PDA

View Full Version : Chuyện ngụ ngôn


Giai nhan
04-11-2006, 10:14 AM
Lừa và ngựa

Người nọ có một con lừa và một con ngựa. Bữa ấy đi đường, lừa nói với ngựa:

- Tôi nặng quá, tôi không đủ sức chở tất cả, chị mang đỡ tôi dù chỉ chút ít thôi.

Ngựa không nghe. Lừa ngã gục xuống vì gắng sức quá và chết. Người chủ bèn chất tất cả đồ đạc từ lưng lừa sang cho ngựa, lại còn thêm cả bộ da lừa nữa. Ngựa bấy giờ mới rên lên:

- Ôi, cái thân khốn khổ của tôi mới bất hạnh làm sao! Tôi đã không muốn giúp đỡ nó dù chỉ chút ít, thế là bây giờ phải tha tất cả, lại còn thêm cả bộ da lừa.

Vì thế khi chúng ta giúp đỡ người khác cũng như chúng ta đang giúp đỡ chính mình.

sưutam

Giai nhan
04-11-2006, 10:15 AM
Đến như sắt mài mãi cũng thành kim, thì bất cứ việc gì cũng có thể làm được, miễn là chúng ta biết chịu khó khổ luyện, biết kiên trì nhẫn nại, không quản gian lao vất vả. Lời giáo huấn biểu hiện qua câu tục ngữ "có công mài sắt có ngày nên kim", một mặt, được nhận thức qua ngôn từ của nó mà mấu chốt là sự đối lập giữa hai hình ảnh "sắt" và "kim"; mặt khác, thông qua sự liên hội tới giai thoại về cuộc đời của nhà thơ nổi tiếng đời Đường ở Trung Quốc - nhà thơ Lý Bạch.

Tương truyền, thuở niên thiếu, Lý Bạch là cậu bé không chịu khó học hành, ham chơi như bao đứa trẻ bình thường khác. Một hôm, cậu bé chán học, lẻn sang chơi ở chân núi phía Đông. Kỳ lạ quá! Trước mặt cậu bé là một bà lão đang cắm cúi mài một thanh sắt bên một tảng đá lớn. "Bà già tóc bạc đến dường kia mà lại chăm chắm mài một thanh sắt làm gì nhỉ?" Cậu bé hết sức phân vân, bèn rón rén đến bên cạnh cụ già rồi cất tiếng hỏi:

- Cụ ơi! Cụ mài sắt để làm gì vậy?

Bà lão ngoảnh mặt lên, hiền từ trả lời:

- Để làm kim khâu, cháu ạ.

- Làm kim khâu ư? Thanh sắt thì làm thế nào mà trở thành cái kim khâu được? - Cậu bé chất vấn bà lão.

- Mài mãi cũng phải được. Kẻ có công mài sắt thì có ngày nên kim chứ - Bà lão trả lời một cách tin tưởng như vậy.

Lý Bạch nửa tin nửa ngờ hỏi lại:

- Liệu hôm nay có xong được không hở cụ?

Bà lão thong thả trả lời hòa nhịp với động tác mài kim:

- Hôm nay không xong thì mai lại làm tiếp vậy, năm nay không xong thì sang năm tiếp tục mài, ngày lại ngày, già nhất định mài xong.

Nghe đến đây, Lý Bạch chợt hiểu ra và im lặng. Về nhà, Lý Bạch thường ngẫm nghĩ về những lời của bà lão mà càng chuyên tâm học tập. Chẳng bao lâu, Lý Bạch trở thành nhà thơ lỗi lạc với những áng thơ Đường tuyệt mỹ, có một không hai trong nền văn học Trung Quốc. Từ đó, trong dân gian lưu truyền câu tục ngữ "chỉ yếu công phu thâm, thiết chữ ma thành châm" với nghĩa là "có công mài sắt, có ngày nên kim". Thoạt đầu, nó như một nhận xét về cuộc đời, văn nghiệp của Lý Bach: từ chỗ lười học, nhờ sự tỉnh ngộ qua cuộc gặp gỡ với cụ già mà siêng năng, kiên trì học tập và cuối cùng trở thành tài. Nhưng dần dần câu tục ngữ "có công mài sắt, có ngày nên kim" được lưu truyền rộng rãi, vượt qua phạm vi của một cuộc đời, một sự nghiệp, trở thành một lời dạy, lời giáo huấn mọi người về ý chí bền bỉ trong công việc nói riêng và trong cuộc đời nói chung.

sưutam

Giai nhan
04-11-2006, 10:20 AM
Sợi Thừng

Thời xưa con người sống thọ đến hai , ba trăm tuổi nên có nhiều thế hệ sống trong một nhà.

