PDA

View Full Version : Biệt Ngữ Công giáo đối chiếu


admin
26-11-2010, 11:40 AM
Biệt Ngữ Công giáo đối chiếu

Các đơn vị của ngôn ngữ như: từ, ngữ cố định, các quán ngữ… khi được sử dụng trong phạm vi một tập thể xã hội nhất định nào đó thì được gọi là Biệt ngữ hay còn gọi là phương ngữ xã hội (socialect).
Thời phong kiến, chúng ta thường thấy các từ ngữ chuyên biệt như: hoàng đế, trẫm, long bào, long thể, băng hà, ngự thiện…
Trong tôn giáo cũng vậy. Mỗi tôn giáo đều có những thuật từ được sử dụng chuyên biệt mà người ngoài tôn giáo ấy khó lòng thấu đáo. Xá lị Phật, bát nhã, phước sương… (biệt ngữ Phật giáo) hòa thượng, thượng tọa, đại đức (các chức phận trong tăng sĩ Phật giáo)…là những biệt ngữ vốn được sử dụng thường xuyên trong môi trường giao tiếp Phật giới nhưng lại rất xa lạ với nhiều người. Cũng vậy, việc thấu đáo ý nghĩa những thuật từ, biệt ngữ Công giáo như: kiêng việc xác, quan thầy, cứu chuộc, rỗi linh hồn…lại càng không dễ dàng gì, có khi là người Công giáo. Với ước mong phần nào thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu ý nghĩa từ ngữ Việt Nam trong các sách kinh Công giáo. Lần nữa, chúng tôi mạo muội mang đến độc giả mục “Biệt ngữ Công giáo đối chiếu”. Những thuật từ này vốn có mặt trong các kinh đọc hàng ngày của người Công giáo Việt Nam.Tuy nhiên, bất toàn và thiếu sót luôn là đặc tính của công việc con người. Vì vậy, chúng tôi mong chờ sự góp ý bổ sung.
* Đối chiếu ngữ nghĩa tiếng Việt- Biệt ngữ Công giáo

1. Thiên đàng (Paradise)
Thiên (天) : trời, phép trời, cõi trời, lẽ tự nhiên, ngày[/size]…
Đàng (堂) còn có cách đọc khác “đường” hay “đình” có nghĩa : ngôi nhà, nơi trú[/size] ngụ, cung điện…
VD: Công đường (nhà quan); hậu đường (nhà sau); học đường(trường học); Tứ đại đồng đường(4 đời cùng sống chung một nhà)…
- Trong tiếng Việt, thiên đàng được hiểu như: cõi vui vẻ trên trời, ngôi nhà hạnh phúc trên trời, nơi cực lạc, Vườn vui
- Nghĩa dụng Công giáo: Thiên đàng (Paradise) là một danh từ chỉ nơi những người lành được hưởng hạnh phúc cùng Thiên Chúa. (xem Lc 23, 43)
VD: “…cho ngày sau được lên Thiên Đàng xem thấy mặt Đức Chúa Trời hưởng phước đời đời,…” (xem sách kinh Quy Nhơn, tr.10)
VD: “…kẻ lành được lên Thiên Đàng hưởng phúc đời đời…” (tr.58)
* Các ngữ tương ứng để diễn tả Thiên Đàng trong kinh: Nước Thiên Đàng, cửa Thiên Đàng, chốn Thiên cung, Thiên đình, Thiên gia, Thiên quốc, quê thật, chốn tiêu dao, chốn an nhàn tiêu sái, chốn thanh nhàn, cõi thọ, trên trời, chốn bình an…

2. Hỏa ngục: (hell)
- Hỏa : (火) : lửa, khí nóng như lử[/size]a
VD: hỏa tai (tai họa do lửa); hỏa lò (lò lửa); hỏa hình : hình phạt bằng lửa (một hình phạt thời trước bắt tội nhân đặt trên giàn củi và đốt)
- Ngục (獄): chỗ giam cầm kẻ có tội, nhà tù…
Trong tiếng Việt, hỏa ngục được hiểu như là: nơi chứa đầy lửa để giam phạt linh hồn những người có tội, theo tín ngưỡng tôn giáo (Từ điển tiếng Việt, nxb Đà Nẵng, 1997)
- Nghĩa dụng Công giáo: Hỏa ngục là nơi ma quỷ bị khổ hình (Mt 25,41); là nơi kẻ có tội xuống đó sau khi chết và chịu khổ hình cả hồn lẫn xác (Lc 8,28)
VD: “…các quỷ ở trong hỏa ngục, cũng kính sợ danh Chúa Giê su cực cao cực trọng cực mầu cực nhiệm…” (sách kinh Quy Nhơn, tr.29)
VD: “Chúng con xin hằng theo chân Đức Chúa Giêsu, kẻo phải sa hỏa ngục khốn nạn vô cùng,…” (tr.29)
VD: “Kẻ lành lên Thiên Đàng hưởng phước đời đời, kẻ dữ sa hỏa ngục chịu phạt vô cùng.” (tr.58)
• Các ngữ tương ứng trong kinh : hỏa hình, nơi hình khổ

3. Tội tổ tông: (original sin)
Tội (罪): sự phạm luật, phạm phép, hành vi phạm luật
VD: tội lỗi (tội phạm phải); tội nhân (người phạm luật)
Tổ tông: (宗組) giống như tổ tiên, những người coi như thuộc thế hệ đầu tiên[/size] của một dòng họ, một dân tộc, của loài người….
- Tội tổ tông được xem như là tội của tổ tiên dể lại.
-Nghĩa dụng Công giáo: Tội tổ tông còn gọi là tội do nguyên tổ là A đam và Eva của chúng ta phạm (xem St 2,8- 3,24). Với nguyên tổ là tội cá nhân nhưng được lưu truyền cho cả nhân loại. Hiệu quả chính là làm mất ơn nghĩa Chúa và mất sự sống của Chúa ban.
• Đức Maria được đặc ân là không mắc tội này (Đức Piô 9 công bố Tín điều này năm 1854 trong Thông điệp Ineffabilis)
VD: “Tội tổ tông truyền như lụt cả, tràn làm hư khắp thiên hạ. Có một Đức Bà được khỏi lụt ấy mà chớ” (sách kinh Quy Nhơn, tr.381)
VD: “Nữ vương chẳng hề mắc tội tổ tông” (tr.43)

4. Ngục Tổ tông 獄 宗 組
Các danh ngữ tương ứng : Lâm Bô, nơi Thánh tổ, chốn linh bạc
_ Nghĩa dụng Công giáo :
+ Đây không phải là hỏa ngục nơi giam giữ kẻ phạm tội, kẻ hư mất, kẻ xa mặt Chúa đời và chịu hình phạt khủng khiếp.
+ Chỉ nơi đất thấp, phía bên dưới (âm phủ). Người Do Thái gọi là (Scheol). Ý chỉ muốn nói đến nơi cầm giữ những người lành trong các thời đại trước, mong chờ Chúa Cứu Thế. Sau khi chết, Linh hồn Chúa Giê su đến nơi đó để ra giảng và họ được cứu thoát. (Lm Hồng Phúc- Điển ngữ đức tin Công giáo, tr. 579)
VD: “…chịu đóng đinh chết và táng xác, xuống nhục Tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại…” (sách kinh Quy Nhơn, tr.12)
VD: “Song le Mẹ giữ ôm xác Chúa Giêsu, Hồn xuống Lâm Bô chẳng còn ở thế” (tr.225)
VD: “Xác Chúa khi đã tử hình. Linh hồn xuống Lâm Bô đã đoạn” (tr.286)
VD: “Vui quá vui linh bạc mới phá tan” (tr.286)
* Lâm Bô : là cách đọc Hán Việt

5. Các Thánh Anh hài:
Anh hài: 英孩 các bé thơ
VD: Giáo phụ sơ lai, giáo tử anh hài 教婦初來, 教子英孩
(dạy con dạy thuở còn thơ, dạy vợ từ thuở ban sơ mới về)
VD: dục anh đường (nhà nuôi con nít)
Nghĩa dụng Công giáo :
- Các Thánh Anh hài là các em bé bị vua Hêrôđê sát hại vì sợ Đấng Messia mới sinh chiếm ngai vàng của mình (Mt,11,16)
VD: “Các Thánh Anh Hài. Cầu cho chúng con” (sách kinh Quy Nhơn, tr.50)_

admin
09-12-2010, 06:17 AM
Biệt Ngữ Công giáo đối chiếu (tt)

Trong biệt ngữ, có những tên gọi, khái niệm trùng với từ ngữ toàn dân, ngữ nghĩa chung nên mọi người đều có thể hiểu được dễ dàng. Tuy nhiên, cũng có những biệt ngữ là những tên gọi thêm trùng hay chồng lên tên chính thức của ngôn ngữ toàn dân. Trong một số biệt ngữ Công giáo mà theo chúng tôi khảo sát, đã có sự trùng lắp này, vốn là để phân biệt đặc trưng tôn giáo mình với các biệt ngữ tôn giáo khác hay với những tập thể xã hội khác.
Ví dụ: Theo từ điển tiếng Việt, “rỗi” là trạng thái ít hay không có việc để làm. (Từ điển tiếng Việt, nxb Đà Nẵng, năm 1997).
Nghĩa của từ này không phù hợp trong “cứu rỗi”, “rỗi linh hồn”…trong cách hiểu và cách sử dụng trong kinh của người Công giáo.

* Đối chiếu ngữ nghĩa tiếng Việt- Biệt ngữ Công giáo
6. Bản mệnh
- Bổn (bản) 本 có nghĩa như: vốn, cội rễ, gốc gác, nguyên thuộc
Vd: bản tính (tính riêng mỗi một người); bản chất (khí chất riêng); bổn phận (chính phận sự, phận sự riêng); bổn quán (chính quê quê quán)
- Mệnh (mạng)命: sự sống, phép tiền định, lý số
Vd: sinh mạng (sự sống), vận mạng, số mạng (thuộc lý số); tử sinh hữu mạng (死生有命) sống chết có số
Bản mệnh được hiểu là số mệnh của bản thân mỗi người (Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 1997, tr. 29)
-Bổn mạng: mạng sống, sự sống ở đời
* Nghĩa dụng Công giáo:
- “Bổn mạng” hay “quan thầy” một danh ngữ thường dùng cho một vị thánh hay một tước hiệu được chọn, với phép của Toà Thánh để bàu chữa, giúp dỡ và cầu nguyên riêng cho một đất nước, một giáo phận, một địa phương.
Vd: Giáo phận Nha Trang chọn “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội” làm bổn mạng, mừng lễ vào 8.12
- Trong đời sống sinh hoạt Công giáo, mỗi địa phương, mỗi nghề nghiệp hay mỗi người người thường chọn cho mình một vị thánh nào đó.
Vd: “Thánh Giuse là quan thầy bàu chữa Hội Thánh” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 47)
Vd: “Gương mọi việc lành phước đức Thánh Bổn Mạng đã đủ mà dạy con sự gì phải làm cùng sự gì phải lánh” (Kinh xin ơn Thánh Bổn Mạng, tr. 190)
*Lưu ý:
Trong tiếng Việt, “Quan thầy” (官柴) được hiểu:
“Kẻ có thế lực, dùng kẻ khác làm tay sai để làm việc phi nghĩa” (từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr. 772)

* Nghĩa dụng Công giáo coi “quan thầy” là kẻ làm chủ mình, người bàu chữa cho mình.
Vd: “Xin Chúa hãy khấng ban cho chúng con như đã cung kính Thánh Giuse làm quan thầy bàu chữa dưới đất” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 48)

7. Chiên 羶: Con cừu (Sheep, lamp), một loại gia súc
* Nghĩa dụng Công giáo:
- Là hình ảnh chính Chúa Giêsu Kitô “Đấng xoá tội trần gian” (Yn 1, 29 và 36)
Vd: “Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian, xin thương xót chúng con” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 158)
- Là hình ảnh của Giáo Hội:
Vd: “Đức Chúa Giêsu là đấng chăn chiên lành” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 26)
Vd: “…xin đem nó về đàn chính lộ, cho rập một dạ kính tin, hầu kíp nên một đàn chiên và một Đấng cầm quyền chăn giữ” (sách kinh Quy Nhơn, 348)
Vd: “…là cội rễ nên lành nên thánh, để sau nên một đoàn chiên, theo một Chúa chiên” (tr. 409)
Lưu ý:
_ Lễ Chiên: là lễ Vượt Qua của Do Thái.
Vd: “Xưa Giu dêu ăn lễ con chiên,” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 312)
Vd: “Giữ ngày Lễ Chiên Chúa Cha đã dạy” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 272)

8. Chúa nhật (主日): Cũng gọi là ngày chủ nhật (dimanche, sunday), ngày tiếp sau thứ 7 và là ngày nghỉ hàng tuần.
Theo sắp xếp cấu tạo ngữ nghĩa từ vựng tiếng Việt gốc Hán, ta có thể hiểu: Chủ nhật (Chúa Nhật) là ngày của Chúa.

* Nghĩa dụng Công giáo:
- Là ngày mà Người Công giáo có bổ phận tham dự thánh lễ, tưởng niệm Chúa sống lại, một nghi thức và cũng là biểu tượng đức tin của cộng đồng Dân Chúa, dể thờ phượng, ngợi khen và cảm tạ.
Vd: “Ngày Chúa Nhật hôm nay, chúng con hiệp nhau kính lạy thờ phượng Chúa, khong khen cảm tạ ơn Chúa, …” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 57)
- Là ngày mà người Công giáo thi hành việc tham dự Thánh lễ như một luật buộc.
Vd: “Thứ 3, giữ ngày chủ nhật” (tr. 59)
Vd: “Thứ nhất, xem lễ ngày chủ nhật cùng các ngày lễ buộc” (Kinh sáu điều răn, tr. 60).
- Ngoài ra, theo giáo luật, người Công giáo phải kiêng làm những công việc hay hoạt động làm ngăn trở việc thờ phượng Chúa, hay sự nghỉ ngơi cần thiết cho thân xác (Gl 1247).
*Lưu ý: Truyền thống Do Thái giáo thường xem ngày thứ 7 trong tuần là ngày của Thiên Chúa (ngày Sabat) còn ngày chủ nhật là ngày thứ nhất trong tuần.

9. Mầu nhiệm (Mystery) (huyền nhiệm, huyền bí)
Mầu 侔: cao sâu, quá trí con người
Nhiệm 任: kín đáo, sâu kín, nghiêm nhặt
Mầu nhiệm thường tương ứng với “huyền nhiệm, huyền bí”
Tự điển tiếng Việt định nghĩa: “là tài tình đến mức như có phép lạ không thể hiểu được bằng lẽ thường”
Vd: phép mầu nhiệm (phép khôn ngoan, phép lạ lùng), phương thuốc mầu nhiệm (thuốc hay) (Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr. 602)
*Nghĩa dụng Công giáo: là những chân lí mà chúng ta không thể hiểu được, nhưng chúng ta phải tin vì Thiên Chúa mạc khải (xem Điển ngữ đức tin Công giáo, 319)
Vd: “…Vì phép mầu nhiệm Đức Chúa Giê Su xuống thế làm người” (Sách kinh Quy Nhơn, tr. 28)
Vd: “Đây là mầu nhiệm đức tin” (sách kinh Quy Nhơn, 154)
* Lưu ý:
- Các Mầu Nhiệm mà chỉ nhờ vào sự mạc khải của Chúa chúng ta mới có thể biết được. Đó là các tín điều của Giáo Hội như: mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, mầu nhiệm Thiên Chúa nhập thể… được diễn tả trong kinh đọc như sau:
Vd: “Con lại tin thật Đức Chúa Trời có Ba Ngôi, mà Ngôi Thứ Hai đã xuống thế làm người, chịu nạn chịu chết mà chuộc tội cho thiên hạ” (Kinh Tin, sách kinh Quy Nhơn, tr. 10)
- Các mầu nhiệm mà chúng ta biết được do dùng những ý niệm tương tự suy diễn ra được gọi là mầu nhiệm tự nhiên (natural mystery). Nghĩa của từ “mầu nhiệm” lúc này được hiểu như là: sự lạ lùng, khôn ngoan, sự vượt trội quá trí hiểu biết con người.
Vd: “Đức Bà như hoa hường mầu nhiệm vậy” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 42)
Vd: “Đức Mẹ cực mầu cực nhiệm” (tr. 41)

10. Đền tội
Theo từ điển tiếng Việt: “đền tội là chịu chết, bị tiêu diệt vì đã gây tội ác”
Vd: Hung thủ đã phải đền tội. (Từ điển tiếng Việt, nxb Đà Nẵng, tr. 300)
- Đền: 佃: thường lại, thế lại, bù lại
- tội: 罪: hành vi phạm pháp, phạm vào điều răn cấm, luật cấm, khuyết điểm đáng trách…

* Nghĩa dụng Công giáo:
- Sự cứu rỗi của Chúa Giêsu (satissfaction) cho chúng ta. Ngài chịu chết để chuộc tội chúng ta. Ngài là Thiên Chúa nên không có tội lỗi chi phải đền. Ngài chỉ chết để đền tội thay cho nhân loại.
Vd: “Rất Thánh Trái Tim Đức Chúa Giê su là phần đền vì tội chúng con” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 32)
- Danh ngữ này cũng chỉ những việc lành mà mỗi tín hữu tự nguyện thi hành để được tha những những phần phạt do tội gây ra. Trong kinh, danh ngữ này được diễn tả như lòng sốt mến, một lời hứa mong bù lại những gì bất xứng mà mình gây ra.
_Vd: “Chúng tôi phải bắt chước Người và bằng lòng chịu những sự khốn khó ở đời này mà đền tội chúng tôi” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 84)
Vd: “Chớ chi chúng con làm nhiều việc lành mà đền tội cùng bỏ tội lỗi cho dứt…” (tr. 87)
- Danh ngữ này còn được dùng trong toà giải tội để hối nhân thực hành hầu có thể được tha thứ phần phạt. (Xem sách kinh Quy Nhơn, tr. 481)

