PDA

View Full Version : Thần Học Về Rao Giảng


admin
13-12-2010, 11:34 AM
GIẢNG !
Dẫn nhập: Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều thứ thần học thi nhau xuất hiện: thần học về vật chất (théologiè de la matière), thần học về lịch sử (théologie de l’histoire), thần học về thực tại trần thế (théologie de la réalité terrestre), thần học về chính trị (théologie politique), thần học về cách mạng (théologie de la révolution), thần học về giải phóng (théologie de la libération), thần học về thế giới (théologie du monde), thần học về tương lai (théologie de l’avenir), v.v…
Nhưng có một thế thần học, quan trọng hơn nhiều, mà vẫn chưa được khải triển đúng mức và suy nghĩ cặn kẽ: THẦN HỌC VỀ RAO GIẢNG.
Bản thân Linh mục đôi khi chưa hiểu đích xác công việc “Rao Giảng” mình đang làm và phải làm thường xuyên.
Thêm vào đó, nhiều khó khăn hoặc khủng hoảng không ngửng xảy ra cho sinh hoạt rao giảng, làm một số Linh mục nản chí, trốn tránh sứ mạng hoặc thi hành uể oải. và kết quả là đàn chiên bị ‘suy dinh dưỡng’.
Một số Linh mục sợ giảng! Nhiều giáo dân sợ nghe giảng! Tình trạng thực tế xảy ra nhiều nơi: giáo dân dự lễ mong chóng hết bài giảng! Có ít nhiều bài giảng khiến Thánh lễ trở nên nặng nề!
Không nên vì lý đó mà đưa ra một két luận tổng quát: giáo dân không thích nghe giảng! và tệ hơn nữa: không cần nghe giảng cũng sống đạo được!
Trong hiện tại còn nhiều người khoa khát của ăn tinh thầ đích thực, mong mỏi dược bồi dưỡng Đức tin.
Dấu hiệu cơ thể lành mạnh là “thèm ăn”, không muốn ăn, là triệu chứng suy nhược.
Nhiều lý do bắt buộc đặt lại vấn đề rao giảng : lí do xã hội (hoàn cảnh mới), lí do thiêng liêng (nhu cầu sống đạo), lí do mục vụ (hoạt động ngoài lề bị giới hạn), lí do thần học (công đồng Vatican II đưa việc rao giảng lên hàng đầu), vv…
THẦN HỌC VỀ RAO GIẢNG hiện thời đang ở trong tình trạng phôi thai, hỗ trợ rất ít cho Linh mục, chưa đủ để làm sáng tỏ sứ mạng đầu tiên của Hội Thánh và Linh mục trong Hội Thánh, chưa vững để làm nền tảng cho công việc “Bất khả từ chối” (khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Phúc âm… Lc 9,16)
Sự kiện phát xuất từ 1 nguyên do lịch sử: xung đột giữa Tin lành và Công Giáo: một bên quá nhấn mạnh Lời Chúa và coi nhẹ Bí tích; bên kia đặt nặng Bí tích và sao lãng Lời Chúa. Hiện nay, lý do lịch sử này bắt đầu chấm dứt, nhưng hậu quả vẫn còn.

Nguyên do thứ hai: nhiều người lẫn lộn Thần học về rao giảng (theo logie de la predication) với Thần học về Lời (theo de la parole). Khi than học về Lời phát triển, người ta cứ tưởng như thế như thế là đã giải quyết vấn đề rao giảng. Các Giáo Hội Tin lành vẫp phải phải lầm lỗi này, nên thần học về rao giảng của họ vẫn không phong phú.
Thần học về Rao Giảng xây dựng trên thần học về Lời, nhưng không đồng hoá. Lới là tiếng nói của Thiên Chúa ngỏ với nhân loại; Lời là ‘ Mặc Khải Cứu Độ’ còn rao giảng là hành vi phục vụ Lời. Thần học về rao giảng tìm hiểu ý nghĩa, cách thức và sự hữu hiệu của việc phục vụ Lời.
Phục vụ Lời là sứ mạng luôn ‘hiện đại’ của Hội Thánh do Chúa Kitô trao phó. Để tìm hiểu thế nào là phục vụ Lời, phải dựa trên ý muốn của Thiên Chúa và Chúa Kitô biểu lộ trong Kinh Thánh. Điều cần làm trước tiên để xây dựng ‘THẦN HỌC VỀ RAO GIẢNG’ là tìm hiểu ý nghĩa, cách thức và sự hữu hiệu của việc rao giảng ở trong Kinh Thánh, từ đó mới có thể nhận ra bản chất việc rao giảng trong Giáo Hội.

I. GIẢNG GÌ?

Câu hỏi đầu tiên phải đặt ra khi tìm hiểu ý nghĩa việc rao giảng là đối tượng hay nội dung lời Rao Giảng.
Sách Tân Ước cung cấp cho chúng ta câu trả lời rất phong phú và chắc chắn.

1. NƯỚC THIÊN CHÚA
Rảo khắp xứ Galile và giảng dạy trong các Hội Đường, Đức Giê Su rao truyền Tin mừng Nước Thiên Chúa (Mt 4, 23)
Một vài nơi, đám đông dân chúng muốn cầm giữ Chúa Giêsu ở lại với họ, nhưng Ngài từ chối vì phải ra đi loan báo Tin mừng Nước Thiên Chúa cho những thành khác (Lc 4,43)
Khi sai các môn đệ đi rao giảng, Ngài căn dặn họ loan báo: ’Nước Thiên Chúa đang gần kề’ (Mt 10,7)
Nội dung chủ yếu trong việc rao giảng của Đức Giêsu là ‘NƯỚC THIÊN CHÚA’. Ngài xác định bản chất của Nước Thiên Chúa qua các dụ ngôn. Trong bài giảng trên Núi, Ngài chỉ dẫn các điều kiện cần thiết để tham gia Nước Trời.
Cựu Ước kết thúc với việc loan báo Tin mừng Nước Thiên Chúa(Lc 11,20); Các sấm ngôn được thể hiện (Lc 7,22-23); Ma quỷ bị xua trừ (Lc 22,20).
Nước Thiên Chúa là một thực tại gắn liền với con người Chúa Kitô. Nước Thiên Chúa đã hiện diện thực sự ở giữa thế gian vì Đức Giêsu xua trừ thần dữ (Mt 12,28).
Nước Thiên Chúa mà Đức Giêsu rao giảng đồng hoá với Con Người Giêsu, vì việc Ngài đến thế gian và các sinh hoạt của Ngài khai trương một thời đại mới, tạo nên một tương quan mới giữa Thiên Chúa và con người, khởi sự một Giao ước mới, thay thế giao ước Sinai. Từ bỏ mợi sự vì Nước Trời là từ bỏ tất cả để theo chân Chúa Giêsu (Mt 19,19); Lc 18,29-30)
Sự đồng hoá này khiến Đức Giêsu trở thành ‘trọng tâm’ của Tin mừng cứu độ: khi rao giảng Nước Thiên Chúa. Đức Giêsu mời gọi mọi người vác thập giá theo Ngài (Mt 1,24). Phúc cho ai bị bách hại vì Ngài (Mt 5,11) và không bị vấp phạm vì Ngài (11,6)!
2. LỜI THIÊN CHÚA
Trong sách công vụ, nội dung của việc rao giảng của các tông đồ là “LỜI”. Các ông can đảm loan báo Lời của Thiên Chúa (Cv 4,3). Nhiều người đã lắng nghe Lời và đã tin (Cv 4,4). Phaolo và Barnaba mạnh dạn rao truyền Lời của Chúa (Cv 15,35).
Trong các Thư, Phaolô cũng nói tới việc loan báo ‘LỜI’ (I Th 1,6) mà các tín hữu Thessalonica đã đón nhận như Lời của Thiên Chúa, chứ không như lời của người phàm (I Th 2,13).
Theo Tin mừng Gioan, Lời được rao giảng đồng hoá với Ngôi Lời nhập thể. Tin mừng có mục đích chứng minh Đức Giêsu là lời mạc khải Thiên Chúa.
Bàn về Tin mừng Gioan, Bultmann, một nhà Kinh Thánh tin lành nhận xét: toàn bộ hành động của Đức Giêsu hoà lẫn với lời của Ngài, các công việc của Ngài là lời của ngài, và lời của ngài là công việc của ngài.
Không tin vào lời của Đức Giêsu là từ chối chính ngài. Lắng nghe lời ngài là tin vào Đấng đã sai ngài (Ga 5,24) vì Đức Giêsu là sự sống (Ga 14,6), lời của ngài cũng là sự sống (Ga 6,63). Vì ngài là Đấng phán xử (Ga 8,5), nên lời của ngài có tác dụng phán xử (Ga 12,48)
Trong thư thứ I, Gioan khẳng định ông loan báo ‘Lời Hằng Sống’ mà ông đã thấy tận mắt và sờ bằng tay (1,1-4)
Theo các Tin mừng nhất lãm, ý của Thiên Chúa và lời của Thiên Chúa là một (Mc 3,35; Lc 8,31). Ý đó và lời đó biểu lộ trong ý và lời của Đức Giêsu.
Nói tóm lại, nội dung của việc rao giảng là lời, qua đó Thiên Chúa mặc khải và biểu lộ ý muốn. lời đó cũng là chính Đức Kitô. Rao giảng lời Thiên Chúa là rao giảng Đấng Kitô (Cv 8,5), loan truyền Đức Giêsu (Cv 9,20).