Có một gia đình nghèo nọ gồm ông , bố và con sống cùng nhau. Người ông sống đã một trăm hai mươi nhăm tuổi và đã già đến nỗi không tự ăn được.

Tuy già yếu như vậy nhưng ông vẫn thường kể cho con và cháu nghe những chiến công ngày trước khi còn là người lính , những gì đã kịp làm khi ông còn là chiến binh.

Người cháu nghe ông rất say sưa đầy thán phục. Người cha thì lại không bằng lòng khi phải nuôi người ông và lúc nào cũng chỉ muốn tống khứ người ông đi cho rảnh.

Một lần người cha nói với con :

Một ngày tao chỉ làm ra có một pê-sô mà đã mất một nửa số tiền đó để nuôi ông mày một cách vô tích sự .

Thôi , ngày mai trói ông lại đem vứt vào rừng sâu cho chết đi.

Được thôi , bố ạ ! Người con đáp.

Đến sáng họ trói ông cụ lại , mang vào rừng thẳm , quẳn ông cụ ở đó rồi đi về nhà.

Đi một quãng , bỗng nhiên người con nói với cha mình :

Đợi con đã , con quay lại lấy sợi thừng !

Mầy cần nó làm gì?

Ông bố ngạc nhiên hỏi .

À , để khi bố già thì con có dây thừng để trói bố lại .

Người con trả lời

suutam

Giai nhan
04-11-2006, 10:22 AM
Chim Cãi Nhau

Một người đi săn chim giăng lưới trong rừng và bẫy được đủ thứ chim : nào quạ , nào sáo , nào bồ câu. Bầy chim bàn với nhau :

Ta tham mồi nên bị mắc bẫy. Giờ ta hãy tìm cách thoát khỏi đây.

Tất cả mọi người hãy cố đồng tâm nhất trí thì may ra sẽ thoát được.

Bầy chim nghĩ mãi , nghĩ mãi và đã nghĩ ra được kế.

Giờ thì ta cùng nhất loạt cất cánh bay thử xem , may ra nâng được lưới lên. Tất cả nói :

Mà đúng thế , bầy chim đồng loạt cất cánh , nâng được lưới và bay lên.

Người săn chim thấy lưới cùng với bầy chim bây lên , lấy làm lạ , chạy đuổi theo.

Phía trên là chim bay trong lưới , phía dưới là người săn chim đuổi theo.

Anh ta vừa chạy vừa nghĩ bụng :

trong lưới có nhiều loại chim , rồi chúng sẽ cài nhau cho mà xem. Mà hễ cãi nhau thì không thể bay nhanh được nữa , lưới sẽ kéo chúng xuống đất.

Quả như vậy!!

Lúc đầu bầy chim còn đoàn kết với nhau tha lưới đi , nhưng được một chốc đã bắt đầu cãi nhau chí choé.

Lũ quạ quang quác :

Chẵng ai cố gắng bằng lũ quạ chúng tôi. Niếu chúng tôi lười như các anh thì lưới và tất cả đã rơi xuống đất lâu rồi.

Lũ bồ câu nghe xong nổi giận :

Thôi im cái mồm đi. Các anh đừng khoác lác nữa. Chúng tôi còn cố gắng hơn các anh !

Những con chim khác cũng châu lại cãi nhau.

Hết con này đến con khác nói.

Khi sự đoàn kết nhất trí bị sứt mẻ thì công việc khó trôi chảy.

Bầy chim cãi nhau và chẵng con nào chịu khó bay , tất cả chỉ vỗ cánh hờ hờ cho xong chuyện.

Thế là lưới sa ngay xuống đất.

Người săn chim chạy lại nắm lấy sợ dây và kéo lưới về phía mình

Giai nhan
04-11-2006, 10:23 AM
Tội Của Bà Mẹ

Một chàng trai bị kết án tử hình vì tội ăn cắp.

Cậu bài tỏ ước muốn là được gặp bà mẹ trước khi chết.

Quan tòa đồng ý

Khi bà mẹ đến, cậu ta nói :

Mẹ , con muốn được nói thầm với mẹ

Và khi bà mẹ ghé sát tai lại thì cậu ta cắn đứt tai bà
Mọi người đứng xung quanh hoảng hốt và hỏi hắn , sao lại hành động tàn bạo thế .