Nguyễn Kim Binh

admin
18-12-2010, 07:45 AM
Biệt Ngữ Công giáo đối chiếu (tt)

11. Ách: (yoke)
- (cái) ách ( 軛 ): cái vòng da để buộc cổ ngựa vào tay xe; hay cái cây gỗ cong để trên vai trâu bò để buộc vào cày, kéo xe.
_ ách (扼[ ): chận, đè, ngăn trở…
VD: ách tắc (tắc, nghẽn, ngừng trệ…)
- Ách 厄 : tai họa nặng nề phải gánh chịu, sự khốn quẫn
VD: ách nô lệ (yoke of slavery), ách thống trị (ruling yoke), ách đô hộ (colonialist yoke)
* Nghĩa dụng Công giáo
- Ách là giới răn Chúa, luật Chúa
VD: “…hoặc khinh dể những điều đã khấn nguyền khi chịu phép Rửa tội mà rẫy bỏ giới răn Chúa là ách êm ái dịu dàng” (sách kinh Quy Nhơn, tr.355)
- Cựu Ước thường dùng từ này theo nghĩa bóng, để chỉ sự “lệ thuộc” của dân Ítx-ra-en vào Thiên Chúa (Gr 5,5).Trong Tân Ước, ách giống như mỗi nghĩa vụ mà Chúa giao phó rất êm ái, dễ vác.
“Hãy mang lấy ách của Ta và hãy học cùng Ta…” (Xem Mt 11,29-30)

12. Hòm bia
- Hòm 梒 (chữ Nôm) : đồ dùng để đựng các thứ như: tiền bạc, của cải… những thứ cần cất giữ, bảo vệ. Nó có dáng hình hộp, thường bằng gỗ hay sắt mỏng, nắp đậy kín.
Trong Việt ngữ Trung Bộ, cái hòm dùng để đựng xác chết hay còn gọi là “áo quan” hay “quan tài.” trong phương ngữ Bắc Bộ.
- Bia 碑 (Hán Việt đọc “bi”): thường là tấm đá lớn có khắc chữ để ghi lại việc người đời cần ghi nhớ hoặc làm thẻ trên mộ chí.
Trong Việt ngữ, nó còn được dùng để diễn đạt điều gì đó tồn tại với thời gian và tiếng xấu ở đời trong “bia đá” và “bia miệng”
VD: “Trăm năm bia đá vẫn còn
Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ” (ca dao Việt Nam)
* Nghĩa dụng Công giáo
- Hòm bia (arca, arche) là một thùng bằng gỗ được miêu tả trong (Xem Xh 25,10-22)
có thể khiêng bằng hai thanh gỗ xỏ qua những cái khâu được gắn ở hai bên. Bên trong có đặt hai Bản Lề Luật.
- Hòm bia là nơi Thiên Chúa ngự, là lề luật của Chúa, tượng trưng sự hiện diện của Thiên Chúa (Ds10,33,36).
VD: “Đức Bà như Hòm bia Thiên Chúa vậy” (sách kinh Quy Nhơn, tr.42)
VD: “Ớ Trái tim Chúa rất thánh, là Hòm bia trữ điều răn” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 331)
VD: “…Như Hòm bia của nhiệm thế gian” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 405)
- Trong Cựu Ước, hòm bia được người Do Thái xem như là ngai hay bệ chân của Thiên Chúa trên trần thế. (Tv132,8)

13. Lộng ngôn
- Lộng 弄: lờn mặt, vô phép, vượt giới hạn, chơi giỡn
VD: Lộng hành(hành động càn rỡ, tùy tiện); lộng quyền (làm điều ngang ngược vượt quyền hạn mình); Lộng óc (nhức óc); lộng lẫy (đẹp quá sức)
- Ngôn 言: nói, lời nói
VD: ngụ ngôn (lời nói xa gần, bóng bẩy); ngôn luận (phát biểu, bày tỏ ý kiến); ngôn ngữ (những qui tắc kết hợp của âm, từ, ngữ để làm phương tiện giao tiếp)
_ Lộng ngôn : có thể hiểu là những lời nói vô phép, vượt quá quyền hạn, có ý xúc phạm, lời nói phạm thượng.
* Ngữ dụng Công giáo
- Lộng ngôn (blasphème) xuất phát từ danh từ Hy Lạp Blasphem, có nghĩa:
+ Lời nói phạm thượng, lời xúc phạm
VD: “…mà quân dữ chẳng ai thương một chút, nó lại mắng nhiếc, nói lời lộng ngôn, khinh mạn then thuồng quá tệ,….” (sách kinh Quy Nhơn, tr.120)
VD: “…Khi thì kẻ hoang đàng nói lời lộng ngôn gớm ghiếc mà rằng: Đức Mẹ chẳng còn đồng trinh, cũng chẳng khỏi tội Tổ Tông…” (sách kinh Quy Nhơn, tr.415)
VD: “sự nói lộng ngôn đến Chúa và các Thánh, những lời sỉ nhục phỉ báng đấng thay mặt Chúa cùng các đấng làm thầy,…”(sách kinh Quy Nhơn, tr.356)
- Lộng ngôn là lời xúc phạm đến Thiên Chúa. Một tội nghịch đức thờ phượng, dạy phải tôn vinh Thiên Chúa trong lời nói, việc làm (Xem Lm Hồng Phúc, Điển ngữ Công giáo, tr. 291)

14. Giáo dân 教 民
- Giáo 教 : giáo : tôn giáo, đạo, dạy bảo, mệnh lệnh
VD: giáo chủ (người đứng đầu một tôn giáo ), giáo đường (nhà thờ Công giáo église, temple); giáo lí (đạo lí của đạo, doctrine)…; Giáo dục (dạy dỗ); giáo án (bài soạn của giáo viên để dạy học), giáo sư (thầy dạy học, nay thì được dùng như là một chức danh khoa học)
- Dân 民: tầng lớp người đông đảo nhất người sống trong một khu vực khu vực địa lý, hành chính dưới một quyền quản lý nào đó.
- Giáo dân : Người dân thường theo đạo Thiên Chúa, không phải là giáo sĩ, tu sĩ (Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr. 379)

* Nghĩa dụng Công giáo
- Được dịch (sen étymologique) có nghĩa là mọi thành phần Dân Chúa, gia nhập bằng Bí tích Rửa tội, Thêm Sức được ấn tích Chúa Kitô, được lớn lên bằng của ăn bổ dưỡng Mình Thánh và Máu Thánh Chúa (xem Linh mục Hồng Phúc, Điển ngữ đức tin Công giáo, tr.175)
_ Danh ngữ “giáo dân” được diễn đạt bằng nhiều danh ngữ khác nhau trong kinh đọc.
+ Giáo hữu (教 友) : người có đạo
VD: “Chớ chi chẳng những mọi người giáo hữu, mà lại các dân các nước đều nhìn biết Chúa là Vua rất nhân từ,…” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 24)
+ giáo nhân 教 人
VD: “Xin Chúa lòng lành phù hộ cho Đức Giáo Hoàng chúng con cùng các phẩm trật Hội Thánh, cùng khắp hết giáo nhân mọi đấng (sách kinh Quy Nhơn, tr. 79)
+ Ki tô hữu: người tin vào Chúa Ki tô
VD: “Xin cầu cho mọi Ki tô hữu, biết sống và chia sẻ niềm tin của mình” (sách kinh Quy Nhơn, tr.462)
+ Tín hữu (信 友) (sách kinh Quy Nhơn, tr.231)

15. Bền đỗ
- Bền (駢, Nôm): vững chắc, chịu đựng lâu dài, có khả năng giữ nguyên được lâu, không biến đổi…
VD : chỉ sợ lòng không bền (không giữ vững ý chí, lập trường; bền bỉ (chịu đựng nặng nhọc, khó khăn); bền chí (giữ vững ý chí); bền lòng (giữ vững tinh thần, không thay đổi); bền vững (vững chắc)
- Đỗ (杜), đậu) : ở yên, đứng yên một chỗ, dừng lại
VD: đỗ xe (đậu xe, dừng xe); đỗ đạt (thi đậu), ở đỗ (ở nhờ)
* Nghĩa dụng Công giáo
- Như là sự trung, trung tín với Chúa vững bền
- Ơn bền đỗ là một ơn đặt biệt của người tín hữu có được trong ơn nghĩa cùng Chúa cho đến hơi thở cuối cùng. Ơn này là ơn Chúa ban cho để người tín hữu có thể giữ lòng trông cậy vững bền chắc chắn.
VD: “…cùng xin ban cho chúng con được ơn bền đỗ giữ lòng trung tín lo việc làm bổn phận làm tôi Chúa cho đến trọn đời…” (sách kinh Quy Nhơn, tr.357)


Nguyễn Kim Binh

admin
18-12-2010, 07:59 AM
Vì để trong VBulletin không hiển thị các chữ Hán, Admin xin đính kèm file .htm để đọc giả tiện sử dụng:

/thuvien/bietnguconggiaodoichieu.htm

admin
24-12-2010, 09:47 AM
Biệt Ngữ Công giáo đối chiếu (tt)

16. Tro ( 烣): (mượn chữ Hán “lô” cho âm và bộ thủ ‘hỏa” để cho chữ Nôm “tro”)
- Chất còn lại của một số vật sau khi cháy hết, nát vụn như bột và thường có màu xám.

- VD: tro bếp, cháy thành tro, ra tro (to burn something to ashes), màu tro (màu xám trắng); tro mạt (thân phận thấp hèn)

Nghĩa dụng Công giáo
- Danh từ thuộc tính chỉ một ngày lễ, khởi đầu cho Mùa Chay: “Thứ Tư Lễ Tro” (Ash Wednesday)

- Được rắc trên đầu trong nghi thức sám hối vào Thứ Tư Lễ Tro. Trong Thánh Kinh, “tro” là biểu tượng sự thống hối, sự chết, dùng để diễn tả sự buồn rầu của người bất hạnh, của tội nhân bị dày vò…(xem Job 42,6). Được diễn tả trong kinh đọc:

VD: “Con kinh khủng cơn giận Chúa mà sát phạt. Nên con đã lấy tro làm của ăn, lấy nước mắt làm của uống” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 501).

- Do nhẹ về trọng lượng, tro được dùng như một biểu tượng của sự chóng qua, tiêu tán…

VD: “Vì sự sống con đã tan bay dường khói, hài cốt con đã tiêu hóa như tro mạt” (tr. 501)

* Lưu ý “tiêu hóa” ở đây phải được hiểu là tiêu tán, mất đi, không phải hiểu theo nghĩa “quá trình biến đổi thức ăn để nuôi sống”

- Không đáng giá, thấp kém

VD: “Bỗng chốc thế gian hóa ra tro mạt” (sách kinh Quy Nhơn, tr.261)
“Tôi chỉ là bụi tro” (St 18,27)


17. Kẻ liệt

- Kẻ 仉 (chữ Nôm dùng Hán tự “kỉ” cho âm và bộ thủ nhân cho nghĩa, có âm đọc là “kẻ” để chỉ người nào đó

VD: kẻ nào (người nào); kẻ chết (người đã qua đời); kẻ cả (người trên những khác); Kẻ Chợ (chỉ thủ đô của một nước nào đó, là một từ cổ)

- Liệt 劣: ốm yếu, bệnh hoạn

VD: liệt nhược, rũ liệt (mòn mỏi chẳng còn sức lực); liệt lào (bệnh hoạn, từ Việt cổ)

* lưu ý : không phải “liệt” 列[/size] (trong liệt kê, liệt cử); hay “liệt” 烈[/size] (trong liệt sĩ, liệt tổ, liệt tông…)

* Nghĩa dụng Công giáo

- Bệnh nhân, người đau yếu

VD: “Khi liệt lào, giục kẻ rước thầy” (sách kinh Quy Nhơn,tr.445)

Lưu ý: Giáo sư Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Từ vựng- Ngữ nghĩa tiếng Việt” ở trang 253 giải thích rằng: “kẻ liệt” tức là “người chết” là không chính xác.
- Chăm sóc, thăm viếng “kẻ liệt” là lời khuyên dạy của Giáo Hội trong 14 mối phúc.

VD: “Thứ 4, viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc” (sách kinh Quy Nhơn, tr.61)

18. Dốc lòng
- Dốc : đoạn cao dần lên hay hay thấp dầ xuống trên đường đi.

VD: Đường nhiều dốc, xuống dốc + Chúc đầu vật gì để trút thứ đựng trong đó ra

VD: dốc chai nước (xem Từ điển tiếng Việt, nxb Đà Nẵng, tr. 254)

- Lòng : bộ phận bên trong, bụng con người,tình cảm ý chí, tinh thần

VD: no lòng, bền lòng, lòng tham, đau lòng…

Nghĩa dụng Công giáo
_ Dốc lòng 篤 ( 忄弄)(to be delicated to) : quyết tâm, đành lòng, sẵn lòng, thật lòng…

VD: “…chúng con quyết chí đền hết thay thảy, lại dốc lòng đền riêng những tội này,…” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 356)

VD: “Lạy Chúa con dốc lòng không dám nữa, mà lại quyết chí hàng ngày vác Thánh giá con theo chân Chúa mà chớ” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 120)

19. Khách đày
_ Khách 客: người lạ, người khác đến nhà, nơi ở tạm thời không phải nhà mình

VD: khách khứa (người đến chơi) khách hàng (Client, người mua hàng), khách sạn (hotel, nhà trọ)…

- Đày 苔: đuổi đi, đưa đi xa không cho ở tại quê quán mình, làm khổ

VD: đi đày (bị đưa chỗ khác); đày đọa (bị hành hạ, bị làm khổ)…

Nghĩa dụng Công giáo
- Nơi trần gian đang sống, nơi phải chịu thử thách gian khổ, đời sống tạm bợ, chóng qua

VD: “Thân lạy Mẹ, chúng con con cháu E và ở chốn khách đày kêu đến cùng Bà;” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 15)

VD: “…trước khi lìa con thì trối để lương thực thiêng liêng như của ăn ngon ngọt mỹ vì nuôi lấy linh hồn con, khi còn ở chốn khách đày này;” (sách kinh Quy Nhơn, tr.237)

20. Rỗi 磊 (chữ nôm mượn chữ “lỗi” để ghi âm “rỗi”)
- Trạng thái ít hay không có việc để làm

VD: rỗi rãi, rảnh rỗi…

Nghĩa dụng Công giáo
- Linh hồn được cứu thoát cho khỏi sự ràng buộc tội lỗi, được giải thoát khỏi tội

VD: “Xin Chúa hãy nhớ đến Đức Chúa Giê su, là Con Chúa đã chịu tử hình rất dữ cho những linh hồn ấy được rỗi.” (sách kinh Quy Nhơn, tr.17)

- Được cứu chuộc, cứu thoát, cứu rỗi (Redemption), được tha thứ hình phạt do tội gây nên, được nên thánh, xứng đáng

VD: “Nếu Chúa con chấp tội nào ai rỗi được” (sách kinh địa phận Hải Phòng, Bùi Chu, Thái Bình, tr.192)

Nguyễn Kim Binh

admin
31-12-2010, 08:08 PM
Biệt Ngữ Công giáo đối chiếu (tt)

21. Giáng Sinh

- Giáng 降: xuống, đi xuống, hạ xuống ngược với “thăng” là lên.

VD: giáng cấp (bị trụt xuống bậc dưới); giáng chỉ (vua ban chỉ dụ xuống cho dân); giáng phúc (Trời ban phúc xuống cho người)

- Sinh 生 : sống, ra đời, còn sống, học trò…

VD: sinh đồ (học trò); sinh kế (kế làm ăn để sống); sinh kí tử quy (sống là gởi tạm, chết là về chốn cũ của mình); sinh nhật (ngày sinh, ngày chào đời)…

- Giáng sinh: chỉ thần tiên đầu thai vào chốn nhân gian (incarnation) tương ứng với các ngữ sau : giáng thế, giáng trần, giáng lâm, hạ sinh…Ý nghĩa của các từ ngữ này đều ám chỉ thần tiên xuống trần gian hay “nhập thế”

VD: đẹp như tiên giáng trần, đẹp như tiên giáng thế…

• Ngữ dụng Công giáo

- Ngày Chúa Giêsu Kitô sinh ra đời làm người, sinh nhật của Giêsu

VD: “ Ớ Chúa Hài Đồng giáng sinh cứu thế, nửa đêm giờ tí Chúa mới hiện điềm.” (sách kinh Quy Nhơn, tr.202)

“ Hôm nay ngày Chúa Giáng Sinh, ta phải bỏ tình yêu sự thế” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 193)

_ Mầu Nhiệm chính trong đạo Công giáo “ Mầu Nhiệm Ngôi Hai xuống thế làm người”

Lưu ý: Ngày sinh của Phật gọi là “ Phật đản”. Trong kinh, “ Thánh đản” cũng chính là ngày Giáng Sinh của Chúa Giêsu (“ đản” 誕 là ngày sinh nhật)

VD: “ Chung phục thủy đến ngày Thánh đản, Thánh Hội công cả tiếng ngâm nga” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 201).