3. TIN MỪNG
Từ ngữ Tin mừng được sử dụng thường xuyên trong Tân Ước để chỉ nội dung lời rao giảng của các tông đồ.
Lời rao giảng này được gọi là ‘TIN MỪNG CỦA THIÊN CHÚA’ (I Th 2,2.8.9; II C 10,16), TIN MỪNG ĐỨC KITÔ (II C 4,3,2; II C 9,13), TIN MỪNG VINH QUANG ĐỨC KITÔ (II C 4,4), TIN MỪNG ƠN CỨU ĐỘ ANH EM (Ep 1,13), TIN MỪNG BÌNH AN (Ep 6,15), TIN MỪNG CHÂN LÝ (Co 1,15), TIN MỪNG VINH QUANG CỦA THIÊN CHÚA HỒNG PHÚC (I Tm 1,11).
Đối với Phaolô, ‘Tin mừng Thiên Chúa’ mà ông loan báo là ‘Con Của Người’, Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, Đấng ban ân sủng và sứ mạng rao giảng
Trong sách Công vụ, Tin mừng các tông đồ loan báo là ‘GIÊSU’ (Cv 8,35), ‘GIÊSU – KITÔ’ (Cv 5,42), ‘GIÊSU ĐẤNG CHÚA’ (Cv 11,20), là lời của Đấng Chúa (Cv 15,35), ‘bình an của Đấng Chúa’ (Cv 10,36), là Đức Giêsu và sự phục sinh của Ngài (Cv 17,18).
Tóm lại nội dung của Tin mừng là một chủ vị, là Thiên Chúa trong Đức Kitô, là chính Đức Kitô, nơi Thiên Chúa tự khải và cứu độ chúng ta. Nhận biết ngài là nhận biết Thiên Chúa. Loan báo Tin mừng là rao giảng về ngài, công bố tình yêu của Thiên Chúa hiện thân trong ngài.

4. MẦU NHIỆM
Ngoài ba từ ngữ trên chỉ nội dung rao giảng, Phaolô thích dùng chữ ‘MẦU NHIỆM’.
Mầu nhiệm là kế hoạch cứu độ, từ đời đời ẩn giấu nơi Thiên Chúa, sau đó được biểu lộ và loan truyền.
Phaolô phân biệt kế hoạch làm ba giai đoạn:
a) Mầu nhiệm ẩn giấu nơi Thiên Chúa: từ đời đời, Thiên Chúa có chương trình làm cho chúng ta được vinh quang (I C 2,7); kế hoạch này ẩn giấu đối với thiên thần (I C 2,8; Ep 3,9-10) và loài người (Ep 3,5). Nhưng Thiên Chúa, sắp đặt mọi sự để mặc khải cho chúng ta vào giờ đã định tức là ‘thời sung mãn’ (Ep 1,10).
b) Mầu nhiệm được mặc khải: tới thời sung mãn, Thiên Chúa mặc khải cho chúng ta chương trình của người nhờ Chúa Thánh Thần (I C 2,10). Mặc khải mầu nhiệm đã đươc chuẩn bị xa trong thời Cựu ước, được biểu lộ rõ ràng và trọn vẹn trong thời Tân Ước. mặc khải được ban cho các tông đồ và tiên tri (Ep 3,5). Các thiên thần trên trời cũng hưởng nhờ (Ep 3,10). Phaolô đã được ban cho một tri thức đặc biệt về kế hoạch đối với dân ngoại (Ep 3,8-9)
c) Mầu nhiệm loan truyền: mầu nhiệm được mặc khải cho loài người nhờ sự loan báo và rao giảng của các tông đồ (Tt 1,1-3). Mầu nhiệm không dành riêng cho một số người nhưng phải công bố cho chư dân. Kế hoạch cứu độ được gọi là mầu nhiệm, vì không được mạc khải tức khắc, nhưng từ từ, với một sự chuẩn bị lâu dài.
Nội dung của mầu nhiệm được Phaolô diễn đạt bằng nhiều cách nói khác nhau, bổ sung cho nhau: sự giải hoà mọi người trong máu Chúa Kitô (Col 1,20-26), sự thu hồi mọi thực tại về một đầu mối là Chúa Kitô (Ep 1,10) chính Đức Kitô làm cho con người có thể thông dự vào sự sống thần linh (I C 2,6-10) người tái lập sự hoà điệu và duy nhất đã bị tội lỗi hủy hoại.
Đức Kitô là đối tượng chủ yếu của mầu nhiệm nên Phaolô thường tóm lược những lời rao giảng của ông trong những thành ngữ cô đọng: “Loan báo Đức Kitô giữa những người ngoại giáo” (Ga 1,16) “rao giảng Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta (II C 4,5), “không biết sự gì ngoài Đức Kitô” (I C 2,2), “không muốn điều gì ngoài việc làm cho Đức Kitô cư ngụ trong tâm hồn người nghe” (Ep 3,17).

5. ĐỨC KITÔ VƯỢT QUA
Đức Kitô, đối tượng và nội dung của lời Thiên Chúa, của Tin mừng, của Mầu Nhiệm là Đức Kitô tử nạn- phục sinh. Phêrô loan báo Đức Kitô tư nạn- phục sinh trong các diễn từ của ông tại Yêrusalem ngày lễ Ngũ Tuần (Cv 2,22-36), ở cửa đền thờ khi chữa người què (Cv 3,13-15), trước Công nghị Do thái (Cv 4,10; 5,30-31), cho viên bách quản Cornêliô (Cv 10,36-40).
Phaolô cũng rao giảng Đức Kitô tử nạn-phục sinh cho người Do thái ở Antiôkia (Cv 13,27-30), cho người ngoại giáo ở Athêna (cv 17,31).
Lúc cần ‘toát yếu Tin mừng’, giới hạn vào những sự kiện căn bản, các Tông đồ luôn nói tới cái chết và sự sống lại của Đức Kitô. Khi phải tóm tắt hơn nữa, các vị chú trọng vào một biến cố duy nhất: sự Phục sinh của Đức Kitô. Đức Kitô được đặt làm Con Thiên Chúa theo Thần Khí nhờ sự Phục sinh (Rm 1,2-5). Ngài phục sinh từ trong cõi chết để chúng ta được công chính hoá (Rm 4,24-25). Để dược cứu độ, phải tin Thiên Chúa đã phục sinh Đức Kitô (Rm 10,8).
Các sự kiện khác trong lịch sử cứu độ bao quanh Đức Kitô Phục Sinh như những vòng tròn quy tâm, từ việc tiên báo của các Ngôn sứ đến việc Đức Kitô trở lại ngày quang lâm.
Trước biến cố nhập thể, mọi sự đều hướng tới Đức Kitô. Sau nhập thể, Đức Kitô trở thành nguồn mạch, Đức Kitô vừa là tâm điểm và hướng tới của lịch sử. Chỉ có thể hiểu Cựu ước và Tân Ước từ Đức Kitô và trong Đức Kitô. Ngài là sự duy nhất giữa Cựu và Tân Ước. Cựu ước chuẩn bị và Tân Ước hoàn tất.

6. LỊCH SỬ CỨU ĐỘ
Đức Kitô tử nạn-phục sinh là Đức Kitô Cứu Thế. Ngài đã đến thế gian cứu chữa những gì hư mất (Lc 19,10), ban cho chúng ta sự sống đời đời (Yn 3,16), thí mạng sống làm giá chuộc nhiều người (Mt 20,28), cứu chúng ta khỏi thế giới tối tăm, cho chúng ta quyền làm dưỡng tử của Thiên Chúa (Ga 4,6; Tt 2,11; Rm 1,16).
Thánh Gioan khẳng định: Thiên Chúa đã ban cho chúng ta sự sống vĩnh cửu trong Con của Người; Ai có Chúa Con là có sự sống, ai không có Chúa Con thì không có sự sống (I Yn 5,11-12).
Để thỏa mãn ‘ước vọng hạnh phúc’ của chúng ta, chính Thiên Chúa, Đấng Thiện Hảo, đã tự hiến mình cho chúng ta trong con Yêu Dấu của Người là Đức Giêsu Kitô. Người cho chúng ta chiến thắng sự chết và tham dự sự sống đời đời nhờ Đức Kitô, vị trung gian duy nhất (1 Tm 2,5).
Đức Kitô thiết lập tương quan thân tình giữa chúng ta và Thiên Chúa, giống như liên hệ giữa Con với Cha. Ngài biến chúng ta trở nên tạo vật mới.
Con người được cứu độ là con người kết hiệp với Chúa Kitô nhờ ân sủng, con người mà cuộc sống và tư tưởng luôn bắt nguồn từ Chúa Kitô: đối với tôi, sống là Chúa Kitô (Ph 1,21).
Mạc khải được ghi lại trong Kinh Thánh không chỉ là sự biểu lộ chân lí, là giải đáp cho các vấn đề con người hằng suy nghĩ. Mạc khải tiên vàn là sự can thiệp của Thiên Chúa vào lịch sử để cứu độ con người, giải thoát nhân loại khỏi tội lỗi và sự chết, đưa họ vào hưởng sự sống thần linh.
Kinh Thánh cống hiến cho chúng ta lịch sử tương quan giữa Chúa và nhân loại khởi đầu từ tạo dựng, rồi với những sự kiện cùng nhân vật đặc thù như Abraham, Yacob, Mose, David, dẫn tới Chúa Kitô là chóp đỉnh. Đó cũng là lịch sử của một dân tộc được tuyển chọn, hướng tới Đức Kitô là trọng tâm và nối dài trong Hội Thánh. Lịch sử này là tiếng nói của Thiên Chúa, sứ điệp của Người gửi đến cho nhân loại. Tiếng nói và sứ điệp cô đọng trong gương mặt và cuộc đời của Giêsu Kitô, được chứng minh là đích thực bằng cái chết và sự sống lại của Chúa Giêsu Kitô.