Cậu ta trả lời :
Làm như vậy là để trừng phạt bà , vì khi tôi còn bé , mỗi lần tôi ăn cắp được cái gì mang về nhà , thì bà điều cười và nói :

Chẳng ai biết được đâu.

Lẽ ra trong trường hợp ấy bà cần phải trừng phạt tôi

suutam

Giai nhan
04-11-2006, 10:26 AM
Chuyện xảy ra vào đời vua Hùng thứ VI. Nhà vua đến tuổi già và muốn tìm người nối ngôi. Việc chọn lựa không đơn giản bởi vì các bà vợ của vua đã sinh được cả thảy hai mươi hai người con trai, tất cả đều đă trưởng thành. Nhà vua nghĩ : "Ta không chỉ cần chọn được một đứa con tài giỏi có thể trị vì ngôi báu mà còn phải nghĩ làm sao để tránh được những tranh chấp về sau."

Nhà vua đem việc này ra bàn bạc với các quan hầu cận, và chính nhà vua cũng suy tư không ít. Cuối cùng vua Hùng gọi tất cả các hoàng tử lại và bảo :

- Cha biết mình đă gần đất xa trời. Cha muốn truyền ngôi lại cho một người trong các con. Cha muốn trong dịp Tết sắp đến các con mỗi người hăy dâng một món ăn để cúng tổ tiên. Người nào dâng món hợp ý ta nhất sẽ được nhận ngôi vua.

Thế là các hoàng tử lập tức tập hợp những người thân cận của mình, tỏa đi khắp nơi để tìm cho ra một lễ vật quý hiếm. Người thì vào rừng sâu, người thì lên núi cao, người thì ra tận biên khơi. Chẳng ai quản ngại xa xôi hay nguy hiểm, hễ nghe nói nơi nào có trái thơm, vật lạ, cá ngon, thú hiếm là họ hăng hái tìm đến cho bằng được.

Trong số họ, chỉ có hoàng tử Liêu - hoàng tử thứ mười tám của vua Hùng - là lẻ loi hơn cả. Mẹ của hoàng tử Liêu chết sớm nên chàng không có nhiều người thân cận đủ quyền hành để giúp chàng trong công việc khó khăn này.

Ngày tuyển chọn đă đến gần mà hoàng tử Liêu vẫn chưa nghĩ ra món gì xứng đáng để dâng lên vua cha. Đêm ấy, Liêu nằm gác tay lên trán, cố nhớ lại tất cả các món xưa nay chàng đă từng ăn hoặc đă từng trông thấy. Măi suy nghĩ, chàng ngủ quên lúc nào không biết. Chàng mơ thấy mình đang cùng các anh em khác bận bịu sửa soạn các món ăn. Đúng lúc ấy, một bà tiên đến bên chàng và bảo :

- Hoàng tử này ! To lớn nhất trong các thứ là Trời và Đất, quý giá nhất trong các vật là lúa gạo. Ta sẽ bày cho hoàng tử làm một món ăn tượng trưng cho những cái lớn lao ấy.

Bà tiên chỉ cho chàng rổ gạo nếp bà mang theo và bảo :

- Hăy mang ra một ít đậu xanh, thịt mỡ, các loại gia vị mắm, muối, tiêu hành và kiếm thêm một số lá xanh nữa.

Bà tiên đặt loại gạo nếp ấy vào một chiếc lá, ở giữa cho thêm đậu nấu chín và thịt mỡ, rồi phủ kín bằng một lớp gạo nếp nữa. Xong gói lại thành hình khối vuông. Vừa gói, bà tiên vừa giải thích :

- Bánh này tượng trưng cho Đất. Đất thì vuông vức và bao phủ bởi màu xanh của núi rừng, đồng ruộng. Cho thịt, đậu vào bên trong là lấy ý nghĩa Đất che chở cho muôn loài. Hăy đem luộc bánh thật kỹ để giữ được lâu. Gọi nó là bánh chưng.

Bà tiên lại sai nấu một nồi cơm nếp thật dẻo rồi đem quết nhuyễn làm thành một loại bánh hình tròn dẹt. Bà nói :

- Bánh này tượng trưng cho bầu trời tròn trĩnh. Gọi nó là bánh dầy.

Nói xong, bà tiên vụt biến mất.

Hoàng tử Liêu tỉnh dậy, cứ theo những điều nghe thấy làm thành một chiếc bánh vuông tượng trưng cho Đất và một chiếc bánh tròn tượng trưng cho Trời.