- Đây là một ngày lễ trọng, Giáo Hội mừng lễ vào ngày 25.12 hàng năm


22. Mục đồng

- Mục [SIZE=4]牧: chăn nuôi súc vật, một chức quan ngày xưa chuyên lo việc chăn nuôi gia súc

* lưu ý : không phải “ mục” trong mục kích, mục lục, mục nát, hòa mục…

VD: mục dã, mục trường (đồng cỏ cho súc vật ăn); mục nữ (cô gái chăn bò, dê); mục sư (giáo sĩ Tin Lành); mục phu (người chăn súc vật, berger)…

- Đồng 童: con trẻ, người chưa thành niên

VD: đồng ấu (trẻ em lớp nhỏ nhất, khoảng sáu tuổi); đồng dao lời hát dân gian của trẻ em); hài đồng (con trẻ còn bồng ẵm trên tay, hài nhi)…

*lưu ý: không phải “đồng 同” trong : đồng thanh, đồng tình, đồng đại…

_ Mục đồng : trẻ em chăn súc vật ở ngoài đồng

• Nghĩa dụng Công giáo:

- Những người chăn dắt sức vật ở ngoài đồng, lúc Chúa Giê su sinh ra

“ Thần mách bảo mục đồng, Rủ nhau đến thửa nơi chóng chóng” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 200)

-Mục đồng, mục phu, mục tử là những danh ngữ chỉ “ người chăn dắt súc vật”(berger, shepherd, pastor). Tuy nhiên, trong tiếng Việt, khi dùng “ mục tử” thì danh ngữ này được hiểu như là “ chủ Chiên” (pastor), người có phận sự hướng dẫn các linh hồn. Đức Giáo Hoàng là Chủ Chiên hoàn vũ, Giám mục là Chủ Chiên giáo phận, Linh mục chính xứ là Chủ Chiên của giáo xứ.


23. Thiên Thần

- Thiên 天: trời, thuộc về trời, quyền tạo hóa, lẽ tự nhiên…

VD: Thiên ý (ý trời); thiên văn (phương pháp xem xét hoạt động các tinh tú trên trời); thiên nhiên (tất cả những gì có quanh con người mà không phải do con người làm ra), thiên sứ (sứ nhà trời)…

- Thần 神: thiêng, có tài có phép, có phép mầu, một vị thần linh…

VD: hung thần (thần dữ); gương thần (gươm báu); thần linh (các vị thần linh thiêng)…

- Thiên Thần : Thần ở trên trời

Trong tiếng Việt thường sử dụng, “ đẹp như thiên thần”, “ mạnh như thiên thần”.

• Nghĩa dụng Công giáo

_ Là sản phẩm tinh thần do Thiên Chúa sáng tạo, danh ngữ “ angelos” có nguồn gốc Hy ngữ với nghĩa là “được sai đi”. Vì thế, ở một số văn bản Công giáo có lúc dùng “ thiên sứ”, “ sứ thần” vì có một số trong các Ngài được Thiên Chúa sai làm sứ giả cho loài người.Trong kinh đọc, Danh ngữ được thêm một từ “Thánh” trước đó “ Thánh Thiên Thần

“ Đức Chúa Trời sai Thánh Thiên Thần truyền tin cho Rất Thánh Đức Bà Maria” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 3)

- Trong kinh đọc, “Thiên Thần” xuất hiện với nhiều hình thức khác nhau, được xem như là những vị thần linh vô hình hằng chầu chực,ca ngợi Chúa trên Thiên Đàng và nhận lãnh những sứ vụ cho con người, được chia thành chín phẩm (cửu phẩm): Luyến Thần, Bệ Thần, Quản Thần, Dũng Thần, Lãnh Thần, …

“ Đức Thánh Micae. Đức Thánh Gabirie.Đức Thánh Raphae. Các Thánh Thiên Thần cùng các Thánh Tổng lãnh Thiên Thần. Chín phẩm các Thánh Thiên Thần” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 49)

- Tính thiêng liêng

VD: “ Này là lương thực Thiên Thần, Nên hành lí dục,” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 312)

VD: “ Con thân Đức Thánh Thiên Thần tính thiêng liêng sáng láng,” (tr.14)

* Lưu ý:

- Thiên thần Gabirie là vị truyền tin cho Đức Maria

“ khi ấy Đức Chúa Trời sai Thánh Thiên Thần Gabirie xuống truyền tin cho Đức Bà Maria” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 64)

_ Thiên Thần được phân biệt với ngụy thần (sa tan), ma quỷ là những kẻ mà trước đó là Thiên Thần nhưng phản bội Chúa và bị phạt trong Hỏa ngục, chúng can thiệp vào cuộc sống con người để lôi kéo về đàng tội lỗi. Còn các Thiên Thần thì luôn cầu bầu cho ta. Mỗi người đều có một Thiên Thần bản mệnh.


24. Gia thất

_ Gia 家 : nhà, người có chuyên môn..

VD: gia cảnh (tình cảnh trong nhà), gia cầm (thú, súc vật nuôi ở gia đình); gia đình (nơi chốn người trong nhà đoàn tụ với nhau); sử gia (người chuyên về lịch sư…

_ Thất 室: nhà ở, phòng, buồng… (không phải “thất”: số bảy; “ thất” : mất…)

VD: chánh thất (vợ cả trong nhà); kế thất(vợ kế); trắc thất (vợ hầu); ngục thất (phòng giam, buồng giam)

- Gia thất : vợ con, người trong gia đình, gia đình

VD: “ yên bề gia thất” : đã lập gia đình

* Nghĩa dụng Công giáo

_ Chỉ gia đình Công giáo.

VD: “ …mà lập nước Chúa trong mọi gia thất khắp cả miền xứ chúng con” (sách kinh Quy Nhơn, tr.24)

VD: “ khi Chúa hiện ra cùng bà Thánh Magarita đã tỏ lòng ước ao ngự trị trong các gia thất giáo nhân;” (tr.369)

- Danh ngữ “ Thánh gia thất” hay “ Thánh Thất” chỉ gia đình của Chúa Giê su, Đức Mẹ và Thánh Giuse (Holy family)

“ Chúa đã dùng mọi gương gia hạnh Chúa mà làm cho nhà này hóa nên Thánh Thất” (Kinh cầu cùng Thánh Thất, sách kinh Quy Nhơn, tr. 188)

- “Gia Thất” là một ngày lễ lớn trong Giáo Hội Công giáo mừng sau lễ Giáng Sinh: Lễ Gia Thất, Lễ Thánh Gia Thất, Lễ Thánh Thất, Lễ Thánh Gia…


25.Hài Nhi 孩兒

- Giống như “ hài đồng” 孩童: đều có nghĩa là con trẻ còn đang bú mớm, ẵm bồng.

* Nghĩa dụng Công giáo

- Chính là Chúa Giêsu, Ngôi Hai xuống thế làm người

VD: “ Hài Nhi nho nhỏ thật Chúa làm người. Chúa mới ra đời, giáo nhân chi pháp” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 203)

VD: “ Ớ Chúa Hài Đồng giáng sinh cứu thế” (tr.202)

VD: “ Kìa lìa Thánh Mẫu tay bồng. Nọ nọ Hài Nhi chân Chúa. Quỳ chầu bên nọ ông Thánh Giuse” (tr.200)

admin
07-01-2011, 04:51 PM
Biệt Ngữ Công giáo đối chiếu(tt)

26. Hiển Linh
- Hiển 顯: sáng tỏ, rõ ràng
VD: hiển danh (nổi danh); hiển đạt (làm nên công danh sự nghiệp); hiển nhiên (rõ ràng); hiển vinh (vẻ vang)…
- Linh 靈: thiêng liêng, thần thánh…
VD: Linh vật (vật thiêng liêng); linh hồn (phần thiêng liêng vô hình trong người); linh mục (người dìu dắt linh hồn); linh dược (thuốc hay, thuốc tiên tiên)
- Hiển linh: Điều linh thiêng được biểu hiện ra.

* Nghĩa dụng Công giáo
- Danh ngữ “hiển linh” có nguồn gốc Hy ngữ epiphaneia có nghĩa là : Thiên Chúa tỏ mình ra cho loài người như: Khi Chúa tỏ hiện ra cho Môisê trên núi Sinai (Xh 3,14); khi Chúa Kitô chịu phép rửa (Mt 3,16-17), hiện ra ở Biển Hồ, biến hình trên núi...
- Lễ Hiển Linh là ngày lễ tưởng nhớ việc Đức Kitô tỏ mình ra cho dân ngoại qua các đạo sĩ Đông phương (Xem sách kinh Quy Nhơn, tr.204). Theo thói quen, Giáo hội mừng lễ này cách Đêm Giáng Sinh 13 ngày.
“Khi Ngôi Hai xuống thế được 13 ngày, Có Ba Vua phương đông thấy vì sao lạ…” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 204).
_ Lễ Hiển Linh còn gọi là Lễ Ba Vua (Anh ngữ: Epiphany)

27. Ba Vua
- Ba (巴三) : chữ Nôm chỉ con số 3
_ Vua (布可): người cầm quyền cai trị trong một nước (King, Majesty)
_ Vua: người được coi là giỏi nhất về một chuyên môn nào đó (vua bếp, vua phá lưới…)

* Nghĩa dụng Công giáo
- Danh ngữ “Ba Vua” để chỉ 3 vị hiền sĩ, 3 nhà thông thái, ba nhà chiêm tinh, 3 đạo sĩ (three magic man) đến tìm gặp Chúa Hài Nhi để thờ lạy. (xem sách kinh Quy Nhơn, tr.204)
“Bấy giờ Ba Vua giã ơn vua DuDuê mà trẩy khỏi thành Giêrusalem” (Các Thánh truyện, bản chữ Nôm, tr.455). “BaVua” không hẳn là đứng đầu một lãnh địa nào đó.
Ngày nay,người ta gọi Ba Vua là “đạo sĩ”. Danh xưng này có ở bộ lạc thuộc sắc dân (Médes, Trung Đông). Những người này giữ vai trò tế tự và giỏi về thiên văn. Trong (Mt 2, 1-12) cho biết có 3 vị đạo sĩ từ phương Đông theo ánh sao lạ dến kính bái Hài Nhi và tiến dâng vàng, nhũ hương và mộc dược. Ba vị ấy có tên là: Gaspard, Melchior và Balthazar . (Điển ngữ Thần học Công giáo, tr. 134).
* Lưu ý: “đạo sĩ” đây không phải là danh ngữ chỉ chức sắc trong Lão giáo, không phải thầy phù thủy .

28. Vàng 鐄
- Chữ Nôm có âm đọc “vàng” vốn dùng để chỉ kim loại quý, màu vàng óng, không gỉ, thường dùng làm đồ trang sức, là thứ quý hiếm…
VD: nhẫn vàng, quý như vàng, tấm lòng vàng…

* Nghĩa dụng Công giáo
- Một trong những lễ vật mà Ba Vua kính tiến Chúa Hài Nhi
“Con ngắm của lễ Ba Vua dâng: một là vàng, hai là nhũ hương, ba là mộc dược” (sách kinh giáo phận Hà Nội, nxb Tôn giáo, tr.131)
“Nay nước mọn ba tôi lễ đơn ba giống: Vàng cùng nhũ hương và mộc dược” (sách kinh Quy Nhơn, tr.206)
- Là biểu tượng tôn kính, thờ phượng tột bậc đối Thiên Chúa.
“Dâng vàng có ý thờ phượng Chúa là Vua Cả trên hết các vua, là Chúa trọng trên hết các Chúa” (sách kinh Hà Nội, tr.131)
- Vàng là chất liệu quý được trang hoàng nơi “Thánh”, nơi Chúa ngự (Xem 1 V6, 20 – 22)

29. Nhũ hương
- Nhũ 乳 : vú, sữa, nhựa…
- Nhũ 孺 : trẻ con đang còn bú
- Hương 香 : thơm, nhang
VD: hương án (bàn thờ đốt hương); hương đèn (nhang và nến); hữu xạ tự nhiên (tiếng lành tự nó đến, ai cũng biết)
* Lưu ý : không phải “hương 鄉”: bản, làng quê…
- Nhũ hương: một thứ nhựa cây ở vùng ôn đới, dùng làm thuốc, có hương thơm

* Nghĩa dụng Công giáo
_ Một trong ba lễ vật kính tiến Chúa Hài Nhi (Xem sách kinh giáo phận Hà Nội, nxb Tôn giáo, tr.131)
_ Xuất phát từ tiếng Bồ “incenso” (Anh ngữ incense), nghĩa là “đốt cháy lên”. Danh từ này dùng để chỉ một thứ nhựa cây khi đốt lên thì tỏa hương thơm.Trong “Các Thánh truyện” thế kỉ 17 của Majoria còn ghi lại danh từ này bằng chữ Nôm (印 連 芻) để diễn đạt danh từ này.
- Trong các nghi lễ, việc đốt hương, tiến hương đều có dụng ý kính thờ Thiên Chúa . (xem Lc 1, 9-11).
- Là biểu tượng của sự hăng say sốt sắng, lo việc Chúa của giáo dân và đồng thời thực hành các các nhân đức như hương trầm tỏa lan (xem 2 Cr 2,14-16); Tv 140,2)…
VD: “…hai là nhũ hương, là lời cầu nguyện như hương xông mùi thơm tho trước tòa Đức Chúa Trời” (sách kinh Hà Nội, tr.132)

30. Mộc dược (một dược?)
- Mộc 木: cây, gỗ, chấc phác, một hành tinh (sao Mộc), một yếu tố cơ bản trong Ngũ Hành (kim, thủy, hỏa….)
VD: mộc nhân thạch tâm (người gỗ lòng đá, người vô tình); mộc bản thủy nguyên (cây có cội, nước có nguồn), mộc bản (tấm ván), mộc nhĩ (nấm)…
- Mộc 沐 : gội, rửa
VD: mộc dục (tắm gội); mộc ân (chịu ơn)…
- Dược 藥: thuốc chữa bệnh
VD: dược sĩ, dược sư (người bào chế thuốc); dược phẩm (sản phẩm thuốc)…
Vì vậy, mộc dược 沐藥: tắm bằng nước có pha thuốc (Bain médicamenteux).
Còn mộc dược 木藥: một loại thuốc từ cây giống “thảo dược”

Lưu ý:
- Gần đây, một số dược sĩ Việt Nam cho biết “một dược” là tên của một vị thuốc quý có trong danh sách các bài thuốc Nam. Họ khuyên nên sửa: “mộc dược” thành “một dược”.
- Theo Paulus Của, “một dược” (沒 藥): một loại mủ cây dùng để trị bệnh ung độc (Đại Nam quấc âm tự vị, Saigon, 1895, tr.52)

* Nghĩa dụng Công giáo
_ Là một trong những lễ vật kính tiến Chúa Hài Nhi (xem sách kinh Hà Nội, tr.131)
_ Xuất phát từ tiếng Bồ “mirra” (Anh ngữ myrrh) : thứ thuốc quý. Chữ Nôm ghi 眉囉 đọc là “mi ra” (xem Các Thánh truyện, tr.454)
- Sách kinh Quy Nhơn cho biết “mộc dược” là thuốc để ướp xác (xem sách kinh Quy Nhơn, nxb Thuận Hóa,1996, tr.206)
- Là biểu tượng cho sự hãm mình ăn chay, đền tội
“…ba là mộc dược, là sự hãm mình ăn chay đánh tội cùng mọi sự khó bằng lòng” (sách kinh Hà Nội, tr.132)

admin
17-01-2011, 03:10 PM
Biệt Ngữ Công giáo đối chiếu (tt)

31. Thiêng liêng
- Thiêng 聲 (chữ Nôm này mượn chữ Hán “thanh” để ghi âm “thiêng”)”: linh ứng, mầu nhiệm, có phép lạ
Vd: sống khôn chết thiêng; lời nói thiêng (linh ứng); chẳng thiêng ai gọi là thần (ca dao Việt Nam)…
- Liêng 灵 (chữ Nôm này mượn chữ Hán “linh” để ghi âm “liêng”). “Liêng” đồng nghĩa với “linh”. “Liêng” không dùng một mình.
“Thiêng liêng” tương ứng với “linh thiêng”.
Theo Từ điển tiếng Việt giải thích: “thiêng liêng” là:
+ Thiêng. Thần rất thiêng liêng.
+ Được coi là cao quý, đáng coi trọng hơn hết.
Vd: Nghĩa vụ thiêng liêng bảo vệ tổ quốc”. Lời thề thiêng liêng.

Nghĩa dụng Công giáo. - Thuộc về Thánh Thần, thuộc thần linh, thuộc về Chúa (spiritual)
Vd: “Chúng con lạy ơn Đức Chúa Thánh Thần thiêng liêng sáng láng vô cùng” (sách kinh Quy Nhơn, tr.7)
Vd: “Con thân Đức Thánh Thiên thần tính thiêng liêng sáng láng” (sách kinh Quy Nhơn, tr.14)
_ Diễn tả sự khác thường, cao quý, tuyệt vời không gì sánh được, vượt qua định luật thông thường và lí trí suy xét của con người.
Vd: “Giêsu Thiên Chúa là Cha nhân hiền, để cho, để cho con hèn. Một tiệc linh thiêng” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 317)
Vd: “Bánh này có mọi vẻ lạ, cùng tính thiêng liêng và ngon ngọt lạ lùng,…”(tr.323)
- Thuộc về tinh thần “ rước lễ thiêng liêng”, Cha thiêng liêng (người đỡ đầu)
Vd: “…thì ít nữa là xin Chúa ngự vào lòng con cách thiêng liêng”

32. Nhân đức 仁 德
- Nhân 仁 : cái đạo lí làm người, lòng thương người
Vd: nhân ái (lòng yêu thương, humane); nhân hậu (lòng nhân hậu)…không phải “ nhân” trong (nguyên nhân, nhân loại, nhân khẩu…)
- Đức 德 : đạo lí làm người, điều thiện, ơn huệ,
Vd: đức hạnh (đạo đức và phẩm hạnh); đức cao vọng trọng (đức cao và danh vọng lớn); đức hóa (lấy đạo đức cảm hóa con người); đức dục (việc giáo dục với mục đích bồi dưỡng đức tính cho con người, moral education)
- Nhân đức: lòng thương yêu người (humane)
Vd: Bà ấy rất nhân đức.