admin
13-12-2010, 11:36 AM
7. ƠN GIẢI THOÁT
Kitô giáo có một học thuyết, một vũ trụ quan và nhân sinh quan, nhưng không bằng lòng với học thuyết suông. Ý hướng của Kitô giáo là thay đổi đời sống con người, làm cho học tham gia sự sống thần linh. Con người, tự mình không thể đạt tới hạnh phúc đích thực, không định hướng được cuộc đời. Khi nhận ra bản thân là ' kẻ sống cho cái chết' (Sein Zum Todo), con người thấy cuộc đời của mình tới ‘ngõ cụt’.
Trong Đức Kitô, Thiên Chúa mời gọi con người ra khỏi trạng huống ‘nô lệ’, cống hiến cho họ niềm vui được nên một với Người, giải thoát khỏi tội lỗi và sự chết.
Kitô giáo là một sứ điệp cứu độ, loan báo cho con người Tin mừng. Thiên Chúa muốn con người nối kết số phận mỏng dòn của nó với vinh quang bất diệt của Người.
Kitô giáo là một sứ điệp, nhưng không chỉ là ‘ Lời Ngỏ’ mà còn là ‘Con người ngỏ lời’ với mọi người. Sứ điệp Kitô giáo đồng hoá với con người mang sứ điệp là Yêsu-Kitô. Yêsu-Kitô mở đường sự sống cho nhân loại; chính Ngài là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Ai khát, đến với Giêsu, sẽ được ‘thỏa mãn’ (Yn 7,37). Ai bước theo Yêsu, sẽ không đi trong bóng tối, nhưng sẽ có ánh sáng ban sự sống (Yn 14,6).
Đến đây, chúng ta tổng hợp tất cả những yếu tố vừa nêu trên. Nội dung của việc rao giảng trong Tân Ước là ‘NƯỚC THIÊN CHÚA’, là ‘LỜI THIÊN CHÚA’, là ‘TIN MỪNG, là ‘MẦU NHIỆM’, là ‘ƠN CỨU ĐỘ’. Nội dung này không chỉ là những chữ viết, câu nói suông, nhưng hiện thân trong một con người đã chết và đã sống lại cho chúng ta được sống.
Đó là điểm cốt yếu phân biệt ‘ Rao giảng’ với các loại ‘truyền thống’ khác. Rao giảng không chỉ là dạy học, cho người khác biết một mớ kiến thức cần thiết, là giải thích, cắt nghĩa một số điều mà trước đó người nghe chưa hiểu, là trình bày một đề tài, làm cho người nghe quán triệt.
Về phương diện đối tượng hay nội dung, vấn đề quan trọng của việc rao giảng là làm thế nào để cho người nghe nhận biết con người mà hiện giờ họ không thấy bằng mắt phàm, Đức Yêsu-Kitô, con của Thiên Chúa Hằng Sống. Làm sao thiết lập tương quan giữa Thiên Chúa và con người nhờ giới thiệu gương mặt Yêsu-Kitô, con của Thiên Chúa và Anh của loài người. Công việc của người rao giảng không phải là tưởng tượng và tô điểm một nhân vật để gây chú ý và xúc cảm nơi người nghe, đã biết qua các lời trong Sách Thánh. Vì thế rao giảng là chuyển đạt một kinh ngiệm, là trao ban sự sống Chúa Kitô ở trong mình, tuy không thuộc về mình.
Chúng ta có thể kết luận rằng đối tượng hay nội dung của rao giảng không còn là đối tượng nữa, nhưng là chủ thể, chủ vị đầy tình thương, đang chờ đợi, mong mỏi được đón nhận bởi những người mình yêu.
I. AI GIẢNG?
1. TIẾNG NÓI CỦA HỘI THÁNH QUA THỪA TÁC VIÊN.
Sứ mạng của Hội Thánh là rao giảng Chúa Kitô cho thế giới, Hội Thánh đã lãnh nhận nhưng không Mạc khải của Thiên Chúa trong Đức Yêsu-Kitô. Nhiệm vụ hiện thời của Hội Thánh là ban phạt nhưng không lời Thiên Chúa.
Kho tàng Đức tin (depostium fidei) đã được Chúa Kitô trao cho Hội Thánh gìn giữ, để Hội Thánh phân phát cho muôn dân.
Vả lại ai có thẩm quyền và khả năng nói về Hôn Phu ngoài Hiền Thê, là người biết rõ Hôn Phu và mật thiết kết hợp với!
Chỉ Hội Thánh mới nói đúng và nói với tất cả tâm tình về Đấng vừa là Người Yêu, là Sự Sống, và là thủ lãnh của mình. Chỉ Hội Thánh mới có trọn vẹn Thánh Thần của Đức Kitô Phục Sinh, nhờ đó không ngừng khám phá sự giàu có của mầu nhiệm Thiên Chúa trong Đức Yêsu-Kitô.
Nhưng trong Hội Thánh, Thiên Chúa tuyển chọn một số thừa tác viên đặc biệt để nói thay cho Hội Thánh với thẩm quyền nhận lãnh từ trên. Những người này được Chúa Cha thánh hiến và sai đi rao giảng Tin mừng cứu độ, như Chúa Kitô đã được thánh hiến và sai đến thế gian rao giảng nước Thiên Chúa (Yn 17,17). Họ là những con người được dành riêng cho sứ mạng phục vụ Lời. Họ tiếp nối sứ mạng của các Tông đồ và loan báo cùng một sứ điệp.
Vì là thừa tác viên chính thức của Hội Thánh, tiếng nói của họ là tiếng nói của Hội Thánh. Họ không có quyền nói tiếng riêng, vì tiếng nói riêng sẽ không phản ánh trung thực sứ điệp đã được giao phó cho toàn thể Dân Chúa gìn giữ và công bố. Tiếng nói riêng sẽ là tiếng nói lạc lõng, không tác dụng trên người nghe.
2. THÁNH THẦN VÀ CHÚA KITÔ TRONG GIÁO HỘI.
Chúa Kitô đã tự đồng hoá với Hội Thánh. Ngài ban trọn vẹn Thánh Thần cho Hội Thánh, và giao cho Hội Thánh quyền năng mà Chúa Cha ban. Vì thế, tiếng nói của Hội Thánh là tiếng nói của Chúa Kitô.
Tông đồ Phaolô luôn xác tín, khi ông nói, không phải là ông, mà là Chúa Kitô ở trong ông (2 Cr 13,3). Giáo huấn của tông đồ là giáo huấn của Chúa Kitô (1 Tm 4,2; Rm 15,30). Chính Đức Kitô ra lệnh và khuyến cáo nhờ Tông đồ (2 Cr 5,20). Đức Kitô phổ biến khắp nơi sự hiểu biết về chính mình Ngài (2 Cr 2,14).
Khi còn tại thế, Đức Giêsu tuyên bố với các môn đệ : ‘Ai nghe anh em là nghe thầy, ai khinh dể anh em là khinh dể Thầy, ai khinh dể Thầy là khinh dể Đấng đã sai Thầy’ (Lc 10,16).
Môn đệ có sứ mạng làm chứng cho Chúa Kitô trước mặt các dân ngoại, và vì đó mà họ sẽ điệu đến trước mặt quan quyền vua Chúa (Mt 10,8). Nhưng họ khỏi lo lắng, vì Thần khí của Chúa Cha sẽ nói trong họ (Mt 10,20).
Khi tường thuật công việc rao giảng của các Tông đồ, sách công vụ tông đồ luôn luôn nhấn mạnh rằng có Thánh Thần cùng làm chứng, cùng rao giảng với các ông. Lời lẽ của các ông không phải là tiếng nói riêng, mà là tiếng của Thánh Thần, và Thánh Thần không nói gì ngoài điều Đức Kitô đã dạy.
Trong Truyền thống của Giáo Hội, một số Giáo phụ và Tiến sĩ Hội Thánh khai triển quá nhiều vấn đề ‘ chủ thể rao giảng’.
3. THẦN HỌC CỦA AGOSTINO
Khi đề cập đến Yoan Tẩy giả tự xưng là ‘Tiếng của Người Hô’ trong sa mạc (Yn 1,23), Agostino áp dụng thành ngữ cho những người rao giảng Lời Chúa. Người rao giảng làm vọng lại tiếng nói của Chúa Kitô.
Tiếng nói hiện thân trong con người Yoan Tẩy Giả: nhưng không chỉ mình ông là tiếng nói, bởi vì ai rao giảng Lời là tiếng nói của Lời… Lời đã sai đi rất nhiều người rao giảng mà vẫn cư ngụ trong cung lòng Chúa Cha” (ML 38, col 13006)
Đối với Agostino, chính Ngôi Lời Thiên Chúa lên tiếng trong lời rao giảng của thừa tác viên Hội Thánh, để lời đến tai người nghe, Đức Kitô cần đến tiếng nói của của con người làm cho Lời có thể vang vọng. Trong thời Cựu ước, Ngôi Lời đã chọn lời nói của Ngôn sứ. Đến giờ đã định, Ngài đã tự đồng hoá với con người và tiếng nói của Chúa Yesu, và hiện nay Ngài tiếp tục nói qua miệng các thừa tác viên.