*
Ngày hội thi là ngày tưng bừng náo nhiệt nhất ở đất Phong Châu. Dân chúng mọi miền đổ xô nhau về kinh đô để đón mừng một cái Tết đặc biệt : mở đầu bằng một cuộc thi các món ăn và kết thúc bằng lễ đăng quan của một vị vua mới.

Mặt trời vừa mọc, nhà vua bắt đầu nghi lễ cùng tế tổ tiên. Không gian tràn ngập tiếng chiêng, tiếng trống. Cờ xí đủ màu phấp phới bên trên đám đông những người náo nức về dự hội. Trên một chiếc bàn cao đang bày la liệt những món ăn quý hiếm từ mọi miền đất nước. Ít ai chú ý đến những chiếc bánh giản dị của hoàng tử Liêu. Nhưng đến khi các vị quan giám khảo nếm thử thì ai nấy cũng gật đầu tán thưởng.

Một vị quan buột miệng :

- Hương vị thật khác thường được làm từ những vật bình thường.

Nhà vua cũng tỏ ra hài lòng với hương vị độc đáo của chiếc bánh và cho gọi hoàng tử Liêu đến để hỏi cách thức làm bánh như thế nào.

Hoàng tử thật lòng tâu lên và kể lại cho vua về giấc mơ của mình.

Quá trưa hôm ấy, nhà vua tuyên bố kết quả trước thần dân :

- Hoàng tử thứ mười tám sẽ là người từ nay thay ta trị vì đất nước. Những chiếc bánh của hoàng tử Liêu không chỉ có hương vị độc đáo mà còn chứa đựng nhiều ý nghĩa. Nó bày tỏ lòng hiếu thảo của một người con đối với cha mẹ, tôn cha mẹ lớn như Trời Đất. Nó là hình ảnh của quê hương với màu xanh của ruộng đồng, sông núi. Nó được làm ra từ những hạt ngọc quý nhất của thiên nhiên, những hạt ngọc ấy lại dễ tìm bởi ai cũng có thể làm cho nó sinh sôi trên mảnh đất của mình. Những chiếc bánh trông thật giản dị nhưng phải là một người tài cao, đức rộng mới có thể nghĩ ra.

Hoàng tử Liêu xứng đáng kế tục ngôi vua, lập nên đời Hùng Vương thứ VII.


*
Và cũng từ thời ấy, cứ mỗi năm vào dịp Tết đến, người Việt Nam làm bánh chưng, bánh dầy để dâng cúng tổ tiên.

suutam

Giai nhan
04-11-2006, 10:30 AM
Ngày xưa vào đời vua hùng vương thứ 18, vua có nuôi một đứa trẻ thông minh khôi ngô, và nhà vua đặt tên cho đứa bé ấy là Mai Yển hiệu là An Tiêm.

Khi An tiêm lớn lên thì nhà vua mới cưới vợ cho chàng, và An tiêm được vua Hùng tín dụng ở triều đình, cậy nhờ ơn vua cha nhưng An Tiêm lại kiêu căng cho rằng tự sức mình tài giỏi mới gây dựng được sự nghiệp, chứ chẳng nhờ sức ai.
Lời nói này đã đến tai vua, nên Vua cho là An Tiêm là kể kiêu bạc vô ơn bèn đày An Tiêm cùng vợ con ra một hòn đảo hoang xa ở ngoài biển Nga Sơn ( Thanh Hóa, Bắc Việt )

Người vợ là nàng Ba lo sợ sẽ phải chết ở ngoài hoang đảo hiu quạnh này, nhưng An Tiêm thì bình thản nói : " Trời đã sinh ra ta, sống chết là ở trời và ở ta, việc gì phải lo ". Hai vợ chồng An Tiêm cùng đứa con đã sống hiu quạnh ở một bãi cát trên hoang đảo và họ ra sức khai khẩn, trồng trọt để kiếm sống. Một ngày kia, vào mùa hạ, có một con chim lạ từ phương tây bay đến đậu trên một gò cát, chim nhả mấy hạt gì xuống đất. Được ít lâu thì hạt giống nảy mầm, mọc dây lá cây lan rộng.

Cây nở hoa, kết thành nhiều trái to với vỏ xanh, ruột đỏ. An tiêm bèn bảo vợ : " giống cây này tự nhiên không trồng mà có; tức là vật của trời nuôi ta đó ", rồi An Tiêm hái nếm thử; thấy vỏ xanh ruột đỏ, hạt đen, mùi vị rất thơm ngon ngọt và mát dịu. An Tiêm bèn lấy hột gieo trồng khắp nơi.