Nghĩa dụng Công giáo Theo Linh mục Hồng Phúc, Điển ngữ đức tin Công giáo cho biết :
- “Nhân đức” được hiểu là đặc tính làm cho con người trở nên người nhất, gốc La ngữ “Virtus”. Đó là đức tính vững bền giúp người ta làm điều tốt và trở nên một tập quán.
Vd: “Ai khao khát nhân đức trọn lành, ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được no đủ vậy” (sách kinh Hà Nội, tr.41)
Có thể phân biệt các nhân đức sau:
+ Nhân đức đối thần (theological virtue, 仁 德 對 神): là nhân đức có đối tượng là Thiên Chúa, do Thiên Chúa phú cho. “Tin”, “Cậy”, “Mến” thuộc nhân đức đối thần.
Vd: “…cho chúng con được lòng tin cho mạnh, lòng cậy cho bền, lòng kính mến cho sốt sắng, mà cho được giữ ba nhân đức ấy, thì chúng con hứa sẽ năng rước Mình Thánh Chúa vào lòng” (sách kinh Quy Nhơn, tr.370)
+ Nhân đức siêu nhiên (仁 德 超 然): là nhân đức Chúa ban cho tâm hồn nhờ ơn Thánh sủng, giúp ta dùng các phương thế để đạt đến cứu cánh thiêng liêng.
+ Nhân đức tự nhiên (仁 德 自 然) là nhân đức do sự cố gắng tập được.
Vd: “Thánh Giu se làm gương nhân đức nhịn nhục” (sách kinh Quy Nhơn, tr.46)
+ Nhân đức chủ yếu (Cardinales, 仁 德 主 要] ): là các nhân đức luân lí chính yếu như: khôn ngoan, công bình, sức mạnh và tiết độ.
- “Nhân đức” cũng được hiểu như là một đức hạnh,một phẩm chất, một đức tính tốt.
Vd: “Đức Bà là gương nhân đức” (sách kinh Quy nhơn, tr.42)
Vd: “Chúng con lạy ơn Đức Chúa Giê su làm gương nhân đức chịu lụy” (sách kinh Quy Nhơn, tr.69)
Vd: “Thánh Giuse làm gương nhân đức nhịn nhục” (sách kinh Quy Nhơn, tr.46)

33. Đức tin
- Đức 德 :
+ Thường dùng như một danh từ đứng trước một danh từ chỉ thần linh, chỉ người có địa vị cao quý để chỉ sự tôn kính.
Vd: Đức Chúa (Thiên Chúa) Đức Bà (Mẹ Maria), Đức Cha (Giám mục), Đức Ông (một tước hiệu cao quý dành cho một số Linh mục), Đức Thánh Trần (Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn), Đức Phật (Thích Ca Mâu Ni)…
+ Kết hợp với một từ khác mang ý nghĩa tính chất bên trong để chỉ khái niệm về những đức tính tốt của con người…(kindness)
Vd: đức tính khiêm tốn, đức khiêm nhượng, đức trong sạch, đức từ bi…
+ Chỉ điều tốt lành do ông bà, cha mẹ để lại cho con cái…
Vd: “ăn ở có đức, không sức mà ăn” (Tục ngữ Việt Nam)
Vd: “Cây xanh thì là cũng xanh, Cha mẹ hiền lành để đức cho con” (Ca dao)
- Tin 信 (Tín)
+ Điều truyền đi báo cho người khác biết được sự việc, tình hình xảy ra.
Vd: tin vui, báo tin, tin đồn…(news)
+ Cho là đúng, là có thật, nghe theo (to trust)
Vd: tôi tin vào lời hứa của anh

Nghĩa dụng Công giáo - “Đức tin” (Fides) là một trong nhân đức đối thần, giúp ta chấp nhận mạnh mẽ các chân lí mà Chúa mặc khải cho chúng ta và dạy cho chúng ta qua Giáo Hội. Đức tin là một ơn Thiên Chúa ban. Đức tin được diễn tả:
“Lạy Chúa, con tin thật có một Đức Chúa Trời là Đấng thưởng phạt vô cùng……” (Kinh Tin - sách kinh Quy Nhơn, tr.10)
- Các công thức Đức Tin được tóm gọn trong Bản Kinh Tin Kính
“Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất…”(xem sách kinh Quy Nhơn, tr.12)
- Một danh ngữ xác quyết niềm tin, lòng tin của mình (faith)
Vd: “Nên chúng con cả lòng tin vững vàng mọi điều Hội Thánh dạy” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 57)
Vd: “Chúng con tin Ngôi Thứ Hai ra đời làm người” (tr.57)
Vd: “Nhờ ơn Chúa giúp, thì chúng con sẽ giữ đức tin vững vàng” (sách kinh Quy Nhơn, tr.357)

34. Đức Cậy
- Cậy 梞
+ Nhờ ai giúp làm việc việc gì
Vd: trẻ cậy cha, già cậy con
Vd: “Cậy em, em có chịu lời. Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa” (Nguyễn Du, Truyện Kiều, Trích bản của Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim, Nxb Đồng Nai, tr.74)
+ Ỷ vào ưu thế nào đó của mình
Vd: Chó cậy gần nhà, gà cậy gần chuồng (thành ngữ Việt Nam)
Vd: Cậy thế cha làm lớn nên nó hách dịch.
+ Trông cậy: hi vọng dựa được vào, hi vọng được giúp đỡ.
Vd: trông cậy vào bạn

Nghĩa dụng Công giáo - “Đức cậy” (spes) được dùng như một danh ngữ để diễn tả một trong nhân đức đối thần, giúp ta phó thác và tin tưởng vào Chúa. Vì Chúa tốt lành, là cứu cánh, là hạnh phúc tận cùng của con người. Đây là nhân đức thiên phú. Căn bản của của Đức Cậy chính là Chúa Kitô (1,Tm1,1). Nhân đức trông cậy được tóm tắt qua kinh “Lạy Chúa, con trông cậy vững vàng, vì công nghiệp Đức Giêsu …” (sách kinh Quy Nhơn, tr.10)
- Được hiểu như là sự trông chờ hi vọng được giúp đỡ (hope)
Vd: “Chúng con trông cậy Rất Thánh Đức Mẹ Chúa Trời, xin chớ chê chớ bỏ lời chúng con nguyện….”(sách kinh Quy Nhơn, tr.19)
Vd: “Chúng con trông cậy Đức Bà là Chúa bàu con” (sách kinh Quy Nhơn,tr.43)
- Cũng là sự ước muốn và tin tưởng sẽ đạt được một điều thiện trong tương lai dù là điều khó đạt.
Vd: “Lòng chúng con ao ước cậy trông, Chớ chi lửa yêu mến Người, Phừng lên trong hết mọi nơi, Đốt tiêu hủy tan thói phàm.” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 379)

35. Đức mến
- Mến 悗 : có cảm tình, thích gần gũi vì thấy hợp ý mình.
Vd: mến yêu (yêu mến); mến phục (có cảm tình và kính phục); mến thương (có tình cảm yêu thương và gắn bó)

Nghĩa dụng Công giáo - “Đức mến” (Charity) là một danh ngữ được hiểu như là một nhân đức đối thần giúp ta yêu mến Chúa trên hết mọi sự vì chính Ngài và yêu thương người khác vì Thiên Chúa.
“Lạy Chúa, con kính mến Chúa hết lòng hết sức trên hết mọi sự…” (Kinh Kính mến, tr.11)

Lưu ý: “Đức mến” cũng còn gọi là “Đức ái” (charity) - Thuộc giới răn, giới luật quan trọng của đạo Công giáo
Vd: “Thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự…
Mười điều răn ấy tóm về hai này mà chớ: Trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy.” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 60).

admin
16-02-2011, 09:53 AM
36. Tông Đồ

- Tông 宗: (do kị húy vua Minh Mạng, chữ này sau đọc là “tôn “trong chữ “tôn giáo”, tông chỉ hay cũng gọi là tôn chỉ)
+ Dòng dõi, tổ tiên, dòng họ, một học thuyết, gốc, một tôn giáo…
VD: “Con nhà tông chẳng giống lông cũng giống cánh” (Thành ngữ Việt Nam”; tông đường (nhà thờ họ, nối dõi tông đường); tông tích (nguồn gốc, lai lịch một người); tông chi (các chi trong một họ)…
+ Chính, chủ yếu
VD: tông chỉ (ý chính); tông tử (con trưởng dòng họ chính)…
* Lưu ý : không phải “tông” với nghĩa “hai vật gì đâm mạnh vào nhau”
- Đồ 徒: người đi bộ, học trò…
VD: khách bộ hành (người đi đường); đồ đệ, môn đồ (học trò); tội đồ (kẻ có tội)
• Nghĩa dụng Công giáo.
- Tông đồ được hiểu là các môn đệ theo Chúa Giê su, được Ngài tuyển chọn ngay từ đầu, gồm nhóm 12 người.(Sau khi Giuda phản bội thì Mathias được chọn thế chỗ và Thánh Phao Lô cũng được gọi là Tông Đồ). Danh xưng này có nguồn gốc Hy ngữ apostolos (người được sai đi). Danh ngữ này có trong kinh đọc:
VD: “…xưa đã cho Đức Chúa Thánh Thần xuống soi lòng dạy dỗ các Thánh Tông đồ,” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 7)
VD: “Khi Đức Chúa Giêsu cầu nguyện đoạn, thì Người phán cùng ba Thánh Tông đồ..” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 239)

* Lưu ý: trong kinh đọc, danh xưng này đôi khi được sử dụng bằng các danh xưng tương ứng như: “môn đệ”, “môn đồ”, “đầy tớ”…
VD: “Chúa Giêsu rửa chân cho các đầy tớ” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 35)
VD: “… thì đêm ấy Đức Chúa Giê su lấy chậu nước quỳ xuống rửa chân cho các Tông đồ…” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 237)
VD: “Lại các môn đồ bỏ Thầy mà trốn hết” (sách kinh Quy Nhơn, tr.240)
- Ngày nay, được hiểu nghĩa rộng hơn, “tông đồ” là mọi Ki tô hữu sốt sắng truyền bá đức tin để cứu rỗi các linh hồn. Tỉ dụ, khi nói “công việc Tông đồ”: được hiểu công việc thiêng liêng, lãnh vực ân sủng không có ý nhắm đến hạnh phúc trần thế.

37. Thế gian

- Thế 世: đời, trần gian, thế giới…
VD: Thế giới (vũ trụ, hoàn cầu), thế hệ (dòng họ, dòng dõi, genealogy); thế kỉ (100 năm); thế sự (việc đời)

* Lưu ý: không phải “thế”勢 trong (thế lực, quyền thế); “thế” 僣 trong (thay thế)…
- Gian 間:khoảng giữa, ở giữa, căn nhà
VD: không gian (khoảng không); gian nhà
(không phải “gian”奸 trong (gian dối, gian lận…)
- Thế gian : cõi đời, nơi người ở, con người sống trên đời nói chung…(le monde)
• Nghĩa dụng Công giáo
- là vũ trụ, là trái đất, là toàn thể con người đang sống trên trái đất…
VD: “…ở thế gian, ba mươi mươi năm, đoạn chịu chết trên cây Thánh giá mà chuộc tội cho thiên hạ…” (sách kinh Quy Nhơn, tr.57)
VD:”Đức Chúa Giêsu xưa xuống thế gian chẳng bỏ loài kẻ có tội; lại liều mình chịu nạn chịu chết vì hết cả và loài người ta”(sách kinh Quy Nhơn, tr. 44)
- Theo Thánh Kinh, “thế gian” còn được hiểu là những gì ngược lại với thánh thiêng, Thiên Chúa, những gì thuộc đời sau, là của con người, là cái được tạo dựng tồn tại trong thời gian, không phải là cái vĩnh cữu (saeculum)
VD: “Ta không thuộc về thế gian này” (Ga 8,23)
VD: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi ban Con Một Người”(Ga,16)
VD: “Xin Đức Mẹ cầu nguyện cho chúng con, được lòng chê bỏ mọi sự thế gian, mà ước ao về cùng Chúa và Đức Mẹ trên nước Thiên Đàng” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 140)

38. Rước lễ (chịu lễ)

- Rước 逴 (chữ Nôm): đón, mời một cách trân trọng
VD: rước dâu (đón cô dâu về nhà chồng); rước xách (đón rước với nhiều nghi thức); rước thầy về chữa bệnh, đưa rước công nhân đi làm…
- Lễ 禮
+ Những nghi thức để bày tỏ sự tôn kính
VD: lễ tang, lễ thành hôn, lễ quốc khánh…
+ Những gì đem biếu tặng, cúng kiếng…
VD: mâm lễ, lễ vật…
+ Những phép tắc trong cách đối xử…
VD: lễ phép, lễ độ…
+ tham dự nghi thức trong các tôn giáo…
VD: đi lễ (đến nhà thờ tham dự thánh lễ Misa); lễ chùa (đến chùa)

Nghĩa dụng Công giáo - “Rước lễ” hay “chịu lễ”, “rước Mình Thánh Chúa” là chịu Mình Thánh Chúa, là đón nhận Bí tích Thánh Thể, là nhận lấy thật sự Thịt và Máu của Chúa Giêsu Kitô dưới hình thức hình bánh hình rượu và để mọi người nhận lấy như lương thực thiêng liêng... (xem sách kinh Quy Nhơn, Kinh dọn mình rước lễ, tr. 162)
VD: “…con tin thật chịu lễ là chịu Xác cùng Máu Thánh và linh hồn Đức Chúa Giêsu cùng tính Đức Chúa Trời ở trong hình bánh”
VD; “Khi đã rước Mình Thánh Chúa, Người cầu thay cho được thêm ơn” (Kinh Lễ Thiên Thần Hộ Thủ, tr.444)
- Danh ngữ “hiệp lễ” hay “hiệp thông” (communion) cũng dùng để diễn tả danh ngữ “rước lễ” hay “chịu lễ” (xem Lm Hồng Phúc, Điển ngữ Công giáo Đức tin, tr.211). Bản văn Nôm Công giáo “Các Thánh truyện” ghi lại bằng 3 chữ Nôm (姑 模 銊 cô mô nhong do phiên âm na ná tiếng Bồ là comunhão)
* Lưu ý: “rước lễ thiêng liêng” là danh ngữ dùng diễn tả sự khao khát với tất cả ý thức mong cho mình được rước lễ (chịu Mình Thánh)
VD: “…bởi Chúa hằng muốn kết hiệp cùng con trong phép Thánh Thể nên lòng con khao khát ước ao rước Chúa ngự vào lòng con lắm song bay giờ con chẳng được rước thật Mình Máu Thánh Chúa thì ít nữa là xin Chúa ngự vào lòng con cách thiêng liêng.” (sách kinh Quy Nhơn, tr.186)
39. Hội Thánh
- Hội 會: họp nhau, gặp nhau, ý tưởng hợp nhau
VD: hội đồng (tập thể người được chỉ định hay được bầu ra để họp bàn và quyết định những công việc nào đó); hội nghị (họp bàn)…
- Thánh 聖:
+ Danh hiệu mà người đời tặng cho đấng bậc có vốn hiểu biết rộng, có phẩm chất đạo đức cao…
VD: Thánh hiền (người có đạo đức rất cao); Thánh đản (sinh nhật của một thánh nhân hay một người lập ra tôn giáo nào đó); Thánh sư (người lập ra một học thuyết hay một nghề như : Khổng tử)…
+ Dùng để tôn xưng một ông vua
VD: Thánh chỉ (mệnh lệnh của vua, edit royal); Thánh giá 聖駕 (xe của vua đi, carosse royal)
• lưu ý : không phải “Thánh giá” 聖 架 (Cross) là hình chữ thập hay thập giá khổ nạn của Chúa Giêsu .
+ Thần linh hay những nhân vật truyền thuyết, nhân vật lịch sử được tôn thờ ở đền thờ, chùa chiền…
VD: Thánh Gióng, Đức Thánh Trần (Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn)…
+ Người có tài có khả năng hơn người cùng thời
VD: thánh thơ, thánh chữ, thánh cờ…
+ Trong tôn giáo, dùng cho đấng chúa tể vũ trụ
VD: Thánh Alla, Đấng Thánh…
+ Những gì thuộc về Chúa
VD: thánh ca (những bài hát cầu nguyện); thánh địa (đất thánh); tượng thánh, thánh giá…
- Hội Thánh: Giáo hội của những người tin Chúa.
• Nghĩa dụng Công giáo
- Hội thánh hay Giáo hội (Ecclesia, Eglse) có nghĩa là toàn thể dân Chúa hội họp với nhau, có Chúa Kitô làm đầu. Gốc danh từ Hy ngữ “ekklesia” có nghĩa : tập hợp, hội họp. Danh từ “Hội Thánh” được dùng để chỉ Giáo hội Công giáo, dưới sự lãnh đạo của Đức Giáo Hoàng.
VD: “Tôi tin Hội thánh ở khắp thế này, các Thánh thông công” (sách kinh Quy Nhơn, tr.12)
VD: “Xin Chúa gìn giữ Đức Giáo Hoàng cùng các phẩm trật Hội thánh hằng ở cho xứng bậc mình” (tr.53)
- Cũng có thể hiểu là những đấng bậc lãnh đạo trong Giáo hội được ban huấn lệnh, huấn quyền…
VD: “Hội thánh có sáu điều răn…” (Kinh 6 điều răn, sách kinh Quy Nhơn, tr. 60”
VD: “…song phải giữ 10 điều răn Đức Chúa Trời cùng 6 luật điều Hội Thánh, và làm những việc lành phước đức”(tr.58)
• Lưu ý: Lúc đầu, danh ngữ “Giáo hội Công giáo” hay “Hội Thánh” chưa được sử dụng. Một số kinh đọc và bản văn Nôm thế kỉ 17 diễn đạt danh ngữ này bằng các chữ Nôm phiên âm sau: 衣 嵇 移 加 I ghê ri gia, do danh ngữ Igreja, tức là Giáo hội Công giáo.
40. Thông công
- Thông 通: xuyên suốt, không bị cản trở, ngăn cách
VD: thông lệ (những quy tắc chung); thông đồng (đồng ý với nhau)…
- Thông 聰 : sáng suốt, hiểu rõ, thành thạo
VD: Thông minh (trí tốt, hiểu nhanh); thông thạo (hiểu rõ tường tận và làm đươc); thông thái (có kiến thức uyên bác)…
- Công 功: việc làm, sự nghiệp, sự khó nhọc đáng được thưởng…
VD: công danh (công lao và danh dự,); công dụng (hiệu quả mang lại, fonction); công hiệu (kết quả của việc làm, effication); huân công (phần thưởng cho công lao to lớn); công lao (việc làm khó nhọc); công đức (sự làm ơn cứu giúp).
Lưu ý: một số chữ “công” với nghĩa khác
- công 公: chung
VD: công hữu (quyền sở hữu thuộc của chung); công dân (người dân có đủ quyền lợi và nghĩa vụ làm dân); công lập (do nhà nước lập, public); công bình (ngay thẳng không thiên lệch, juistice); công giáo (tôn giáo chung được quốc gia thừa nhận, religion official)
- Công 工: thợ, khéo léo
VD: Công nhân (thợ thuyền, người làm công ăn lương, worker); công đoàn (đoàn thể của công nhân); công trình (kì hạn và cách thức của việc làm); công trình sư (người chủ trì các công trình); công trường (chỗ công nhân và thợ thuyền làm việc), công tác…
- Công 攻 : đánh, sửa trị…
VD: công kích (phản đối, đánh,chỉ trích); công thủ (đánh và phòng ngự)
_ Thông công 通 功 : có công chung với nhau, thông suốt qua lại với nhau…
• Nghĩa dụng Công giáo
_ Sự hiệp nhất và hợp tác giữa các thành phần của Hội Thánh dưới đất (Giáo hội chiến đấu) với các thành phần của Hội Thánh trên trời (Giáo hội khải hoàn) và trong Luyện ngục (Giáo hội đau khổ). Đó là sự thông hiệp đức tin, ân sủng, lời cầu nguyện và công nghiệp (Communion des Saints)..
VD: “Tôi tin Hội thánh hằng có ở khắp thế này, các Thánh thông công” (sách kinh Quy Nhơn, tr.12)
- Dùng để diễn đạt một sự khẳng định,điều cần xác tín, một tín điều
VD: “…ai chẳng thông công cùng Hội Thánh ấy, thì chẳng được rỗi linh hồn,…” (sách kinh Quy Nhơn, tr.58)