Đức Kitô dạy dỗ các Kitô hữu trong lời rao giảng của Hội Thánh:
“Chính Đức Kitô đang dạy dỗ: Ngai toà của Ngài ở trên trời nhưng trường học của Ngài ở dười đất, trường học của Ngài là thân thể huyền nhiệm của Ngài.”
(Serme de disciplina christian…)
Người Do Thái không thể tha thứ, vì đã nghe Lời của Đức Kitô mà vẫn cứng lòng tin. Người ngoại giáo cũng không được miễn thứ, nếu họ không tin, vì họ cũng đã nghe lời của Đức Kitô qua miệng các Tông đồ và những người kế vị. Đức Kitô nói với dân ngoại qua sự trung gian của Hội Thánh.
Mặc dù bên ngoài người nghe chỉ thấy con người có xác thịt yếu đuối như họ, thực ra không phải họ nghe người ấy, mà là nghe Chúa Kitô trong con người ấy.
Agostino xây dựng ý tưởng thần học này trên tương quan mật thiết giữa Hội Thánh và Đức Kitô. Sự kết hiệp chặt chẽ giữa Đức Kitô và Hội Thánh khiến cho, khi Hội Thánh lên tiếng nói, thì đó là Lời Nói của Đức Kitô, cả hai chỉ có một tiếng duy nhất:
“Đầu và Thân, Hôn Phu và Hôn Thê là Hai, nhưng làm thành một. Nếu cả hai có cùng một sự sống, tại sao cả hai không có cùng tiếng nói, Đức Kitô không thể làm thinh nhưng Ngài cũng lên tiếng”.
(Enarr. in Ps 93 – ML 37, col 1200)
Giáo lý của Agostino được nhiều người tiếp nối và đã diễn tả bằng nhiều hình ảnh khác nhau : thừa tác viên rao giảng Tin mừng được hình dung như ‘kinh đào dẫn Nước Hằng Sống’ như ‘lưỡi’ nhời đó Thiên Chúa nói cùng nhân loại, như ‘thúng’ chứa đựng hạt giống Lời Chúa, như ‘người thông ngôn’ của Thiên Chúa…
4. Thánh Tôma và các nhà thuyết giảng hậu Trentô.
Tuy không rõ và đầy đủ như Agostino, Tôma tiến sĩ cũng bàn nhiều về ‘chủ thể rao giảng’
Đối với Tôma, trong việc rao giảng của Hội Thánh, Thiên Chúa là nguyên nhân chính, thừa tác viên chỉ là nguyên nhân dụng cụ. (causa instrumentalis).
“Kitô hữu tin vào người rao giảng, không phải vì ông là con người, nhưng vì Thiên Chúa nói qua ông… kẻ vô đạo không tin Thiên Chúa nói qua con người.”
(3 Sent. dist. 23, q.2,a,2)
Sự chấp nhận chứng từ của con người hay thiên thần dẫn chúng ta đến chân lý, nếu chúng ta biết nhận ra chứng từ của Thiên Chúa nói trong họ”
(De Veritate, q. 14, a. 8)
Đôi khi Tôma hiểu việc Chúa Kitô nói trong vị tông đồ theo một nghĩa rộng hơn:
“Những điều mà con người làm dưới sự thúc đẩy của Thánh Thần là những điều chính Thiên Thần làm. Cũng thế, cho Đức Kitô: Đức Kitô thúc đẩy lên tiếng, tông đồ gán cho Đức Kitô: Đức Kitô nói trong tôi”
(In Epist. II ad Cor. c.13, lect.1)
Nhưng nói chung, Tôma vẫn nghiêng về khuynh hướng của Thiên Chúa hay Chúa Kitô như chủ thể chính yếu của thi hành việc rao giảng:
“Người dẫn đưa chúng ta, qua lời lẽ của con người, đến chỗ tin tưởng, không phải vào người đang nói, nhưng vào Thiên Chúa mà con người rao giảng chỉ là tiếng vọng”
(In Ioannis Evang. c. 5, lect. 4)
Sau thánh Tôma, vì ảnh hưởng triết học kinh viện lan rộng, nhiều người hơi lãng quên cái nhìn của Agostino, đặt nặng yếu tố ‘tri thức’. Nhưng vẫn có người trung thành với Kinh Thánh và truyền thống, ý thức sự mời gọi của Thiên Chúa hướng tới nhân loại qua việc rao giảng.
Vì có nhiều người giảng thuyết để các yếu tố trần túc xen vào càng ngày càng nhiều lập trường của các vị trung thành trở nên dè dặt, tế nhị hơn, nhưng vẫn chứa đựng xác tín là Thiên Chúa nói qua lời rao giảng của Hội Thánh:
“khi làm một thừa tác viên loan báo Lời Chúa, không bận tâm đến thể văn…, đến những câu nói hoa mỹ làm êm tai người nghe, mà chỉ rao giảng Lời đã được Thiên Chúa mạc khải, bấy giờ, không phải là con người thừa tác viên rao giảng nữa, nhưng là Thánh Thần nói trong người ấy, hay chính Đức Kitô…Nhà giảng thuyết chỉ là dụng cụ. Khi nhạc sĩ sử dụng cây đàn, tác giả điệu nhạc không là cây đàn, nhưng là nhạc sĩ. Nơi một thừa tác viên thánh thiện, lời lẽ con người chỉ là tiếng của cây đàn. Đấng rao giảng đích thực, chính là Đức Kitô; Ngài sưởi ấm tầm hồn thừa tác viên, để ông thấu hiểu. Do đó chúng ta không nên tôn vinh con người rao giảng, nhưng hãy tôn vinh Chúa Kitô.” (Vincent Ferrier)
Sau Công đồng Trentô, mặc dù có sự xung đột giữa Tin lành và công giáo, vẫn có người suy nghĩ phù hợp với Truyền thống và Kinh Thánh, đặt nặng vấn đế rao giảng và nhìn nơi đó tác động của Thiên Chúa.
BOSSUET để các Thánh Thần hoạt đọng qua trung gian các thừa tác viên. Ônh thúc giục ‘chăm chỉ lắng nghe Đức Giêsu Kitô, Đấng làm xáo trôn sự bình an giả tạo của con người và đặt tay vào vết thương của con người để thuyên chữa’. (BOSSUET, Sun la prédication Evangile, Carême du Louvre, ler dimanche).
Một vài chỗ ông còn nói mạnh bạo hơn :
“Con Thiên Chúa nhập thể trong lới rao giảng, và hiện diện giống như trong Thánh Thể; chúng ta có thể thờ lạy Đức Kitô đang nói với chúng ta giống như chúng ta thờ lay Ngài trong hình bánh rượu” (BOSSUET, Sur la parole de Dieu, Carême des Carmélites, 2e dim)
Nhà giảng thuyết phải là ‘tấm gương’ phản chiếu Đức Kitô, là ‘Mương’ dẫn Nước Hằng Sống của Tin mừng, là kẻ giảng giải trung thành, không thay đổi, khong pha trộn, không giảm bớt Lời Thánh Thiện của Thiên Chúa. Thừa tác viên là người ‘ làm cho Đức Kitô nói’. Do đó ông phải hết sức trung thành với Lời Kinh Thánh. Nói điều không có trong Kinh Thánh là gán cho Đức Kitô cái không thuộc về Ngài.
Lập trường của Bossuet cho thấy không phải chỉ có người Tin lành mới yêu mến Lời Chúa và đề cao việc rao giảng.
Tóm lại, các tác giả đã được đề cập đều nói tới sự hiện diện của Thiên Chúa trong lời nói của thừa tác viên rao giảng, một sự hiện diện khác với sự soi sáng nội tâm, khác sự có mặt của Vị Thầy Vô Hình cư ngụ trong lòng của mỗi người. phải phân biệt hai tiếng nói: tiếng nói bên ngoài cũng do Thiên Chúa và tiếng nói nội tâm cũng do Thiên Chúa. Đức Kitô sử dụng tiếng nói ben ngoài để làm cho chúng ta hiểu và đón nhận tiếng nói bên trong.

admin
13-12-2010, 11:37 AM
5. Lập luận của thần học hiện đại.
Nếu Augustino đã dùng ý tưởng ‘Nhiệm Thể’ để xây dựng thần học của ông về ‘ chủ thể rao giảng’, hôm nay chúng ta phải bổ sung bằng một ý tưởng khác.
Rao giảng nhằm khơi dậy niềm tin vào Chúa Kitô (fides ex auditu). Sự nảy sinh Đức tin nhờ việc nghe giảng giả thiết Thiên Chúa hiện diện và và nói qua các sứ giả của Người. Con người lắng nghe Lời của Thiên Chúa qua lời các sứ giả.
Tin đã là ‘một sự gặp gỡ’: nếu Thiên Chúa không hiện diện trong lời rao giảng, làm sao có gặp gỡ? Đây là khía cạnh hiện sinh mà nhà Kinh Thánh và thần học BULMANN đề cao.
Tin là gắn bó với Thiên Chúa nhờ Lời của Người. Tin bắt đầu một cuộc đối thoại tình yêu với Thiên Chúa. Đối thoại này chỉ có, nếu Thiên Chúa lên tiếng trước qua lời rao giảng.
Sự gặp gỡ và đối thoại chuẩn bị cho sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa trong Bí tích.
Lời của con người thuần túy dù múc từ mặc khải, dù bản về Thiên Chúa, không thể nào sinh ra Đức tin. Tương quan mật thiết giữa rao giảng và Đức tin chỉ có thể hiểu, nếu ‘lời bàn về Thiên Chúa’ không là một lời thuần túy nhân loại, nhưng là ‘lời do miệng Thiên Chúa phán’ qua con người.