Một ngày kia, có một chiếc tàu bị bão dạt vào hoang đảo này, mọi người lên bãi cát thấy có nhiều quả lạ, ngon. Họ đua nhau đổi thực phẩm cho gia đình An Tiêm, và kể từ đó tiếng đồn đi xa là có 1 giống dưa rất ngon ở trên đảo nên các tàu buôn tấp nập ghé đến đổi chác đủ thứ vật dụng và thực phẩm cho gia đình An Tiêm. Nhờ đó mà gia đình bé nhỏ của An Tiêm trở nên đầy đủ, cuộc sống thật phong phú xung túc.

Vì chim đã mang hạt dưa đến từ phương tây, nên An Tiêm đặt tên cho thứ trái cây này là Tây Quả. Người Hoa ăn thấy ngon, khen là " hẩu", nên về sau người ta gọi trại đi là Dưa Hấu.

Ít lâu sau, Vua Hùng Vương thứ 18 sai người ra ngoài hoang đảo ngoài biển Nga Sơn dò xét xem gia đình An Tiêm ra làm sao, sống hay chết. Xứ thần về kể lại cảnh sống xung túc và nhàn nhã của vợ chồng An Tiêm, nhà vua ngẫm nghĩ thấy thầm phục đứa con nuôi này; bèn cho triệu An Tiêm về phục lại chức vị cũ trong triều đình.

An Tiêm đem về dâng cho vua giống dưa hấu mà mình may mắn có được rồi phân phát hột dưa cho dân chúng trồng ở những chỗ đất cát, làm giàu thêm cho xứ việt một thứ trái cây danh tiếng. Hòn đảo mà An Tiêm ở thì được gọi là Châu An Tiêm.

Sưu Tầm

Giai nhan
04-11-2006, 10:32 AM
Ngày xưa có hai anh em gia đình họ Cao, người anh tên là Tân, người em tên là Lang. Tuy không phải là hai anh em sinh đôi, nhưng hai người giống nhau như hai giọt nước, ngay cả những người bà con thân thiết cũng khó lòng nhận ra. Bố mẹ chết sớm, hai anh em không rời nhau nửa bước, cùng nhau chia ngọt, sẻ bùi.

Trong làng có người nhà giàu họ Lưu đem lòng quý mến hai anh em và nhận hai người về nuôi, xem như con trong nhà.

Khi nhà họ Lưu có người con gái đến tuổi cập kê, gia đình có ý gầy dựng hôn nhân cho nàng với một chàng trai họ Cao, bởi hai anh em họ Cao người nào trông cũng sáng sủa, hiền hậu, lại chăm chỉ, siêng năng.

Theo tục thời bấy giờ, anh bao giờ cũng cưới vợ trước em. Để giữ tập tục và cũng muốn để thử tài con gái, một hôm cụ Lưu bảo con :

- Đôi khi cha cũng chẳng nhận ra giữa hai cậu ấy ai là anh ai làm em. Ngày mai, con chỉ cho cha chàng trai nào là anh, cha sẽ cho con kết hôn với người ấy.

Mặc dù đă từ lâu nàng vẫn dành những tình cảm đằm thắm, sâu kín cho hai anh em, nhưng cô gái vẫn không thể giữ lòng mình khỏi xao xuyến khi nghe cha nói đến chuyện hôn nhân. Nàng thao thức, nghĩ ngợi thâu đêm, chưa kịp chợp mắt thì gà đă gáy sáng. Cô gái họ Lưu vội vàng xuống bếp nhen lửa nấu nồi cháo cho buổi ăn mai.

Biết rằng theo tập tục, người dưới bao giờ cũng kính nhường người trên, hôm ấy, cô gái dọn lên cho hai anh em chỉ một tô cháo và một đôi đũa. Quay vào sau rèm, cô dừng lại nhìn và thấy Lang nhường cho Tân ăn trước. Cô gái vào thưa cho cha biết chính Tân là anh. Chẳng bao lâu sau cô gái họ Lưu và Tân nên duyên chồng vợ.


*
Sau đám cưới, Lang vẫn sống chung trong một mái nhà với anh trai và chị dâu của mình. Tình cảm yêu thương của hai anh em vẫn không hề phai nhạt. Nhưng cũng không tránh khỏi những lúc đôi vợ chồng trẻ mải chuyện riêng mà không để ý đến tâm trạng của em.