Nguyễn Kim Binh

admin
26-02-2011, 05:11 AM
Biệt Ngữ Công giáo đối chiếu(tt)


41. Khiêm nhường
- Khiêm 謙 : kính, nhún nhường
VD: Khiêm cung (nhún mình xuống thấp mà kính cẩn); khiêm tốn (không cho mình hơn người, không tự mãn, tự kiêu)…
- Nhường (nhượng) 讓: nhường cho nhau, nhún nhường
VD: nhượng bộ (chịu lùi bước); nhường nhịn (chịu phần kém để người khác hưởng phần lợi)
- Khiêm nhường : Khiêm tốn trong quan hệ đối xử, không dành cái hay cho mình mà sẵn sàng nhường cho người khác (xem Từ điển tiếng Việt, nxb HN- ĐN, 1997, tr.482)

Nghĩa dụng Công giáoVD: “Thứ nhất thì gẫm : Thiên Thần truyền tin cho Đức Bà chịu thai- Ta hãy xin cho được ở khiêm nhượng” (sách kinh Quy Nhơn, tr.72)
_ Hummanitas (La ngữ) có nghĩa là sự khiêm nhường do nguyên gốc danh từ “humus” nghĩa là đất. “Khiêm nhường” là một trong những nhân đức luân lý cho một người không vượt qua chính mình, giúp kiềm chế những khát vọng muốn nổi bật thái quá. Nhân đức này giúp ta hạ mình trước mặt Chúa, nhận biết mình hoàn toàn thuộc về Chúa đồng thời cũng hạ mình xuống trước mặt anh em mình.
- Nhân đức “khiêm nhường” mang ý nghĩa là những gì ngược với “kiêu ngạo”
VD: “thứ nhất khiêm nhường chớ kiêu ngạo” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 62)
- Là một nhân đức căn bản mà Chúa Giêsu tự nhận mình “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, vì tôi hiền lành và khiêm nhường” (Mt 11,29)
VD: “Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhượng trong lòng” (sách kinh Quy Nhơn, tr.26)

42. Kiêu ngạo
- Kiêu 驕 (cao): tự cho mình hơn người, tự cao
VD: kiêu hãnh (tự hào về giá trị của mình); kiêu căng (tự cho mình hơn người khác một cách lộ liễu); kiêu kì (làm ra vẻ hơn người)…
- Ngạo 傲 : xem thường, bất chấp
VD: ngạo mạn (tỏ ra khinh lờn, hỗn xược); ngạo nghễ (tỏ ra không chút sợ sệt, coi th ường)…
- Kiêu ngạo (cao ngạo): tự cho mình hơn người, không coi ai ra gì
* Nghĩa dụng Công giáo
- Do gốc La ngữ “superbia” nghĩa là: sự mong muốn được ở trên người khác, nghênh ngang, tự phụ. Danh ngữ này được diễn tả trong kinh đọc như là một tội. Tội này là nguyên do gây nên tội khác (trong 7 mối tội đầu). Nó đi ngược lại với nhân đức “khiêm nhường”
VD: “Thứ nhất: khiêm nhường chớ kiêu ngạo” (sách kinh Quy Nhơn, tr.62)

43. Của lễ
- Của 古 : tiếng chung để chỉ đồ đạc, tiền bạc, gia tài. Hay là tiếng biểu thị quan hệ sở thuộc
VD: của cải (tiền bạc nói chung); của chìm (tiền bạc được giấu kín); của nổi (của cải tư hữu mà ai cũng trông thấy được); cái áo của tôi….
- Lễ 禮
+ Những nghi thức để bày tỏ sự tôn kính
VD: lễ tang, lễ thành hôn, lễ quốc khánh…
+ Những gì đem biếu tặng, cúng kiếng…
VD: mâm lễ, lễ vật…
+ Những phép tắc trong cách đối xử…
VD: lễ phép, lễ độ…
+ tham dự nghi thức trong các tôn giáo…
VD: đi lễ (đến nhà thờ tham dự thánh lễ Misa); lễ chùa (đến chùa)
- Của lễ: lễ vật, đồ để tế lễ…

Nghĩa dụng Công giáo- Xuất phát từ La ngữ “hostia” có nghĩa là vật được hiến tế. Từ ngữ này còn dùng để chỉ những bánh bánh tròn sẽ được được truyền phép trong Thánh lễ.
- Bánh đã được truyền phép trong Bí tích Thánh Thể được coi là Thân mình Đức Kitô được hiến tế, là “Của Lễ”
VD: “Lại ngự trên bàn thờ, mặc lấy hình bánh, dâng mình làm của lễ,…” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 324)
- Từ ngữ này được diễn tả trong kinh đọc như là “vật hiến tế”
VD: “…hầu lòng con như của lễ hằng cháy lên trước toà oai nghi Đức Chúa Trời đời này và đời sau chẳng cùng.” (sách kinh Quy Nhơn,tr. 422)

44. Của ăn đàng
- Của ăn 古 咹 : thức ăn, đồ ăn…
- Đàng 唐 : đường sá, đường lộ
- Của ăn đàng : thức ăn mang theo để ăn trên đường

Nghĩa dụng Công giáo- Danh ngữ xuất phát từ La ngữ “Viaticus” có nghĩa là: lộ phí, vật phẩm mang đi đường.
- Chính là Mình Thánh Chúa được trao cho người nguy tử. Rước lễ trong trường hợp khẩn cấp này không buộc phải giữ chay.
“ Rồi Linh mục ban phép Xức Dầu bệnh nhân. Sau hết cho rước Mình Thánh Chúa như của ăn đàng” (xem sách kinh Quy Nhơn, tr.486)

45. Hà tiện
- Hà 苛 : khắc nghiệt, khúc mắc
VD: hà hiếp (hiếp đáp); hà khắc (ăn ở không nhân đức)…
- Hà tiện苛便 : bủn xỉn

Nghĩa dụng Công giáo- Danh ngữ Avere có nghĩa là ao ước quá độ. Danh ngữ này dùng để chỉ sự quyến luyến của cải và sự giàu sang quá mức, coi tiền bạc là trên hết. “Hà tiện” là tội nghịch với đức rộng rãi cách sử dụng tiền bạc của cải . Nó nằm trong “bảy mối tội đầu”.
VD: “Thứ hai: rộng rãi, chớ hà tiện” (sách kinh Quy Nhơn, tr.62)

admin
06-03-2011, 07:45 AM
46. Thánh giá

- Thánh聖:
+ Danh hiệu mà người đời tặng cho đấng bậc có vốn hiểu biết rộng, có phẩm chất đạo đức cao…
VD: Thánh hiền (người có đạo đức rất cao); Thánh đản (sinh nhật của một thánh nhân hay một người lập ra tôn giáo nào đó); Thánh sư (người lập ra một học thuyết hay một nghề như : Khổng tử)…
+ Dùng để tôn xưng một ông vua
VD: Thánh chỉ (mệnh lệnh của vua, edit royal); Thánh giá 聖駕 (xe của vua đi, carosse royal); thánh dụ (chiếu dụ của vua, Ordonnance royal)…
+ Thần linh hay những nhân vật truyền thuyết, nhân vật lịch sử được tôn thờ ở đền thờ, chùa chiền…
VD: Thánh Gióng, Đức Thánh Trần (Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn)…
+ Người có tài có khả năng hơn người cùng thời
VD: thánh thơ, thánh chữ, thánh cờ
- Giá
+ giá 價: giá trị của vật
VD: giá trị, giá rẻ, giá cao, đáng giá, giá cả, trị giá…
+ giá 嫁: con gái lấy chồng, đổ tội cho ai
VD: 出 從夫嫁xuất giá tòng phu (lấy chồng theo nhà chồng); tái giá (lấy chồng khác); vu oan giá họa (gán tội lỗi, tai hại cho ai đó)…
+giá 駕: xe ngựa kéo, vua
VD: ngự giá (vua ngồi xe mà đi, xe vua đi); cứu giá (cứu vua)…
+ giá 這: nước đông lại, lạnh
VD: băng giá, lạnh giá, giá buốt…
+ giá 架: gác, giơ lên, đưa lên, cái kệ, cái để đỡ lên…
VD: giá sách, thập giá (cây hình chữ thập)
- Thánh giá 聖 架: giá hình chữ thập, tượng trưng cho cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu (Cross, Anh ngữ)

Nghĩa dụng Công giáo:- Danh từ Crux (ucis) trong La ngữ dùng để chỉ một dụng cụ,là hình ảnh của cây khổ hình có hình chữ thập, dùng để hành hình các tội nhân rất thông dụng dưới thời đế quốc Rôma. Đức Giêsu Kitô thực thi việc cứu chuộc nhân loại thông qua cái chết khổ nhục trên cây “thập giá” này. Ngài không phải là tội nhân.
- VD: “Chúng con ngợi khen và ngợi khen Đức Chúa Giêsu Kitô. Vì Chúa đã dùng Rất Thánh giá mà chuộc tội cho thiên hạ” (sách kinh Quy Nhơn, tr.117)
* Lưu ý : Từ năm 1924 trở về sau này, thuật ngữ “thánh giá” được dùng rộng rãi trong các các sách kinh Việt Nam. Trước đó, các vị thừa sai dùng 2 chữ Nôm 拘椊 (đọc là câu rút, hay cu rút) để phiên âm “Cruz” (Bồ ngữ).
VD: “Đức Chúa Giêsu là thầy trọng trên các thầy cả, làm lễ trọng hơn mọi lễ mà dâng cho Đức Chúa Cha khi chịu chết trên câu (cu) rút vì tội thiên hạ” (Các Thánh truyện, tháng Giêng, tr.485)
- Danh ngữ “thập giá”, “thập tự” trở nên “Thánh giá” là biểu tượng sự chấp nhận sự cứu rỗi nhờ đức tin, là biểu tượng cho việc lãnh nhận mọi nghịch cảnh, đau khổ vì Chúa Kitô để được cứu rỗi.
VD: “Vì cây Thánh giá là như chìa khóa mở cửa Thiên Đàng cho chúng tôi được vào đến nơi quê thật” (sách kinh Quy Nhơn, tr.108)
- “Thánh giá” là một mầu nhiệm, là một biểu tượng của mọi sự đau khổ là bổn phận, yêu cầu của một người Kitô hữu để cùng thông phần khổ nạn với Chúa Giêsu và là môn đệ của Ngài. “Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24); Rm 4,8).
VD: “Thứ 4 thì gẫm: Đức Chúa Giê su vác cây Thánh giá- Ta hãy xin cho được vác Thánh giá theo chân Chúa”(tr.90
VD: “Thứ 5 thì gẫm: Đức Chúa Giê su chịu chết trên cây Thánh giá- Ta hãy xin cho được đóng đinh tính xác thịt vào Thánh giá Chúa” (sách kinh Quy Nhơn, tr.90)
_ Lễ suy tôn Thánh giá được Giáo Hội cử hành vào 14.9 hàng năm.

47. Dấu Thánh giá

- Dấu (足斗): vết tích, di tích, dấu tích…
VD: dấu hiệu (cái dấu để làm hiệu,signal); dấu vết (cái gì còn lại để có thể dựa vào đó để có thể nhận biết được hiện tượng nào đó); dấu ấn (dấu vết để lại về tư tưởng và tinh thần)
- Dấu 酉: yêu mến
VD: yêu dấu (rất đáng mến yêu)
_ Dấu Thánh giá : Dấu tích ghi lại hình thánh giá (sign of the Cross)
* Nghĩa dụng Công giáo
- Dấu ấn làm bằng tay phải, vẽ hình Thánh giá trên thân thể mình. Nghi thức này, giáo dân Công giáo dùng các ngón tay đặt trên trán, lên ngực, rồi đến vai trái và qua bên vai trái, vừa như vẽ hình Thánh giá, vừa đọc: “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen” (xem sách kinh Quy Nhơn, tr.3).
- Người Công giáo quen gọi tắt “nghi thức” này là “làm dấu”. Nghi thức “làm dấu” này còn có một hình thức dài hơn. Còn gọi là “làm dấu kép”.Người ta vẽ hình thánh nhỏ trên trán, trên môi miệng, trên ngực, vừa vẽ vừa đọc: “Lạy Chúa chúng con, vì dấu Thánh giá, xin chữa chúng con, cho khỏi kẻ thù.”
Sau đó lại tiếp tục dấu đơn và đọc:”Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 8)
- Dấu Thánh giá là dấu chỉ Thánh được dùng nhiều nhất để biểu tượng các điều căn bản của đức tin và ám chỉ ơn cứu chuộc. Chính vì thế, Dấu Thánh giá thường khởi đầu các nghi thức phụng vụ, giờ lễ, giờ kinh…hay bất kì thời gian nào thích hợp để tuyên xưng niềm tin của mình.
- Dấu Thánh giá là Á Bí tích đầu tiên của Giáo Hội có từ thời các Tông đồ. (xem J.A. Hardon, Từ điển Công giáo phổ thông,tr.182)

48. Đàng Thánh giá

_ Đàng (đường)堂: nhà
VD: Thiên đàng, địa đàng, tứ đại đồng đường 四代同堂 (4 đời sống trong một nhà)
_ Đàng (đường)唐: lối đi, đường đi
VD: đàng cái (đường lớn); đàng trái (đường sai lệch)…
- Đàng Thánh giá 唐 聖 架:
* Nghĩa dụng Công giáo
- Các đoạn đường khổ nạn mà Chúa Giêsu đã đi qua để chịu chết mà chuộc tội cho nhân loại. Bắt đầu từ dinh Philatô cho đến núi Sọ. Nghi thức đạo đức này nhằm tưởng niệm cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu, việc này có từ thế kỉ 14- 15. Có 14 chặng , ở mỗi chặng đều có hình tượng để nhắc nhở và suy ngắm. (xem sách kinh Quy Nhơn từ trang 118 đến 131)
VD: “Chặng thứ 3: Đức Chúa Giêsu ngã xuống đất lần thứ nhất” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 120)
_ Việc đạo đức này có từ những cuộc hành hương kính viếng Đất Thánh được Giáo Hội ban nhiều ân xá. Ngày nay, các nhà thờ xứ đều có các hình ảnh để giáo dân suy ngắm “Đàng Thánh giá” thường vào thứ sáu hàng tuần và nhất là Thứ 6 Tuần Thánh. Có thề gọi là “Gẫm Đàng Thánh giá” hay “Ngắm Đàng Thánh giá”

49. Dấu Thánh (足斗) 聖: những vết tích thánh.

* Nghĩa dụng Công giáo
- Là danh ngữ dùng để chỉ năm vết thương nơi thân xác của Chúa Giêsu trong cuộc khổ nạn. Đó là: dấu đinh tay trái, tay phải, chân trái, chân phải và vết giáo cạnh sườn.
VD: “Chúng con lạy ơn Dấu Thánh chân tả Đức Chúa Giêsu. Vì tội chúng con” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 107)

Lưu ý: “Dấu Thánh” không phải là “Thánh tích”. Danh từ “Thánh tích” thường dùng để chỉ những vật dụng, xương cốt…của một vị Thánh nào đó.- “Dấu Thánh” chính là biểu tượng để nhắc nhở về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu và thông phần khổ nạn cùng Người.
VD: “Lạy Rất Thánh Đức Mẹ, xin giúp con cho được in Dấu Thánh Chúa con ghi tạc vào lòng con khắn khắn” (tr.119)
VD: “Chúng con hằng kính mến Đức Chúa Giêsu, hằng theo chân Chúa Giêsu và tích năm Dấu Thánh mình Đức Chúa Giêsu vào ở trong lòng chúng con” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 107)

50. Thánh Mẫu
- Mẫu 母: mẹ, người mẹ
VD: Thân mẫu (người mẹ); mẫu hậu (mẹ vua); mẫu nghi (đức hạnh của người mẹ); mẫu đệ (em cùng một mẹ)…
- Thánh mẫu:
+ Người mẹ Thánh
+là tên gọi được tôn sùng của một số nữ thần trong một số tôn giáo.
* Nghĩa dụng Công giáo.
- Là tên gọi dành cho Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa. (Theotokos). Đây là tước hiệu của Đức Maria trong tư thế là người sinh ra Đức Giêsu là Thiên Chúa.
VD: “Xin vì Đức Nữ đồng trinh Maria là Thánh Mẫu Người, nguyện cầu cho chúng con được hưởng phước vui vẻ đời đời.” (sách kinh Quy Nhơn, tr.5)

admin
21-03-2011, 10:34 AM
51. Mùa Chay
- Mùa 務: thời tiết trong năm, một khoảng thời gian nào đó trong năm.
VD: Mùa xuân, mùa hạ, mùa thu, mùa đông (các khoảng thời gian được phân chia theo thời tiết trong một năm); mùa gặt (mùa thu hoạch); mùa thi (temps); trái mùa (nghịch thời tiết)…
- Lưu ý: chữ 務 , âm Hán Việt đọc “vụ”, âm Cổ Hán Việt và âm Nôm đọc “mùa”.
_ Chay 齋
+ âm Hán Việt đọc “trai” với nghĩa : ăn chay (to fast, fade)
VD: trai chủ 齋 主 : chủ nhà làm lễ chay (Phật giáo); trai đàn 齋壇 (đàn tế trời, chỗ làm cỗ chay)…
+ âm Nôm đọc “chay” với nghĩa: trong sạch, không dùng đồ tạp uế, kiêng cữ, không dùng đồ có thịt (vegetarian)…
VD: ăn chay (giảm bớt bữa ăn thường ngày); vào chay (vào tuần kiêng cữ); đám chay (làm sám hối, bố thí, ăn đồ nhạt…theo lệ kiêng cũ của Phật giáo); ra chay (mãn thời kì chay tịnh); ma chay (lễ tiễn đưa người chết, funeral); cơm chay (cơm không có thịt…theo Phật giáo)…
- Mùa chay là khoảng thời gian giữ lòng trong sạch, kiêng cữ.