Gặp gỡ Thiên Chúa là một ân sủng do sáng kiến của Thiên Chúa. Thiên Chúa đến với con người, ngỏ lời, mời gọi, cho biết ý muốn của Người.
Nếu giảng chỉ là ‘luận về Thiên Chúa’, thì cùng lắm chỉ có tác dụng làm cho con người dặt vấn đề về Thiên Chúa, chứ không thể nào tạo ra sự gặp gỡ giữa con người với Thiên Chúa.
Mời gọi tin tưởng là một lời mời gọi yêu thương. Chỉ có thể mời gọi yêu thương bằng tình yêu. Nếu một mình Linh mục mời gọi yêu thương, cùng lắm người nghe chỉ yêu thương Linh mục; không thể nảy sinh một tình yêu cao hơn. Muốn có sự gặp gỡ trong tin yêu, chính Thiên Chúa ‘phải thể hiện tình yêu của Người trước’ qua lời rao giảng.
Mời gọi yêu thương phát xuất từ tình yêu. Theo kiểu nói của Schillebeeckx, một nụ cười của Thiên Chúa trên gương mặt của giêsu có khả năng biến đổi cả một cuộc đời. Qua lời rao giảng, một tiếng nói, một cái nhìn của giêsu trên môi miệng và đôi mắt của thừa tác viên có tác dụng giống như vậy.
Dĩ nhiên chỉ có sự gặp gỡ trọn vẹn trong Bí tích. Nhưng sự kết hợp trong Bí tích giả thiết con người đã chấp nhận gặp gỡ, con người đã nhìn thấy ánh mắt của Thiên Chúa, con người đã được “đánh động” bởi tình yêu Thiên Chúa đang biểu lộ. Bí tích chỉ hữu ích đối với người lãnh nhận, khi người ấy tin tưởng. Do đó Bí tích đòi hỏi có sự rao giảng chuẩn bị và dọn đường (LM 5)
Có thể coi Bí tích như ‘ấn tín’ của một sự gặp gỡ đã bắt đầu qua lời rao giảng. Vả lại Đức tin tự nó đã là nền tảng của ơn cứu rỗi. Ai tin sẽ được cứu độ, ai không tin tự mình đã bị luận phạt. Đức tin là một sự đáp trả; tin Chúa Kitô là đáp trả lời mời gọi của Ngài. Không thể có niềm tin vào Chúa Kitô, nếu không có Chúa Kitô đang hiện diện (dù vô hình) và mời gọi.
Theo từ ngữ của Gioan, tin Chúa Kitô là đến với Ngài (Yn 6,35.37.41). Mà không ai tới được với Chúa Kitô, nếu không có Thánh Thần dẫn đến.
6. Trả lời vấn nạn: Mạc khải đã kết thúc?
Mọi thần học gia đều đồng ý Chúa Kitô luôn trợ giúp thừa tác viên rao giảng Tin mừng, vì Ngài đã hứa sẽ ở cùng Hội Thánh mọi ngyà cho đến tận thế (Mt 28,18-20).
Nhưng một số vị cho rằng Chúa Kitô chỉ ‘giúp đỡ’ để con người rao giảng giải thích đúng và loan báo trung thực Tin mừng cứu độ. Bản thân Ngài không nói qua miệng các nhà giảng thuyết.
Lập luận của họ dựa trên sự kiện Mạc khải đã chấm dứt với cái chết của những Tông đồ cuối cùng.
Việc Chúa Kitô nói qua miệng người rao giảng chỉ áp dụng cho các Tông đò; chư skhông áp dụng cho thừa tác viên trong Hội Thánh.
Đồng ý là mạc khải đã kết thúc với các tông đồ! Sau các ông, không có mạc khải thêm vào. Nhưng sự hiện diện của Chúa Kitô trong Hội Thánh hôm nay không nhất thiết đưa voaà kho tàng Mạc khải những chân lý mới.
Vấn nạn vấp phải lỗi lầm quan trọng: hiểu tiếng nói của Chúa Kitô theo nghĩa ‘lượng’ (sens quantitatif), vào theo nghĩa ‘tĩnh’ (sens statique). Nếu tiếp nối lập luận của vấn nạn, chúng ta bị dẫn đến chỗ khẳng định: Lời nói bao gồm một số chân lý, nói thêm là thêm chân lý. Cách hiểu chân lý như thế rất xa với Kinh Thánh, và có thể đưa tới hai lập trường cực đoan đối kháng nhau; lập trường ‘hảo cổ’ (archaisme) khiến Tin mừng không còn là tiếng nói cho mọi người hiện đại, lập trường ‘tương đối’ (relativisme) chủ trương Mạc khải đã chấm dứt, nhưng không là chân lý trọn vẹn.
Dĩ nhiên các thần học gia nếu vấn nạn chưa tự mình khảng định như thế, vị họ chưa suy nghĩ cho đến cùng những ‘hậu quả luân lý’ của các lập luận họ để ra.
Vả lại theo Kinh Thánh Tân Ước, chân lý là chính Chúa Kitô, Đấng mạc khải Thiên Chúa. Chân lý Kitô giáo là ‘chân lý chủ vị’ (Vérité Personnelle).
Chân lý hôm qua, hôm nay và ngày mai vẫn là một, như Chúa Kitô hôm qua, hôm nay và ngày mai vẫn là một (Hr 13,8). Chúng ta chỉ có một Chúa Kitô, một Đức Tin, một phép Rửa, một Thiên Chúa là Cha (Ep 4,5-6).
Chân lý đã có, đã hoàn tất, nhưng vẫn luôn luôn mới mẻ, vì luôn luôn vượt trên chúng ta. Hơn thế nữa, chân lý là Tình yêu luôn luôn hiện diện và sinh động, và khi Tình yêu có mặt là Người Yêu có mặt.
7. Vấn nạn: sai lầm của người giảng thuyết.
Vấn nạn thứ hai: tin rằng Chúa nói qua miệng thừa tác viên rao giảng dẫn tới việc đồng hoá những sai lầm của người giảng thuyết với lời nói đích thực của Thiên Chúa.
Vẫn nạn này đơn sơ nhưng quan trọng, vì dựa trên thực tế. Nhưng chúng ta có thể lý luận ngược lại: không nên dựa vào lý do Linh mục có thể nói những điều sai trong khi giảng để chối bỏ hiện diện sinh động của Chúa Kitô trong thừa tác viên của Hội Thánh; phải đặt vấn đề tận gốc hơn; khi nào rao giảng đích thực là rao giảng Chúa Kitô?
Đặt vấn đề như vậy, chúng ta đương nhiên trở lại ‘nội dung đích thực của lời rao giảng’ (đã được bàn ở trên), đồng thời chuyển qua vấn đề ‘cách thức rao giảng’. Nếu rao giảng đích thực là rao giảng Chúa Kitô, thì chính Chúa Kitô là mẹo mực, hay rõ hơn, chính Đức Kitô tử nạn – phục sinh, đối tượng và nội dung của Đức tin tông truyền (Foi apostolique). Đức tin của Hội Thánh hôm nay vẫn là Đức tin tông truyền, vì sinh ra từ Lời Tao Giảng của các Tông đồ (Prédication Apostolique). Thiếu sự hiệp thông cùng một Đức tin với Hội Thánh, thừa tác viên không còn là Thừa Tác Viên đích thực rao giảng Chúa Kitô.
Ở đây không thể bàn tới sự hiệp thông trong Đức tin tông truyền, vì sợ quá dài, vượt khuôn khổ một bài nghiên cứu và dẫn ra ngoài chủ đề chính yếu được nghiên cứu. Chỉ có thể tóm tắt như sau: ai rao giảng ý kiến riêng của mình thì tự mình phá hủy vai trò tao giảng Chúa Kitô. Rao giảng bây giờ không còn là rao giảng đúng nghĩa (loan báo Chúa Kitô). Điều này khiến cho những ai đứng trên toà giảng phải giật mình: coi chừng, chính lúc giảng, bản thân thừa tác viên không thực thi sứ mạng rao giảng!
III. GIẢNG ĐỂ LÀM GÌ?
1. Đức tin phát sinh từ Lời Rao Giảng.
Giữa Thiên Chúa là Tác giả chính của ơn cứu độ và nhân loại được thừa hưởng ơn cứu độ ấy, Thiên Chúa muốn có hoạt động trung gian là công việc rao giảng của Hội Thánh.
Trước mắt loài người, cách thể hiện chương trình cứu độ của Thiên Chúa vó vè điền rồ, vì người đã chọn phương thế quá mỏng giòn và yếu đuối: môi miệng của ‘phàm nhân’.
Chúng ta có thể nói mạnh dạn và không sợ sai lầm: Rao giảng thuộc về kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Thiên Chúa dùng việc rao giảng của Hội Thánh để thông tri ý định cứu thế của Người cho nhân loại. Thiên Chúa mời gọi con người tham sự và sự sống thần linh nhờ các cộng sự viên Người tuyển chọn làm các thừa tác viên phục vụ Lời.
Theo thần học gia CULLMANN, rao giảng Tin mừng là giai đoạn cuối của lịch sử cứu độ khai trương với biến cố phục sinh và kết thúc vào Ngày Quang Lâm của Chúa Kitô. Sứ mạng chính yếu của Hội Thánh hiện nay là loan báo Tin mừng cứu độ cho toàn thể nhân loại. Chúa Kitô sẽ trở lại, khi Tin mừng đã được loan báo khắp cùng trái đất (Mc 13,10; Mt 24,14).
