh hóa đời sống qua mọi hành vi thường nhật.

Vì thế Ngài tỏ cho Abraham, và cho chúng ta, thấy chúng ta có thể vừa kính sợ Ngài, vừa “yêu mến Ngài, hết lòng, hết sức, hết linh hồn, hết trí khôn.” (Đnl 6,5) .


...>>>

Chú thích

(11*) Ý kiến của Kenneth L. Cohen trong “Abraham: The Fanatic”, Washington Jewish Week, Parshat Vayera, 11/13/97.

(12*) Ý kiến của tiến sĩ Michael Frisbane, giáo sư khảo cứu về Do thái tại Đại Học Chicago.

KaTy
30-11-2006, 04:27 AM
Thế là buổi tế hiến kết thúc tốt đẹp. Có đổ máu. Nhưng không phải máu trẻ thơ vô tội. Nhưng là máu con cừu do chính Thiên Chúa cung cấp.

Thiên Chúa biết bụng dạ Abraham. Ngược lại, Abraham cũng biết lòng Thiên Chúa dành cho ông.


Nhưng một biến chuyển quan trọng đã xảy ra.

Trên tế đàn, dường như không có gì khác biệt. Isaac chịu nằm trói mà không phản đối. Isaac chịu chết mà không hề mở miệng kêu la, than khóc, hay xin tha mạng.

Chúng ta cứ thử tượng tượng Isaac nằm ngửa, nhìn cánh tay bố mình cầm dao, quả quyết giơ lên, rồi đâm mạnh xuống. Cái chết đến nhanh như tiếng sét.

Nếu Thiên sứ không kêu nhanh hai tiếng “Abraham ! Abraham ! ” vào đúng lúc, thì hẳn lịch sử đã rẽ sang hướng khác, và đã không có dân tộc Israel.


Trải qua một kinh nghiệm kinh hoàng kề cận cái chết như thế, không ai là không thay đổi.

Isaac thay đổi. Tương quan giữa hai bố con, Isaac với Abraham, cũng thay đổi.

Lúc lên núi, hai lần bản văn kể: “vayelchu shneihem yachdav.- And the two of them went together. - họ cùng đi.”

Nhưng sau biến cố, khi xuống núi, Kinh Thánh không hề nhắc tới Isaac có xuống núi hay không, mà chỉ ghi rằng:

19 Vayashov Avraham el-ne'arav vayakumu vayelchu yachdav el-Be'er-sheva vayeshev Avraham biVe'er-sheva.
Avraham returned to his attendants, and they rose and went together to Beer-sheva. Avraham dwelt in Beer-sheva.
Ông Áp-ra-ham trở lại với các đầy tớ của ông; họ đứng dậy và cùng nhau đi đến Bơ-e Se-va. Ông Áp-ra-ham sống ở Bơ-e Se-va.
(St 22,19 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2022:19&FontSize=Txt10))

Điểm đặc biệt thứ hai là, sau đó, hai bố con không hề xuất hiện chung bên nhau, cho đến lúc an táng Abraham. Lúc đó Isaac và Ismael cùng về bên nhau chịu tang Abraham.

Điểm đặc biệt thứ ba, Sáng Thế Ký chỉ nói Isaac ưu sầu vì thương nhớ mẹ Sarah, "vayinachem Yitzchak acharei imo. Yitzchak was then consoled for the loss of his mother." (St 24,67 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2024:67&FontSize=Txt10)) nhưng không hề nói ông khóc vì thương nhớ cha.


Có lẽ ông khó mà tha thứ cho bố Abraham. Mãi lúc an táng Abraham, Isaac mới về mà chịu tang.



Nhưng vết thương tâm lý này chỉ dần dần lành lại, khi chính ông có con và phải biết cách hành xử đối với hai người con của ông sau này.

Ông hiểu và thương bố Abraham hơn khi chính ông bị người con thứ là Giacop lừa đảo để cướp lấy lời Hứa, mà đáng lẽ ông chỉ dành cho Esau.

Khi nhận ra sự thật, lúc ấy, Isaac không giận, nhưng sợ. Toàn thân run lên vì sợ:

33 Vayecherad Yitzchak charadah gdolah ad-me'od vayomer mi-efo hu hatzad-tza'id vayave li va'ochal mikol beterem tavo va'avarachehu gam-baruch yihyeh.
Yitzchak was seized with a powerful trembling; and said, "Who, then, i she who trapped [deer] and brought it to me? I ate all of it before you came, and I blessed him. He shall be blessed."
Ông I-xa-ác run lên, run bắn người lên và hỏi: "Vậy ai là người đã săn thịt rừng và đem lại cho cha? Cha đã ăn tất cả trước khi con vào. Cha đã chúc phúc cho nó, và dù sao nó vẫn được chúc phúc."
(St 27,33 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2027:33&FontSize=Txt10))

Vì chính lúc ấy ông thấy rằng lời Hứa đã trao về đúng người, ngoài ý muốn của ông.