* Nghĩa dụng Công giáo
- Danh ngữ “Mùa chay” (lent, Anh ngữ) là để chỉ mùa cầu nguyện và sám hối trước lễ Phục Sinh. Mùa Chay trong nghi lễ Công giáo được bắt đầu từ thứ tư Lễ Tro và kéo dài 40 ngày. Trong Mùa Chay, Giáo hội Công giáo đề cao tinh thần chay tịnh, đặt biệt là ngày thứ tư Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh phải kiêng thịt và giữ chay. Việc giữ chay trong hai ngày kể trên trở luật buộc.
VD: “Thứ 5, giữ chay những ngày Hội Thánh buộc” (sách kinh Quy Nhơn, tr. ) (xem thêm Giáo luật điều 1249 và 1253).
- La ngữ “Quadragesim” dùng để chỉ con số “40”. Đây chính là khoảng thời gian nhắc nhở việc Chúa Giêsu đã ăn chay 40 ngày trong sa mạc (Mt 4,2). Mùa Chay kết thúc ngay trước Thánh Lễ Tiệc Ly.
* Lưu ý:
- Danh từ “ieium” (tiếng Bồ đào nha) dùng để chỉ việc “ăn chay” của người Công giáo. Các văn bản Nôm Công giáo ở thế kỉ 17 gọi là ăn “giê giung” (支容).
- “Qua da giê si ma 戈 加支搓麻” trong các văn bản Nôm Công giáo chính là “Mùa Chay Cả” (xem Maioria,1646,tr.114); là Mùa Chay 40 đêm ngày.

52. Tuần Thánh
_ Tuần 旬
+ thời gian mười ngày hay mười năm
VD: thượng tuần 上旬 (10 ngày đầu tháng); bát tuần 八旬 (80 tuổi)…
+ thời gian bảy ngày theo dương lịch.(semaine,week)
VD: phải 3 tuần mới xong việc (phải 21 ngày mới xong việc)
+ Làm tuần : làm chay trong ngày giỗ ,kỵ
* Lưu ý : không phải “tuần” (巡) trong “đi tuần”, hay “tuần” (徇) trong “tuần tự”, tuần hoàn”, “tuần tiễu”, “tuần hành”…
- Thánh 聖
- Tuần Thánh: khoảng thời gian Thánh thiêng (Holy Week)

* Nghĩa dụng Công giáo
_ “Holy Week” trong Anh ngữ dùng để chỉ tuần lễ trước lễ Phục Sinh, từ Chúa Nhật Lễ Lá (Thương Khó) cho đến hết Thứ Bảy Tuần Thánh. Trong tuần lễ này, Ngày Thứ Năm, Ngày Thứ Sáu và Thứ Bảy gọi là Tam Nhật Vượt Qua. Trong Tuần Thánh, Giáo hội tưởng nhớ cuộc khổ nạn của Đức Ki tô, mọi cử hành đều nói lên thái độ đau buồn, nhưng với tâm tình biết ơn về mầu nhiệm cứu độ mà Chúa Ki tô đã hoàn tất vào những ngày cuối cùng Người ở trần gian. Tính từ lúc, Người vào thành Giêrusalem dến cuộc Thương Khó và Phục Sinh. Còn Tam Nhật Vượt Qua được tính từ lúc bắt đầu thành lễ ban chiều tưởng niệm bữa Tiệc Ly, tiếp diễn trong ngày Thứ Sáu và ngày Thứ Bảy và kết thúc bằng giờ Kinh Chiều Chúa Nhật Phục Sinh; trung tâm của Tam Nhật là Đêm Canh Thức Vượt Qua.
_ Đây là tuần lễ sau hết trong Mùa Chay Cả nên các tín hữu phải làm việc lành đức như: ăn chay, hãm mình… (xem sách kinh Quy Nhơn, tr.231)

53. Giờ Thánh
- Giờ (日余)
+ khoảng thời gian trong một ngày. Theo âm lịch, có 12 giờ (Tí, sửu,dần, mẹo, thìn, tị, ngọ, mùi, thân, dậu, tuất, hợi)
+ lúc, thời (temps)
VD: bây giờ, tới giờ…
- Thánh 聖

* Nghĩa dụng Công giáo
- “Giờ Thánh” (Holy hour) là giờ Chầu Mình Thánh Chúa, dùng để chỉ việc tôn sùng đạo đức chủ yếu là cầu nguyện trong tâm trí hay thành lời trong khi chầu.
VD: “…lại trong Giờ Thánh này cũng lo ra man mác chia trí chia lòng” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 364); xem thêm “Về Giờ Thánh” (sách kinh Quy Nhơn, tr.360)

54. Tiệc Ly (last supper)
- Tiệc 席 (Nôm): bữa ăn uống, bữa chiêu đãi khách…
VD: ăn tiệc (ăn uống, dọn đãi); tiệc mặn (tiệc có cơm và các món ăn mặn); tiệc tùng (ăn uống linh đình)….
- Ly 籬 : chia tay, lìa ra
VD: ly hôn (vợ chồng bỏ nhau); ly hương (rời bỏ xóm làng đi nơi khác); ly trần (lìa xa trần thế)…
- Các nghĩa khác của “ly”
+ Ly 璃: các loại đá trong suốt
VD: lưu li, cái ly…
+ Ly 犛 : một phần trong một phân, phần nhỏ nhất trpng việc đo đạc…
VD: cân tiểu li, chi ly…
- Tiệc Ly: bữa tiệc chia tay
* Nghĩa dụng Công giáo
- Danh ngữ “last supper, Anh ngữ” chính là bữa ăn cuối cùng của Chúa Giêsu với các Tông đồ trước khi chịu nạn. Trong ngày ấy, Chúa Giêsu lập Bí tích Thánh Thể. Vì nhằm ngày lễ Vượt Qua, nên bữa tiệc ly cũng gọi là lễ Vượt Qua - Pasch/Passover. (Mt 26, 17- 19)
VD: “Ban tối tiệc ly cùng đệ tử, đồng ngồi ăn bữa. Đôi tay Chúa phú giao Mình Chúa, mười hai ông đều lãnh từ ông” (sách kinh Quy Nhơn, tr.310)
VD: “Nhớ bữa tối Tiệc Ly sau hết, Chúa ngồi ban giữ phép lễ chiên” (tr.318)
- Thánh lễ kỷ niệm bữa tiệc ly của Chúa được cử hành vào chiều Thứ Năm Tuần Thánh.

55. Năm Thánh
- Năm 南五 (Nôm): gồm 12 tháng, tính khoảng thời gian trái đất chạy giáp quanh mặt trời.
VD: năm cũ (năm đã qua rồi); năm sau (năm tới); hằng năm (mỗi năm)…
- Năm 五南 (Nôm): số 5.
VD: năm mươi (50); năm trăm (500); mồng năm (ngày 5 trong tháng)…
- Thánh 聖
- Năm Thánh : năm Thánh thiêng

* Nghĩa dụng Công giáo
- Là năm kỷ niệm được Đức Thánh Cha ban ơn toàn xá cho các tín hữu thực hành những điều kiện qui định là xưng tội, rước lễ, viếng các vương cung Thánh đường như: Thánh đường Phêrô, Thánh đường Thánh Gioan Latêranô... hoặc những nhà thờ khác được qui định và cầu nguyện theo ý Đức Thánh Cha.
_ Tục lệ cử hành Năm Thánh được bắt nguồn và tiếp nối những “Năm Toàn Xá, Jubilaeus (annus)”, cứ 50 năm một lần, trong Cựu ước (Lv 25, 8-17). Từ năm 1450, Năm Thánh được công bố 25 năm một lần, khởi đầu vào ngày lễ Giáng Sinh và kết thúc vào áp lễ Giáng Sinh năm sau.
- Giáo phận Nha Trang mừng Kim Khánh thành lập giáo phận (1957-2007). Đây cũng là “Năm Thánh- holy year/ jubilee” của giáo phận.
“Và trong Năm Thánh này, xin Cha tiếp tục tuôn đổ ơn lành ban ơn hối cải cho kẻ tội lỗi,…” (xem Kinh Năm Thánh, Kỷ yếu giáo phận Nha Trang, tr.35)

Nguyễn Kim Binh

admin
16-04-2011, 04:47 PM
Biệt Ngữ Công giáo đối chiếu (tt)


56. Thương khó
- Thương 傷
+ mến yêu, động lòng…
VD: thương yêu, thương mến, tình thương…
+ vết tích
VD: thương tích, tổn thương, bị thương…
+ bệnh
VD: nhà thương (bệnh viện); thương binh (binh lính bị thương); thương hàn (căn bệnh nóng sốt do vi trùng)…
- Thương 商 :
+ buôn bán
VD: thương nhân, thương gia (nhà buôn, người buôn); thông thương (mở thông việc buôn bán)…
+ cân nhắc, đắn đo
VD: Thương lượng (thảo luận, tính toán); thương nghị (họp, bàn bạc); hiệp thương (bàn bạc, họp nhau trước để có sự ổn thoả)
- Thương 倉: kho lẫm
VD: thương lẫm (kho chứa lúa gạo)
- Thương滄: nước mênh mông
VD: thương hải (biển sâu rộng, bể cả, ocean) trong thành ngữ “thương hải tang điền” ; thương lang (dòng nước)
- Thương 蒼: xanh
VD: thương sinh (dân đầu xanh, dân đen, đại đa số dân chúng); thương thiên (trời xanh);
- Thương槍: binh khí
VD: cung, thương, kiếm (cây cung, cái giáo, thanh gươm)

- Khó 苦 (chữ Nôm mượn Hán tự 苦 “khổ” đọc âm “ khó”)
+ nghèo nàn, cơ cực
VD: khó khăn (nghèo nàn) (xem thêm phần từ cổ); tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống (thành ngữ tiếng Việt); kẻ khó (người nghèo)…
+ khó : khó khăn, không dễ
VD: khó nói (ngại nói ra); làm khó (ngăn trở điều gì đó); khó dạy, khó bảo (không dạy được, nói ai điều gì đó nhưng họ không nghe); khó tính, khó chịu (tính tình khó chịu)
+ mệt nhọc, khốn đốn, rối rắm
VD: khốn khó (khốn khổ, không phương kế); khó nhọc (chấp nhận gian khổ, mất nhiều sức lực); khó ở (không khoẻ mạnh)…
_ Thương khó 傷 苦: sự đau đớn, sự khốn khổ
Nghĩa dụng Công giáo.- Danh từ “passio” có nghĩa là chịu đựng, chấp nhận…dùng để chỉ cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu (Passion of Christ). Sự đau đau khổ của Người được kể từ lúc ở trong vườn Giêtsêmani cho đến lúc chết ô nhục trên cây thập giá trên đồi Golgotha. Ngài phải trải qua nhiều sự đau khổ nơi thân xác và trong tâm hồn như: chịu sỉ nhục, bắt bớ, đánh đòn, đội mão gai,vác thập giá và cuối cùng là chịu đóng đinh và chết trên thập giá.
VD: “ ...xin dâng lòng chúng con làm đàng Thánh giá mà ngắm cùng in vào lòng những sự thương khó Đức Chúa Giêsu đã chịu, để mà an ủi chúng con ở chốn khách đày này,...” (sách kinh giáo phận Hà Nội, tr.149)
- Đây là mầu nhiệm Phục sinh của Chúa Kitô dưới khía cạnh đau khổ, hiến tế cứu chuộc.
VD: “suốt đời Mẹ đã suy ngắm các mầu nhiệm của Chúa, nhất là mầu nhiệm Thương khó và Phục sinh, sau cùng Mẹ đã chết êm ái, và được lên trời cả hồn cả xác” (sách kinh giáo phận Hà Nội, tr.32)
- Dùng để chỉ sự thông phần đau khổ và cứu chuộc của Mẹ Maria với Chúa Giêsu
VD: “…thì chúng con xin cho được kính bảy sự thương khó Rất Thánh Đức Bà cho liên, xin Đức Bà cầu cho chúng con được ích bởi ngắm bảy sự thương khó ấy mà ra,…” (sách kinh giáo phận Hà Nội, tr.113)
- Trong phụng vụ của Giáo hội Công giáo, Mùa Thương Khó thường dùng để chỉ thời gian chuẩn bị cho lễ Phục sinh bằng cách suy niệm sâu xa cuộc tử nạn của Chúa Giêsu Kitô để đền tội chúng ta. Bài Thương khó chính là bài Tin Mừng thường được đọc hay hát vào Chúa Nhật Lễ Lá và Thứ Sáu Tuần Thánh.

57. Quân dữ
_ Quân
+ Quân君: vua chúa
VD: quân vương, minh quân (vua hiền); hôn quân (vua mê muội)…
+ Quân軍: binh lính; chỉ một hạng người đáng khinh (lũ, phường, bọn…); một con cờ, con bài..
VD: quân đội, quân nhân...
VD: quân vô đạo, quân lừa đảo… (tiếng chửi..)
VD: quân bài, quân cờ…
+ Quân 均: đều, đồng đều…
VD: quân bình (cân bằng); quân phân (chia đều)…
- Dữ 與 (mượn âm Hán tự “dữ” để đọc âm Nôm) với nghĩa: độc địa, bạc ác, quá lắm…
VD: hung dữ, dữ dằn, dữ tợn (rất dữ); tốt dữ (tốt quá); nhiều dữ (nhiều quá)…
- Quân dữ 軍與: danh ngữ chỉ những người lính hung dữ
Nghĩa dụng Công giáo._ Danh ngữ “quân dữ” dùng chỉ những người lính trong quân đội La Mã nói chung, hay là những kẻ khi xưa hành hình và đóng đinh Chúa Giêsu.
VD: “Khi Đức Chúa Giêsu đã phú mình trong tay quân dữ, thì chúng dẫn Người đến nhà Anna, đoạn nộp cho thầy cả tên Caipha” (sách kinh Quy Nhơn, tr. 241”
VD: “Khi quan Philato phú Đức Chúa Giêsu cho quân dữ dem đi giết, thì nó bắt Đức Chúa Giêsu vác cây Thánh giá nặng lắm” (sách kinh Quy Nhơn, tr.86)

58. Thánh Phụ
- Thánh 聖:
+ Danh hiệu mà người đời tặng cho đấng bậc có vốn hiểu biết rộng, có phẩm chất đạo đức cao…
VD: Thánh hiền (người có đạo đức rất cao); Thánh đản (sinh nhật của một thánh nhân hay một người lập ra tôn giáo nào đó); Thánh sư (người lập ra một học thuyết hay một nghề như : Khổng tử)…
+ Dùng để tôn xưng một ông vua
VD: Thánh chỉ (mệnh lệnh của vua, edit royal); Thánh giá 聖駕 (xe của vua đi, carosse royal); thánh dụ (chiếu dụ của vua, Ordonnance royal)…
+ Thần linh hay những nhân vật truyền thuyết, nhân vật lịch sử được tôn thờ ở đền thờ, chùa chiền…
VD: Thánh Gióng, Đức Thánh Trần (Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn)…
+ Người có tài có khả năng hơn người cùng thời
VD: thánh thơ, thánh chữ, thánh cờ
_ Phụ 婦 : vợ, người đàn bà
VD: quả phụ (đàn bà goá); mệnh phụ (người đàn bà quý phái); tiết phụ (người nữ có đức hạnh); tình phu phụ (tình nghĩa vợ chồng)…
- Phụ 父: Cha, ba, bố, bậc lớn tuổi…
VD: Thân phụ (cha đẻ); dưỡng phụ (cha nuôi); nhạc phụ (cha vợ); phụ huynh (cha mẹ và thay mặt cho cha mẹ trong gia đình); sư phụ (thầy)…
- Phụ 附: phần thêm vào, không phải thành phần chính,. thứ yếu.
VD: phụ tùng (chi tiết máy có thể thay); phụ cấp (khoản tiền trợ cấp thêm); phụ đạo (dạy thêm); phụ bản (tài liệu kèm thêm cho một tạp chí, báo..); phụ lục (phần viết thêm cho tài liệu chính)…
- phụ輔 : giúp đỡ
VD: phụ tá (giúp đỡ); phụ trợ (trợ giúp, assister); phụ tướng (quan tể tướng, người giúp vua); phụ giảng (giảng viên phụ ở trường đại học)…
- Phụ 負
+ bội bạc, làm trái với lời đã hẹn ước, phản lại công ơn…
VD : phụ phàng, phụ bạc, phụ ân bội nghĩa…
_ Thánh Phụ 聖 父 (Father God)
Nghĩa dụng Công giáo_ “Thánh Phụ” dùng để diễn tả Ngôi Thứ Nhất trong Ba Ngôi Thiên Chúa, là Đức Chúa Cha, Đức Chúa Trời, Đấng không do ai sinh ra nhưng lại sinh ra Chúa Con từ đời đời.
VD: “Chúng con chúc tụng khong khen Chúa, cùng Thánh Phụ, Thánh Thần một thể, đời đời vui vẻ hỉ hoan” (sách kinh Quy Nhơn, tr.404)
VD: “Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất” (tr.12)

59. Thánh Tử
- Tử 仔 : kĩ
VD: tử tế (tốt, kĩ càng, chín chắn)
- tử 死: chết
VD: tử tội (tội chết); tử vong (chết), tử tiết (chết vì nghĩa)….
- Tử 紫: tía
VD: tử tô (tía tô); tử vi (xem thiên văn, bói toán); tử ngoại (tia tử ngoại, tia cực tím);…
- Tử 子 : con, (danh xưng như “thầy”), một chức tước thời phong kiến
VD:
+ tử tôn (con cháu); thê tử (vợ con); trưởng tử (con đầu lòng, trưởng nam); đồng tử (con trẻ)…
+ Khổng tử, Mạnh tử, quân tử…
+ tử tước

- Thánh Tử 聖 子(The Son God)
Nghĩa dụng Công giáo- Danh ngữ “Thánh Tử” được viết hoa trong các bản kinh dùng để chỉ Ngôi Hai trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Chính là Đức Giêsu Kitô, là Con duy nhất do Chúa Cha sinh ra đời đời. Người thật sự khác biệt với Chúa Cha, cùng hằng hữu với Chúa Cha. (xem kinh Tin Kính, sách kinh Quy Nhơn, tr.12).
VD: “ Chúc tụng Thánh Phụ tạo sinh, tán tạ đồng sanh Thánh Tử, kính trọng Thánh Thần tôn quới (quý), quyền ra phép dựng đồng đều” (sách kinh Quy Nhơn, tr.316).