Rao giảng còn là phương thế ban ân sủng, là hành vi cứu độ. Rao giảng loan báo ơn cứu độ, và đưa tới ơn cứu độ. Theo Phaolô, Rao giảng Tin mừng là quyền năng của Thiên Chúa để cứu thoát mọi kẻ tin (Rm 1,16)
Lời Chúa được rao giảng khơi dậy niềm tin nơi những người nghe. Tông đồ có sứ vụ rao truyền sự vâng phục Đức tin cho các dân ngoại (Rm 1,5), vì nếu không có Đức tin, không ai có thể đẹp lòng Thiên Chúa (Hr 11.6). rao giảng là phương thế thông ban Đức tin.
Để được cứu độ, phải tin và tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Chúa, đã chết và đã sống lại (Rm 1,23). Nhưng ai có thể tuyên xưng hay kêu cầu Danh Ngài nếu trước đó không tin vào Ngài? Và làm sao có thể tin nếu không được nghe? Làm thế nào nghe nếu không có người rao giảng?... (Rm 10,14-15). Rao giảng là cỗ xe chuyên chở Đức tin, là nhịp cầu giữa Thiên Chúa và nhân loại, Đức tới sự gặp gỡ đầu tiên giữa tạo vật với Thiên Chúa.
Nhờ sự thông chuyên Đức tin, Rao giảng mang lại sự sống đời đời. Qua lời rao giảng của Linh mục, Đức Kitô ban cho người nghe khả năng ‘trở thành con cái Thiên Chúa’.
Tân Ước coi việc rao giảng của Tông đồ như Lời sự sống (Ph 2,16), Lời cứu độ (Cv 13,26), Lời ân sủng (Cv 14,3), Lời giải hoà (II C 5,19), Lời Chân Lý (Ep 1,13).
Đối với các giáo phụ, Lời rao giảng là bánh nuôi linh hồn, là hạt giống sinh ra sự sống thần linh, là xe chuyên chở Đức tin, là sức mạnh giải thoát xiềng xích sự dữ, là linh dược chữa bệnh tâm hồn, là của ăn ban sự sống trường sinh, là ơn trợ giúp đương đầu với đau khổ và sợ hãi.
Nhưng, cũng theo ý định của Thiên Chúa, Rao giảng có thể trở thành ‘án phạt’ cho những ai không có lòng ngay. Khi còn tại thế, lời giảng của Chúa Giêsu đã trở thành án phạt cho những người Do Thái cứng tin.
2. Rao giảng khai sinh và nuôi dưỡng dân Chúa.
Nhờ tác dụng khơi dậy niềm tin vào Chúa Kitô, rao giảng đưa tới sự hình thành cộng đồng Đức tin là Giáo Hội. Cũng như Đức tin, Giáo Hội sinh ra từ lời rao giảng của các tông đồ:
“Trong Đức Giêsu Kitô, nhờ Tin mừng, chúng tôi đã sinh ra anh em…” (I C 4,15)
Sách công vụ tường thuật sự khai sinh của Giáo Hội nhờ lời rao giảng của các tông đồ. Ngày lễ Ngũ tuần, một số đông người nghe Phê-rô rao giảng, mong ước trở lại, họ đến với các tông đồ và hỏi: chúng tôi phải làm gì? (Cv 2,37), Phê-rô thúc giục họ ăn năn, lãnh nhận phép rửa, và đã có chừng ba nghìn người gia nhập Giáo Hội (Cv 2,41).
Trong dịp phép lạ anh què được chữa lành, nhiều người đã nghe lời Phê-rô giảng và đã tin, số người chừng năm nghìn (Cv 4,4). Dần dần, nhờ nghe lời rao giảng, số môn đồ tăng rất nhiều ở Giê-ru-sa-lem, và một số đông tư tế đạo cũ trở lại vâng phục Đức tin (Cv 6,7). Lời rao giảng của Phao-lô đưa đến với Thiên Chúa rất đông dân chúng ở Cô-rin-tô (Cv 18,10) và ở các thành phố khác trong đế quốc Rô-ma. Những người kế vị các tông đồ đưa vào Giáo Hội đa số còn lại, nhờ công việc rao giảng liên tục không mệt mỏi.
Dĩ nhiên, muốn xây dựng Giáo Hội, phải có phép rửa, có Thánh Thể, nhưng tiên vàn phải có lời rao giảng.
Lời rao giảng không chỉ khai sinh trong Chúa, mà con không ngừng dưỡng nuôi dân Chúa. Người rao giảng không chỉ sinh ra tín hữu một lần nhưng vẫn tiếp tục sinh ra họ cho tới lúc thành toàn trong Chúa Kitô (Ep 4,13). Đức tin trong lòng Kitô hữu mới đầu chỉ là mầm non yếu cần được bồi dưỡng thường xuyên cho tới khi trở thành cây cổ thụ.
Phao-lô phân biệt các giai đoạn khác nhau của đời sống tín hữu; lời rao giảng ban cho họ sữa khi họ còn niên thiếu, nhưng cung cấp cho họ thức ăn đặc khi họ đã trưởng thành (I C 2,1-2). Để làm cho Hội Thánh sinh ra và lớn lên, rao giảng gồm nhiều giai đoạn: giai đoạn truyền đạo (prédication missionnaire), giai đoạn huấn giáo (prédication catéchétique) và giai đoạn Phụng vụ (prédication liturgique homélie).
Phao-lô so sánh Giáo Hội với một toà nhà mà kiến trúc sư là người rao giảng. Lời rao giảng của nhà truyền giáo đặt nền móng cho toà nhà, và toà nhà được tiếp tục xây nên bởi những huấn giáo và các thừa tác viên Phụng vụ (II C 3,10tt).
3. Rao giảng đưa tới sự sống cho cá nhân và toàn thể nhân loại.
Bên cạnh tác giả chính của việc rao giảng, có tác nhân rao giảng là con người thừa tác viên.
Hội Thánh là phương tiện cứu rỗi nhờ việc rao giảng. Con người gặp gỡ Thiên Chúa trong lời rao giảng của Giáo Hội. Đón nhận hay từ chối lời rao giảng của Giáo Hội là đón nhận hay từ chối Chúa Kitô:
“Ai nghe các người là nghe Ta, và ai thảy bỏ các người là thảy bỏ Ta, mà ai thảy bỏ Ta là thảy bỏ Đấng đã sai Ta” (Lc 10,16)
Đức Kitô luôn ở với Giáo Hội rao giảng (Ecclesia praedicans) mọi ngày cho đến tận thế (Mt 28,16-20). Nhân loại đến cùng Chúa Cha nhờ Chúa Kitô (Yn 14,6) và đến với Chúa Kitô nhờ Giáo Hội và Thánh Thần trong Giáo Hội. Giống như Chúa Kitô, thừa tác viên của Giáo Hội, là ánh sáng soi chiếu cho những ai đến thế gian, đồng thời là cớ vấp phạm cho nhiều người. Không thể tách rời Chúa Kitô với Giáo Hội, cũng không thể tách rời Chúa Kitô với thừa tác viên rao giảng.
Lời rao giảng là lời của Chúa Kitô nhưng cũng là lời của con người. Phao-lô ý thức rõ điều này nên nhiều lần nói đến “lời của tôi”, “lời rao giảng của tôi” (I C 2,4), “Tin mừng của tôi” (Rm 2.6), “Tin mừng của chúng tôi” (II C 4,3)
Nói như thế Phao-lô không có ý giành quyền làm chủ Tin mừng, cũng không cố ý phân biệt lời của Thiên Chúa với lời của con người, nhưng muốn cho thấy: lời của Thiên Chúa nhập thể trên môi miệng bất xứng của thừa tác viên trong Hội Thánh. Điều đó càng biểu lộ sự khiêm nhường của Thiên Chúa và của Chúa Kitô: hư-vô-hoá mình vì tình yêu. Ngay cả hôm nay vẫn còn sự hạ mình (kenosis) của Chúa Kitô, trở thành ‘hạn chế’, ‘thu gọn’ trong lời rao giảng. Nhưng chính sự hư-vô-hoá này của Chúa Kitô sẽ đưa ơn cứu độ đến cho mọi người, làm cho nhiều người nhận ra sự phục sinh vinh thăng của Ngài. Đó là mục tiêu chủ yếu của việc rao giảng: làm cho mọi người nhận biết Đấng đã chết và đã sống lại cho nhân loại được sống.
Chỉ có Thánh Thần giúp khám phá lời của Thiên Chúa trong lời lẽ còn nhiều khuyết điểm của con người. Chỉ có Thánh Thần ‘tôn vinh’ Đức Kitô trong lời rao giảng, làm cho người nghe nhận biết Chúa Kitô. Sự gặp gỡ giữa con người với Đức Kitô qua lời rao giảng được thực hiện trong Thánh Thần. Không có Thánh Thần sẽ không có Đức tin và ơn cứu độ.
Nhưng Thánh Thần là vị Thiên Chúa rất tế nhị, tôn trọng giới hạn của người rao giảng. Người không tự ý sửa đổi lời lẽ của người rao giảng, làm cho sống động hơn, đẹp đẽ hơn. Lời của con người vẫn là lời của con người, nhưng, theo kiểu nói của H.SCHLIER, Thiên Chúa và Đức Kitô nói trong, nói với và nói ‘bên dưới’ lời con người (Wort Gottes, no. 17).