Esau mất đi lời Hứa, cũng y hệt như chính ông, Isaac, đã tế hiến người con Esau mà ông thương yêu.

Y hệt như xưa kia, bố ông, Abraham, đã tế hiến ông trên ngọn Moriah!

Vì thế mà ông “run lên, run bắn người lên.”

Giờ thì ông mới hiểu và thông cảm cho lòng Abraham, và tha thứ cho cha ông.

Ngay sau đó ông vượt qua được chính ông. Ông vươn lên như một cổ thụ, xứng đáng với phong thái của tổ phụ. Ông ra lệnh cho Giacop không được lấy phụ nữ bản xứ Canaan làm vợ, mà phải tìm vợ nơi quê cha đất tổ.

Sau đó, và chỉ sau lúc đó, khi Giacop-Rebecca đã thành toàn vợ chồng, Isaac, trong tư thế tổ phụ của mình, long trọng nói chuyển lời chúc tổ phụ của Abraham lên trên Giacop.

Chúng ta hãy nghe ông gần như lập lại lời chúc của Abraham:

3 Ve'Kel Shakai yevarech otcha veyafrecha veyarbecha vehayita lekehal amim.
May the Almighty, Shakai, bless you, make you fruitful and multiply you. May you become an assembly of peoples.

4 Veyiten-lecha et-birkat Avraham lecha ulezar'acha itach lerishtecha et-eretz megureycha asher-natan Elokim le-Avraham.
May He give you the blessing of Avraham, to you and to your descendants with you, that you may inherit the land of your dwelling which G-d gave to Avraham."

Xin Thiên Chúa toàn năng chúc phúc cho con, xin Người làm cho con sinh sôi nảy nở thật nhiều, để con trở nên một cộng đồng nhiều dân nước.4 Xin Người ban cho con và dòng dõi con phúc lành của ông Áp-ra-ham, để con chiếm hữu miền đất con đang trú ngụ, là miền đất Thiên Chúa đã ban cho ông Áp-ra-ham."
(St 28,3-4 (http://www.mucvu-borsum.de/borsum/kinhthanh/kinhthanh_print.php?SuchText=St%2028:3-4&FontSize=Txt10))

Đây là hành vi cuối cùng của Isaac, và là những lời nói cuối cùng của Isaac mà chúng ta nghe được trong Kinh Thánh.

Chữ cuối cùng mà chúng ta nghe được từ miệng ông, đó là tên “Abraham”, cha của ông.

Và của chúng ta.

KaTy
30-11-2006, 04:29 AM
Vài ý mọn thay cho lời kết.

Sau khi được Thiên Chúa gọi để làm tổ phụ một dân tộc mới, Abraham được chính Thiên Chúa giáo dục và trắc nghiệm thử thách, để rèn luyện ông đủ bản lãnh thành một tổ phụ.

Sau cuộc thử thách tại đồi Moriah. Abraham chỉ còn lại đôi việc phải làm.

Ông bỏ tiền mua cái hang tại Machpelah, để làm nghĩa trang cho gia tộc mình. Qua hành vi này, ông chính thức làm sở hữu chủ vùng đất mà Thiên Chúa hứa ban cho con cháu ông.

Mảnh đất nghĩa trang này, mà chúng ta cũng gọi là Đất Thánh, là bằng cớ vật lý cụ thể cho con cháu ông, sau 450 năm lưu đày bên Ai cập, trở về để dành lại chủ quyền.

Sau đó ông lo liệu việc cưới vợ cho Isaac. Qua Rebecca, một người vợ đúng nghĩa “vợ” mà ông đã học được qua nhiều thăng trầm với Sarah, ông yên tâm vì nhận ra được rằng nàng dâu Rebecca đủ bản lãnh và xứng đáng với vai trò tổ mẫu để chuyển đạt truyền thống gia đình cho thế hệ sau.

Yên tâm và vững lòng, Abraham xuôi tay nhắm mắt.

7 Ve'eleh yemei shnei-chayei Avraham asher-chai me'at shanah veshiv'im shanah vechamesh shanim.
These are the days of the years of Avraham which he lived, one hundred years, seventy years and five years.

Vayigva vayamot Avraham beseyvah tovah zaken vesavea vaye'asef el-amav.
Avraham expired and died in a good old age, old and satisfied, and he was gathered to his people.

Ông Áp-ra-ham sống thọ một trăm bảy mươi lăm tuổi, rồi tắt thở. Ông qua đời khi đã cao niên, đã sống tuổi già hạnh phúc và được mãn nguyện; và ông được về sum họp với gia tiên.


Thiên Chúa gọi ông lúc ông 75 tuổi. Ông mất lúc 175 tuổi.

Một trăm năm miệt mài theo Chúa.

Và một trăm năm Thiên Chúa miệt mài giáo dục ông. Bách niên chi kế.

Trong đời này chưa hề có kế hoạch nào mà thành công như thế