Một buổi chiều đang làm ngoài đồng, Lang cảm thấy quá mệt mỏi nên bỏ về sớm. Vừa về đến thềm, người chị dâu chạy ra, nhầm Lang là chồng, vội nắm tay Lang, định nói điều gì. Họ nhận ra ngay, nhưng cả hai không khỏi ngượng ngùng áy náy. Tân cũng về ngay sau Lang. Chàng nhìn thấy vợ và em nắm tay nhau ở bậc cửa. Tuy chẳng nói gì, nhưng tự nhiên một thoáng nghi ngờ cứ lởn vởn trong tâm trí Tân. Chàng đâm ra có phần kín đáo hơn với em.

Lang càng ngày càng cảm thấy cô đơn. Mỗi khi nhớ lại những năm tháng anh chưa có vợ, hai anh em quấn quít bên nhau, Lang lại càng thấy buồn tủi. Nỗi buồn tủi thầm lặng tích tụ lâu ngày đến độ Lang thấy không thể chịu đựng được nữa. Và rồi một buổi sáng, Lang thức dậy sớm, lủi thủi bỏ nhà ra đi.

Chàng lang thang suốt ngày đêm như muốn trốn chạy khỏi nỗi buồn đang đè nặng trong lòng. Cho đến một ngày kia, một con sông rộng chắn ngang đường buộc chàng phải dừng chân. Mệt mỏi và đói khát, chàng ngủ vùi bên bờ sông. Và nỗi buồn chán cùng với sự mỏi mệt đă không cho chàng thức dậy nữa. Chàng nằm chết lịm, thi thể biến thành một tảng đá vôi nằm lẻ loi bên bờ sông, vào những đêm trăng sáng trông lấp lánh như một nấm mồ.

Khi biết em đă đi khỏi, Tân hết sức ân hận. Chàng ra đi tìm em khắp nơi, khắp chốn. Cuối cùng Tân đi đến dòng sông rộng không thể nào vượt qua ấy. Chàng chỉ còn biết đứng trên hòn đá để ngóng trông em. Nhưng bờ bên kia chỉ là rừng cây xanh ngắt, nào thấy bóng em đâu. Chàng chết lặng với nỗi buồn tuyệt vọng. Người chàng gắn chặt xuống đất, biến thành một cây cao bên hòn đá với những chiếc lá dài xơ xác trông như mái tóc của một người lữ hành trên đường dài gió bụi.

Nửa tháng trôi qua, không thấy chồng về, vợ Tân ở nhà lo lắng, đứng ngồi không yên. Chị măi nghĩ ngợi đến những bất trắc dọc đường và nóng lòng muốn làm sao sớm tìm gặp chồng để cùng san sẻ với chàng. Thế là chị lại một mình bắt đầu một cuộc hành trình gian truân. Và cuối cùng, chị đến bên con sông ấy, ngồi nghỉ chân trên tảng đá, tựa người vào gốc cây có những tàu lá dài xác xơ kia. Chị thiếp đi và mơ màng nhận ra thân cây ấy là hóa thân của chồng mình, còn chị thì biến thành một loài dây leo âu yếm quấn quanh. Và đó cũng là giấc mơ cuối cùng trong đời người con gái họ Lưu.

Một đêm, cụ Lưu nằm ngủ bỗng thấy ba người về báo mộng. Theo lời kể của họ, cụ tìm đến bờ sông nọ nơi có hòn đá và thân cây kia. Cụ cho xây một đền thờ cạnh đó để tưởng nhớ hai anh em họ Cao và người con gái yêu quý của mình.

Năm ấy, có hạn hán lớn. Cây cối trong vùng khô héo, nhưng cây cao và dây leo bên ngôi đền vẫn xanh tốt. Mọi người nghĩ đó là loài cây thiêng. Có một người trong làng leo lên hái quả cây nhai với lá, nước miếng rơi xuống hòn đá vôi dưới chân tự nhiên biến thành màu đỏ son như máu.


*
Loài cây đó sau này được gọi là cây cau và dây trầu. Cũng từ đó người Việt có tục ăn trầu. Măi đến ngày nay, trầu cau vẫn còn thấy được dùng để bày cúng trên bàn thờ trong nhiều nghi lễ. Và trong giao tiếp, người ta mời nhau ăn trầu để bày tỏ lòng thân thiện và gợi nhớ đến một câu chuyện đậm đà tình cảm thủy chung.

(sưu tầm)