Vì lý do đó, mỗi lần rao giảng là một biến cố cho người nghe, một lần gặp gỡ khởi đầu lịch sử của đời sống theo tiếng gọi của Thiên Chúa. Qua việc rao giảng, sự gặp gỡ giữa con người và Đức Kitô xảy ra trước cả lúc cử hành Bí tích. Rao giảng là ‘giờ’, là ‘thời điểm hiện tại’, là ‘ngày hôm nay’ của Thiên Chúa đang đến, mời gọi mọi người yêu thương và tin tưởng. Mục tiêu cuối cùng của lời rao giảng là sự hiệp thông cánh chung và trọn vẹn giữa nhân loại với Thiên Chúa, một sự hiệp thông mà Bí tích Thánh Thể là ‘dấu chỉ’ và ‘tiên vị’.
Tới đây, chúng ta có thể kết luận: rao giảng là xe chuyên chở ân sủng đến cho người ngoại đạo để khơi dậy Đức tin trong tâm hồn cho người Kitô hữu, để tiếp tục xây dựng lòng mến đối với Chúa Kitô. Rao giảng khai sinh Giáo Hội và kiến thiết Giáo Hội. Rao giảng là sinh hoạt cốt yếu (activité essentielle) của Hội Thánh trong giai đoạn cuối cùng của Lịch sử cứu độ, có mục tiêu biến đổi lịch sử nhân loại thành lịch sử hồng ân, lịch sử thánh. Rao giảng hướng về xã hội loài người mọi nơi và mọi thời để thánh hiến nó cho Thiên Chúa (consecratio mundi). Rao giảng hướng tới cá nhân mỗi người để mỗi người gặp gỡ và yêu mến Thiên Chúa. Rao giảng vừa có chiều kích chủ vị (dimension personnelle), vừa có chiều kích chủ quát (dimension universelle), đưa dẫn mỗi một người và toàn thể nhân loại tới sự hiệp thông phổ quát (communion universelle) được cử hành tại thế trong Bí tích Thánh Thể, và hoàn tất trong Phụng vụ thiên quốc, nơi mọi người chia sẻ trọn vẹn sự sống thần linh, nơi Thiên Chúa ở trong mọi sự và mọi sự ở trong Thiên Chúa.

admin
13-12-2010, 11:38 AM
IV. GIẢNG NHƯ THẾ NÀO?
Vấn đề cách thức quan hệ chặt chẽ với nội dung rao giảng và chủ thể rao giảng, vấn đề được đặt ra không những trên bình diện kỹ thuật, mà đặc biệt hơn là trên bình diện thần học và tu Đức.
1. Thuận theo Thánh Thần và bắt chước Đức Kitô.
Lời của tông đồ phao-lô luôn nhắc nhở cho thừa tác viên công việc của họ không phải là rao giảng sự khôn ngoan thế gian, nhưng cốt nơi sự chứng minh bằng Thần khí và Quyền Phép (I C 2,4). Đối tượng được rao giảng là Đức Kitô chịu đóng đinh, cớ vấp phạm cho người Do Thái và sự điên rồ đối với thế gian; không lời lẽ phàm nhân nào có sức thuyết phục. Chỉ một mình Thiên Chúa có khả năng thuyết phục qua lời rao giảng của con người yếu đuối bất lực là Linh mục.
Nếu quá chú trọng uy thế ngôn ngữ, thừa tác viên rao giảng có thể tạo nên một tác dụng tiêu cực: đối tượng rao giảng biến mất trong ‘đại dương của những lời lẽ hùng biện’. Người đầu tiên nhận lãnh hậu quả là thừa tác viên. Phải đề cao cảnh giác, kẻo chính trong lúc rao giảng ơn cứu độ cho người khác, mình lại bị luận phạt!
Thánh Anphongsô maria liguôri viết những lời nhắng nhủ thực tế và sâu sắc cho các tác viên phục vụ Lời Chúa: ‘giảng Lời Chúa bằng một giọng văn kiểu cách thì giống như không rao giảng. Bài giảng sẽ không đưa tới hoa trái đáng lẽ phải có nếu được trình bày trong sáng và đơn sơ’.
Đức Kitô là ‘Mẫu Mực Tuyệt Đối’ cho việc rao giảng. theo lời các giáo phụ, Ngài là ‘Miệng’ của Thiên Chúa. Ngài không nói gì ngoài những điều đã nghe nơi Cha. Sở dĩ ngài là Nguyên Mẫu trọn vẹn, vì Ngài kết hiệp mật thiết, đến nỗi là một với Cha. Những điều Ngài nói không do Ngài, nhưng do Chúa Cha nói trong Ngài.
Thánh Thần là ‘nguyên động lực’ của việc rao giảng. mạc khải Chúa Kitô được thực hiện trong Thánh Thần. Việc rao giảng hay loan truyền mạc khải của Chúa Kitô cho thế giới cũng phải thực hiện trong Thánh Thần.
Cả Ba Ngôi Thiên Chúa hiện diện trong con người rao giảng biết kết hiệp với Thiên Chúa. Chúa Cha là Nguồn Suối của Lời, Đấng ban phát Lời Hằng Sống. Chúa Con là Lời của Thiên Chúa. Lời thông tri mầu nhiệm cứu rỗi mà chỉ một mình Thánh Thần có thể giải thích cho con tim và trí tuệ người nghe.
Như Chúa Kitô nói lại lời của Thiên Chúa, Linh mục chỉ nói lại lời của Chúa Kitô, lời đã trở thành sự sống trong chính mình.
Giống như Thánh Thần giải thích lời của Chúa Kitô, và sự giải thích của Thánh Thần là ‘những ý nghĩ được linh hứng ghi lại trong Kinh Thánh’, Linh mục hãy dựa trên lời giải thích của Thánh Thần, dựa trên Kinh Thánh để trình bày và giải thích mầu nhiệm của Chúa Kitô!
2. Rao giảng với tình yêu
Như Chúa cha yêu mến lời người nói ra, Linh mục phải loan báo Lời với tất cả tình yêu. Tình yêu Chúa Kitô phản ánh lòng thương của Chúa cha có sức lôi cuốn người nghe, làm cho họ yêu mến Chúa Kitô như Chúa cha yêu mến Con Duy Nhất.
Theo lời cha VARILLON, người rao giảng trước hết phải ‘cưu mang’ Nước Thiên Chúa trong tâm hồn.
Trong lịch sử Giáo Hội, có nhiều nhà giảng thuyết lừng danh như thánh Gioan Kim Khẩu, như Bossuet và Lacordaire v.v... Nhưng cũng có những người rao giảng đơn sơ chất phác như Gioan Maria Vianney.
Cả hai hàng người này đều say mê ‘Nước Thiên Chúa’. Kẻ hùng biện khao khát sự thánh thiện, đề lời lời lẽ của họ không giống như tiếng phèng la chũm chọe. Cha Lacordaire khao khát sự đơn sơ khiêm nhường của cha sở họ Ars. Cha sở họ Ars thì nỗ lực không ngừng để bổ sung những giới hạn tri thức của mình. Cả hai đều là những con người quy tụ, có khả năng thay đổi đời sống người nghe, vì cả hai chỉ ôm ấp có một điều: yêu mến Chúa Kitô và rao giảng Chúa Kitô.
Lòng đầy miệng mới nói ra! Phép lạ trong việc rao giảng là phép lạ của tình yêu. Tình yêu làm cho con người rao giảng say sưa và hùng biện. Và chỉ tình yêu mới có khả năng khai mở con tim người nghe.
Tình yêu Chúa Kitô và lời ban sự sống phải chan chứa trong lòng Linh mục để có thể trào vọt và nuôi sống nhiều người.
Linh mục là sứ giả, là dụng cụ của Chúa Kitô. Và chỉ có sứ giả trung thành mới nói ra đúng Lời của Chúa, chỉ có dụng cụ hoàn toàn trong tay người nghệ sĩ mới diễn tả tâm hồn của tác giả.
Khi nói tới hiệu năng của lời rao giảng, một số thần họ gia cho đó là hiệu năng ‘ex opere operantis’ so với hiệu năng ‘ex opere operato’ của Bí tích.
Thiên Chúa dường như ‘không thỏa mãn’ với những nghi lễ tự nó sinh ra ơn ích (ex opere operato). Ngài còn sử dụng một con đường khác nữa: con đường của tự do và tình yêu, con đường của con người. Khi con người ưng thuận và sẵn sàng để Thiên Chúa hành động trong mình, bây giờ mới có ân sủng.
Điều này áp dụng cho cả người giảng lẫn người nghe. Có sự gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người trong lời rao giảng, nếu người giảng để cho Thiên Chúa đi qua mình đến với người nghe, mà người nghe tiếp nhận Thiên Chúa từ miệng người rao giảng.
Lại một lần nữa, chúng ta thấy rõ chính Thiên Chúa nói trong ngươi rao giảng, và người rao giảng nói lên lời của Thiên Chúa. Sự kiện không xảy ra một cách máy móc: không đương nhiêm Linh mục đứng trên toà giảng, mở miệng, phát âm, là có ân sủng của lời (Grativa Verbi). Cả hai đều là tác giả của việc rao giảng, tác giả Linh mục phải bằng lòng và ước mong cho tác giả Thiên Chúa nói qua mình. Ex opere operantis là thế! Chúa Kitô là ‘con đường’ của Thiên Chúa, người rao giảng mặc lấy Chúa Kitô để trở thành con đường Thiên Chúa dùng mà đến với nhân loại.