60. Thánh Thần
- Thánh 聖
_ Thần 辰 (thìn): trong 12 con giáp (tí, sửu, dần, mẹo, thìn,…)
- Thần 臣: bề tôi
VD: thần dân (người dân); trọng thần (quan trong triều có trọng trách); lão thần (quan già); quân thần (vua tôi); lương thần (tôi hiền, quan tốt)…
_ Thần 晨: buổi sớm
VD: tảo thần (buổi sáng sớm); lương thần(ngày tốt), thần hôn (buổi sáng và buổi tối)…
- Thần 脣: môi
VD: thần âm (âm môi), thần vong xỉ hàn 脣亡齒寒 (môi hở răng lạnh, thành ngữ)…
_ Thần 神
+ thiêng liêng (spirit), mầu nhiệm,vị thần linh…
VD: thiên thần, thần thánh, thần linh…
+ tinh thần, thần khí
VD: thần giao cách cảm (giao tiếp trong tinh thần không trực tiếp); thần hồn nát thần tính (tinh thần suy giảm); thần thái (tinh thần và sắc thái)…
+ trung tâm, chính yếu
VD: thần kinh 京 (kinh đô), thần kinh 經 (cơ quan thể lí)….
- Thánh Thần 聖神 (Holy Spirit)
Nghĩa dụng Công giáo_ “Thánh Thần” là danh ngữ thông dụng để chỉ “Chúa Thánh Thần” (The Holy Spirit God). Ngài chính là Ngôi Ba Thiên Chúa, khác với Chúa Cha và Chúa Con, nhưng giống nhau về sự hiện hữu, ngang bằng và có từ đời đời như Ngôi Cha và Ngôi Con.
“Sáng danh Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần. Như đã có trước vô cùng và bây giờ và hằng có và đời đời chẳng cùng. Amen” (sách kinh Quy Nhơn, tr.9).
_ Trong Cựu ước, danh từ “Pneuma” (Hy ngữ) được hiểu là “Thánh Thần” hay “Thần Khí” nhưng không nói rõ là một ngôi vị riêng biệt. Trong Tân ước, danh từ “Paraclet” (Đấng bào chữa) là một ngôi vị được định tín và công bố trong các tín điều của Giáo hội về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi” (trích Lm Hồng Phúc, Điển ngữ đức tin Công giáo, tr.473)

admin
07-05-2011, 06:10 AM
Biệt ngữ Công giáo đối chiếu (tt)

61. Giám mục
- Giám 鋻: cái gương, cái kính, sáng suốt
VD: minh giám (gương sáng để sửa mình); bửu giám 寶鋻(gương tốt, gương báu)…
- Giám 監 (cũng có thể đọc “giam”) : xem xét , trông coi
VD: giám đốc (người đứng đầu một cơ quan); giám khảo (người chấm điểm cho cuộc thi); giám sát, giám thị, giám hộ, giám hiệu; quốc tử giám (trường đại học đầu tiên của Việt Nam); thái giám (quan hoạn)…
- Mục 目: con mắt, nhìn kĩ, phẩm đề, chỗ quan trọng, tóm tắt, người đứng trên…
VD: mục đích (cái đích mình nhắm đến); mục tiêu (cái đặt ra trước mắt); mục lục (bản chỉ dẫn những điều thiết yếu, đề mục trong một cuốn sách); mục kích (thấy rõ ràng tận mắt); đầu mục (người đứng đầu)…
- Mục 牧: chăn dắt, cai trị, coi sóc…
VD: Mục đồng牧 童 (trẻ chăn dắt súc vật); mục sư 牧 師 (thầy truyền giáo của Tin Lành, pasteur); mục phu (người giữ súc vật berger);
_ Mục 穆: hoà thuận, vui vẻ
VD: hoà mục (hoà thuận, concorde)
_ Mục 木 (chữ Nôm): hư nát, hỏng
VD: mục nát, mục xương (xương vỡ vụn); gạo mục (gạo bị ẩm, hư)…

* Nghĩa dụng Công giáo
_ Giám mục 監 牧 : chức làm đầu các Linh mục thường trông coi một giáo phận. Danh ngữ này được diễn tả qua thuật từ “episcopus” trong La ngữ do xuất phát bởi “episkopos” của Hy ngữ. Nó có nghĩa là người coi sóc.
- Ban đầu, danh ngữ tiếng Việt “vít vồ” (曰無) được phiên âm từ tiếng Bồ (bispo) để chỉ các Giám mục.
VD: “ÔNG thánh Anrê vít vồ truyện” (trích Các thánh truyện, 447).
- Trong kinh đọc và trong đời sống thường ngày, người Công giáo còn gọi các vị giám mục bằng những danh ngữ khác như: Đức Thầy, Đức Cha…
VD: “Nhớ xưa Thánh An rê, Việc thờ Chúa hết lòng thành kính , Giúp Đức Thầy giữa hội phong ba…”(sách kinh Quy Nhơn, tr.463)
* Lưu ý: Thánh An rê chính là Thánh tử đạo An rê Nguyễn Kim Thông ((Năm Thuông) và “Đức Thầy” ở đây chính là Thánh Giám mục tử đạo Stêphanô Thể.

- Giám mục là vị chủ chiên được lãnh nhận chức tư tế đầy đủ và là Đấng kế vị các Tông Đồ. Giám mục có quyền cai quản giáo phận mình, hiệp thông với Đức Giáo hoàng. Trong Giám mục đoàn có Đức Giáo hoàng đứng đầu là quyền bính tối cao trong Giáo hội về việc giảng dạy, thánh hoá và cai quản. Thánh quyền tư tế nơi Giáo hoàng và Giám mục là một. Do đó, giám mục có quyền trong giáo phận của mình như: ban phép Thêm Sức,, truyền chức Linh mục, thánh hiến giáo đường…. Giám mục cai quản giáo phận như vị chủ chiên tối caotrong cách lĩnh vực như: giáo lý, coi sóc các linh hồn, quyền lập pháp,tài phán….(xem Lm Hồng Phúc, Điển ngữ Đức tin Công giáo, tr.174)

62. Linh mục
- Linh 伶: nhanh nhẹn, số lẻ, lênh đênh…
VD: linh lợi, 105 (đọc là một trăm linh năm); linh đinh(lênh đênh)…
- Linh羚: chỉ giống thú rừng
VD: linh dương (dê rừng); linh cẩu (chó rừng)…
- linh靈: hồn, trí, có phép thần, hiệu nghiệm, thuộc về thần thánh, thiêng liêng…
VD: linh nghiệm (có hiệu nghiệm, có phép thần thông); vong linh(hồn người chết); thần linh (thần thánh); linh vật(vật mang tính thiêng liêng, thần thánh)…
_ Linh mục 靈 牧: người chăn dắt linh hồn, coi sóc về tâm linh…

* Nghĩa dụng Công giáo
_ Danh ngữ Linh mục trong tiếng Việt thường dùng để chỉ những giáo sĩ được lãnh nhận chức Thánh do sự đặt tay của Giám mục để cộng tác với Giám mục trong việc giảng dạy, điều khiển và thánh hoá Dân Chúa. Thuật từ “presbyter” trong La ngữ nhằm diễn tả “linh mục” là người được truyền chức đặt biệt để hiến thánh và hiến dâng Mình và Máu Chúa Kitô trong thánh lễ. Trong bữa Tiệc Ly, trước khi Chúa Giê su chịu chết, Người đã truyền chức Linh mục cho các Tông Đồ, chức Linh mục bắt nguồn từ đó. Năng quyền căn bản thứ hai của Linh mục là quyền được tha tội.Tuy nhiên, mọi người cũng được chia sẻ chức Linh mục qua Bí tích Rửa Tội nhưng khi nói đến danh hiệu này, người ta thường ta thường hiểu là bậc thứ hai trong hàng tư tế, dưới chức giám mục và trên chức Phó tế.
- Xuất phát trong La ngữ “Sasedos” dùng để chỉ chức vụ Linh mục Công giáo. Trong văn Nôm Công giáo thế kỷ 17, danh xưng “linh mục” được đọc là: Sa sê đô tê (沙 移 由躋) do phiên âm từ tiếng Bồ “Sacerdocio”. _Trong truyền thống xưng hô của người Công giáo Việt Nam, danh xưng “linh mục” còn được gọi là “Cha, ông Cha”. Trong kinh đọc, danh xưng “thầy cả” cũng dùng thay cho danh hiệu chức vụ “Linh mục”.
VD: “Trước hết là xin Đức Mẹ làm Mẹ các thầy cả, cùng các kẻ giúp việc giảng đạo thánh, để mọi đấng bậc.
VD: “Lạy Chúa Giê su là Thầy cả Thượng phẩm vĩnh viễn đời đời, là Đấng tế lễ có tính Thiên Chúa,…” (sách kinh giáo phận Hà Nội, 158)
* Lưu ý: Trong Hoa ngữ, danh xưng “Thần phụ” dành cho Linh mục

63. Giáo Hoàng
- Giáo 校: đồ binh khí nhọn có cán dài
VD: cây giáo, gươm giáo, ngọn giáo (mũi giáo)
- Giáo 教: dạy , bảo, đạo…
VD: huấn giáo (dạy dỗ); giáo chức (giới thầy cô giáo); Tam giáo (đạo Nho, đạo Phật, đạo Lão); thọ giáo (nhận sự dạy dỗ); giáo dân, giáo hữu (chỉ người có đạo)…
_ Hoàng 凰: một loài chim lớn (chim phụng hoàng, chim phượng hoàng)
- Hoàng 隍: thần giữ đất, giữ cửa
VD: thành hoàng (thần giữ chỗ chợ búa, chốn đông người)
- Hoàng 黃 :vàng, tên họ Hoàng
VD: đại hoàng 大黃: tên một loại thuốc giải nhiệt, nhuận trường; hoàng anh (chim vàng anh); hoàng kim (thời vàng son, thịnh); hoàng tuyền (suối vàng)…
- Hoàng皇: to lớn, tiếng gọi tôn kính, vua…
VD: hoàng đế (vua); hoàng thân (người có họ hàng với vua); hoàng bào (áo vua); hoàng tộc (dòng họ nhà vua); hoàng triều (triều đình); đàng hoàng 唐皇 (rõ ràng, trọng hậu, vững vàng)…
_ Giáo Hoàng 教皇: chỉ người đứng đầu tổ chức giáo hội Công giáo.

* Nghĩa dụng Công giáo.
- Danh xưng “Giáo Hoàng” được dành cho vị lãnh đạo Giáo hội Công giáo.Đấng kế vị Thánh Phê rô trong chức vị Giám mục Rô ma, là Đấng thay mặt Chúa Kitô ở trần gian này.
“ Con cũng ước ao cho Đức Giáo Hoàng là Đấng thay mặt Chúa,..” (sách kinh Quy Nhơn, tr.350)
- Danh hiệu này có năm 521 và đến thế kỷ 11 thì danh xưng này trở nên thông dụng. Xuất phát từ La ngữ “Papa” nghĩa là “người cha”, văn bản Nôm Công giáo thế kỷ 17 đọc là “Thánh Pha Pha” 聖 葩 葩(chữ Nôm).
VD: “Bởi người có tài thì ông Thánh Pha Pha dùng người đi Phô Lô nha…” (Trích Các Thánh truyện, tháng giêng, tr.445).
- Danh xưng “Giáo hoàng” còn mang nhiều tước hiệu khác nhau như: Đức Thánh Cha, Giám mục Rô ma, Đấng kế vị Thánh Phê rô…
* Lưu ý: Danh hiệu “Đức Giáo Tông” chỉ Đức Giáo Hoàng dùng trước đây không còn dùng trong các kinh đọc nữa. Bởi lẽ, “giáo tông”(教宗) vốn thường dùng để chỉ cho một người sáng lập một tôn giáo nào đó.

64. Phó tế
- Phó (phú) 付: trao cho, cấp cho, giao cho, uỷ thác, gửi…
VD: Lạy Chúa, con xin phú dâng linh hồn và xác con ở trong tay Chúa,..” (sách kinh Quy Nhơn, tr.23)
VD: “Lạy Chúa, con xin phó dâng linh hồn và xác con ở trong tay Chúa,..” (sách kinh giáo phận Hà Nội, tr.32)
- Phó 訃: bản thông báo
VD: cáo phó (bản thông báo tang lễ)
- Phó 傅: phụ, giúp, thầy dạy…
VD: phó bản (bản phụ, bản sao); phó từ (danh từ phụ đi theo một danh từ khác để làm ra một danh từ riêng biệt); đậu phó bảng (người đậu ở bảng thứ hai trong kì thi Hội thời phong kiến); thái phó (chức quan dạy cho thái tử)…
- Phó 赴: đi đến
VD: phó hội (đi đến chỗ đông người, nơi đô hội); phó nhiệm (đi đến nhậm chức)…
- Phó 仆: chỉ một nghề nghiệm
VD: phó mộc (thợ mộc); phó may (thợ may); phó rèn (thợ rèn)…
- Phó 副: thứ, phụ giúp, bậc thứ hai…
VD: phó giám đốc, phó hiệu trưởng, phó chủ tịch (vice president)…
_ Tế 細: nhỏ , nhỏ nhặt, kỹ lưỡng
VD: tế bào, tử tế, tinh tế, tế nhị…
- Tế 濟: giúp đỡ, cứu trợ
VD: tế bần, cứu tế…
- Tế 際: giao tiếp, gặp gỡ, hội họp…
VD: giao tế, thực tế, quốc tế…
- Tế 祭: lễ, bái lạy theo nghi thức long trọng…
VD: tế lễ, cúng tế, tế đàn (đàn cúng), tế đàn Nam Giao (đàn cúng Trời)…
- Phó Tế 副 祭: người giữ chức vụ bậc thứ hai trong việc tế lễ
-
* Nghĩa dụng Công giáo
- Danh xưng “phó tế” nguồn gốc La ngữ “diaconus” và Hy ngữ “diakonos” được hiểu như là: “người giúp việc” hay “kẻ phục vụ”. Danh ngữ “phó tế” trong giáo hội Công giáo hay còn là “Thầy Sáu” (chủng sinh đã lãnh nhận 6 chức trong đào tạo) thường dùng để chỉ vị thừa tác viên được lãnh nhận “chức thánh” đầu tiên trong các “Thánh chức” (gồm phó tế, linh mục, giám mục), là người trợ tá Giám mục và Linh mục, cách riêng trong việc cử hành Thánh Thể (lễ Misa).
- Do Thánh chức lãnh nhận, các vị Phó tế được quyền giảng dạy,làm phép Rửa tội , trao Mình Thánh Chúa…
VD: “Các thánh Chánh tế cùng các thánh Phó tế”(sách kinh giáo phận Hà Nội, tr.82)
* Lưu ý: Trong tiếng Việt, danh từ “Thầy” thường gán cho những vị trí tôn trọng trong đời sống xã hội thường nhật của người Việt.
- Người đáng mặt dạy dỗ người khác. Người Việt nói:
“ông ấy là bậc thầy”; “không thầy đố mày làm nên” (thành ngữ Việt Nam)…
- Gọi cha mình, bố mình là “thầy”
_ Trong quan hệ giữa chủ - tớ (người chủ với người làm công), người Việt gọi : quan hệ thầy- tớ (trên – dưới)…
_ Trong xã hội trước đây, “thầy” được gán cho người có học, làm việc tại các công sở
VD: Thầy thông (người thông ngôn, dịch giả); thầy ký (secretary); thầy cò (comander)…
- “thầy” cũng là danh từ để gọi chung cho những người làm nghề tự do nhưng cần có sách vở…
VD: thầy bói (người xem bói toán,devin); thầy kiện (avocat), thầy lang (thầy bốc thuốc); thầy tướng (người xem tướng số,physionomist)…
_ “thầy” là danh từ dành riêng cho người tu hành.
VD: thầy chùa (các nhà sư Phật giáo); thầy tu (người xuất gia); thầy dòng (người đi tu dòng)
- Ở Công giáo, danh từ “thầy” chiếm một vị trí đặt biệt hơn, “Thầy” (viết hoa) được dùng để chỉ Đức Giêsu Kitô.
VD: “Khi còn ở với anh em, Thầy đã từng với anh em rằng tất cả những gì sách luật Môsê , các sách Ngôn sứ và các Thánh vịnh đã chép về Thầy đều được ứng nghiệm” (Lc 24,44).
Trong phẩm trật Hội Thánh theo Thánh chức: Phó tế (Thầy Sáu); Linh mục (Thầy Cả); Giám mục (Đức Thầy). Đức Giêsu chính là Thầy Cả Thượng Phẩm.