3. nỗ lực trở thành dụng cụ tốt
Người rao giảng là dụng cụ, nhưng là dụng cụ có khả năng trở nên tốt hơn hay xấu hơn; là con đường, nhưng là một con đường có thể trở thành dễ hay khó đi qua.
Thiên Chúa luôn luôn ước muốn cho dụng cụ trong tay người mỗi ngày trở nên dễ dàng, sắc bén và hữu hiệu hơn! Và con người rao giảng cũng mong trở nên dụng cụ đạt hiệu năng đúng mức.
Thiên Chúa yêu thương các sứ giả của người, muốn cho các ông nỗ lực, làm việc, sử dụng phương tiện tự nhiên. Ân sủng luôn đến từ Thiên Chúa, nhưng qua nỗ lực và tình yêu của con người. Thiên Chúa tỏ ra cần con người để đến với con người.
Nỗ lực của người rao giảng chính danh không nhằm mục tiêu nào khác ngoài ý tưởng làm cho người nghe đón nhận Lời Chúa, hiểu được Lời Chúa.
Tất cả vì danh Thiên Chúa (ad majorem gloriam Dei)!
Thừa tác viên muốn được ca ngợi khi rao giảng chỉ tạo được ‘một tác dụng bề mặt’. Có lẽ đám đông chăm chỉ lắng nghe những khi ra về, không giữ lại một điều gì trong lòng ngoài ý nghĩ ‘cha giảng hay’! họ không thấy gương mặt Đức Kitô, chỉ thấy bộ điệu và cử chỉ của Linh mục, không nghe lời của Thiên Chúa, chỉ nghe giọng nói và âm thanh của Linh mục.
Nỗ lực trau dồi của Linh mục phải đi kèm với tình yêu Chúa Kitô, nỗ lực vì tình yêu và cho tình yêu! Nỗ lực không vì tình yêu là một cố gắng vô ích, chỉ làm người nghe ngưỡng mộ lúc ban đầu rồi dần dà sẽ chán vì tình thân không được nuôi dưỡng.
Tình yêu không nỗ lực là tình yêu giả dối! Linh mục thánh thiện bao giờ cũng muốn trở thành người rao giảng tốt! Nhưng khi làm xong công việc, ông sẽ nói: tôi đã làm công việc phải làm! Ước mong được khen làm ngăn trở sự tiến bộ của Linh mục trong đời sống thiêng liêng và làm thiệt hại không ít cho dân Chúa!
4. kiên trì và khao khát.
Ai kiên nhẫn đến cùng sẽ được cứu thoát!
Câu này áp dụng đúng cho người tin và cho người khơi dậy Đức tin, Thiên Chúa là Đấng kiên nhẫn vô cùng. Người không thích dùng bạo lực áp đảo người nghe. Vẫn luôn luôn có người không tin hoặc kém lòng tin. Thừa tác viên không có quyền đỏi hỏi Lời Chúa có tác dụng tức thời và trước mặt. Sự thiếu khiêm tốn và kiên trì có thể làm cho Linh mục nản chí và bỏ cuộc, khi thấy mình thất bại trong việc rao giảng.
Hành trình Đức tin là một sự thai nghén lâu dài và gian khổ, chỉ hoàn tất ngày cánh chung. Người hướng dẫn hành trình Đức tin dân Chúa không được đốt giai đoạn và đòi hỏi những bước nhảy vọt. Nhưng tâm hồn của người rao giảng phải bồn chồn, vì Đức Kitô đã đến mang lửa vào thế gian, và muốn cho ngọn lửa ấy cháy lên (Lc 12,49).
Tâm hồn của người rao giảng chứa đựng một trường lực giữa khao khát và chờ đợi, khao khát Chúa và chờ đợi Chúa, khao khát các linh hồn và chờ đợi các linh hồn.
5. cầu nguyện và chuẩn bị
Đời sống cầu nguyện của Linh mục phải gắn liền với việc rao giảng. Vị Linh mục nào cũng có ít nhiều kinh nghiệm về sự khác biệt về một bài giảng soạn kỹ nhưng thiếu cầu nguyện và một bài giảng có cầu nguyện. Bài giảng thứ nhất do ‘những kiến thức về Thiên Chúa’, bài giảng thứ hai do ‘sự phân biệt Thiên Chúa’. Chắc chắn người ‘nhận biết Thiên Chúa’ sẽ xác tín hơn người chỉ có những kiến thức suông về Thiên Chúa.
Theo thánh Inhaxiô, người chưa ‘cảm’ Giêsu Kitô sẽ không làm cho người nghe ‘ưa thích’ Giêsu Kitô, ông chỉ liệt kê một số ý tưởng về Giêsu Kitô. Điều Linh mục cần phải ghi nhớ là không nên có những bài giảng do cầu nguyện mà thiếu soạn thảo. Thiên Chúa muốn Linh mục chuẩn bị bài giảng bằng những sức lực và khả năng người ban. Rao giảng không chuẩn bị là thiếu tôn trọng đối với Thiên Chúa và dân Chúa. Người nghe phân biệt dễ dàng lời giảng xuất phát từ nội tâm và những câu nói dông dài lủng củng vì thiếu chuẩn bị.
Linh mục phải rao giảng không ngừng với Giêsu, giống như các môn đệ tường thật cho ngài và tham khảo ý kiến của ngài về tất cả những gì mình nói và làm (Mc 6,30).
6. Lắng nghe và thích ứng.
Có những bài giảng được giáo dân nhận định: bài giảng của cha hôm nay khô quá! Nhận xét này rất tương đối, nhưng cũng làm cho Linh mục giật mình. Linh mục không nên lấy cớ giảng dạy nội dung chắc chắn và phong phú, mà coi thường yếu tố cụ thể làm đánh động tâm hồn người nghe. Tin mừng cứu độ không là lý thuyết trừu tượng. Tin mừng trở thành cụ thể là Tin mừng đã được tiếp nhận và trở thành sự sống. sự sống thường mang theo rung động và cảm xúc!
Có bài giảng khác được góp ý ngược lại: cha giảng ướt át quá, tình quá! Nhận xét này muốn nói ‘bài giảng của cha không chất lượng bao nhiêu’! không nên dựa vào lý do cần phải đánh động quân chúng mà ‘diễn xuất’ tình cảm và những xúc động một cách lộ liễu, thiếu chừng mực. Những ‘pha giảng mủi lòng’ của Linh mục không thể cạnh tranh với một bản nhạc hay một chuyện phim tình cảm.
Nhiều giáo dân nhận xét với cha một cách kín đáo: cha giảng khó hiểu quá! Như vậy là họ không bắt được gì, không ghi nhận gì: hoặc vì họ không nghe rõ giọng nói, hoặc vì bài giảng tối nghĩa, thiếu mạch lạc rõ ràng. Đôi khi người nghe có cảm tưởng Linh mục không nắm vững điều mình nói. Ở đây, Linh mục phải theo định luật ‘thích nghi ngôn ngữ’ là điều Chúa Giêsu đã làm khi còn tại thế! Linh mục đừng bó buộc Chúa Giêsu phải nói qua miệng mình những lời lẽ cầu kỳ ngược với bản chất đơn sơ khiêm tốn của ngài!
Kinh nghiệm thiêng liêng và nhân bản giúp cho Linh mục rất nhiều trong việc rao giảng. nhưng giảng không phải là lúc kể lại chuyện đời. Bài giảng không là ‘bài nói chuyện’ hoặc huấn Đức. Giảng là loan báo ơn cứu độ cho nhân loại, là chuyển giao sự sống của Thiên Chúa cho con người cụ thể đang sống. nếu những lời nói ra chứa đựng ít nhiều chất sống của bản thân, sự sống thần linh sẽ có cơ may ‘nhập thể’ và đi vào lòng người.
Phúc thay sự bó buộc rao giảng vì nó đòi hỏi Linh mục không những đào bới Kho Tàng Mặc Khải, mà còn thăm dò tâm hồn con người tận đáy!

Thay lời kết
Trong khuôn khổ một bài suy tư và nghiên cứu ngắn, chúng tôi không thể đề cập tới mọi vấn đề thuộc phạm vi rao giảng. chúng tôi chỉ bàn đến những điều cốt yếu. Mục tiêu của chúng tôi là ‘phác hoạ thần học’ để giới thiệu một phương hướng mục vụ phù hợp với tinh thần của Vatican II và hoàn cảnh đất nước.
Chúng tôi không đi vào chi tiết, nhưng chỉ ‘hé mở’ vấn đề, hy vọng đưa tới một sự trao đổi phong phú hơn. Chúng tôi xác tín rằng đối với những ai nắm vững các ‘đường nét lớn’ không là lý thuyết suông, mà là sự sống múc ‘tận nguồn’ tràn ra và tưới gội bất cứ mảnh đất nào. Chúng tôi biết nước chảy từ núi đồi khác nước lặng lẽ trôi nơi đồng bằng, nước chảy thẳng không giống nước chạy quanh. Nhưng phải cùng là một dòng nước Sự Sống, mới nuôi dưỡng muôn người trong nhân loại.
“Kẻ nào một lần đã uống nước Ta ban,
Thì đời đời sẽ không khát nữa;
Nhưng nước Ta ban cho nó
Sẽ nên mạch suối trong nó
Có nước vọt đến sự sống đời đời” (Ga 4,14)
Phải cùng là dòng nước Thánh Thần từ trái tim bị đâm của Chúa Giêsu:
“...một người lính lấy đòng đâm cạnh sườn Ngài, và lập tức có máu và nước chảy ra” (Ga 19,34).

Sưu tầm