admin
07-05-2011, 06:10 AM
65. Phẩm trật
- Phẩm 品
+bậc, đấng bậc, thứ loại, cách thức…
VD: thượng phẩm (bậc trên hết); cửu phẩm (chín bậc quan); phẩm hạnh, phẩm chất (đức hạnh, nết ăn ở, tích cách), phẩm giá (giá trị, phẩm hạnh)…
+ đồ vật, đồ dùng…
VD: thực phẩm (thức ăn), dược phẩm (thuốc)…
- Trật 秩 :
+ sai, trệch…
VD: trật lấc (không trúng); làm trật (sai); trật khớp (sai khớp)…
+ tầng ,bậc
VD: trật tự (thứ tự trên dưới)…
- Phẩm trật 品 秩: thứ bậc, phẩm cấp, phẩm hàm…(grade, hiérarchie)

* Nghĩa dụng Công giáo
_ Danh từ “Hierarchia” trong La ngữ hay Hy ngữ đều chỉ dùng để chỉ quyền của người phục vụ hay hay chủ sự nghi lễ thánh. Vì thế, danh ngữ “phẩm trật” Hội Thánh chính là các vị lãnh đạo Giáo hội theo một tổ chức thứ tự.
VD: “Xin Chúa gìn giữ Đức Giáo Hoàng cùng các phẩm trật Hội Thánh” (sách kinh giáo phận Hà Nội, tr.84)
+ Theo phẩm trật thánh chức (Hiérarchie d’ordre) bao gồm ba bậc: Giám mục, Linh mục và Phó tế.
+ Theo phẩm trật năng quyền (Hiérarchie d’ Juridiction) do quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Đó là Đức Giáo Hoàng và các Giám mục dưới quyền ngài.


Từ Hán Việt trong cấu trúc “Biệt ngữ Công giáo”.
Như chúng ta thấy, các biệt ngữ Công giáo được trình bày ở trên vốn là những “thuật từ” trong Công giáo. Trong tiếng Việt, việc diễn đạt những khái niệm “trừu tượng”, “chuyên môn” như thế thường bằng những danh ngữ chứ không phải là một từ như ngôn ngữ Ấn Âu. Lấy ví dụ, danh từ ““episcopus” trong La ngữ do xuất phát bởi danh từ“ episkopos” của Hy ngữ, trong tiếng Bồ là danh từ “bispo” và danh từ “bishop” (Anh ngữ) khi sang tiếng Việt, danh từ này được diễn tả bằng sự kết hợp của hai từ, hai tiếng “giám” và “mục”; trong Hán tự thì được diễn tả bằng hai chữ khối vuông (監 牧). Ngay từ buổi đầu khi đạo Công giáo mới đến Việt Nam, danh từ định danh “giám mục” chưa có, người Việt sử dụng lối phiên âm để diễn tả danh từ này bằng hai chữ Nôm theo lối người Việt “vít vồ” (曰無) . Phiên âm tiếng Bồ (bispo) như đã trình bày ở trên. Trong cấu tạo danh ngữ Việt để định danh cho các “biệt ngữ Công giáo”, chúng ta thường bắt gặp các từ ngữ mà việc kết hợp giữa chúng với nhau có những quy tắc ngữ pháp, quy tắc nói năng nhất định mang phong cách riêng biệt của người Việt. Đó là các từ ngữ Hán Việt.
Sở dĩ tên gọi từ “Hán Việt” ra đời bởi lẽ các nhà ngữ pháp học Việt Nam muốn phân biệt giữa như từ “thuần Việt” với những từ gốc Hán được phát âm đúng như trong tự điển phiên thiết của Trung Hoa. Nhưng trong thực tế đời sống sinh hoạt ngôn ngữ, “Thuần Việt” hay “Hán Việt” cũng còn là một khái niệm rất mơ hồ. Bởi vì, không có ngôn ngữ nào mà không đi vay mượn ngôn ngữ khác để làm giàu cho tiếng nói của mình. Nói cách khác, vay mượn là hiện tượng phổ biến của mọi ngôn ngữ. (xem Hoàng Văn Khang, Từ ngoại lai trong tiếng Việt, tr.9). Vì thế, ta có thể nói : từ Hán Việt là từ Việt nhưng vay mượn từ Hán. Tuy nhiên, từ nào là từ vay mượn? Tiêu chí nào để phân biệt rõ ranh giới giữa Việt và Hán vẫn là vấn đề còn nhiều tranh luận và chưa thống nhất. Các từ như : ông 翁, bà 婆, trường 場,長, tiến進 nói thế nào hiểu thế ấy và có khả năng ngữ pháp như một từ thuần Việt khác liệu có phải là từ Hán Việt không? Những từ ngữ nhập vào hệ thống tiếng Việt từ đời Hán thường được gọi là âm Hán cổ như: 戒 cải – giới (âm Hán Việt); 斬chém – trảm (âm Hán Việt); 馭ngựa – ngự (âm Hán Việt);驢 lừa- lư (âm Hán Việt)…có được xem là từ Hán Việt không? Những danh ngữ có từ gốc Hán, được đọc theo âm Hán Việt nhưng có cấu tạo ngữ pháp theo cú pháp Việt Nam, như : đại đội, trung tá, tiểu đoàn và những từ ngữ mượn gián tiếp gốc Hán như : triều đình, câu lạc bộ, kinh tế…, liệu có được xem là từ Hán Việt không? Những câu hỏi trên đặt ra không phải để phủ nhận sự tồn tại từ Hán Việt trong hệ thống từ vựng tiếng Việt mà chỉ muốn minh chứng rằng : từ Hán Việt là luôn có thực nhưng lại là một bức tranh ngôn ngữ vô cùng phong phú và đa dạng , phức tạp và cũng là đề tài chưa bao giờ cạn kiệt dù ở bất kì góc độ nào.
Theo quan niệm của chúng tôi, tất cả những từ Hán có cách đọc Việt đã có ít nhất một lần được dùng trong tiếng Việt như một đơn vị từ vựng trong ngữ cảnh giao tiếp thì đều được xem như là từ Hán Việt. Chúng tôi chấp nhận chúng là từ Hán Việt ngay cả những biến thể của chúng. Ví dụ: chấp nhận chúng là những từ Hán Việt trong cách biến thể sau.
+ 調 Điều (điều binh khiển tướng, điều động); 調 điệu (điệu hổ ly sơn
+ 正Chính (chính phủ, chính trị);正 chánh (chánh văn phòng, chánh án)

Trong hệ thống từ vựng tiếng Việt, từ Hán Việt có số lượng lớn nhất chiếm hơn 65% và làm thành một lớp từ vựng tiếng Việt có vai trò cực kì quan trọng về số lượng lẫn chất lượng.
- Về mặt số lượng: bên cạnh các đơn vị mượn nguyên khối (cả hình chữ và cả nghĩa của chữ), các từ Hán Việt càng ngày càng tạo ra nhiều mô hình ngữ pháp- ngữ nghĩa cho những thuật từ, danh ngữ theo cấu trúc tiếng Việt. Ví dụ: 行 có ba âm đọc :hạnh, hành và hàng. “Hạnh” như trong “hạnh kiểm”, “hạnh phúc”, “đức hạnh” trong tiếng Việt. “Hành” như trong “hành động”, “học hành” trong tiếng Việt. “hàng” như trong “xếp hàng”, “hàng ngũ” trong tiếng Việt….
- Về chất lượng, các từ Hán Việt không chỉ gồm các từ mang nghĩa mới mà cả những từ mang khái niệm đã có từ Việt biểu thị. Ví dụ:
+ “Trường” 場 nghĩa gốc là “khoảng đất trống, dùng vào việc gì đó” như “quảng trường, trường hợp”. Trên cơ sở này, “trường” phát triền thành “nơi tiến hành giảng dạy” như : “trường học, sân trường”. Trong khi ấy, nghĩa “trường học” trong từ Hán Việt là “hiệu” (校) trong kết cấu danh ngữ “hiệu trưởng, ban giám hiệu”…
+ “Khám” 勘 trong tiếng Hán cổ có nghĩa là “xét, soát lại để sửa lỗi văn tự hay tra hỏi”. Trên cơ sở này, người Việt liên tưởng đến việc xem xét trong “khám bệnh, khám sức khoẻ, khám xe, khám nhà, khám giấy tờ…”
Mặt khác, do khả năng đồng hoá ngữ âm cao (tiếng Hán và tiếng Việt là ngôn ngữ đơn tiết tính) nên mọi chữ Hán đều có tiềm năng trở thành từ Hán Việt một khi có điều kiện cho nên khả năng tham gia các phong cách chức năng của từ Hán Việt với những biến thể của chúng.
Xét các danh ngữ Hán Việt dùng để diễn tả các “Biệt ngữ Công giáo” như “Thánh Phụ ”, “Thánh Tử”, “Thánh Thần”, “mục tử”…chúng ta thấy rằng có một điểm khác biệt rất hiển nhiên mà ngay cả người không biết chữ Hán vẫn có thể thấy : trật tự của các thành phần trong danh ngữ Hán Việt kia ngược với danh ngữ “thuần Việt” như “Chúa Cha”, “Chúa Con”, “Chúa Thánh Thần”, “người chăn dắt, kẻ chăn dắt”…
Song hành cùng với những đặc tính hàm nghĩa và tu từ trong của tiếng Hán Việt, việc “cấu trúc ngược” như thế trong các danh ngữ Hán Việt đã tạo nên một sự khu biệt hết cần thiết trong mối quan hệ cú pháp tạo nên các danh ngữ tiếng Việt hay chính là cơ sở để xây dựng nên các thuật ngữ chuyên biệt (trong khoa học, kỹ thuật , thuật ngữ tôn giáo…). Quan hệ nghịch cú pháp giữa từ “hoả” và “ngục” trong (hoả ngục) hay “nhân” và “đức” trong (nhân đức) là quan hệ “chặt” hơn nhiều so với danh ngữ (ngục lửa) và (đức yêu người) thuần Việt. Vì thế, khi cần tạo những thuật ngữ hay “Biệt ngữ Công giáo” chẳng hạn thì từ Hán Việt bao giờ cũng chiếm ưu thế hơn hẳn từ thuần Việt. Từ thuần Việt thì dễ hiểu nhưng cũng chính là nhược điểm lớn nhất của nó khi tạo các thuật ngữ, biệt ngữ. Chính vì quá dễ nên người ta dễ cứ nhìn chữ rồi đoán mò nghĩa của nó. Lấy ví dụ, “Thánh mẫu” trong “Biệt ngữ Công giáo” chính là muốn nói đến Đức Maria , Mẹ Thiên Chúa rất cụ thể chứ không phải là “mẹ của một vị thánh nào đó không xác định”. Cũng vậy, khi dùng danh ngữ “Thánh mẫu học”, ta phải hiểu là môn thần học tìm hiểu về cuộc đời, các đặc ân của Đức Trinh Nữ Maria chứ không phải là ai phải đi học gì cả. Trong danh ngữ “Thánh mẫu học”, danh từ “học” là trung tâm của danh ngữ (chính) và cụm từ “Thánh mẫu” là định ngữ hạn định (phụ) bổ nghĩa cho danh từ chính là “học”. Chính cái cú pháp cấu tạo “ngược” trong danh ngữ Hán Việt làm cho chúng ta tránh được việc hiểu sai các “thuật ngữ” hay “Biệt ngữ Công giáo”.
Về phương diện ngữ nghĩa, hầu như ai cũng thấy rằng phần lớn các từ Hán Việt đều có một sắc thái ngữ nghĩa tu từ (sắc thái trang trọng, thi vị, cổ kính, bác học…). Sắc thái ngữ nghĩa này không có trong tiếng Hán. Điều này càng minh chứng rằng : các từ Hán Việt đã là từ Việt từ lâu, là một bộ phận hữu cơ của hệ thống từ vựng tiếng Việt. Ví dụ : “mục tử” trong tiếng Hán chỉ là người “chăn súc vật”. Khi sang tiếng Việt, mặc nhiên được xem là các vị chủ chiên trong Giáo hội Công giáo như : Đức giáo hoàng, các Giám mục, Linh mục. “Trượng phu” trong tiếng Hán chỉ là “người đàn ông” hay “chồng”. Khi sang tiếng Việt, nó được dùng như “quý ông, người sang trọng, người quân tử, ”.
Không chỉ có cấu trúc ngược (phụ- chính), quan hệ cú pháp trong danh ngữ Hán Việt còn là trật tự tương xứng (quan hệ đẳng lập).Ví dụ như: bất tử, biến thể, chiêu hồn, vô biên, vô nhiễm,bất hối, bất khả thuyết, bất khả ngộ…bao gồm một vị từ (động từ hay tính từ) và một bổ ngữ chỉ đối tượng hay kết quả của nó; hay một vị từ tình thái và vị từ bổ ngữ của nó, hay gồm hai tiếng có cùng từ loại, cùng chức năng cú pháp như: tu bổ, bình an, vĩ đại…Tất cả những tổ hợp này đều trùng với trật tự cấu trúc như một tổ hợp thuần Việt tương ứng. Ví dụ : “bất tử” (Hán Việt) thì cũng xuôi như thuần Việt là “không chết”; “bất khả ngộ”(Hán Việt) thì cũng xuôi như “không thể sai” (thuần Việt)…và những tổ hợp này cũng thông dụng không kém gì tổ hợp Hán Việt có cấu trúc quan hệ (phụ chính) ở trên, người không biết chữ Hán cũng có thể hiểu được nghĩa của những tổ hợp này thông qua con đường học tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt) có sẵn trong tương thích một đối một như trong Tam tự kinh ngày xưa. Bởi lẽ, có người Việt nào cho dù chưa một lần học chữ Hán cũng dư sức biết : quốc (nước); tồn (còn), thiên (trời), địa (đất), lão (già), tử (con), tôn(cháu)…
Trong phạm vi cấu trúc của “Biệt ngữ Công giáo” chúng ta có thể thấy: Vốn xuất phát điểm của Biệt ngữ này là các thuật từ Công giáo có nguồn gốc tiếng Hy Lạp, La Tinh, Pháp, Bồ, Anh …là ngôn ngữ Ấn âu- ngôn ngữ biến hình. Trong các thứ tiếng ấy, “từ” (word) là một đơn vị ngôn ngữ hiển nhiên. Nghĩa của từ là sự kết hợp giữa các hình vị (morpheme) với nhau. Ví dụ, từ “seminary” (Anh ngữ) xuất phát từ La ngữ “seminarium” gồm một hình vị “semi” (hạt giống,) kết hợp với hình vị “rium” (nơi, chốn ươm, trồng). Sang tiếng Việt, thuật từ này được kết hợp bởi hai từ Hán Việt để tạo nên danh ngữ Hán Việt “chủng viện”. Lưu ý: “chủng”種 có nghĩa là “hạt giống, gieo giống” và từ “viện”院 có nghĩa “nhà ”. Từ “seminarist” lại được dịch là “chủng sinh” do gốc hình vị “ist” (dùng để chỉ người). Do đó, từ “sinh” 生 trong danh ngữ Hán Việt “chủng sinh” dùng để chỉ “người học trò”.
Nói tóm lại, sự kết hợp từ trong danh ngữ Hán Việt và trong các Biệt ngữ Công giáo rất giống với sự kết hợp yếu tố ngữ nghĩa để tạo nên “thuật từ” trong các tiếng châu Âu. Bởi lẽ, “thuật ngữ” hay “biệt ngữ” là nơi cần nhất những cách định danh có cấu trúc kết hợp chặt, trong đó các yếu tố có nghĩa đủ trừu tượng để tránh những trường hợp hiểu sai về “thuật ngữ” và “biệt ngữ”. Còn gì bằng từ Hán Việt trong tiếng Việt.
Vì thế, ta có thể nói việc mù chữ Hán chính là căn nguyên của việc hiểu sai các từ Việt gốc Hán. Trong cuốn “Le nouveau monde sinisé”, năm 1985, Léon Vandermeersch khẳng định: sở dĩ những “con rồng” của các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hương Cảng, Singapore…thành rồngđược chính là vì họ vẫn dùng chữ Hán. Ta có thể không chấp nhận quan điểm này nhưng cũng khó lòng phản bác được vì đó không phải là chuyện ngẫu nhiên.
Việc học chữ Hán, học từ ngữ Hán Việt, học ngôn ngữ học, học tiếng Việt là phương cách tốt nhất giúp chúng ta đỡ mất thời giờ cho việc tranh luận về việc sử dụng từ ngữ “nhà đạo” như: “Thánh kinh” hay “Kinh thánh”, “mặc khải” hay “mạc khải”, “mân côi”, “môi khôi” hay “mai khôi”…. Và cũng không nỡ lòng nào viết “Chưởng ấn ”(chancelier) thành “Trưởng ấn”; “Chưởng lý”(promoteur de la justice) thành “Trưởng lý”. Hay ít ra cũng hiểu được “Tổng đại diện” không phải “là người có khuôn mặt lớn”…Mong thay!